Với tiếng Việt cổ từ thế kỷ XVIII trở về trước, cụm có nghĩa là tập hợp các tán lá của các loài cây đây là nghĩa phổ dụng nhất, nhưng cũng đã bắt đầu mở rộng trường nghĩa để chỉ một tập
Trang 1NHỮNG GHI CHÉP CHỮ NGHĨA KHI ĐỌC
"QUỐC ÂM THI TẬP" CỦA NGUYỄN TRÃI
(Phần 2)
Bài Những ghi chép chữ nghĩa khi đọc Quốc âm thi tập của
Nguyễn Trãi (phần 1) của Nguyễn Hùng Vĩ đã phát hiện và sửa
chữa 27 trường hợp, xuất hiện 41 lần chữ phiên sai của các thế hệ
học giả từ 1956 đến nay. Bài này chúng tôi tiếp tục phát hiện và
sửa chữa thêm 14 trường hợp, xuất hiện 20 lần nữa như đã hứa
Trang 21 Hàu chất so le CỤM cuối làng (9 6)
Về chữ cụm [木+禁] này, các bản phiên của Trần Văn Giáp,
Phạm Trọng Điềm (1956), Đào Duy Anh (1976), Bùi Văn Nguyên (1994), nhóm Mai Quốc Liên (2001), Nhóm Nguyễn Tá Nhi (2008)
đều phiên là khóm. P. S1991 phiên là cụm và Từ điển chữ Nôm do GS Nguyễn Quang Hồng chủ biên (2006) cũng phiên cụm trong phần ngữ liệu. Chúng tôi cho rằng phiên khóm là chưa đúng vì những lẽ
4, tr. 102], [7, tr. 203]
Chữ cụm chúng ta đang nói xuất hiện 4 lần và được ghi bằng
mã chữ [bộ mộc 木+ cấm 禁 ]. Những văn cảnh xuất hiện như sau:
9. 6 Hàu chất so le cụm cuối làng.
Trang 3cả hai câu này ta thấy không thể ấn định một nghĩa cứng nhắc nào cả:
Tằm ôm lúc nhúc thuyền đầu bãi
Hàu chất so le cụm cuối làng.
Về ngữ âm, chữ cấm theo cách đọc Hán Việt rõ ràng là gần với cụm hơn khóm, ít ra là về thủy âm và chung âm. Trong từ điển của P. de Béhaine nói trên mục chữ cụm cũng viết [ mộc + cấm] với chú thích cụm là bụi, với ngữ liệu bụi cây. Lại ở đây nữa, ta thấy các
cụ làm bản Nôm rất chọn lọc chữ. Phần biểu ý dùng bộ mộc là hợp
lí. Từ điển chữ Nôm của Nguyễn Quang Hồng chủ biên còn
ghi cụm với các tự dạng [口+禁], [扌+禁] với các văn cảnh khác như: Một am ở cụm Tây Lâm (Dương Từ, Hà Mậu, 12), Khu đào cụm
liễu trải qua (Dương Từ, Hà Mậu, 11), Xảy nghe bên cụm dâu xanh
(Dương Từ, Hà Mậu, 20), Khuất cụm câu buông cần nhẹ (Hồng Đức Quốc Âm thi tập, 29a), Ít nhiều hương cụm nhặt thưa bóng cành (Hoa Tiên, b), Rễ cụm tóc trên (Đại Nam quốc ngữ, 68a) [15, tr. 214‐215].
Từ điển chữ Nôm trích dẫn của Viện Việt học thì lại đánh đồng
giữa cụm và khóm, coi khóm là hình thức chính thức hơn. Tuy nhiên,
ngay trong một mục từ thì các soạn giả lại có các phương án phiên
Trang 4khác nhau (thành khóm, cụm, cắm) [17, tr. 615]. Thiết nghĩ, nên chuyển tất cả các ngữ liệu trên về dạng cụm cho chuẩn. Từ điển này cung cấp thêm một số ngữ liệu như sau: Kỳ viên mấy cụm đào
hồng, nùm hoa sim dại con ong ước thầm (Thiên Nam ngữ lục, c.
5717‐5718), Ngọn nguồn kia lai láng mái ghềnh kia, Đèn chiếu thủy vốn
chia dòng Kinh Vị; chòm cỏ mọc tần vần bên miếu nọ, trống thôi hoa từng ghẽ cụm lan du (Tây Hồ, 51a), sực nhìn dưới cụm phù dung, phấn môi nắng ánh áo hồng gió bay (Song tinh bất dạ, c. 893‐894),ngoài ra,
chữ này, chúng tôi còn phát hiện dùng để ghi âm động từ cặm hoặc cắm vì gần âm hơn: nhác trông sao đẩu về đông, chị em ra sức cho
xong mẫu này, lom lem tay cặm(cắm) chân dày, năng trồng cây ngọc cũng ngày hữu thu (Thanh Hóa quan phong, 19a) [17, tr. 615]. Ngữ liệu
đến đây đã tạm đủ. Chúng ta có thể tiến hành phân suất nghĩa để
phân biệt từ cụm và khóm như sau. Với tiếng Việt cổ từ thế kỷ XVIII trở về trước, cụm có nghĩa là tập hợp các tán lá của các loài cây (đây
là nghĩa phổ dụng nhất), nhưng cũng đã bắt đầu mở rộng trường
nghĩa để chỉ một tập hợp khác lớn hơn (như trong câu cụm cuối
làng), ngoài ra cụm còn là một động từ (cụ thể xin xem trường hợp
dưới); từ khóm là từ trỏ các không gian lớn hơn nhưng có sự phân cắt, ví dụ: khóm đất, khóm ruộng, khóm nước, khóm Thương Lang. Một
số ngữ liệu bổ sung như sau: trời trời xanh, nước nước biếc, làu làu
muôn khóm pha lê (Thúy sơn, 1a), thức xuân rước gió như cười, chòm thanh khóm dật khác vời chân du (Mai đình mộng ký, c. 153‐154). Thế
Trang 5làm nghèo chữ nghĩa của Nguyễn Trãi.
2 Cây CỤM chồi cành chim kết tổ (11 4)
Về câu thơ này cũng không có sự thống nhất khi phiên. Trần Văn Giáp, Phạm Trọng Điềm (1956) đã phiên chữ Nôm [艸+禁]
là cớm và chú thích Cây cớm: Cây lá um tùm. Đào Duy Anh (1976) vì cho rằng chữ cấm là do chữ diệp lộn thành nên phiên là rợp. Bùi Văn Nguyên (1994) phiên là rậm. Nhóm Mai Quốc Liên (2001) cũng theo phiên là rậm còn Nguyễn Tá Nhi (2008) trở lại phiên cớm. Tự
điển Chữ Nôm của Viện Nghiên cứu Hán Nôm, và Tự điển chữ Nôm trích dẫn của Viện Văn học cũng phiên là cớm.
Chúng tôi không đặt vấn đề chữ viết lộn vì mã chữ này vẫn
có thể cho chúng ta một số phương án đọc khác. Chữ rậm mới
nghe thì có vẻ thuyết phục cả về âm, về nghĩa và về đối thơ nhưng nghĩ kĩ sẽ không ổn vì hầu như chưa gặp tiền lệ ghi Nôm như thế. Tuy nhiên, phương án nào hợp lý hơn cả thì lại cần phải biện luận
cuốn Việt Nam tự điển của Hội Khai trí Tiến Đức năm 1931 [tr. 95]. Chúng ta gặp chữ rậm được ghi bằng các mã chữ như sau
林,甚,椹,葚,và [艸 +椹] [15, tr. 943]. Nhóm Mai Quốc Liên lấy
ngữ liệu Truyền kì mạn lục giải âm dùng chữ này (mà các ông phiên
là khóm – Nguyễn Hùng Vĩ nhấn mạnh) để dịch chữ Hán tùng rồi
Trang 6lấy nghĩa rậm rạp, bụi rậm làm nghĩa chính để chứng minh cách phiên rậm là quá ép nghĩa. Tùng trước hết vẫn có nghĩa là bụi. Còn
rậm là nghĩa suy ra, nghĩa phái sinh do các soạn giả tự suy đoán. Về
từ nguyên, thì rậm có thể có nguyên từ là sâm 森, từ sâm còn cho một biến thể khác là sum trong tiếng Việt. Còn từ cụm trong chữ Nôm vẫn được ghi nhất quán chỉ bằng 1 thanh phù duy nhất là cấm
禁 như đã nêu trên.
Cũng như ở mục 1, ta thấy cấm đã biểu âm cho cụm, thì ở đây cấm vẫn biểu âm đó, nhất quán. Về đối thơ cụmhoàn toàn có thể đối được với quang ở câu sau khi hai thực từ này đều chỉ trạng
3 Khách ₫ến vườn còn hoa LIẾC (35 5)
Chúng tôi chọn phương án phiên 落 là LIẾC trong câu thơ này là sau một quá trình suy nghĩ nghiêm túc để đạt đến sự hợp lí
giữa chữ, nghĩa và âm đọc. Phiên lác như các tác giả khác cũng được, nhưng rất tiếc là họ đã hiểu sai nghĩa nên dùng liếc là để
phân biệt cho rõ. Về chữ này, ta thấy:
Trần Văn Giáp, Phạm Trọng Điềm (1956) phiên là lác và chú
thích: “Hoa lác: Vườn còn lác đác mấy đóa hoa”.
Trang 7Đào Duy Anh (1976) không đồng thuận với cách phiên hoa
Nhóm Mai Quốc Liên (2001) cũng phiên lác và chú thích:
“Chữ Hán đọc là lạc, chữ Nôm 落. Có thể phiên là lác hoặc rác.
Lác có nghĩa là lác đác. Từ điển Génibrel có ghi 落 lác: và đã dịch
lác đác là rare (hiếm, còn ít); 落 rác và đã dịch lác rác cũng là rare.
Hoa lác đác. Trần Văn Giáp, Đào Duy Anh, PS đều phiên và giải thích như thế. PS cũng ghi thêm một cách đọc khác là hoa lạc và giải thích là hoa rụng (les fleurs tombées) ”.
Nhóm Nguyễn Tá Nhi (2008) cũng đồng ý cách phiên và hiểu như trên.
Trang 8thích từ kép lác đác và lác rác chứ không giải thích riêng từ lác.
Không phải từ kép nào thì mỗi âm tiết của nó cũng mang nghĩa chung cho cả từ.
4 Kẻo còn LOẠT LOẠT chữ Tương Như (36 2)
Trang 9Nhóm Mai Quốc Liên chủ trương phiên lọt lọt và dẫn thêm Vũ Văn Kính và Paul Sneidere phiên rọt rọt. Các cụ viết trong sách: “Lọt
lọt: Luật đọc chệch thành lọt lọt, nghĩa là rõ ràng mồn một. Đào Duy
Anh cũng phiên lọt lọt và giải thích: Còn thấy rõ ràng mồn một chữ của Tương Như. PS phiên rọt rọt, ở bảng từ vựng giải thích là
Suivre, poursuivre (theo, theo đuổi, đeo đẳng), rebattre les oreilles (đập vào tai, nói mãi nghe đến chán tai) và dịch câu thơ này là “Il
me semble entendre sans cesse le nom de Tuong Nhu (Hình như ta không ngừng nghe tên của Tương Như). Bản B chép[糸+卞] [糸+卞]
có một loạt, nhất loạt, hàng loạt, cả loạt hà cớ gì không có loạt loạt. Dễ
như vậy thì mà các cụ cựu học xưa nay không biết sao? Thực ra, trong câu thơ trên, hình như chữ KẺO làm cho người phiên bối rối
vì nhiều người hiểu kẻo còn là một kết cấu chặt. Nếu theo dõi 12 lần xuất hiện chữ kẻo trong toàn văn bản thì ta thấy tình hình khác như vậy và hai chữ loạt loạt sẽ sáng ra:
Trang 10Và tất cả những chữ kẻo trên chúng ta đều có thể thay thế bằng chữ khỏi hiện nay mà vẫn trọn nghĩa. Tất nhiên là chữ khỏi hiện nay để chúng ta hiểu chứ không phải là chữ khỏi thời Nguyễn Trãi.
Trang 11thi tập thì thấy hai chữ này có sự phân nghĩa tinh tế nhưng khá rõ
ràng là chữ khỏi thời đó chủ yếu mang nghĩa chỉ việc chủ thể phát ngôn chủ động ra khỏi một hiện thực không gian nào đó và vì vậy
nó thường có quan hệ với một hình thức danh từ nào đó).
Như vậy để hiểu trường hợp đang bàn, ta thay chữ kẻo bằng chữ khỏi hiện nay, kết quả sẽ là:
Án tuyết mười thu uổng độc thư
Khỏi còn loạt loạt chữ Tương Như.
Theo sự mách bảo của cả 11 trường hợp trên thì lúc này,
chữ kẻo sẽ quan hệ với một động từ và động từ đó sẽ là độc thư.
Tác giả vừa thoát khỏi cảnh mười năm phí uổng độc thư. Cái còn
lại sau đó sẽ là loạt loạt chữ Tương Như nữa mà thôi. Chúng tôi như đang có vẻ cố tình tách chữ kẻo khỏi chữ còn. Nhưng không phải.
Chúng ta lại dùng phép thay thế. Ví dụ, ngay bây giờ chúng ta có
phát ngôn: Bia rượu cả tuần quá say sưa. Khỏi, còn váng vất đến bây
giờ hoặc Bệnh viện năm tuần nằm chữa bệnh; khỏi, còn chất đống bao nhiêu bài vở. Hay chúng ta có biến thể khác: Trên biển cả tháng lênh đênh, xong lên bờ vẫn còn loạng choạng hay Hội hè từ nam chí bắc, xong hết sạch cả tiền tiết kiệm Chúng ta không thể nói rằng, những
câu trên là không hiểu nổi hoặc không thuần Việt. Đọc những câu thơ của Nguyễn Trãi ta thấu hiểu tâm sự của Cụ hơn:
Án tuyết mười thu uổng độc thư Kẻo còn loạt loạt chữ Tương Như Nước non kể khắp quê Hà Hữu
Sự nghiệp nhàn khoe phú Tử Hư.
Có thể diễn đạt ý nhà thơ như sau: Qua khỏi 10 năm uổng phí đọc sách thánh hiền trong nghèo khó, cái còn lại chỉ là miên
Trang 125 GIẠI LÒNG ĐƠN, nhật nguyệt thâu (40 4)
Câu thơ này cũng có nhiều cách hiểu và cách phiên khác nhau và cần phân tích để hiểu rõ.
Trần Văn Giáp ‐ Phạm Trọng Điềm (1956) phiên là Dãi lòng
đan và giải thích lòng đan là lòng son.
Đào Duy Anh (1976) phiên Giãi lòng đơn và không chú thích. Nhóm Mai Quốc Liên (2001) phiên là Dãi lòng son, Nhóm
Nguyễn Tá Nhi (2008) quay lại phiên và hiểu như Trần Văn Giáp ‐ Phạm Trọng Điềm (1956).
Trang 13Trong câu thơ đang bàn, chữ giại được ghi đãi 待. Đãi âm Hán Việt đọc giại âm Nôm là đúng. Và sự phân biệt với dãi là có
ý, ít ra là của các bậc cổ học khi làm sách này.
Giại lòng đơn là cái giại đan róng mốt sơ sài để che chắn nên
ánh mặt trời, ánh trăng có thể xuyên thấu (nhật nguyệt thâu). Trong
nghề đan lát, có những từ nghề nghiệp chỉ cách đan hoặc tả mặt đan. Róng (hoặc lóng, dóng, nong) mốt, róng hai, róng ba, róng bốn, róng năm là chỉ cách gài nan. Còn để tả mặt đan khi sản phẩm đã hoàn thành người ta nói: lòng đơn, lòng kép, lòng thia,
lòng gấm. Lòng đơn để chỉ hoa văn mặt sản phẩm đan róng mốt tạo nên. Lòng kép để chỉ hoa văn mặt sản phẩm đan róng hai róng
ba tạo nên. Lòng thia để chỉ hoa văn mẹt sảy, nia sảy mà trên đó,
nan dọc lao đi cách quãng như ném thia lia trên mặt nước. Dụng
cụ này khi sảy, người ta sảy dọc để dễ thoát những phần tử nhẹ, khi gằn để gạn, người ta người ta gằn ngang để dễ giữ lại cát sạn
Nhưng đó là nghĩa thực, lớp nghĩa thứ nhất của câu thơ. Bởi
vì, lòng đơn còn có nghĩa là lòng son, là đan tâm (tấm lòng trung thành bền chặt), nhật nguyệt còn chỉ minh quân, chỉ vũ trụ, đất trời
Trang 14cho nên câu thơ còn hàm ý biểu hiện: Tấm lòng trung thành bền chặt của ta đã có mặt trời mặt trăng soi thấu. Ở đây, rõ ràng câu thơ Nguyễn Trãi sử dụng yếu tố chơi chữ sâu kín và thầm lắng.
lự, băn khoăn dẫn đến những giải pháp rất khác nhau, đôi tranh
với nhau. Ở trường hợp này, đọc giại lòng đơn vẫn có thể hiểu lớp nghĩa dãi lòng son như thường khi mà giại, giãi, dãi trong tiếng khu
bốn đến nay vẫn phát âm không phân biệt và cũng còn nhiều chứng cứ ngữ âm về sự không phân biệt này cách đây 3, 4 thế kỷ,
dù ở Bắc hay ở Trung. Khu bốn chỉ là hình thức bảo lưu khi kinh
kỳ phát triển nhanh và không ngừng mà thôi.
6 Mây QUÊN KHÁCH, nguyệt vô tình (65 2 bản B)
Chúng tôi phiên câu này theo bản B. Bản A ghi câu này có
đảo thứ tự giữa chữ khách và chữ nguyệt và nên phiên là Mây
Trang 15Chúng tôi thấy chữ quyến vốn là chữ Hán 眷 đã có cách đọc Hán Việt rất quen thuộc và tiện lợi với các nét nghĩa quyến
nhớ hay gia quyến, thân quyến. Trong Quốc âm thi tập, chữ này vẫn
là một từ Hán Việt thông dụng thời Nguyễn Trãi với nghĩa là quyến rủ, lôi cuốn, quấn quýt, quyến luyến xuất hiện 5 lần trong những bài sau:
Nghĩa rất trọn và chữ rất rõ. Vậy, trong câu thơ đang bàn,
với chữ 涓 này, chúng ta không thể phiên là quyến được. Chỉ có thể phiên quen hoặc quên mà thôi.
Có thể, những người chủ trương phiên quyến là do ảnh
hưởng cách ngắt nhịp câu thơ làm đôi của những người phiên đầu
tiên (Mây quen nguyệt// khách vô tình) và thấy cụm mây quen
nguyệt nghe cầu kỳ, nghĩa nông cạn mà đổi thành mây quyến nguyệt, bất chấp chữ trên văn bản. Nhưng nếu ta ngắt nhịp khác đi
thì chữ quen vẫn trọn ý:
Non Phú Xuân cao/ nước Vị thanh
Mây quen/ nguyệt khách/ vô tình.
Cảnh ẩn dật như Nghiêm Quang câu ở Phú Xuân, Lã Vọng câu ở sông Vị, mây là người quen, nguyệt là khách khứa, tất cả mọi chuyện đều vô sự, không phải nghĩ ngợi. Có thể, những bậc
cổ học biên soạn Quốc âm thi tập đã hiểu theo hướng này nên giữ chữ quen 涓. Nhưng cũng có điều cần nói là so với câu thơ ở bài 64
Trang 16câu 6 thì ta thấy ý có ngược lại: Mây khách khứa, nguyệt anh tam.
Nguyễn Trãi không coi nguyệt là khách!
Bản B cho ta một dị bản thú vị và chúng tôi thấy bản này về
ý nghĩa rất trọn vẹn và khả dụng hơn: [雨+迷]涓客月無情. Chúng
ta có thể phiên là Mây quên khách/ nguyệt vô tình. Mây quên khách là cụm từ lấy ý từ câu thơ của Đào Tiềm, một mẫu hình ẩn dật: Vân
vô tâm dĩ xuất tụ (Mây vô tâm, cứ tụ lại rồi cứ tan đi). Vô tâm như
vậy thì quên khách thơ là chuyện đương nhiên. Còn nguyệt vô
tình hay nguyệt vô tâm là điều mà Nguyễn Trãi đã từng nói đến.
Ông làm thơ trong tâm thế một người ẩn dật, lánh đời. Trong quá trình tìm hiểu thơ quốc âm của Nguyễn Trãi, chúng tôi thấy bản B còn lưu nhiều yếu tố cổ đáng được chú ý kĩ.
7 Nắng quáng, SƯA SƯA bóng trúc che (79 1)
Chúng tôi lựa chọn sưa sưa thay cho thưa thưa như các bản
phiên từ trước tới nay dù nghĩa không khác nhau. Chữ Nôm viết
疎疎 và cách đọc Hán Việt là sơ sơ. Chữ này cũng thường dùng ghi thưa với nghĩa chỉ một hành động nói năng trong văn Nôm.
Tuy nhiên, Nguyễn Trãi cách chúng ta đã hơn 500 năm và thời của ông, chữ Nôm đang hoàn thiện với tư cách là một hệ thống văn tự,
nó vẫn giữ cách phát âm cổ. Trong Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi không xuất hiện chữ thưa với nghĩa là động từ chỉ một loại
hành động nói năng nên chúng ta không có để so sánh. Chữ
sưa này với nghĩa chỉ một thực trạng vật chất không dày, ngược
với mau, xuất hiện 6 lần và đều có thể phiên sưa cả:
79. 1: Nắng quáng sưa sưa bóng trúc che
126. 1: Giậu sưa sưa hai khóm trúc
225. 4: Bóng sưa ánh nước động người vay
Trang 17kiểu thơ thủ vĩ tương liên).
Hiện tường dùng / th / để ghi / s / là việc hay thấy trong các
văn bản cổ. Trong văn bản Thiền tông khóa hư ngữ lục cho Tuệ Tĩnh giải nghĩa có dùng chữ thượng thượng 尚尚 để ghi từ sảng sảng: Sảng
sảng thửa những tiếng đàn địch hứng thổi lại gọi rằng ấy thực tiếng rồng ngâm; Rân rân thửa những tiếng chuông trống rôm rả gọi là ếch kêu. tr. 41b [18, tr. 153]
Hiện nay đi thực tế các vùng Bắc Ninh, Hà Tây cũ hay Nam
Định chúng tôi vẫn gặp phát âm sưa này trong sự phân biệt với thưa động từ chứ không chỉ vùng khu bốn mới dùng phổ biến. Phiên thưa dễ hiểu với mọi người ngày nay hơn nhưng phiên
sưa cũng không phải là không hiểu, hơn nữa giữ được âm hưởng
cổ của văn bản. Chúng tôi lựa chọn là vì thế.
8 Cây im, thư thất LẶNG bằng the (79 2)
Trần Văn Giáp ‐ Phạm Trọng Điềm (1956) phiên câu này
là Cây im, thưa thớt sáng bằng the và chú thích Cây im: Cây không có
gió động, bóng nắng thưa thớt chiếu xuống như một bức rèm the căng lên trên.
Đào Duy Anh (1976) cho chữ 烺 chép lộn thành 浪, nên
phiên lặng bằng the, và chú thích là “sáng như là có căng the, ánh
sáng lọt qua mà sáng hơi hơi (vì có bóng trúc che thưa thưa cho nên ánh sáng lọt qua mà phòng đọc sách được sáng). [10, tr. 754] Bùi Văn Nguyên (1994), Nhóm Mai Quốc Liên (2001) phiên theo GS Đào Duy Anh.
Nhóm Nguyễn Tá Nhi (2008) phiên Cây im thư thất rắng bằng
the và chú thích Rắng bằng: Tựa như.
Trang 18đều nhất loạt được phiên là: thừa lương đình vắng sáng bằng the (3a).
Chúng tôi thấy chữ 浪 trong câu trên phải phiên lặng mới
đúng cả về ngữ âm cả về ngữ nghĩa. Bài thơ được làm trong một buổi trưa hè nắng nóng, ít gió:
Nắng quáng, sưa sưa bóng trúc che
Cây im, thư thất lặng bằng the.
Nắng quáng là nắng nhìn lóa cả mắt. Ấy vậy mà mấy ngọn trúc chỉ che được phần thưa thớt mà thôi. Gió chưa có nên cây đứng im còn phòng đọc sách thì lặng như the vậy (đây là một lối
nói cổ hơn của cụm lặng như tờ). Tả như vậy là đủ thấy cái bức nực
của nắng hè. Chúng ta bây giờ đọc sách viết bài có phòng máy lạnh hoặc có quạt cây. Khi mất điện, ta sẽ hiểu ngay ra Nguyễn Trãi. Chốn ẩn dật của Nguyễn Trãi thuở xưa, chân núi Côn Sơn, đâu chỉ xuân hoa nở, thu trăng trong mà còn sẽ gặp những ngày
hè nóng nực. Cụ viết về cái cảnh đó để lại cho chúng ta hôm nay.
Nói lặng như tờ được thì ắt hẳn nói lặng bằng the cũng chắc chắn là
được. Chữ “lặng” ở đây vừa là tĩnh lặng vừa là không có một mảy gió nào, không chút rung rinh. Thế mới bức.
9 SAN SÁT KỀ song, giấc hòe (79 8)
Đây là câu kết của bài 79 là bài chúng tôi vừa sửa chữ cho
câu 1 và câu 2. Ba chữ San sát kề các tác giả trước đây phiên có
Trang 19tr. 755]
Bùi Văn Nguyên (1994) cũng phiên Thơn thớt cài song giấc hòe. Nhóm Mai Quốc Liên (2001) phiên là Thớt thớt cài song giấc
hòe và giải thích thơn thớt hay thớt thớt có nghĩa là qua loa, sơ sài.
Nhưng cách phân suất nghĩa như vậy là rất có vấn đề về mặt âm
và ngữ nghĩa. Vì động từ là cài song, cho nên âm đọc phỏng đoán và kéo theo là tạo nghĩa phỏng đoán là “qua loa sơ sài”. Cách tự gán âm
và gán nghĩa cho âm đọc mà không kiểm chứng qua từ điển cổ và ngữ cảnh như vậy sẽ gây nên nhiều điều bất cập.
Nhóm Nguyễn Tá Nhi (2008) phiên là Thít thít kề song giấc
Vậy chữ 掑窻 phải phiên là kề song như bản của Nguyễn Tá
vào”; “Kê cái sập san sát vào tường” và vẫn hiểu. Nhưng san
sát và kề đứng liền nhau thì có lặp lời không? Theo chúng tôi thì
Trang 20không phải là lặp. Bởi kề ở đây là động từ, và nó có một biến âm khác là kê và có thể còn có thêm ghé nữa trong câu thuyền kề bãi. Phân suất nghĩa của từ này ta thấy, kề là động từ cập vật với nghĩa
là dịch chuyển vị trí để sát gần với một không gian hay sự vật cụ
thể nào đó. Trong câu thơ này chữ san sát là trạng từ cho động
từ kề. Nếu có người cho rằng đây là một phát ngôn lặp lời thì cách nói dân dã cũng có những cách nói như sát kề, kề sát, kề cạnh, kề sít. Phân tích tiếp chủ thể của hành động kề: câu kề song gió trúc nàm
sách lặng, cái thẻ nhớ trang (con Chu Dịch) nằm im trong quyển
sách (nhường việc đọc sách cho nó), việc đàm luận nhân tình thế
Trang 21thái thì đã có cây quýt cây chè đứng im kia, đến tiếng xuýt xoa trong lúc khó khăn cũng chả thèm bật lên nữa, chỉ cụp mắt xuống
(mày nề) khi thấy khắp nơi xao xác; ngày nhàn trôi, thỉnh thoảng mới có tí gió (gió khoan khoan đến: lâu lâu mới có chút gió đến),
nằm kề sát bên cửa sổ đánh một giấc chiêm bao. Cũng phải nói
lợi và giải thích như sau: “Nhẻ. Chữ Nôm viết 你, TVG,PTĐ
phiên nhẹ, Đào Duy Anh: nhỉ, Bùi Văn Nguyên: nhẹ, PS nể; chúng tôi phiên nhẻ và hiểu nhẻ là đầy, như Từ điển Génibrel giải thích ở mục nhe nhẻ: Plein, rempli de. Từ nhẻ với nghĩa là đầy ở câu 3 đối với từ no là đủ ở câu 4, rất rõ ràng về ý nghĩa lại rất chỉnh về luật
đối trong thơ”.
Nhóm Nguyễn Tá Nhi (2008) phiên Chông gai né đường danh
lợi nhưng không có chú thích. Chúng tôi cho rằng cách phiên này
là đúng và phân tích các cách phiên như sau:
Trang 22chữ nễ 你 đọc là nhẻ. Cái chữ đọc là nhẻ là chữ [口+ 尓] [8, tr. 556]. Thứ hai, không có chữ nhẻ nào được chú thích là đầy cả mà chỉ có
từ nhe nhẻ ở mục nhe (ghi Nôm là [ 兒+小]) được chú trong khi đưa
ngữ liệu như sau: “Đầu nhe nhẻ những chấy (T), Têt e couvert de
poux” [8, tr. 556]; và ở mục nhẻ (ghi Nôm là [口+ 尓]) chú như sau:
“Nhe nhẻ (T), Plein, rempli de. (V. Nhe, 3)” [8, tr. 556]. Như vậy, ở đây, tác giả từ điển chú nghĩa cho cả từ kép chứ không cho riêng chữ NHẺ đang bàn. Không phải từ kép nào, từ lấp láy nào thì mỗi
Trang 23và thành tố đó đủ đại diện cho nghĩa cả từ. Ví dụ: nhan nhản, lai
rai, sa sả, lải nhải, nhồm nhoàm, xăm xắp, lểu thểu, lang thang, lỗ mỗ, lênh đênh, tung tăng, hớn hở, nhởn nhơ, xun xoe… Ở đây, từ điển chú
nghĩa không sai vì họ đã chú cả từ kép, chỉ người sử dụng từ điển
đã tùy tiện rút ra một chữ rồi cấp nghĩa cả từ cho nó để phục vụ cho ý mình là sai thôi. Thứ ba, vì thế, các từ điển trước và sau Génibrel của người bản ngữ đã không hề có từ đơn NHẺ với
nghĩa là đầy. Đến nay, nhiều từ điển chữ Nôm đã ra đời vẫn
không có mục từ đơn NHẺ với nghĩa đầy vì không có ngữ liệu thứ hai nào. Có thể khẳng định, cách phiên này đã tưởng tượng ra thêm một chữ cho kho tàng tiếng Việt mà thôi!
Chữ nễ 你 này phiên được là né vì:
‐ Đã có trong các từ điển như vậy. Ví dụ Từ điển P. de Béhaine
(1772‐1773) chữ Nôm 你 [5, tr. 396] và chữ quốc ngữ né (nghĩa là tránh) với các ngữ liệu né mình, tránh mình. Từ điển Aj. L. Taberd (1838) cũng tương tự [6, tr. 329]. Đại Nam quấc âm tự vị của Huinh Tinh Paulus Cua (1896) có chữ Nôm 你 và quốc ngữ là Né và chú
Trang 24Xem chữ né có hợp nghĩa câu thơ không, chưa cần phân tích,
Trang 2511 Tài LỌN công danh hợp mọi bề (141 1)
Bản Đào Duy Anh (1976) phiên là LUẬN và giải thích là: luận
về công danh thì thấy tài của mình là hợp mọi bề. Nhóm Mai Quốc Liên (2001) đã kế thừa cả cách phiên lẫn cách chú này. Tự dạng của
chữ này được ghi bằng 論, đọc theo âm Hán Việt là luận, nghĩa là
bàn luận. Trong văn bản phiên âm QÂTT của nhóm Mai Quốc Liên,
chữ luận còn được phiên thành trọn ở các vị trí sau 38. 3: trọn thuở
đông hằng nhờ bếp, 53. 6: già được trọn ấy là tiên, 58. 1: buồng văn đắp cửa trọn ngày thu, 187. 8: trung hiếu cương thường lòng đỏ, tự nhiên trọn nghiệp ba thân, 194. 1: mười hai tháng trọn mười hai, và được
phiên thành lọn ở ba vị trí là 216. 7: dầu thấy xuân lan cùng lọn được,
94. 1: ngồi coi tháng lọn lẫn ngày qua, 109. 1: lấy đâu xuất xử lọn hai bề.
Sở dĩ có sự phiên bất nhất như vậy vì mỗi đồng tác giả có phương pháp phiên âm khác nhau.
Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng vị trí này nên đọc là lọn chứ không phải là luận vì những lý do như sau.
Tài lọn là một từ được dịch từ chữ toàn tài trong Hán văn.
Trang 26Về cách phiên âm, chữ luận là một kiểu ghi âm không toàn
diện cho tổ hợp phụ âm đầu / tl / mà chúng ta thường thấy ở các văn bản từ thế kỷ XVII trở về trước. Ở thế kỷ XV, thời của Nguyễn Trãi thì tổ hợp phụ âm này còn khá phổ biến. Trong quá trình đơn tiết hóa mạnh của tiếng Việt, tổ hợp phụ âm / tl / sẽ có hai xu hướng phân hóa, thứ nhất là chuyển đổi thành phụ âm / tr /, thứ hai là rụng tiền tố / t / và lưu lại âm lỏng / l /. Sự phân hóa này
cứu phải chọn một âm đọc không thực sự cổ như thế bởi việc tái lập ngữ âm là / tlọn / như ở trường hợp này sẽ gây trở ngại rất nhiều cho người đọc hiện nay.
Trên đây là một số trường hợp chúng tôi đưa ra góp ý. Những ý kiến chúng tôi nêu ra trên đây có thể có đôi chỗ chưa thực sự tuyệt đối đúng, rất mong sẽ có những trao đổi thẳng thắn, mang tính học thuật và tôn trọng lẫn nhau. Mục đích của chúng tôi là, với tấm lòng trân trọng di sản thơ Nguyễn Trãi, để hiểu sâu tâm hồn danh nhân, trước hết phải khảo cứu chữ nghĩa cẩn thận. Chỉ qua những trao đổi học thuật mới càng ngày càng đúng đắn hơn. Từ đó chúng ta có thể rút ra những kinh nghiệm trong việc phiên và hiểu sâu kho tàng văn học Nôm của dân tộc.
Hà Nội 14 ‐ 6 ‐ 2010.
Trang 27Tài liệu tham khảo
1 Nguyễn Trãi 阮廌 (1868). Quốc âm thi tập 國音詩集. Việt Nam:
Phúc Khê tàng bản. (bản A)
2 Trương Vĩnh Ký (1884). Dictionnaire Annamite ‐ Francais.
3 A. de. Rhodes, (1994), Dictionarium Annamiticium Lussitanum
Vietnamiens (Từ điển Việt ‐ Bồ ‐ La), Rome 1651, Thanh Lãng
Trang 2811 Paul Schneider, (1993), Dictionnaire historique des ideogrammes
[1] Tiếc là đến nay chưa có một công trình nghiên cứu văn bản học nghiêm túc về tác phẩm Nôm quan trọng hàng đầu này.
[2] Trần Trọng Dương đề xuất cách phiên khác là nhác trong nhác trông. Cách phiên này vừa đảm bảo về nghĩa và mối tương quan giữa văn tự và âm thanh. Hơn nữa, phiên nhác cũng sẽ tạo âm hưởng cổ kính, hơn là liếc.
Trang 29NGUYỄN TRÃI VÀ SEX
Trong tập thơ Nôm Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi có một mục thơ đặc biệt, đó là mục Tích cảnh thi (Thơ tiếc cảnh). Thi phẩm gồm 13 thủ nối tiếp nhau, mỗi thủ 4 câu, trong đó có 8 thủ dùng cách tuyệt cú thủ vĩ liên hoàn, câu cuối của thủ trước liên hoàn
về ý, về chữ với câu đầu ở thủ sau. Trong 5 thủ còn lại, cũng có hai thủ cuối theo cách liên hoàn. Trong cổ thi thủ là bài, mục là tập hợp nhiều thủ. Đó là cách tính đơn vị theo hình thức. Ta thấy rất nhiều khi, mục tương đương với bài và thủ lúc đó tương đương
với khổ thơ, nhất là khi làm thơ theo cách tuyệt cú thủ vĩ liên hoàn, một cách để chủ thể sáng tạo kéo dài ý thơ khỏi sự gò bó
chật hẹp của khuôn khổ tứ tuyệt. Thực chất, Tích cảnh thi là một
bài thơ dài khi ta thấy tâm trạng của tác giả tuôn chảy qua suốt 13 khổ liền mạch, nồng nàn. Đó là tâm trạng của một thi nhân biết mình đã già, đứng trước sự luân chuyển của thời gian, của cảnh sắc rồi cảm động mà thốt nên thơ. Tôi đoán bài thơ này Nguyễn Trãi làm trong năm mình 60 tuổi, vì với nhà thơ xưa, năm chẵn và năm đại hạn dễ gây nên nhiều xúc động, suy tư, ví như các năm
30, 40, 49, 50, 60 tuổi.
Bài thơ ra đời cách nay đã hơn năm trăm rưỡi năm nhưng khi đọc ta không khỏi kinh ngạc vì tính hiện đại của nó. Nó xuyên thấu thời gian để hiện diện trước mắt chúng ta tươi tắn và nhuần nhị. Phải đặt vào thế kỉ XV chúng ta mới nhận ra sự bứt phá vô song của một thi nhân lớn, một nhân cách lớn. Trong suốt cả 13
Trang 30cứng/Rày liễu đã rủ tơ mềm), như vậy tỉ lệ sử dụng đối là 1/26 tính
theo dung lượng toàn bài. Tư duy đối liên là hết sức phổ biến trong thơ ca trung đại, Hán cũng như Nôm, khó ai mà thoát khỏi kiểu thức đó. Một bài thơ bát cú Đường luật, tỉ lệ đối lên đến 1/2. Đối với tứ tuyệt, theo căn nguyên hình thành thì sẽ có đến 3/4 số loại bài có đối. Với một tỉ lệ đối nhỏ một cách bất thường, sự lựa chọn của Nguyễn Trãi quả là lạ lùng, khiến chúng ta khi tiếp xúc
dào như bất tận của tác gia: Hầu nên khôn lại tiếc khuâng khuâng.
Trang 31có trong thơ xưa, diễn đạt tinh khôi một tâm trạng bâng khuâng nhưng điềm tĩnh của một tư cách già giặn, hiểu đời, từng trải,
nhận mình thuộc hạng đã hầu nên khôn. Chỉ vài nét hình thức thôi
ta đã thấy thi phẩm này mới mẻ biết chừng nào, Nguyễn Trãi hiện đại biết chừng nào!.
Cảnh báo đôi nét lạ và mới về mặt nghệ thuật ngôn từ của bài thơ cũng chính là dự cảm về sự vận động tâm trạng thơ, về những
nét lạ trong tư duy thơ của Nguyễn Trãi. Bài thơ Tích cảnh thi đã
qua nhiều cách phiên âm và chú thích chữ nghĩa của nhiều học giả, qua đó ta trực tiếp hoặc gián tiếp nhận ra cách cảm, cách hiểu nội dung câu chữ của những học giả đó. Người viết bài này, nếu đưa ra cách hiểu của mình thì chỉ nghiêng về mục tiêu bình thơ mà sẽ đẩy công việc khảo cứu sang “mặt sau của tấm huy chương”.
Thơ vốn đa tầng nghĩa. Thơ xưa vốn thế hơn. Thơ của vĩ nhân lại càng thế. Lần theo các khổ của bài thơ dài này ta càng kì
lạ về sự đa dạng, ngầm ẩn những điều Nguyễn Trãi muốn kí thác tâm tình của mình trong một mối cảm hoài tiếc cảnh.
Hầu nên khôn lại tiếc khuâng khuâng Thu đến đêm qua cảm vả mừng Một tiếng chày đâu đâm cối nguyệt Khoan khoan những lệ ác tan vầng.
Ngay từ khổ thơ mở đầu, con người tác giả đã hiện hữu với thời cảnh, tư thế và tâm trạng. Tác giả, như nhiều đêm khác của
cuộc đời thức nhẫn nẻo sơ chung, đêm đang qua và hừng đông
đang rạng. Một đêm Thu. Ngồi chiêm ngẫm cuộc đời cũng đã sang Thu của mình, tâm trạng tác giả tuy điềm tĩnh nhưng đa đoan. Trong 4 câu thơ có đến 5 tâm trạng xen lẫn tạo nên một
trang thái bâng khuâng: hầu (một sự tự đánh giá có tính lưỡng lự,
Trang 32không quyết đoán), tiếc, cảm, mừng (hiểu gần như vui nhưng tức thời hơn), lệ (sợ). Tác giả bâng khuâng tiếc gì vậy khi đã tự cho
mình cũng có thể gọi là lão thực cuộc đời. Ở khổ thơ này rõ ràng
là tác giả tiếc đêm trôi qua mất. Cũng là tiếc thời gian cả nhưng tiếc
đêm trôi thì ắt hẳn khác tiếc ngày trôi. Trong sự đối diện với đêm, ngày là không gian hoạt động. Tiếc ngày là tiếc công việc, lao động, tụ hội, giao tiếp, sự nghiệp, công danh. Tất cả thường diễn
ra giữa thanh thiên bạch nhật. Còn tiếc đêm thường là tiếc sự êm đềm, tiếc những giấc mơ, tiếc những chiêm nghiệm lặng lẽ và… Tiếc đêm như vợ chồng mới cưới, tiếc đêm như nhân duyên
sợ ngày lên mà hát Năm trống canh tôi thức đã ba/ Còn hai trống nữa
tôi ra trông trời/ Trách trời sao khéo rạng đông/ Chẳng khuya chút nữa cho lòng thở than… (quan họ). Nguyễn Trãi ngồi tàn canh, giờ sửu
sang giờ dần, trăng 16,17 đang còn cuối khung trời phía tây, phía đông hừng đông đang rạng, tiếng chày giã gió hay giã bún phía
Tây Hồ bắt đầu vọng đến, Cụ thốt lên: Một tiếng chày đâu đâm cối
nguyệt/ Khoan khoan những lệ ác tan vầng. Chậm thôi, chậm thôi,
một chút kinh động thôi cũng đủ làm mặt trời (ác) lên, hừng đông (vầng) mĩ lệ mà ngắn ngủi kia sẽ tan biến trong ánh ngày.
Đã đành tiếng chày trong ngữ liệu thường gắn với mùa Thu,
đó là thu châm, là chử thanh: tiếng chày đập vải trên bến thu. Đã
đành cối nguyệt là ngữ liệu về huyền thoại ngọc thỏ giã thuốc tiên trên cung trăng. Tất cả điều đó Nguyễn Trãi quá thông thạo.
Nhưng khi viết một động từ đâm mạnh mẽ, chả nhẽ văn hóa Nguyễn Trãi lại không có ẩn ngữ dân gian chày‐cối, cái điều mà trước ông, ở truyện Hà Ô Lôi trong Lĩnh Nam chích quái còn lưu
một chứng cứ hiển nhiên. Và tiếng chày nữa, chả nhẽ chỉ là ước lệ thôi ư khi mà hiển nhiên trong lúc Nguyễn Trãi ngồi chiêm nghiệm cũng là lúc nghề bún nghề giấy thập thình giã. Điều ấy
sau này còn lưu lại trong ca dao Hà Nội và trong Tức cảnh Hà
Trang 33Nội của Dương Khuê, bài thơ tương đồng thời khắc sáng tác: Nhịp chày Yên Thái, mặt gương Tây Hồ.
Tiếc đêm, chày ‐ cối mấp mé mở từ đầu cho ta một lớp nghĩa
thầm kín về sex và ta hãy đọc tiếp bài thơ này.
Dịp trúc còn khoe tiết cứng Rày liễu đã rủ tơ mềm Lầu hồng có khách cầm xuân ở Cầm ngọc tay ai dắng dõi thêm.
Ở khổ tiếp này, trước hết Nguyễn Trãi tiếc mùa đi. Thành
ngữ dân gian nói Xuân lan ‐ Thu cúc ‐ Hạ trúc ‐ Đông tùng, còn liễu
tự do hơn. Song liễu nhứ (bông liễu), liễu ti (tơ liễu hoặc tơ của
bông một loại liễu) thường chỉ mùa Thu. Hạ qua Thu tới khiến người ta tiếc mùa. Song thật là đột ngột, trong nỗi tiếc của Cụ, hình ảnh đàn bà con gái lại xuất hiện mà xuất hiện với tư cách chiếm lĩnh khổ thơ. Trước Nguyễn Trãi những 8 thế kỷ, đời
Đường, hai chữ hồng lâu (lầu hồng) đã chỉ chỗ ở của phụ nữ nhà đài các, quyền quý và dĩ nhiên là trang lệ. Cầm xuân cũng như khóa
xuân (xuân tỏa) chỉ mĩ nhân bị hoặc tự giam mình gìn giữ trinh tiết
hoặc chính chuyên (Một nền Đồng Tước khóa xuân hai kiều). Và
chữ xuân nữa, ai cũng biết, trong cổ thi, với sự đa nghĩa của nó,
dành một nghĩa trỏ tình yêu, tình dục. Trong Truyện Kiều trên
Trang 34Khổ này thì rõ ra là lão đại tiếc thiếu niên. Người già mà tiếc thời trẻ trai thì có có nhiều thứ để tiếc lắm. Nhưng tiếc gì mà hơi thơ lại có khách cầm xuân, có đàn bà con gái. Ở khổ thơ trước cầm ngọc dắng dõi là của một người, một giai nhân nhưng ở khổ
này quản huyền dắng dõi lại là một chuyện khác. Trong cấu trúc cụm
từ đồng đẳng của nó, quản huyền (đàn sáo) chỉ chuyện xướng ca, cuộc xướng ca có tính thù tạc, có tính văn nghệ. Ở đó, văn nhân và
ca kĩ, quan viên và cầm giả, tài tử và giai nhân giao tình. Quản huyền không phải là nhạc của nghi thức nghi lễ triều chính. Bạch
Tiếc thiếu niên qua lật hẹn lành Hoa hoa nguyệt nguyệt luống vô tình Xuân xanh nỡ phụ cười đầu bạc Đầu bạc xưa rày có thuở xanh.
Trang 35Cái hẹn lành nào của thời trẻ trai mà tuổi ta đã lỡ thì, sái cảnh (lật) vậy? Không thể khác hơn, hẹn lành chính là hảo cầu trong Kinh
Thi: Yểu điệu thục nữ/ Quân tử hảo cầu. Hảo cầu là ước nguyện tốt
lành chuyện tình duyên nam nữ. Ẩn ngữ tiếp theo về hoa hoa
nguyệt nguyệt thì lộ hết cả ra sự luyến tiếc cái gì của tuổi già: cái
chuyện hoa nguyệt ý mà. Đọc hai câu thơ của Nguyễn Trãi nhớ
Đỗ Phủ biết dường nào:
Xuân thủy thuyền như thiên thượng tọa
Lão lai hoa tự vụ trung khan.
Ôi cái thời trẻ trai (xuân thủy) nhảy lên thuyền để đi xa thì sung sướng như cưỡi lên trời vậy; Thế mà giờ đây già đến (lão lai) nhìn vào hoa đẹp cũng bằng nhìn đám hơi mù mà thôi. Già vốn dĩ
là vậy. Cho nên vô tình chuyện nguyệt hoa thì chẳng khá tiếc sao.
Một chữ luống đọc lên mà ngẩn ngơ cả ruột, nghe nó nuối tiếcquá
đi mất!. Nhưng đời là vậy, hỡi xuân xanh chớ cười thu héo, ta cũng đã có thời sung mãn tràn trề cùng hoa nguyệt quản huyền. Theo cái dòng đó, ông nhắn nhủ thêm:
Đừng lo mà phụ người, xuân đi (!), nó chả được mấy phen đâu,
đời người mấy ai trăm tuổi, sang Thu là bạc tóc cả mà. Cái cụ Nguyễn Trãi sao mà hay thế, dễ thương thế. Y như các bậc thầy đáng kính của tôi vậy. Cụ nào già rồi, đại lão rồi cũng thỉnh thoảng nheo nheo mắt nói với bọn trẻ cái chuyện ấy, là cái chuyện
Trang 36xêch‐xy ấy mà. Lại còn tủm tỉm cười nữa chứ. Các cụ đạt đạo rồi. Nhưng Ức Trai còn đạt đạo hơn vì ông dám viết ra và viết thật vi diệu. Đạo cao đức trọng, mũ cao áo dài là một chuyện còn con người mới là lắm chuyện. Đọc thơ cụ, ta càng thấy cụ người lắm, gần gụi như thầy ta, ông ta vậy. Thế rồi cụ dạy ta tiếp:
Ba bảy mươi nào luống nhọc thân Được thua đã biết sự phân vân Chớ cười hiền trước rằng dại Cầm đuốc chơi đêm bởi tiếc xuân.
Bây giờ mới đến khổ tiếc ngày đây. Cầm đuốc chơi đêm là bỉnh
chúc dạ du trong ngữ liệu truyền thống. Người xưa dạy đời người
vốn ngắn, lo gì chuyện ngàn năm, chơi ngày chưa đủ tranh thủ chơi
đêm, cầm đuốc mà chơi. Từ nguyên chú nghĩa bỉnh chúc dạ du thật trúng là: Cập thời hành lạc (kịp thời mà hành lạc). Cái chữ hành lạc thì
xưa nay vẫn vậy thôi, đa nghĩa. Đặt trong hơi thơ từ đầu của
Nguyễn Trãi thì ta thấy rõ nghĩa quá còn gì. Còn vui nhưng ngày
vui ngắn chẳng tầy gang thì đốt đuốc lên vậy, kéo ngày sang đêm. Và
Cụ tiếp tục nhấn mạnh cái khôn của người hiền thuở trước:
Tiếc xuân cầm đuốc mảng chơi đêm Những lệ xuân qua tuổi tác thêm Chẳng thấy ngoài hiên tơ liễu rủ Một phen liễu rủ một phen mềm.
Người ta đốt đuốc mê mải chơi đêm vì người ta sợ thêm tuổi tác bỏ phí dần những vui thú rất trần gian, rất thực sinh. Sao mà chẳng thấy tơ liễu đã rủ rồi, thời gian không chờ đợi, và chầm
chậm nhưng khắc nghiệt: Một phen liễu rủ một phen mềm. Ta lại
gặp chữ mềm đa nghĩa. Cụ thật thâm trầm.
Trang 37Giọng thơ đột ngột hướng nội, vừa nói với người tự nhiên ngưng lặng rồi nói với lòng mình. Có lẽ người già hay thế. Nhiều suy ngẫm. Câu thơ mềm đi như tơ liễu:
Liễu mềm rủ nhặt đưa hương Hứng bện lầu thơ khách ngại rằng Thấy cảnh lòng thơ càng vấn vít Một phen tiếc cảnh một phen thương.
Những phút giây rối lòng đáng ngạc nhiên của một thi nhân
đã quá từng trải qua vô vàn những biến cố trọng đại của đất nước, của thế thái nhân tình và của cuộc đời mình. Khổ thơ tươi tắn và cẩm tú một cách khác thường, hiếm có trong thơ Nôm. Nhưng là gấm dệt chứ không phải gấm thêu vì những nét hoa văn nổi một cách tinh tế, thầm thì. Chữ nghĩa cả khổ liên quan gần xa với nghề
dệt truyền thống: mềm (phẩm của tơ lụa), rủ (thao tác giũ tơ, giũ gấm), nhặt (trạng thái mau thưa khi mắc cửi và trong tình thế đồng âm gắn với thao tác dệt), đưa (thoi qua lại), bện (thao tác xe sợi), rằng/rường/giằng/giường (trong tình thế đồng âm và ở các khả
năng phiên khác nhau còn dùng để chỉ then ngang của khung
cửi), vấn vít (vừa chỉ thao tác dệt vừa chỉ trạng thái đan xe sợi ở
diềm tấm); các chữ trong các câu lặp lại trong tình thế len lỏi để
nối kết ý thơ: liễu, rủ câu 1 nối kết với câu cuối khổ trên trong cách thơ liên hoàn, thơ trong câu 2 lặp lại thơ câu 3, cảnh trong câu 3 lặp lại cảnh câu 4 theo thế đan cài. Sự lặp lại là điều mà các nhà thơ
câu nệ vào tính súc tích của thơ ca thường hay né tránh nhưng Nguyễn Trãi thì không né tránh. Ông tự do tự tại: lòng bối rối thì chữ cũng bối rối, lòng dệt đan thì chữ cũng dệt đan. Sự lặp chữ giữa các câu tựa hồ làm cái sợi dọc để nối kết các sợi ngang làm nên một khổ thơ vấn vít. Trong thơ ca, có những khổ như chạm
Trang 38trổ, như xướng ca, như vẽ vời, như thêu thùa… thì khổ thơ này của Ức Trai là gấm dệt.
Nhưng vấn đề là tại sao lòng của một thi nhân đã già dặn lại
có lúc bối rối đến đa đoan như vậy?. Đó lại chính là:
Thương cảnh vì nhân cảnh hữu tình Huống chi người lạ cảnh hòa thanh Xuân ba tháng thời Thu ba tháng Hoa nguyệt dun dùng mấy phát lành.
Chữ lạ trong thơ Nguyễn Trãi và thơ ca đương thời rất
thường dùng với nghĩa, khác ngày nay, chỉ sự tươi đẹp về hình
thức. Nó là kỳ chứ không là dị trong Hán tự (các cụ viết song ngữ mà). Còn hữu tình thì bao giờ cũng đa nghĩa. Hà cớ chi nàng Điểm Bích trong Thiền uyển tập anh khi đổ cho nhà sư Huyền Quang gạ gẫm cái chuyện ấy lại viết rất phúng dụ: Người hòa tươi tốt cảnh hòa
lạ/Mầu thích ca nào thủa hữu tình. Cũng là lạ với hữu tình ấy cả thôi
làm cho Nguyễn Trãi thật rối lòng. Lí do tiếc của Cụ là tiếc thời
gian trôi đi, tiếc hoa nguyệt thưa thoảng: Xuân ba tháng thời thu
ba tháng/Hoa nguyệt dun dùng mấy phát lành. Từ cổ, dun là đẩy
đi, dùng là chùng lại. Với hoa chỉ Xuân, nguyệt chỉ Thu câu thơ Nguyễn Trãi muốn nói: thôi thì thời gian duỗi co dẩy đi chùng lại,
sự hảo cầu còn mấy khoảnh khắc đâu, đằng này người đẹp thế,
cảnh thanh thế…, khiến thi nhân bởi chưng thương mà tiếc. Và hoa
nguyệt nữa, làm sao mà tránh được ý ngầm.
Mạch thơ thủ vĩ liên hoàn dứt, ta đột ngột gặp một tứ thơ lạ:
Loàn đan ướm hỏi khách lầu hồng Đầm ấm thì thương kẻ lạnh lùng Ngoài ấy dù còn áo lẻ
Cả lòng mượn lấy đắp hơi cùng.
Trang 39Có người từng hiểu khổ thơ này theo cái ý là tâm sự thầm kín của Nguyễn Trãi nhắn nhe vua khi bị thất sủng, ghẻ lạnh. Hiểu thế cũng được nhưng có liệu xa thơ không khi trên mặt bằng hiện hữu của câu chữ là chuyện duyên tình. Thiếu gì cách
nhắn nhe mà lại mượn chuyện tình ái, mượn khách lầu hồng.
Khổ thơ rõ là ướm chuyện tình ái và khí sỗ sàng. Tác giả biết
vậy nên Cụ già đã tự nhận mình là loàn đan ngay từ đầu.
Nguyễn Trãi mà cũng loàn đan nhỉ. Cái chuyện bén tiếng quen hơi khó nói thế mà Cụ cũng thơ được. Đây là một khổ thơ lạ trong toàn bộ thơ Nôm Nguyễn Trãi chứng tỏ Cụ rất đời, rất
tình. Bởi vì, Cụ cho rằng cái sự tình là chuyện tự nhiên trong
vận hành trời đất:
Ba xuân thì được chín mươi ngày Sinh vật lòng trời chẳng tây
Rỉ bảo đông phong hời hợt ít Thế tình chứ tiếc dửng dưng thay.
Sinh (những loài sống), vật (những loài khác nữa) cũng đều hưởng xuân của đất trời không riêng gì ai, không riêng gì trẻ trung với già cả, trời không thiên vị bao giờ. Bởi vậy, ngọn gió tình kia, ta nhắn khẽ là hời hợt nhau nó vừa vừa thôi, hãy mạnh dạn lên. Đông phong là gió mùa xuân thổi từ phía đông đến, mang hơi
ấm của sinh khí. Đông phong còn là gió tình trong thi liệu cổ
truyền. Đỗ Mục đời Đường có câu thơ: Đông phong bất dữ Chu lang
tiện/ Đồng tước xuân thâm tỏa nhị kiều nghĩa là nếu ngọn gió đông
không giúp sức cho Chu Du thì hai cô họ Kiều đã bị Tào Tháo
nhốt kín vào đài Đồng Tước. Sau này, các nhà thơ còn hiểu đông
phong như là phương tiện tạo cơ hội ân ái nam nữ. Nguyễn Du để
cho Thúy Kiều suy ngẫm về Kim Trọng khi mình gặp tai biến:
Bước chân đến chốn lạc loài/ Nhị đào thà bẻ cho người tình chung/ Vì ai
Trang 40văn với cụm từ ngăn đón gió đông đều dịch barré chemin du
bonhneur (ngăn cản con đường đến hạnh phúc) là vì thế. Chắc
chắn, Nguyễn Trãi cũng hiểu đông phong theo nghĩa trên nên Cụ mới rỉ bảo, nhắn khe khẽ thôi rằng hãy mạnh mẽ lên chứ kẻo rồi lại
tiếc thay cho thế tình dửng dưng.
Lầu xanh từ thấy, khách thi nhân
Vì cảnh lòng người tiếc cảnh xuân Mới trách thanh đồng tin diễn đến Bởi chưng hệ chúa Đông quân.
Lại lầu xanh, từ tít đời Đường, vốn đã dùng để chỉ chỗ kĩ nữ
ở. Thi nhân và giai nhân. Câu thơ cần đọc theo lối đảo trang thường gặp: khách thi nhân từ khi gặp giai nhân mà vì cảnh lòng
mà tiếc cảnh xuân. Tác giả trách sự trễ tràng của chuyện gặp gỡ
bởi sự ràng buộc của chúa xuân. Dầu kín đáo ta cũng nhận ra được điều muốn ngỏ. Và hạnh phúc chan hòa sẽ tới:
Đâu đâu cũng chịu lệnh Đông quân Nào chốn nào chẳng gió xuân Huống lại vườn còn hoa trúc cũ Trồi thức tốt lạ mười phân.
Hoa trúc trong vườn còn còn đâm chồi nẩy lộc huống chi là người.
Nguyễn Trãi cách chúng ta hơn năm thế kỷ. Cụ sống một thời hậu chiến đầy những biến động phức tạp như tham nhũng công thần, tranh quyền đoạt vị, mưu mô hại người, mê tín thủ lợi, buôn thánh bán thần… thế mà tâm hồn không nhơ lầm bụi, vẫn thật tinh khôi. Là người đạt đạo, Cụ không ngần ngại chuyện sex