1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thiết kế hệ thống bài tập toán học nhằm phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh lớp 1 (KLTN k41)

65 67 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 65
Dung lượng 542,05 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chẳng hạn như: Tâm lí học Tiểu học cho rằng: “Tư duy là một quá trình nhận thức phảnánh những thuộc tính bản chất, những mối liên hệ và quan hệ bên trong cótính quy luật của sự vật và hi

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA GIÁO DỤC TIÊU HỌC

VŨ THỊ LUYỆN

THIẾT KẾ HỆ THỐNG BÀI TẬP TOÁN HỌC NHẰM PHÁT TRIỂN Tư DUY SÁNG TẠO

CHO HỌC SINH LỚP 1

Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Toán ở Tiểu học

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA GIÁO DỤC TIÊU HỌC

VŨ THỊ LUYỆN

THIẾT KẾ HỆ THỐNG BÀI TẬP TOÁN HỌC NHẰM PHÁT TRIỂN Tư DUY SÁNG TẠO

CHO HỌC SINH LỚP 1

Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Toán ở Tiểu học

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Người hướng dẫn khoa học

ThS PHẠM HUYỀN TRANG

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến cô giáo: ThS Phạm Huyền Trang - Người cô đã luôn tận tâm tận tình chỉ bảo, hướng dẫn và giúp đỡ emđưa ra cho em những lời khuyên bổ ích để em có thể hoàn thành được đề tàikhóa luận này

Bên cạnh đó, em cũng muốn gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến nhữngngười cô, người thầy trong Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 nói chung vàtrong Khoa Giáo dục Tiểu học nói riêng, những người lái đò đã luôn dốc hếtnhiệt huyết của mình truyền cho chúng em những tri thức, kinh nghiệm,truyền cho chúng em tình yêu với nghề, những người luôn luôn tạo mọi điềukiện thuận lợi nhất để giúp em có thể hoàn thành được khóa luận này

Em cũng xin gửi lời cảm ơn đến ba mẹ những người đã sinh thành, nuôidưỡng, luôn bên cạnh làm điểm tựa, động viên em trong những lúc em gặpkhó khăn

Và cuối cùng, em xin trân trọng cảm ơn các thầy cô giáo và các em họcsinh trường Tiểu học Tích Sơn đã giúp đỡ em để em có thể hoàn thành khóaluận tốt nghiệp này Dù đã rất cố gắng trong quá trình nghiên cứu xong khóaluận vẫn còn nhiều thiếu sót, em rất mong nhận được sự góp ý của các thầy côgiáo để khóa luận của em được hoàn chỉnh hơn

Hà Nội, ngày tháng 5 năm 2019

Sinh viên

Vũ Thị Luyện

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đề tài khóa luận: “Thiết kế hệ thống bài tập Toán học nhằm phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh lớp 1” là kết quả mà tôitrực tiếp tìm tòi, nghiên cứu dưới sự hướng dẫn và giúp đỡ của cô giáo - ThS Phạm Huyền Trang.

Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi có tham khảo một số tài liệu, sáchbáo, các công trình nghiên cứu có liên quan để làm cơ sở cho đề tài nghiêncứu của mình và những tài liệu đó đều được hích dẫn đầy đủ trong danh mụcTài liệu tham khảo

Tôi xin cam đoan khóa luận này là thành quả mà tôi nỗ lực làm việc,nghiên cứu trong một thời gian dài Nó là đề tài nghiên cứu của riêng tôikhông giống với đề tài nghiên cứu của bất kì tác giả nào đã được công bốtrước đó

Hà Nội, ngàỵ tháng 5 năm 2019

Sỉnh viên

Vũ Thị Luyện

Trang 6

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 2

4 Giả thuyết khoa học 2

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 2

6 Phạm vi nghiên cứu 3

7 Phưong pháp nghiên cứu 3

8 Cấu trúc của đề tài 3

Chương 1 Cơ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỤC TIỄN 4

1.1 Tư duy 4

1.1.1 Các quan điểm về tư duy 4

1.1.2 Đặc điểm của tư duy 5

1.1.3 Các giai đoạn của quá trình tư duy 7

1.1.4 Các thao tác tư duy 9

1.2 Tư duy sáng tạo 10

1.2.1 Khái niệm tư duy sáng tạo 10

1.2.2 Các đặc trưng của tư duy sáng tạo 13

1.3 Đặc điểm nhận thức của học sinh lớp 1 15

1.3.1 Nhận thức cảm tính 16

1.3.2 Nhận thức lý tính 16

1.4 Nội dung dạy học môn Toán lớp 1 19

1.5 Thực trạng phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh lớp 1 23

1.5.1 Mục đích khảo sát 23

1.5.2 Đối tượng khảo sát 23

1.5.3 Phương pháp khảo sát 23

Trang 7

1.5.4 Kết quả khảo sát 23

1.5.4.1 Nhận thức của GV về TDST và vấn đề dạy học phát triển TDST cho HS lớp 1 24

1.5.4.2

Nhận thức của HS lớp 1 về TDST 26

Kết luận chương 1 28

Chương 2 THIẾT KẾ HỆ THỐNG CÁC BÀI TẬP 30

2.1 Nguyên tắc thiết kế 30

2.1.1 Thiết kế hệ thống các bài tập gắn với chương trình môn Toán 30

2.1.2 Thiết kế hệ thống các bài tập gắn với trình độ phát triển nhận thức của học sinh tiểu học 31

2.1.3 Thiết kế hệ thống các bài tập từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp 31

2.1.4 Thiết kế hệ thống các bài tập gắn với nguyên tắc đồng tâm 32

2.2 Hệ thống bài tập 33

Kết luận chương 2 53

KẾT LUẬN 54

TÀI LỆU THAM KHẢO 56

Trang 8

MỞ ĐÀU

1 Lí do chọn đề tài

Từ xưa đến nay, từ các bậc hiền triết cho đến các nhà giáo dục đềukhẳng định “giáo dục là quốc sách hàng đầu” Đất nước đang ngày càng pháttriển đòi hỏi giáo dục phải đào tạo ra được nguồn nhân lực có trình độ, năngđộng, sáng tạo và không ngừng sáng tạo để phục vụ ngày càng tốt hơn cho sựnghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Trong tiến trình đổi mới ấy,

tư duy sáng tạo đóng vai trò vô cùng quan trọng Tư duy sáng tạo là phẩm

chất trí tuệ quan trọng nhất của con người hiện đại, là điều kiện tiên quyết

giúp cho việc học tập và tiếp thu tri thức của trẻ trở lên tốt hơn Nó giúp trẻ có

bộ óc thông minh, tỉnh táo để nhìn nhận, đánh giá và giải quyết được nhữngvấn đề khó khăn, phức tạp trong học tập và trong cuộc sống một cách dễ dànghơn Chính vì vậy, phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh là việc làm hết sứccần thiết nhằm góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và giúp các em hoànthiện nhân cách sau này

Đối với học sinh tiểu học nói chung và học sinh lớp 1 nói riêng thìnhiệm vụ được đặt lên hàng đầu trong dạy học hiện nay là phát triển tư duysáng tạo Và một trong những môn học đóng vai trò quan trọng trong việcphát triển tư duy sáng tạo cho học sinh là môn Toán Trong quá trình giảngdạy môn Toán, cùng với nhiệm vụ trang bị tri thức, rèn luyện kĩ năng cho họcsinh thì giáo viên có thể phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh bằng nhiềucách khác nhau thông qua hệ thống bài tập đa dạng, phong phú Với hệ thốngbài tập ấy, học sinh sẽ tích cực suy nghĩ, tư duy để có được những cách giảihay và chính xác nhất Các em sẽ có cơ hội được bộc lộ năng lực toán học củabản thân thông qua việc giải các bài tập

Trên thực tế, phần lớn giáo viên Tiểu học cho rằng hệ thống các bài tậptoán được xây dựng cho học sinh ở lớp 1 hiện nay chưa thực sự phát huy được

Trang 9

tối đa tư duy sáng tạo của các em Các bài tập được xây dựng

các bài tập Vì vậy, việc thiết kế hệ thống các bài tập nhằm phát

sáng tạo cho học sinh là một yêu cầu cấp thiết Xuất phát từ những lí

3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Bài tập toán lớp 1 nhằm phát triển tư duy sáng tạocho học sinh

- Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy học toán ở lớp 1

4 Giả thuyết khoa học

Nếu xây dựng được hệ thống bài tập toán theo định hướng phát triển tưduy sáng tạo cho học sinh, đồng thời đảm bảo được các nguyên tắc thiết kế cơbản thì sẽ nâng cao được chất lượng, hiệu quả dạy học toán ở lớp 1 hiện nay

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn về việc thiết kế hệ thống bài tập toánnhằm phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh lớp 1

- Khảo sát thực trạng dạy học môn Toán ở lớp 1 nhằm phát triển tư duy sángtạo cho học sinh

- Thiết kế hệ thống các bài tập toán nhằm góp phần phát triển tư duy sáng tạo

Trang 10

6 Phạm vi nghiên cứu

- Đe tài chỉ tập trung nghiên cứu môn Toán lớp 1

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu:

Tôi đâ tiến hành đọc sau đó phân tích và khái quát hóa một số tài liệu sau:

- SGK toán lớp 1, các sách toán tham khảo và các bài viết sáng kiến kinhnghiệm của thầy cô

- Các công trình nghiên cứu về toán nhằm phát triển tư duy sáng tạo có liênquan phục vụ cho đề tài

- Các tài liệu về giáo dục học, tâm lí học dạy học môn Toán

7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:

- Phương pháp quan sát: quan sát hoạt động học của học sinh lớp 1 thông quacác tiết dự giờ môn Toán và thái độ học tập của các em

- Điều ưa, khảo sát thực tế dạy học toán của giáo viên thông qua phỏng vấn,

dự giờ, xem giáo án nhằm đánh giá thực trạng về việc dạy học toán nhằm phátưiển tư duy sáng tạo cho học sinh ở lớp 1 hiện nay

8 Cấu trúc của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, tài liệu tham khảo, phần nội dungkhóa luận gồm 02 chương:

Chương r Cơ sở lí luận và thực tiễn

Chương 2: Thiết kế hệ thống các bài tập

Trang 11

Chương 1 Cơ SỞ LÍ LUẬN VÀ THựC TIỄN 1.1 Tư duy

1.1.1 Các quan điểm về tư duy

Tư duy là một trong những vấn đề lớn luôn được mọi người quan tâm,chú ý đến và cho đến ngày nay khi hỏi: “Tư duy là gì?” thì có rất nhiều quanđiểm khác nhau đã được nêu ra Chẳng hạn như:

Tâm lí học Tiểu học cho rằng: “Tư duy là một quá trình nhận thức phảnánh những thuộc tính bản chất, những mối liên hệ và quan hệ bên trong cótính quy luật của sự vật và hiện tượng trong hiện thực khách quan mà trước đó

ta chưa biết.” [7,tr 122]

Mặt khác, A.Spiếckin lại cho rằng: “Tư duy của con người phản ánhhiện thực, về bản chất là quá trình truyền đạt gồm hai tính chất: Một mặt, conngười hướng về vật chất, phản ánh những nét đặc trưng và những mối liên hệcủa vật ấy với vật khác, và mặt khác con người hướng về xã hội để truyền đạtnhững kết quả của tư duy mình”[l,tr28]

Tác giả Hoàng Phê nêu lên quan điểm của mình về tư duy trong cuốn

Từ điển Tiếng Việt: “Tư duy là giai đoạn cao của quá trình nhận thức, đi sâuvào bản chất và phát hiện ra tính quy luật của sự vật bằng những hình thứcnhư biểu tượng, khái niệm, phán đoán và suy lí” [10]

Art Costa - một trong số những tác giả đi đầu về nghiên cứu tư duyquan niệm: “Tư duy là sự cảm nhận của chúng ta khi chúng ta nhận đượcnhững dữ kiện, những thông tin diễn ra trong các mối quan hệ” hay hiểu theocách đơn giản là: “Chúng ta suy nghĩ” [16]

Theo Đặng Phương Kiệt: “Tư duy là một quá trình tâm trí phức tạp, tạo

ra một biểu tượng mới bằng cách làm biến đổi thông tin có sẵn” [8, tr 292]

Trang 12

Theo Từ điển triết học: “Tư duy, sản phẩm cao nhất của vật chất được

tổ chức một cách đặc biệt là bộ não, là quá trình phản ánh tích cực thế giớiquan trong các khái niệm, phán đoán, lí luận Tư duy xuât hiện trong quá trìnhhoạt động sản xuất xã hội của con người và đảm bảo phản ánh thực tại mộtcách gián tiếp, phát hiện những mối liên hệ hợp quy luật Tư duy chỉ tồn tạitrong mối liên hệ không thể tách rời khỏi hoạt động lao động và lời nói, làhoạt động chỉ tiêu biểu cho xã hội loài người cho nên tư duy của con ngườiđược thực hiện trong mối liên hệ chặt chẽ với lời nói và những kết quả của tưduy được ghi nhận trong ngôn ngữ Tiêu biểu cho tư duy là những quá trìnhnhư trừu tượng hóa, phân tích, tổng hợp, việc nêu lên là những vấn đề nhấtđịnh và tìm cách giải quyết chung, việc đề xuất những giả thuyết, những ýniệm Kết quả của quá trình tư duy bao giờ cũng là một ý nghĩ nào đó.”

M.N Sacđacop cho rằng: “Tư duy là quá trình tâm lí mà nhờ đó khôngnhững con người tiếp thu được những tri thức khái quát mà còn tiếp tục nhậnthức và sáng tạo ra những cái mới.”

Tóm lại, có thể hiểu 1 cách đơn giản nhất: Tư duy chính là khỉ chúng ta

tiến hành suy nghĩ Tư duy là kết quả của nhận thức, là kết quả hoạt động của não bộ khi chịu tác động, kích thích từ môi trường bên ngoài hay nói cách khác tư duy chính là sản phẩm cấp cao của bộ não người và kết quả của tư duy là một ỷ nghĩ, là những nhận thức mới dưới dạng các khái niệm, quy tắc, định lý,

1.1.2 Đặc điểm của tư duy

Là một hiện tượng tâm lí xuất hiện dưới sự điều khiển của não bộ Làmột quá trình không ngừng phát triển năng động và sáng tạo, tư duy tồn tạivới 5 đặc điểm cơ bản sau:

a) Tính “có vấn đề” của tư duy:

Trang 13

Một trong những đặc điểm cơ bản nhất của tư duy là tính “có vấn đề”.

Tư duy xuất hiện khi con người ta gặp phải những tình huống mà trong đóchứa đựng những vấn đề mới (đó là những tình huống xảy ra trong học tậphay trong cuộc sống mà họ cảm thấy bị vướng mắc và cần phải tháo gỡ nhưngbằng những hiểu biết, kinh nghiệm cũ của bản thân họ không đủ để có thể giảiquyết được) khi đó đòi hỏi họ phải tư duy, phải vượt ra khỏi phạm vi nhữnghiểu biết cũ để tìm ra giải pháp mới

b) Tính gián tiếp của tư duy:

Trong quá trình tư duy, khi con người không thể trực tiếp tri giác các sựvật, hiện tượng thì họ có thể sử dụng các công cụ, phương tiện hỗ trợ khácnhau để nhận thức các sự vật, hiện tượng đó và ngôn ngữ là một trong nhữngcông cụ biểu hiện tính gián tiếp của tư duy Các kết quả của tư duy như cáckhái niệm mới, các quy tắc, định luật, định lí, các mối liên hệ, được thể hiệnbằng ngôn ngữ Nhờ có ngôn ngữ mà con người có thể sử dụng được kho tàngtri thức nhân loại, sử dụng được các công cụ phương tiện cùng với kinhnghiệm vốn có của bản thân vào quá trình tư duy và từ đó tư duy giúp conngười phát hiện ra những bản chất, quy luật của sự vật, hiện tượng trong thực

tế khách quan

c) Tính trừu tượng và khái quát của tư duy:

Sau khi phát hiện ra các bản chất, quy luật, các mối liên hệ của các sựvật, hiện tượng tư duy sẽ tiến hành gạt bỏ khỏi những sự vật, hiện tượng đónhững thuộc tính, những cái riêng lẻ, cá biệt và chỉ giữ lại những đặc điểmchung nhất Sau đó khái quát chúng thành một nhóm, một phạm trù để phảnánh cái bản chất chung có tính quy luật của loạt sự vật, hiện tượng đó

d) Tư duy của con người có quan hệ mật thiết với ngôn ngữ:

Ý nghĩ là kết quả của quá trình tư duy và nó được cụ thể hóa, thể hiện

Trang 14

kết quả của tư duy Ngôn ngữ và tư duy có quan hệ mật thiết,

và nhận thức cảm tính có mối quan hệ hai chiều tác động qua lại, ảnh hưởnglẫn nhau

1.1.3 Các giai đoạn của quá trình tư duy

Tư duy là một quá trình gồm nhiều giai đoạn khác nhau và nó diễn rakhi con người ta gặp phải những vấn đề khó khăn nảy sinh trong quá trìnhnhận thức hay trong cuộc sống hàng ngày Mỗi hành động của tư duy diễn ratheo một trình tự nhất định và gồm 5 giai đoạn hết sức cụ thể, đó là:

Giai đoạn 1: Xác định vấn đề và biểu đạt vấn đề

Trang 15

Quan sát sơ đồ trên, ta có thể dễ dàng nhận thấy các giai đoạn của quátrình tu duy có sụ gắn kết chặt chẽ với nhau Truớc hết tu duy chỉ nảy sinhkhi con nguời gặp phải những tình huống “có vấn đề” và họ nhận thúc đuợcmình cần phải giải quyết chúng để thỏa mãn nhu cầu của bản thân Chủ thể tuduy sẽ tiến hành xác định vấn đề mà mình gặp phải là gì? phát hiện mâu thuẫnchứa đụng trong tình huống có vấn đề đó, sau đó đề ra nhiệm vụ tiếp theo choquá trình tu duy Ở giai đoạn đầu tiên này, chủ thể cần tỉnh táo để tránh xácđịnh chệch huớng vấn đề dẫn tới khó tìm ra đuợc phuơng án giải quyết phùhợp Vì vậy, xác định vấn đề và biểu đạt đuợc chính xác vấn đề cần giải quyết

là giai đoạn đầu tiên hết sức quan trọng có vai trò quyết định, ảnh huởng trựctiếp đến kết quả của quá trình tu duy sau này Khi đã xác định đuợc vấn đềcần giải quyết đòi hỏi chủ thể phải tu duy để huy động vốn kiến thúc, kinhnghiệm của bản thân hoặc tìm kiếm các nguồn tu liệu có liên quan đến vấn đề

để hình thành cho mình những liên tuởng xung quanh vấn đề cần giải quyết.Sau đó, chủ thể sẽ tiến hành sàng lọc, gạt bỏ những liên tuởng chua phù hợp,giữ lại những liên tuởng phù hợp, đáng tin cậy với nhiệm vụ để đua vào hìnhthành một số giả thuyết (tức cách giải quyết có thể có đối với nhiệm vụ tuduy) Tuy nhiên, muốn tìm ra đuợc giả thuyết có thể giải quyết đuợc vấn đềmột cách hiệu quả nhất, thì truớc hết cần tiến hành kiểm ưa các giả thuyếtxem giả thuyết nào tuơng ứng với các điều kiện và vấn đề nào tù đó khắngđịnh, chính xác hóa hoặc phủ định nó Kết quả của việc kiểm ưa này sẽ đua rakết quả cuối cùng đó là: nếu khi giả thuyết đã đuợc kiểm ưa và khẳng định làđúng thì nó sẽ đuợc tiến hành hay nói cách khác là nó sẽ đua ra câu trả lờihoặc đáp số cho vấn đề đuợc đặt ra Neu mọi giả thuyết đã có đều bị phủ địnhthì một quá ưình tu duy mới lại đuợc bắt đầu để tìm ra giả thuyết mới khác vềcách giải quyết vấn đề

Trang 16

Tóm lại, dù vấn đề bắt nguồn từ đâu, trong học tập hay trong cuộc sốngthì quá trình tư duy nhất thiết phải được thực hiện theo đúng trình tự gồm 5giai đoạn trên.

1.1.4 Các thao tác tư duy

Được xem như là “hành động trí tuệ căn bản” hay “các quy luật bêntrong của tư duy” - các thao tác tư duy chính là cơ sở nền tảng để quá trình tưduy có thể diễn ra Nó giúp mỗi cá nhân có thể nhìn nhận đối tượng hoặc đưa

ra cách giải quyết các vấn đề hay nhiệm vụ đặt ra một cách chính xác và toàndiện dưới dạng các phán đoán, suy luận, suy lý, Thông thường, quá trình tưduy diễn ra với 5 thao tác cơ bản đó là:

- Phân tích và tổng hợp: Khi chủ thể tư duy gặp phải một vấn đề haymột đối tượng nào đó cần nhận thức mà được đặt trong các mối liên hệ phứctạp, muốn nhận thức được một cách toàn diện đối tượng đó yêu cầu chủ thểphải dùng khối óc để tiến hành bóc tách, phân chia vấn đề (đối tượng) thànhtừng bộ phận, từng thành phần riêng lẻ và xem xét chúng dưới nhiều góc độkhác nhau từ đó vạch ra được những đặc điểm, những dấu hiệu, những thuộctính bản chất của đối tượng để nhận thức chúng sâu sắc hơn thì thao tác nàyngười ta gọi là thao tác phân tích Sau đó, từ những đặc điểm, những dấu hiệu,những thuộc tính bản chất của đối tượng đã được phân tích, hoạt động tư duydùng trí óc kết hợp, sắp xếp chúng thành một chỉnh thể mang những ý nghĩa

cụ thể để từ đó đối tượng được nhận thức một cách tổng thể, toàn diện và baoquát hơn người ta gọi đó là tổng hợp Thao tác phân tích và tổng hợp có tácđộng qua lại với nhau trong một quá trình thống nhất, chúng bổ sung chonhau và có quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau

- So sánh: là cơ sở cho mọi sự hiểu biết của tư duy và là thao tác trí tuệdùng trí óc để tìm ra những điểm giống và khác nhau giữa các đối tượng khichúng được đặt cạnh nhau So sánh cho chúng ta thấy được sự đồng nhất hay

Trang 17

- không đồng nhất, thấy được những dấu hiệu bản chất và

là trừu tượng hóa Sau khi tiến hành gạt bỏ những quan hệ thứ yếu, hoạt động

tư duy sẽ dùng trí óc để khái quát, tổng hợp lại những thuộc tính chung giốngnhau về bản chất của các đối tượng thành một loại, một nhóm quá trình nàyngười ta gọi là khái quát hóa

Qua đây có thể thấy các thao tác tư duy có mối liên hệ mật thiết, bềnchặt với nhau Tuy nhiên trong thực tế, không phải quá trình tư duy nào cũngđều thực hiện tuân theo trình tự 5 thao tác trên mà nó có thể bỏ qua một vàithao tác hoặc các thao tác đó đan chéo vào nhau tùy theo từng nhiệm vụ tưduy cụ thể

Ngoài ra, nếu hoạt động tư duy của con người chỉ dừng lại ở 5 thao tác

cơ bản trên thì con người mới chỉ lĩnh hội được những khái niệm, định luật,quy luật, mang tính chung chung, trừu tượng mà chưa thể đưa chúng trởthành chân lý trong thực tiễn Muốn các tri thức trừu tượng, khái quát đã lĩnhhội được trở thành chân lý thì chủ thể cần vận dụng chúng vào cuộc sống đểgiải quyết các nhiệm vụ cụ thể hay còn gọi là thao tác cụ thể hóa

1.2 Tư duy sáng tạo

1.2.1 Khái niệm tư duy sáng tạo

Hiện nay, tư duy sáng tạo là cụm từ mà chúng ta không ngừng được nghethấy, được nhắc đến ở rất nhiều nơi Vậy tư duy sáng tạo là gì?

Trang 18

Theo Nguyễn Cảnh Toàn: “Sáng tạo là sự vận động của tư duy từnhững hiểu biết đã có đến những hiểu biết mới” Có cùng quan điểm với ông,tác giả Chu Quang Tiềm cho rằng: “Sáng tạo, căn cứ vào những ý tưởng đã cósẵn làm tài liệu rồi cắt xén, chọn lọc, tổng hợp lại để thành một hình tượngmới” [12, tr 295].

Mặt khác, theo Nguyễn Đức Uy ông lại quan niệm: “Sáng tạo là sự độtkhởi thành hành động của một sản phẩm liên hệ mới mẻ, nảy sinh từ sự độcđáo của một cá nhân và những tư liệu, biến cố, nhân sự, hay những hoàn cảnhcủa đời người ấy”[15,Zr9] Ta có thể nhận ra trong quan điểm này, tác giả chorằng đã là sáng tạo thì không có khác biệt dù sáng tạo nhiều hay ít

Willson M - Nhà tâm lý học người Mỹ cũng đưa ra quan điểm củamình về sáng tạo, ông cho rằng: “Sáng tạo là quá trình mà kết quả là tạo ranhững kết hợp mới cần thiết từ các ý tưởng dạng năng lượng, các đơn vịthông tin, các khách thể hay tập hợp của hai ba các yếu tố nêu ra”[14,írl8]

Torrance P.E lại cho rằng: “Sáng tạo là quá trình trở nên nhạy cảm haynhận biết nhiều vấn đề, sự thiếu hụt hay lỗ hổng trong kiến thức, sự thiếu hụtcác yếu tố hay sự thiếu hòa hợp, cùng nhau đưa đến các mối quan hệ mớivới những thông tin hiện đại có giá trị từ đó dẫn đến tìm kiếm những phương

án giải quyết, những phỏng đoán, công thức hóa về vấn đề” [18, tr 102]

X L Rubinstêin một nhà tâm lý học người Nga nhận định "sự sáng tạo

là hoạt động của con người tạo ra những chất liệu mới có ý nghĩa xã hội vànhững chất liệu mới ấy có thể là giá trị vật chất hoặc giá trị tinh thần” [19]

Theo Trần Hiệp và Đỗ Long: “Sáng tạo là hoạt động tạo lập phát hiệnnhững giá trị vật chất và tinh thần Sáng tạo đòi hỏi cá nhân phải phát huynăng lực, phải có động cơ tri thức, kĩ năng và với điều kiện như vậy mới tạonên sản phẩm mới, độc đáo, sâu sắc” [5]

Trang 19

Theo Từ điển Tiếng Việt: “Sáng tạo là tìm ra cái mới, cách giải quyếtmới, không bị gò bó phụ thuộc vào cái đã có” [13].

Nguyễn Bá Kim cho rằng: “Tính linh hoạt, tính độc lập và tính phêphán là những điều kiện cần thiết của tư duy sáng tạo, là những đặc điểm vềnhững mặt khác nhau của tư duy sáng tạo Tính sáng tạo của tư duy thể hiện

rõ nét ở khả năng tạo ra cái mới, phát hiện vấn đề mới, tìm ra hướng đi mới,tạo ra kết quả mới Nhấn mạnh cái mới không có nghĩa là coi nhẹ cái cũ” [9]

Tôn Thân quan niệm: “Tư duy sáng tạo là một dạng tư duy độc lập tạo

ra ý tưởng mới, độc đáo, và có hiệu quả giải quyết vấn đề cao Tư duy sángtạo không bị gò bó phụ thuộc vào cái đã có Tính độc lập của nó bộc lộ vừatrong việc đặt mục đích vừa trong việc tìm giải pháp Mỗi sản phẩm của tưduy sáng tạo đều mang rất đậm dấu ấn của mỗi cá nhân đã tạo ra nó” [11]

J.DanTon cho rằng: “Tư duy sáng tạo đó là những năng lực tìm thấynhững ý nghĩa mới, tìm thấy những mối quan hệ, là một chức năng của kiếnthức, trí tưởng tượng và sự đánh giá, là một quá trình, một cách dạy và họcbao gồm những chuỗi phiêu lưu, chứa đựng những điều như: sự khám phá, sựphát sinh, sự đổi mới, trí tưởng tượng, sự thí nghiệm, sự thám hiểm” [17]

Các nhận định khác nhau về tư duy sáng tạo cho thấy ở từng góc nhìnkhác nhau sẽ có những quan niệm khác nhau Các khái niệm về tư duy sángtạo tuy thể hiện sự không đồng nhất trong quan niệm của mỗi người nhưng

đều cho rằng: “Sáng tạo là tìm ra cái mới, cách giải quyết mới, không bị gò

bó phụ thuộc vào cải đã có” Và trong đề tài khóa luận này, chúng tôi có

chung quan niệm với Tôn Thân cho rằng: “TDST là một dạng tư duy độc lập

tạo ra ý tưởng mới, độc đảo, và có hiệu quả giải quyết vấn đề cao Tư duy sáng tạo không bị gò bó phụ thuộc vào cái đã có Tính độc lập của nó bộc lộ

Trang 20

vừa trong việc đặt mục đích vừa trong việc tìm giải pháp Mỗi

tư duy sảng tạo đều mang rẩt đậm dấu ẩn của mỗi cả nhân đã tạo ra nó”.

1.2.2 Các đặc trưng của tư duy sáng tạo

Khi nghiên cứu về tư duy sáng tạo, các nhà nghiên cứu đã đưa ra rấtnhiều quan điểm khác nhau về những đặc trưng cơ bản của tư duy sáng tạo.Tuy nhiên, điểm chung của các quan điểm này đó là: họ đều cho rằng tư duysáng tạo mang những đặc trưng cơ bản bao gồm tính mềm dẻo, tính độc đáo,tính độc lập, tính nhuần nhuyễn, tính hoàn thiện, tính linh hoạt, tính phê phán,tính nhạy cảm vấn đề,

Không phải ngày nay tư duy sáng tạo mới được đề cập đến như một đốitượng nghiên cứu mà bằng chứng cụ thể cho thấy từ xa xưa ông cha ta đã đúckết những kinh nghiệm về sáng tạo trong suy nghĩ, tư duy và hành động thànhcác thành ngữ, tục ngữ để truyền lại cho con cháu đời sau như: “đi với bụtmặc áo cà sa, đi với ma mặc áo giấy” hay “tùy cơ ứng biến”,

Nổi bật nhất trong nghiên cứu về tư duy sáng tạo có lẽ phải nhắc đếnnhà nghiên cứu tâm lý học nổi tiếng người Mỹ Guilíord J.p, ông cho rằng:

“TDST là sự tìm kiếm và thể hiện những phương pháp logic trong tình huống

có vấn đề, tìm kiếm những phương pháp khác nhau và mới của việc giải quyếtvấn đề, giải quyết nhiệm vụ” [20] Trong quan điểm của mình, Guilíord J.p đãnhìn nhận tư duy sáng tạo với các đặc trưng đó là việc tiến hành suy nghĩ, tìmkiếm các phương pháp mới, các phương pháp khác nhau có sự logic nhằmgiải quyết các vấn đề hay nhiệm vụ đặt ra một cách sáng tạo và chính xácnhất Ông coi sáng tạo là một thuộc tính và là một phấm chất của tư duy nêngọi đó là tư duy sáng tạo

Thống nhất quan điểm với các nhà tâm lý học nổi tiếng thế giới, cũngnhư đồng quan điểm với Guilíord J.p, Loowenfeld (1962), trong đề tàinghiên cứu này chúng tôi cũng cho rằng có 5 yếu tố chính thể hiện đặc trưng

Trang 21

của tư duy sáng tạo đó là: tính mềm dẻo, tính nhuần nhuyễn,

động trí tuệ của con người.

b) Tính nhuần nhuyễn (Auency)

Tính nhuần nhuyễn (thuần thục) của TD là năng lực làm chủ tư duy,nhận thức của bản thân chủ thể Đặc trưng của tính nhuần nhuyễn là khả năngtạo ra các giả thiết về các ý tưởng mới một cách nhanh chóng bằng cách kếthợp các yếu tố riêng lẻ của các tình huống hay các đối tượng cần tri giác Khigặp phải vấn đề mới, người có tư duy nhuần nhuyễn (thuần thục) có khả năngnhìn nhận vấn đề trên nhiều góc độ, khía cạnh khác nhau từ đó đề xuất rađược nhiều giải pháp khác nhau để giải quyết được vấn đề đó một cách tối ưunhất Ngoài ra, việc nhớ được nhanh và tái hiện nhanh các từ, các thành ngữhay những liên tưởng liên quan đến các ý tưởng đã được lưu trữ trong trí óccũng là biểu hiện cho tính nhuần nhuyễn

c) Tính độc đáo (originality)

Trang 22

Tính độc đáo cho phép con người đánh giá, nhận diện các sự vật, hiệntượng, các vấn đề một cách mới lạ, đồng thời hướng đến giải quyết vấn đềmang tính độc lập Tính độc đáo cho thấy khả năng tìm kiếm và giải quyếtvấn đề bằng việc sử dụng phương thức lạ hay phương thức duy nhất.

d) Tính hoàn thiện (elaboration)

Tính hoàn thiện của TDST là khả năng xây dựng kế hoạch, phối hợp nhuầnnhuyễn giữa hoạt động tư duy với hành động thực tiễn, cụ thể hóa các ý tưởngbằng cách tiến hành kiểm ưa và chứng minh ý tưởng đó Tính hoàn thiệnkhiến cho tư duy ưở thành một quá ưình có mở đầu là xác định vấn đề cầngiải quyết, sau đó chủ thể sẽ vận dụng vốn kiến thức và kinh nghiệm sẵn cóliên quan đến vấn đề để đưa ra các cách giải quyết và cuối cùng kết thúc quáưình là xem xét, kiểm ưa lại kết quả của việc giải quyết vấn đề Kết quả của

sự sáng tạo đó phải là sản phẩm có khả năng quan sát được

Các đặc trưng của tư duy sáng tạo gắn bó mật thiết với nhau, chúng tácđộng qua lại và bổ ượ cho nhau Trong tư duy sáng tạo, tính độc đáo làm nên

sự sáng tạo ưong tư duy, tính nhạy cảm là cơ sở cho sự xuất hiện của sáng tạocòn tính nhuần nhuyễn, tính hoàn thiện và mềm dẻo lại là nền tảng để có đượcnhững thuộc tính còn lại của TDST

1.3 Đặc điểm nhận thức của học sinh lớp 1

Trong đời sống tâm lí của mỗi con người thì nhận thức là một ưongnhững mặt cơ bản và quan ưọng Bậc học Tiểu học là bậc học mà ở đó nhận

Trang 23

thức của học sinh phát triển một cách nhanh chóng, các em

Bên cạnh đó, học sinh lớp 1 tri giác đối tượng thường gắn liền với một

số hành động, hình ảnh trực quan Các em tri giác sự vật, hiện tượng thườngchỉ dừng ở mức độ nhận biết và gọi tên được chúng thông qua quan sát, cầmnắm, sờ mó, chứ không đi sâu vào tìm hiểu chi tiết Tri giác của học sinhlớp 1 mang tính đại thể và các em chỉ tri giác khi được giáo viên hướng dẫn

Ở lớp 1, việc tri giác các vật có kích thước quá to hay quá nhỏ là rấtkhó khăn với các em Các em tri giác thường mang tính không chủ định vàthường chỉ tri giác được một phần, một bộ phận nổi bật nào đó của đối tượng

1.3.2 Nhận thức lý tính

1) Tư duy

Là hạt nhân của hoạt động trí não, tư duy của trẻ ở bậc tiểu học đangngày càng phát triển và điều đó thể hiện qua việc học sinh chuyển từ tư duymang tính trực quan, cụ thể sang tư duy mang tính trừu tượng, khái quát

Chuyển từ hoạt động chủ đạo chính là vui chơi sang hoạt động chủ đạochính là học tập tư duy trực quan, cụ thể chiếm ưu thế ở HS lớp 1 Các thaotác tư duy như phân tích, tổng hợp, khái quát hóa, trừu tượng hóa kiến thức ởhầu hết HS lớp 1 vẫn còn sơ đắng Các em chủ yếu thường lĩnh hội kiến thức

Trang 24

(qua các hoạt động như phân tích - trực quan - hành động) một

Bước vào lớp 1, bộ não của trẻ phát triển hơn nhiều so với trẻ mầm nonnên tưởng tượng của HS cũng phát triển phong phú hơn Tuy nhiên, thực tếcho thấy tưởng tượng của HS lớp 1 vẫn còn tản mạn, ít có tổ chức, hình ảnhcủa tưởng tượng còn đơn giản, mờ nhạt Các chi tiết về sự vật hiện tượng khiđược tái tạo vẫn còn nghèo nàn, hay bỏ sót nhiều chi tiết, hay thay đổi vàthiếu bền vững

3) Trí nhớ

Trí nhớ hay còn gọi là ghi nhớ, là hoạt động con người ghi lại, giữ gìn

và tái hiện lại những kí ức, những gì mà họ đã trải qua trong cuộc sống ở não

bộ Trí nhớ có vai trò vô cùng quan trọng, nó là công cụ giúp cho trẻ học tập

và phát triển trí tuệ của mình tốt hơn

HS tiểu học đặc biệt là HS lớp 1 thì trí nhớ trực quan hình tượng chiếm

ưu thế Các bài học gây được ấn tượng, giàu hình ảnh sẽ khiến trẻ dễ ghi nhớhơn Các em chủ yếu ghi nhớ một cách máy móc, rập khuôn bằng cách họcthuộc lòng tài liệu theo đúng từng câu chữ mà không học theo ý hiểu củamình vì HS lớp 1 vẫn còn hạn chế về ngôn ngữ các em ghi nhớ máy móc dễdàng hơn ghi nhớ ý nghĩa Các em chưa hiểu hết được nội dung, ý nghĩa của

Trang 25

tài liệu học tập nên việc dựa vào các ý chính để ghi nhớ hay ghi

Ở giai đoạn đầu Tiểu học chú ý của các em bắt đầu phát triển, trẻ hứngthú tiếp nhận những kiến thức, những cái mới tuy nhiên khả năng kiểm soát,điều khiển chú ý vẫn còn nhiều hạn chế Chú ý có chủ định của HS khôngdiên ra được lâu do quá trình ức chế của não bộ còn yếu cho nên hầu hết HSlớp 1 có chú ý không chủ định Các em dễ dàng bị thu hút bởi tất cả những gìmới mẻ: dễ bị thu hút bởi các trò chơi học tập, các đồ dùng, phương tiện dạyhọc trực quan sinh động, hấp dẫn, Tuy nhiên, bên cạnh đó trẻ cũng dễ bị mấttập trung, hay bị phân tán trong quá trình học tập bởi các sự việc bất ngờ xảy

ra xung quanh lớp học Điều này cho thấy chú ý của học sinh lớp 1 còn thiếu

sự bền vững Vì vậy, trong quá trình giáo dục để rèn luyện sự chú ý cho trẻ,giáo viên nên yêu cầu học sinh thực hiện những hoạt động đòi hỏi sự tậptrung chú ý cao độ, nên sử dụng các đồ dùng phương tiện hợp lí và hạn địnhkhoảng thời gian để trẻ tập trung hoàn thành nhiệm vụ được giao

5) Ngôn ngữ

Ngôn ngữ là phương tiện con người sử dụng để giao tiếp với nhau Từkhi nằm trong bụng mẹ trẻ đã được tiếp xúc với ngôn ngữ thông qua giai điệucủa các bài hát, qua các câu chuyện mẹ hay kể, Khi trẻ dược sinh ra thì sựtiếp xúc với ngôn ngữ ngày càng nhiều hơn và trẻ cũng dần dần sử dụng ngônngữ để giao tiếp, để tiếp cận thế giới xung quanh

Trang 26

Lớp 1 là bước ngoặt lớn trong cuộc đời của trẻ Bước vào lớp 1, trẻ đãnói được trôi chảy và bắt đầu tiếp xúc với một thứ ngôn ngữ mới là ngôn ngữviết Vốn từ của trẻ cũng tăng lên một cách đáng kể qua quá trình học tập.Nhờ có ngôn ngữ, trẻ có thể tìm hiểu thế giới xung quanh một cách chủ độngqua việc tự đọc, tự học và tự tìm tòi khám phá Bên cạnh đó, ngôn ngữ còn là

cơ sở, là phương tiện mà trẻ sử dụng để thể hiện cảm giác, tri giác, ý nghĩ tưduy và tưởng tượng của mình Có thể nói, ngôn ngữ đóng vai trò vô cùngquan trọng trong quá trình nhận thức của trẻ và ta có thể đánh giá được sựphát triển trí tuệ của trẻ thông qua ngôn ngữ

1.4 Nội dung dạy học môn Toán lớp 1

Theo Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể (2018) [2] nói chung vàChương trình giáo dục phổ thông môn Toán (2018) nói riêng thì nội dungchương trình môn Toán lớp 1 hiện nay gồm các mạch kiến thức cơ bản sau:

vi 100

- Đếm, đọc, viết được các số trong phạm

vi 10; trong phạm vi 20; trong phạm vi100

- Nhận biết được chục và đơn vị, số trònchục

So sánh các

số trong phạm vi 100

Nhận biết được cách so sánh, xếp thứ tựcác số trong phạm vi 100 (ở các nhóm cókhông quá 4 số)

Các phép Phép cộng, - Nhận biết được ý nghĩa của phép cộng,

Trang 27

Nội dung Yêu cầu cần đạt

tính với số

tự nhiên

phép trừ phép trừ

- Thực hiện được phép cộng, phép trừ(không nhớ) các số trong phạm vi 100

- Làm quen với việc thực hiện tính toántrong trường hợp có hai dấu phép tínhcộng, trừ (theo thứ tự từ trái sang phải)

Tính nhẩm - Thực hiện được việc cộng, trừ nhẩm

trong phạm vi 10

- Thực hiện được việc cộng, trừ nhẩm các

số tròn chục

Thực hành giải quyết vẩn đề liên quan đến các phép tính cộng, trừ

- Nhận biết được ý nghĩa thực tiễn củaphép tính (cộng, trừ) thông qua tranh ảnh,hình vẽ hoặc tình huống thực tiễn

- Nhận biết và viết được phép tính (cộng,trừ) phù hợp với câu trả lời của bài toán

có lời văn và tính được kết quả đúng

- Nhận biết được vị trí, định hướng trongkhông gian: trên - dưới, phải - trái, trước

- sau, ở giữa

- Nhận dạng được hình vuông, hình tròn,hình tam giác, hình chữ nhật thông qua

Trang 28

Nội dung Yêu cầu cần đạt

đơn giản hoặc vật thật

- Nhận dạng được khối lập phương, khốihộp chữ nhật thông qua việc sử dụng bộ

đồ dùng học tập cá nhân hoặc vật thật

Thực hành lẳp ghép, xếp hình gan với một sổ hình phẳng

và hình khối đơn giản

- Nhận biết và thực hiện được việc lắpghép, xếp hình gắn với sử dụng bộ đồdùng học tập cá nhân hoặc vật thật

Đo tường

Đo lường Biểu tượng

về đại lượng

và đơn vị đo đại lượng

- Nhận biết được về “dài hơn”, “ngắnhơn”

- Nhận biết được đơn vị đo độ dài: cm

(xăng- ti- mét), đọc và viết được số đo độdài trong phạm vi lOOcm

- Nhận biết được mỗi tuần lễ có 7 ngày vàtên gọi, thứ tự các ngày trong tuần lễ

- Nhận biết được giờ đúng trên đồng hồ

Thực hành

đo đại lượng

- Thực hiện được việc đo và ước lượng độdài theo đơn vị đo tự quy ước (gang tay,bước chân, )

- Thực hiện được việc đo độ dài bằng

thước thắng với đơn vị đo là cm.

- Thực hiện được việc dọc giờ đúng trên

Trang 29

Nội dung Yêu cầu cần đạt

HOẠT ĐỘNG THỰC HÀNH VÀ TRẢI NGHIỆM

- Nhà trường tổ chức cho học sinh một số hoạt động sau và có thể bổsung các hoạt động khác tùy vào điều kiện cụ thể

Hoạt động J: Thực hành ứng dụng các kiến thức toán học vào thực

tiễn, chẳng hạn:

- Thực hành đếm, nhận biết số, thực hiện phép tính trong một số tìnhhuống thực tiễn hằng ngày (ví dụ: đếm số bàn học và cửa sổ trong lớphọc, )

- Thực hành các hoạt động liên quan đến vị trí, định hướng khônggian (ví dụ: xác định được một vật ở trên hoặc dưới mặt bàn, một vậtcao hơn hoặc thấp hơn vật khác, )

- Thực hành đo và ước lượng độ dài một số đồ vật trong thực tế gắn

với đơn vị đo cm; thực hành đọc giờ đúng trên đồng hồ, xem lịch loại

lịch tờ hằng ngày

Hoạt động 2: Tổ chức các hoạt động ngoài giờ chính khóa (ví dụ: các

trò chơi học toán, ) liên quan đến ôn tập, củng cố các kiến thức cơbản”

Từ bảng trên ta thấy được, nội dung chương trình môn Toán lớp 1 được

Trang 30

học và Đo lường Ngoài ra còn có Hoạt động thực hành và trải

hay các hoạt động ngoài giờ lên lớp,

1.5 Thực trạng phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh lớp 1

1.5.1 Mục đích khảo sát

Tìm hiểu thực trạng phát triển TDST cho HS lớp 1 hiện nay thông qua việc:

- Tìm hiểu nhận thức của GV về TDST và vấn đề dạy học phát triển TDSTcho HS lớp 1

- Tìm hiểu nhận thức của HS lớp 1 về TDST cũng như sự cần thiết của TDSTđối với các em

1.5.2 Đối tượng khảo sát

Các GV đang trực tiếp giảng dạy khối lớp 1 tại trường tiểu học TíchSơn và toàn bộ HS khối lớp 1 tại trường

1.5.3 Phương pháp khảo sát

Tôi đã tiến hành trò chuyện, phỏng vấn trực tiếp một số GV và HS khốilớp 1 tại trường tiểu học Tích Sơn Tham gia dự giờ một số tiết học, thamkhảo giáo án, kế hoạch dạy học của các GV cũng như nghiên cứu một số tàiliệu có liên quan để tìm hiểu thực trạng về việc phát triển tư duy sáng tạo chohọc sinh lớp 1 trong quá trình dạy học hiện nay

1.5.4 Kết quả khảo sát

Qua việc tiến hành điều ha, khảo sát thực hạng dạy và học của GV và HStrường tiểu học Tích Sơn chúng tôi rút ra được một số kết luận sau:

Trang 31

ỉ.5.4.ỉ Nhận thức của GV về TDST và vấn đề dạy học phát triển TDST cho

HS lớp 1

Qua quá trình thực tập tại trường Tiểu học Tích Sơn trên địa bàn tỉnhVĩnh Phúc, tôi nhận thấy rằng hiện nay phần lớn GV đang giảng dạy lớp 1 tạitrường đã có những hiểu biết nhất định về TDST điều đó thể hiện ở việc khiđược đặt câu hỏi: “Theo quan điểm của thầy/cô, thế nào là TDST?” thì hầu

hết GV đều cho rằng: TDST là quá trình não bộ tiến hành suy nghĩ, tư duy để

tìm ra được những giải pháp, phương pháp hay những ỷ tưởng mới lạ và độc đáo nhằm giải quyết các vẩn đề hay nhiệm vụ đặt ra một cách hiệu quả Điều

này cho thấy quan niệm của GV về TDST đã có sự nhất quán và rõ nét Tuynhiên khi được hỏi “Làm thế nào để có thể giúp HS phát triển TDST trongquá trình học tập” thì có GV không đưa ra được câu trả lời, có GV đưa ra câutrả lời nhưng vẫn còn chưa rõ ràng, còn mơ hồ, mang tính kinh nghiệm, cảmtính như: GV nói rằng dạy học phát triển TDST cho HS là luôn luôn đặt racho HS những câu hỏi nhằm kích thích HS suy nghĩ, tư duy; khuyến khích HStích cực hoạt động, giải quyết vẫn đề bằng nhiều cách; cho HS làm thật nhiềubài tập và hướng dẫn HS nhanh chóng phát hiện sai lầm trong giải toán, Tuynhiên, khi đặt ra câu hỏi cho các thầy cô “Những câu hỏi như thế nào mớikích thích được TDST cho HS” hay “Hệ thống bài tập như thế nào mới giúphọc sinh phát triển tư duy sáng tạo” thì phần lớn GV không trả lời được haytrả lời một cách đại khái, chung chung Các thầy cô không nêu ra được biệnpháp dạy học cụ thể nào nhằm giúp HS phát triển TDST

Tuy chưa thực sự chú ý đến vấn đề dạy học phát triển TDST cho HStrong quá trình dạy học nhưng GV lại rất chú ý đến những hoạt động (biểuhiện) thể hiện khả năng TDST của HS điều này cho thấy khi chúng tôi đưa racâu hỏi: “Theo Thầy/Cô, HS có những hoạt động nào thể hiện khả năng

Trang 32

HS tích cực, chủ động trong quá trình học tập (ham học hỏi,

về việc phát triển TDST cho HS mà giáo án của GV chủ yếu được soạn dựatrên các mẫu trong sách thiết kế bài giảng Điều này cho thấy việc phát triểnTDST cho HS hiện nay vẫn chưa thực sự được quan tâm đúng mực, chưa thực

sự trở thành vấn đề bắt buộc trong việc dạy học của GV

Khi được hỏi về khả năng phát triển TDST cho HS thông qua hệ thốngbài tập trong SGK Toán lớp 1, đa phần các thầy cô đều cho rằng SGK Toánlớp 1 có hệ thống bài tập phong phú giúp các em củng cố kiến thức, luyện tập,

ôn tập khá đầy đủ tuy nhiên chúng đều là những bài tập chủ yếu giúp các emnhận biết mà chưa có nhiều bài tập giúp học sinh phát triển TDST Bên cạnh

đó, nhận thức được tầm quan trọng của việc phát triển tư duy sáng tạo chohọc sinh nhưng GV chưa có một hệ thông bài tập, chưa có một phương pháp

Ngày đăng: 18/08/2020, 15:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w