1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Những khảo cứu từ văn hóa truyền thống

94 26 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 0,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với tiếng Việt cổ từ thế kỷ XVIII trở về trước, cụm có nghĩa là tập hợp các tán lá của các loài cây đây là nghĩa phổ dụng nhất, nhưng cũng đã bắt đầu mở rộng trường nghĩa để chỉ một tập

Trang 1

NHỮNG GHI CHÉP CHỮ NGHĨA KHI ĐỌC

"QUỐC ÂM THI TẬP" CỦA NGUYỄN TRÃI

(Phần 2)

Bài Những  ghi  chép  chữ  nghĩa  khi  đọc Quốc  âm  thi  tập của 

Nguyễn  Trãi (phần  1)  của  Nguyễn  Hùng  Vĩ  đã  phát  hiện  và  sửa 

chữa 27 trường hợp, xuất hiện 41 lần chữ phiên sai của các thế hệ 

học  giả  từ  1956  đến  nay.  Bài  này  chúng  tôi  tiếp  tục  phát  hiện  và 

sửa  chữa  thêm  14  trường  hợp,  xuất  hiện  20  lần  nữa  như  đã  hứa 

Trang 2

1 Hàu chất so le CỤM cuối làng (9 6)

Về  chữ cụm [木+禁]  này,  các  bản  phiên  của  Trần  Văn  Giáp, 

Phạm  Trọng  Điềm  (1956),  Đào  Duy  Anh  (1976),  Bùi  Văn  Nguyên (1994),  nhóm  Mai  Quốc  Liên  (2001),  Nhóm  Nguyễn  Tá  Nhi  (2008) 

đều phiên là khóm. P. S1991 phiên là cụm và Từ điển chữ Nôm do GS  Nguyễn  Quang  Hồng  chủ  biên  (2006)  cũng  phiên cụm trong  phần  ngữ liệu. Chúng tôi cho rằng phiên  khóm là chưa đúng vì những lẽ 

4, tr. 102], [7, tr. 203] 

Chữ cụm chúng ta đang nói xuất hiện 4 lần và được ghi bằng 

mã chữ [bộ mộc 木+ cấm 禁 ]. Những văn cảnh xuất hiện như sau: 

9. 6   Hàu chất so le cụm cuối làng.  

Trang 3

cả  hai  câu  này  ta  thấy  không  thể  ấn  định  một  nghĩa  cứng  nhắc nào cả: 

Tằm ôm lúc nhúc thuyền đầu bãi 

Hàu chất so le cụm cuối làng.  

Về  ngữ  âm,  chữ cấm theo  cách  đọc  Hán  Việt  rõ  ràng  là  gần  với cụm hơn khóm, ít ra là về thủy âm và chung âm. Trong từ điển  của P. de Béhaine nói trên mục chữ cụm cũng viết [ mộc + cấm] với  chú thích cụm là bụi, với ngữ liệu bụi cây. Lại ở đây nữa, ta thấy các 

cụ làm bản Nôm rất chọn lọc chữ. Phần biểu ý dùng bộ mộc là hợp 

lí.  Từ  điển  chữ  Nôm  của  Nguyễn  Quang  Hồng  chủ  biên  còn 

ghi cụm với  các  tự  dạng  [口+禁],  [扌+禁]  với  các  văn  cảnh  khác  như: Một am ở cụm Tây Lâm (Dương Từ, Hà Mậu, 12), Khu đào cụm 

liễu  trải  qua (Dương  Từ,  Hà  Mậu,  11), Xảy  nghe  bên  cụm  dâu  xanh 

(Dương Từ, Hà Mậu, 20), Khuất cụm câu buông cần nhẹ (Hồng Đức  Quốc Âm thi tập, 29a), Ít nhiều hương cụm nhặt thưa bóng cành (Hoa  Tiên, b), Rễ cụm tóc trên (Đại Nam quốc ngữ, 68a) [15, tr. 214‐215]. 

Từ  điển  chữ  Nôm  trích  dẫn của  Viện  Việt  học  thì  lại  đánh  đồng 

giữa cụm và khóm, coi khóm là hình thức chính thức hơn. Tuy nhiên, 

ngay trong một mục từ thì các soạn giả lại có các phương án phiên 

Trang 4

khác  nhau  (thành khóm,  cụm,  cắm)  [17,  tr.  615].  Thiết  nghĩ,  nên  chuyển  tất  cả  các  ngữ  liệu  trên  về  dạng cụm cho  chuẩn.  Từ  điển  này cung cấp thêm một số ngữ liệu như sau: Kỳ viên mấy cụm đào 

hồng,  nùm  hoa  sim  dại  con  ong  ước  thầm (Thiên  Nam  ngữ  lục,  c. 

5717‐5718), Ngọn nguồn kia lai láng mái ghềnh kia, Đèn chiếu thủy vốn 

chia  dòng  Kinh  Vị;  chòm  cỏ  mọc  tần  vần  bên  miếu  nọ,  trống  thôi  hoa  từng ghẽ cụm lan du (Tây Hồ, 51a), sực nhìn dưới cụm phù dung, phấn  môi nắng ánh áo hồng gió bay (Song tinh bất dạ, c. 893‐894),ngoài ra, 

chữ  này,  chúng  tôi  còn  phát  hiện  dùng  để  ghi  âm  động  từ  cặm  hoặc cắm vì gần âm hơn: nhác trông sao đẩu về đông, chị em ra sức cho 

xong mẫu này, lom lem tay cặm(cắm) chân dày, năng trồng cây ngọc cũng  ngày  hữu  thu (Thanh  Hóa  quan  phong,  19a)  [17,  tr.  615].  Ngữ  liệu 

đến đây đã tạm đủ. Chúng ta có thể tiến hành phân suất nghĩa để 

phân biệt từ cụm và khóm như sau. Với tiếng Việt cổ từ thế kỷ XVIII  trở về trước, cụm có nghĩa là tập hợp các tán lá của các loài cây (đây 

là nghĩa phổ dụng nhất), nhưng cũng đã bắt đầu mở rộng trường 

nghĩa  để  chỉ  một  tập  hợp  khác  lớn  hơn  (như  trong  câu cụm  cuối 

làng), ngoài ra cụm còn là một động từ (cụ thể xin xem trường hợp 

dưới); từ khóm là từ trỏ các không gian lớn hơn nhưng có sự phân  cắt, ví dụ: khóm đất, khóm ruộng, khóm nước, khóm Thương Lang. Một 

số  ngữ  liệu  bổ  sung  như  sau: trời  trời  xanh,  nước  nước  biếc,  làu  làu 

muôn  khóm  pha  lê (Thúy  sơn,  1a), thức  xuân  rước  gió  như  cười,  chòm  thanh khóm dật khác vời chân du (Mai đình mộng ký, c. 153‐154). Thế 

Trang 5

làm nghèo chữ nghĩa của Nguyễn Trãi.  

2 Cây CỤM chồi cành chim kết tổ (11 4)

Về câu thơ này cũng không có sự thống nhất khi phiên. Trần Văn  Giáp,  Phạm  Trọng  Điềm  (1956)  đã  phiên  chữ  Nôm  [艸+禁] 

là cớm và chú thích Cây cớm: Cây lá um tùm. Đào Duy Anh (1976) vì  cho  rằng  chữ cấm là  do  chữ diệp lộn  thành  nên  phiên  là rợp.  Bùi  Văn Nguyên (1994) phiên là rậm. Nhóm Mai Quốc Liên (2001) cũng  theo phiên là rậm còn Nguyễn Tá Nhi (2008) trở lại phiên cớm. Tự 

điển Chữ Nôm của Viện Nghiên cứu Hán Nôm, và Tự điển chữ Nôm  trích dẫn của Viện Văn học cũng phiên là cớm.  

Chúng tôi không đặt vấn đề chữ viết lộn vì mã chữ này vẫn 

có  thể  cho  chúng  ta  một  số  phương  án  đọc  khác.  Chữ  rậm mới 

nghe thì có vẻ thuyết phục cả về âm, về nghĩa và về đối thơ nhưng nghĩ kĩ sẽ không ổn vì hầu như chưa gặp tiền lệ ghi Nôm như thế. Tuy nhiên, phương án nào hợp lý hơn cả thì lại cần phải biện luận 

cuốn Việt Nam tự điển của Hội Khai trí Tiến Đức năm 1931 [tr. 95].   Chúng  ta  gặp  chữ rậm được  ghi  bằng  các  mã  chữ  như  sau 

林,甚,椹,葚,và [艸 +椹] [15, tr. 943]. Nhóm Mai Quốc Liên lấy 

ngữ liệu Truyền kì mạn lục giải âm dùng chữ này (mà các ông phiên 

là  khóm – Nguyễn Hùng Vĩ nhấn mạnh) để dịch chữ Hán tùng rồi 

Trang 6

lấy  nghĩa rậm  rạp,  bụi  rậm làm  nghĩa  chính  để  chứng  minh  cách  phiên rậm là quá ép nghĩa. Tùng trước hết vẫn có nghĩa là bụi. Còn 

rậm là nghĩa suy ra, nghĩa phái sinh do các soạn giả tự suy đoán. Về 

từ  nguyên,  thì rậm có  thể  có  nguyên  từ  là sâm 森,  từ   sâm còn  cho  một  biến  thể  khác  là sum trong  tiếng  Việt.  Còn  từ  cụm trong  chữ  Nôm vẫn được ghi nhất quán chỉ bằng 1 thanh phù duy nhất là cấm 

禁 như đã nêu trên.  

Cũng  như  ở  mục  1,  ta  thấy cấm đã  biểu  âm  cho cụm,  thì  ở  đây cấm vẫn  biểu  âm  đó,  nhất  quán.  Về  đối  thơ cụmhoàn  toàn  có  thể đối được với quang ở câu sau khi hai thực từ này đều chỉ trạng 

3 Khách ₫ến vườn còn hoa LIẾC (35 5)

Chúng  tôi  chọn  phương  án  phiên  落  là  LIẾC  trong  câu  thơ này là sau một quá trình suy nghĩ nghiêm túc để đạt đến sự hợp lí 

giữa  chữ,  nghĩa  và  âm  đọc.  Phiên lác như  các  tác  giả  khác  cũng  được,  nhưng  rất  tiếc  là  họ  đã  hiểu  sai  nghĩa  nên  dùng liếc là  để 

phân biệt cho rõ. Về chữ này, ta thấy: 

Trần  Văn  Giáp,  Phạm  Trọng  Điềm  (1956)  phiên  là lác và  chú 

thích: “Hoa lác: Vườn còn lác đác mấy đóa hoa”.  

Trang 7

Đào  Duy  Anh  (1976)  không  đồng  thuận  với  cách  phiên hoa 

Nhóm  Mai  Quốc  Liên  (2001)  cũng  phiên lác và  chú  thích: 

“Chữ  Hán  đọc  là  lạc,  chữ  Nôm  落.  Có  thể  phiên  là  lác  hoặc  rác. 

Lác có  nghĩa  là lác  đác.  Từ  điển  Génibrel  có  ghi  落 lác:  và  đã  dịch 

lác đác là rare (hiếm, còn ít); 落 rác và đã dịch lác rác cũng là rare. 

Hoa  lác  đác.  Trần  Văn Giáp,  Đào Duy Anh,  PS  đều  phiên  và  giải thích như thế. PS cũng ghi thêm một cách đọc khác là hoa lạc và giải thích là hoa rụng (les fleurs tombées)  ”.  

Nhóm Nguyễn Tá Nhi (2008) cũng đồng ý cách phiên và hiểu như trên.  

Trang 8

thích  từ  kép lác  đác và lác  rác chứ  không  giải  thích  riêng  từ lác. 

Không  phải  từ  kép  nào  thì  mỗi  âm  tiết  của  nó  cũng  mang  nghĩa chung cho cả từ.  

4 Kẻo còn LOẠT LOẠT chữ Tương Như (36 2)

Trang 9

Nhóm Mai Quốc Liên chủ trương phiên lọt lọt và dẫn thêm Vũ  Văn Kính và Paul Sneidere phiên rọt rọt. Các cụ viết trong sách: “Lọt 

lọt: Luật đọc chệch thành lọt lọt, nghĩa là rõ ràng mồn một. Đào Duy 

Anh cũng phiên lọt lọt và giải thích: Còn thấy rõ ràng mồn một chữ  của  Tương  Như.  PS  phiên rọt  rọt,  ở  bảng  từ  vựng  giải  thích  là 

Suivre, poursuivre (theo, theo đuổi, đeo đẳng), rebattre les oreilles (đập vào tai, nói mãi nghe đến chán tai) và dịch câu thơ này là “Il 

me semble entendre sans cesse le nom de Tuong Nhu (Hình như ta không ngừng nghe tên của Tương Như). Bản B chép[糸+卞] [糸+卞] 

có một loạt, nhất loạt, hàng loạt, cả loạt hà cớ gì không có loạt loạt. Dễ 

như vậy thì mà các cụ cựu học xưa nay không biết sao? Thực ra, trong câu thơ trên, hình như chữ KẺO làm cho người phiên bối rối 

vì  nhiều  người  hiểu kẻo  còn là  một  kết  cấu  chặt.  Nếu  theo  dõi  12  lần xuất hiện chữ kẻo trong toàn văn bản thì ta thấy tình hình khác  như vậy và hai chữ loạt loạt sẽ sáng ra: 

Trang 10

Và  tất  cả  những  chữ kẻo trên  chúng  ta  đều  có  thể  thay  thế  bằng  chữ khỏi hiện  nay  mà  vẫn  trọn  nghĩa.  Tất  nhiên  là  chữ   khỏi   hiện  nay để chúng ta hiểu chứ không phải là chữ khỏi thời Nguyễn Trãi. 

Trang 11

thi tập thì thấy hai chữ này có sự phân nghĩa tinh tế nhưng khá rõ 

ràng là chữ khỏi thời đó chủ yếu mang nghĩa chỉ việc chủ thể phát  ngôn chủ động ra khỏi một hiện thực không gian nào đó và vì vậy 

nó thường có quan hệ với một hình thức danh từ nào đó).  

Như vậy để hiểu trường hợp đang bàn, ta thay chữ kẻo bằng  chữ khỏi hiện nay, kết quả sẽ là: 

Án tuyết mười thu uổng độc thư 

Khỏi còn loạt loạt chữ Tương Như.  

Theo  sự  mách  bảo  của  cả  11  trường  hợp  trên  thì  lúc  này, 

chữ kẻo sẽ  quan  hệ  với  một  động  từ  và  động  từ  đó  sẽ  là  độc  thư. 

Tác giả vừa thoát khỏi cảnh mười năm phí uổng độc thư. Cái còn 

lại sau đó sẽ là loạt loạt chữ Tương Như nữa mà thôi. Chúng tôi như  đang có vẻ cố tình tách chữ kẻo khỏi chữ còn. Nhưng không phải. 

Chúng ta lại dùng phép thay thế. Ví dụ, ngay bây giờ chúng ta có 

phát ngôn: Bia rượu cả tuần quá say sưa. Khỏi, còn váng vất đến bây 

giờ hoặc Bệnh  viện  năm  tuần  nằm  chữa  bệnh;  khỏi,  còn  chất  đống bao  nhiêu bài vở. Hay chúng ta có biến thể khác: Trên biển cả tháng lênh  đênh,  xong  lên bờ  vẫn  còn  loạng  choạng hay Hội  hè  từ  nam  chí  bắc,  xong hết sạch cả tiền tiết kiệm  Chúng ta không thể nói rằng, những 

câu trên là không hiểu nổi hoặc không thuần Việt. Đọc những câu thơ của Nguyễn Trãi ta thấu hiểu tâm sự của Cụ hơn: 

Án tuyết mười thu uổng độc thư  Kẻo còn loạt loạt chữ Tương Như  Nước non kể khắp quê Hà Hữu 

Sự nghiệp nhàn khoe phú Tử Hư.  

Có  thể  diễn  đạt  ý  nhà  thơ  như  sau:  Qua  khỏi  10  năm  uổng phí  đọc  sách  thánh  hiền  trong  nghèo  khó,  cái  còn  lại  chỉ  là  miên 

Trang 12

5 GIẠI LÒNG ĐƠN, nhật nguyệt thâu (40 4)

Câu  thơ  này  cũng  có  nhiều  cách  hiểu  và  cách  phiên  khác nhau và cần phân tích để hiểu rõ.  

Trần  Văn  Giáp  ‐  Phạm  Trọng  Điềm  (1956)  phiên  là Dãi  lòng 

đan và giải thích lòng đan là lòng son.  

Đào Duy Anh (1976) phiên Giãi lòng đơn và không chú thích.   Nhóm  Mai  Quốc  Liên  (2001)  phiên  là Dãi  lòng  son,  Nhóm 

Nguyễn Tá Nhi (2008) quay lại phiên và hiểu như Trần Văn Giáp ‐ Phạm Trọng Điềm (1956).  

Trang 13

Trong  câu  thơ  đang  bàn,  chữ giại được  ghi đãi 待.  Đãi âm  Hán Việt đọc giại âm Nôm là đúng. Và sự phân biệt với dãi là có 

ý, ít ra là của các bậc cổ học khi làm sách này.  

Giại lòng đơn là cái giại đan róng mốt sơ sài để che chắn nên 

ánh mặt trời, ánh trăng có thể xuyên thấu (nhật nguyệt thâu). Trong 

nghề đan lát, có những từ nghề nghiệp chỉ cách đan hoặc tả mặt đan.  Róng  (hoặc  lóng,  dóng,  nong)  mốt,  róng  hai,  róng  ba,  róng bốn,  róng  năm   là  chỉ  cách  gài  nan.  Còn  để  tả  mặt  đan  khi  sản phẩm đã hoàn thành người ta nói: lòng đơn, lòng kép, lòng thia, 

lòng  gấm.  Lòng  đơn để  chỉ  hoa  văn  mặt  sản  phẩm  đan  róng  mốt  tạo nên. Lòng kép để chỉ hoa văn mặt sản phẩm đan róng hai róng 

ba tạo nên. Lòng thia để chỉ hoa văn mẹt sảy, nia sảy mà trên đó, 

nan dọc lao đi cách quãng như ném thia lia trên mặt nước. Dụng 

cụ này khi sảy, người ta sảy dọc để dễ thoát những phần tử nhẹ, khi gằn để gạn, người ta người ta gằn ngang để dễ giữ lại cát sạn 

Nhưng đó là nghĩa thực, lớp nghĩa thứ nhất của câu thơ. Bởi 

vì, lòng  đơn còn  có  nghĩa  là  lòng  son,  là đan  tâm (tấm  lòng  trung  thành bền chặt), nhật nguyệt còn chỉ minh quân, chỉ vũ trụ, đất trời 

Trang 14

cho nên câu thơ còn hàm ý biểu hiện: Tấm lòng trung thành bền chặt của ta đã có mặt trời mặt trăng soi thấu. Ở đây, rõ ràng câu thơ  Nguyễn  Trãi  sử  dụng  yếu  tố  chơi  chữ  sâu  kín  và  thầm  lắng. 

lự, băn khoăn dẫn đến những giải pháp rất khác nhau, đôi tranh 

với nhau. Ở trường hợp này, đọc giại lòng đơn vẫn có thể hiểu lớp  nghĩa dãi lòng son như thường khi mà giại, giãi, dãi trong tiếng khu 

bốn  đến  nay  vẫn  phát  âm  không  phân  biệt  và  cũng  còn  nhiều chứng cứ ngữ âm về sự không phân biệt này cách đây 3, 4 thế kỷ, 

dù ở Bắc hay ở Trung. Khu bốn chỉ là hình thức bảo lưu khi kinh 

kỳ phát triển nhanh và không ngừng mà thôi.  

6 Mây QUÊN KHÁCH, nguyệt vô tình (65 2 bản B)

Chúng  tôi  phiên  câu  này  theo  bản  B.  Bản  A  ghi  câu  này  có 

đảo  thứ  tự  giữa  chữ khách và  chữ nguyệt và  nên  phiên  là Mây 

Trang 15

Chúng tôi thấy chữ quyến vốn là chữ Hán 眷 đã có cách đọc  Hán  Việt  rất  quen  thuộc  và  tiện  lợi  với  các  nét  nghĩa  quyến 

nhớ hay gia quyến, thân quyến. Trong Quốc âm thi tập, chữ này vẫn 

là  một  từ  Hán  Việt  thông  dụng  thời  Nguyễn  Trãi  với  nghĩa  là quyến rủ, lôi cuốn, quấn quýt, quyến luyến xuất hiện 5 lần trong những bài sau: 

Nghĩa    rất  trọn  và  chữ  rất  rõ.  Vậy,  trong  câu  thơ  đang  bàn, 

với  chữ  涓  này,  chúng  ta  không  thể  phiên  là quyến  được.  Chỉ  có  thể phiên quen hoặc quên mà thôi.  

Có  thể,  những  người  chủ  trương  phiên  quyến là  do  ảnh 

hưởng cách ngắt nhịp câu thơ làm đôi của những người phiên đầu 

tiên  (Mây  quen  nguyệt//  khách  vô  tình)  và  thấy  cụm mây  quen 

nguyệt nghe  cầu  kỳ,  nghĩa  nông  cạn  mà  đổi  thành mây  quyến  nguyệt, bất chấp chữ trên văn bản. Nhưng nếu ta ngắt nhịp khác đi 

thì chữ quen vẫn trọn ý: 

Non Phú Xuân cao/ nước Vị thanh 

Mây quen/ nguyệt khách/ vô tình.  

Cảnh ẩn dật như Nghiêm Quang câu ở Phú Xuân, Lã Vọng câu  ở  sông  Vị,  mây  là  người  quen,  nguyệt  là  khách  khứa,  tất  cả mọi chuyện đều vô sự, không phải nghĩ ngợi. Có thể, những bậc 

cổ học biên soạn Quốc âm thi tập đã hiểu theo hướng này nên giữ  chữ quen 涓. Nhưng cũng có điều cần nói là so với câu thơ ở bài 64 

Trang 16

câu  6  thì  ta  thấy  ý  có  ngược  lại: Mây  khách  khứa, nguyệt  anh  tam. 

Nguyễn Trãi không coi nguyệt là khách! 

Bản B cho ta một dị bản thú vị và chúng tôi thấy bản này về 

ý nghĩa rất trọn vẹn và khả dụng hơn: [雨+迷]涓客月無情. Chúng 

ta có thể phiên là Mây quên khách/ nguyệt vô tình. Mây quên khách là  cụm từ lấy ý từ câu thơ của Đào Tiềm, một mẫu hình ẩn dật: Vân 

vô tâm dĩ xuất tụ (Mây vô tâm, cứ tụ lại rồi cứ tan đi). Vô tâm như 

vậy  thì  quên  khách  thơ  là  chuyện  đương  nhiên.  Còn nguyệt  vô 

tình hay nguyệt  vô  tâm là  điều  mà  Nguyễn  Trãi  đã  từng  nói  đến. 

Ông làm thơ trong tâm thế một người ẩn dật, lánh đời. Trong quá trình tìm hiểu thơ quốc âm của Nguyễn Trãi, chúng tôi thấy bản B còn lưu nhiều yếu tố cổ đáng được chú ý kĩ.  

7 Nắng quáng, SƯA SƯA bóng trúc che (79 1)

Chúng  tôi  lựa  chọn sưa  sưa thay  cho thưa  thưa như  các  bản 

phiên từ trước tới nay dù nghĩa không khác nhau. Chữ Nôm viết 

疎疎  và  cách  đọc  Hán  Việt  là sơ  sơ.  Chữ  này  cũng  thường  dùng  ghi thưa  với  nghĩa  chỉ  một  hành  động  nói  năng  trong  văn  Nôm. 

Tuy nhiên, Nguyễn Trãi cách chúng ta đã hơn 500 năm và thời của ông, chữ Nôm đang hoàn thiện với tư cách là một hệ thống văn tự, 

nó  vẫn  giữ  cách  phát  âm  cổ.  Trong Quốc  âm  thi  tập của  Nguyễn  Trãi  không  xuất  hiện  chữ thưa với  nghĩa  là  động  từ  chỉ  một  loại 

hành  động  nói  năng  nên  chúng  ta  không  có  để  so  sánh.  Chữ 

sưa này  với  nghĩa  chỉ  một  thực  trạng  vật  chất  không  dày,  ngược 

với mau, xuất hiện 6 lần và đều có thể phiên sưa cả: 

79. 1:    Nắng quáng sưa sưa bóng trúc che 

126. 1:   Giậu sưa sưa hai khóm trúc 

225. 4:   Bóng sưa ánh nước động người vay 

Trang 17

kiểu thơ thủ vĩ tương liên).  

Hiện tường dùng / th / để ghi / s / là việc hay thấy trong các 

văn bản cổ. Trong văn bản Thiền tông khóa hư ngữ lục cho Tuệ Tĩnh  giải nghĩa có dùng chữ thượng thượng 尚尚 để ghi từ sảng sảng: Sảng 

sảng thửa  những  tiếng  đàn  địch  hứng  thổi  lại  gọi  rằng  ấy  thực  tiếng  rồng ngâm; Rân rân thửa những tiếng chuông trống rôm rả gọi là ếch  kêu. tr. 41b [18, tr. 153] 

Hiện nay đi thực tế các vùng Bắc Ninh, Hà Tây cũ hay Nam 

Định  chúng  tôi  vẫn  gặp  phát  âm sưa này  trong  sự  phân  biệt  với thưa động từ chứ không chỉ vùng khu bốn mới dùng phổ biến.  Phiên thưa dễ  hiểu  với  mọi  người  ngày  nay  hơn  nhưng  phiên 

sưa cũng không phải là không hiểu, hơn nữa giữ được âm hưởng 

cổ của văn bản. Chúng tôi lựa chọn là vì thế.  

8 Cây im, thư thất LẶNG bằng the (79 2)

Trần  Văn  Giáp  ‐  Phạm  Trọng  Điềm  (1956)  phiên  câu  này 

là Cây im, thưa thớt sáng bằng the và chú thích Cây im: Cây không có 

gió động, bóng nắng thưa thớt chiếu xuống như một bức rèm the căng  lên trên.  

Đào  Duy  Anh  (1976)  cho  chữ  烺  chép  lộn  thành  浪,  nên 

phiên lặng bằng the, và chú thích là “sáng như là có căng the, ánh 

sáng  lọt  qua  mà sáng  hơi  hơi  (vì  có  bóng  trúc  che  thưa  thưa  cho nên ánh sáng lọt qua mà phòng đọc sách được sáng). [10, tr. 754] Bùi  Văn  Nguyên  (1994),  Nhóm  Mai  Quốc  Liên  (2001)  phiên theo GS Đào Duy Anh.  

Nhóm Nguyễn Tá Nhi (2008) phiên Cây im thư thất rắng bằng 

the và chú thích Rắng bằng: Tựa như.  

Trang 18

đều nhất loạt được phiên là: thừa lương đình vắng sáng bằng the (3a).  

Chúng  tôi  thấy  chữ  浪  trong  câu  trên  phải  phiên lặng mới 

đúng cả về ngữ âm cả về ngữ nghĩa. Bài thơ được làm trong một buổi trưa hè nắng nóng, ít gió: 

Nắng quáng, sưa sưa bóng trúc che 

Cây im, thư thất lặng bằng the.  

Nắng quáng là nắng nhìn lóa cả mắt. Ấy vậy mà mấy ngọn trúc  chỉ  che  được  phần  thưa  thớt  mà  thôi.  Gió  chưa  có  nên  cây đứng im còn phòng đọc sách thì lặng như the vậy (đây là một lối 

nói cổ hơn của cụm lặng như tờ). Tả như vậy là đủ thấy cái bức nực 

của  nắng  hè.  Chúng  ta  bây  giờ  đọc  sách  viết  bài  có  phòng  máy lạnh  hoặc  có  quạt  cây.  Khi  mất  điện,  ta  sẽ  hiểu  ngay  ra  Nguyễn Trãi.  Chốn  ẩn  dật  của  Nguyễn  Trãi  thuở  xưa,  chân  núi  Côn  Sơn, đâu chỉ xuân hoa nở, thu trăng trong mà còn sẽ gặp những ngày 

hè nóng nực. Cụ viết về cái cảnh đó để lại cho chúng ta hôm nay. 

Nói lặng như tờ được thì ắt hẳn nói lặng bằng the cũng chắc chắn là 

được. Chữ “lặng” ở đây vừa là tĩnh lặng vừa là không có một mảy gió nào, không chút rung rinh. Thế mới bức.  

9 SAN SÁT KỀ song, giấc hòe (79 8)

Đây  là  câu  kết  của  bài  79  là  bài  chúng  tôi  vừa  sửa  chữ  cho 

câu  1  và  câu  2.  Ba  chữ San  sát kề các  tác  giả  trước  đây  phiên  có 

Trang 19

tr. 755] 

Bùi Văn Nguyên (1994) cũng phiên Thơn thớt cài song giấc hòe.   Nhóm  Mai  Quốc  Liên  (2001)  phiên  là Thớt  thớt  cài  song  giấc 

hòe và  giải  thích thơn  thớt hay thớt thớt có  nghĩa  là  qua  loa,  sơ  sài. 

Nhưng cách phân suất nghĩa như vậy là rất có vấn đề về mặt âm 

và ngữ nghĩa. Vì động từ là cài song, cho nên âm đọc phỏng đoán và  kéo theo là tạo nghĩa phỏng đoán là “qua loa sơ sài”. Cách tự gán âm 

và gán nghĩa cho âm đọc mà không kiểm chứng qua từ điển cổ và ngữ cảnh như vậy sẽ gây nên nhiều điều bất cập.  

Nhóm  Nguyễn  Tá  Nhi  (2008)  phiên  là Thít  thít  kề  song  giấc 

Vậy  chữ  掑窻  phải  phiên  là kề  song như  bản  của  Nguyễn  Tá 

vào”;  “Kê  cái  sập  san  sát  vào  tường”  và  vẫn  hiểu.  Nhưng  san 

sát và kề đứng  liền  nhau  thì  có  lặp  lời  không?  Theo  chúng  tôi  thì 

Trang 20

không phải là lặp. Bởi kề ở đây là động từ, và nó có một biến âm  khác  là kê và  có  thể  còn  có  thêm ghé nữa  trong  câu thuyền  kề  bãi.  Phân suất nghĩa của từ này ta thấy, kề là động từ cập vật với nghĩa 

là dịch chuyển vị trí để sát gần với một không gian hay sự vật cụ 

thể  nào  đó.  Trong  câu  thơ  này  chữ san  sát là  trạng  từ  cho  động 

từ kề. Nếu có người cho rằng đây là một phát ngôn lặp lời thì cách  nói dân dã cũng có những cách nói như sát kề, kề sát, kề cạnh, kề sít.  Phân tích tiếp chủ thể của hành động kề: câu kề song gió trúc nàm 

sách  lặng,  cái  thẻ  nhớ  trang  (con  Chu  Dịch)  nằm  im  trong  quyển 

sách (nhường việc đọc sách cho nó), việc đàm luận nhân tình thế 

Trang 21

thái  thì  đã  có  cây  quýt  cây  chè  đứng  im  kia,  đến  tiếng  xuýt  xoa trong lúc khó khăn cũng chả thèm bật lên nữa, chỉ cụp mắt xuống 

(mày nề) khi thấy khắp nơi xao xác; ngày nhàn trôi, thỉnh thoảng  mới  có  tí  gió  (gió  khoan  khoan  đến:  lâu  lâu  mới  có  chút  gió  đến), 

nằm  kề  sát  bên  cửa  sổ  đánh  một  giấc  chiêm  bao.  Cũng  phải  nói 

lợi và  giải  thích  như  sau:  “Nhẻ.  Chữ  Nôm  viết  你,  TVG,PTĐ 

phiên nhẹ,  Đào  Duy Anh: nhỉ,  Bùi  Văn  Nguyên: nhẹ,  PS nể;  chúng  tôi phiên nhẻ và hiểu nhẻ là đầy, như Từ điển Génibrel giải thích ở  mục nhe nhẻ: Plein, rempli de. Từ nhẻ với nghĩa là đầy ở câu 3 đối  với từ no là đủ ở câu 4, rất rõ ràng về ý nghĩa lại rất chỉnh về luật 

đối trong thơ”.  

Nhóm Nguyễn Tá Nhi (2008) phiên Chông gai né đường danh 

lợi nhưng không có chú thích. Chúng tôi cho rằng cách phiên này 

là đúng và phân tích các cách phiên như sau: 

Trang 22

chữ nễ 你 đọc là nhẻ. Cái chữ đọc là nhẻ là chữ [口+ 尓] [8, tr. 556].  Thứ hai, không có chữ nhẻ nào được chú thích là đầy cả mà chỉ có 

từ nhe nhẻ ở mục nhe (ghi Nôm là [ 兒+小]) được chú trong khi đưa 

ngữ liệu như sau: “Đầu nhe nhẻ những chấy (T), Têt e couvert de 

poux” [8, tr. 556]; và ở mục nhẻ (ghi Nôm là [口+ 尓]) chú như sau: 

“Nhe nhẻ (T), Plein, rempli de. (V. Nhe, 3)” [8, tr. 556]. Như vậy, ở đây, tác giả từ điển chú nghĩa cho cả từ kép chứ không cho riêng chữ NHẺ đang bàn. Không phải từ kép nào, từ lấp láy nào thì mỗi 

Trang 23

và  thành  tố  đó  đủ  đại  diện  cho  nghĩa  cả  từ.  Ví  dụ: nhan  nhản,  lai 

rai, sa sả, lải nhải, nhồm nhoàm, xăm xắp, lểu thểu, lang thang, lỗ mỗ,  lênh đênh, tung tăng, hớn hở, nhởn nhơ, xun xoe… Ở đây, từ điển chú 

nghĩa không sai vì họ đã chú cả từ kép, chỉ người sử dụng từ điển 

đã tùy tiện rút ra một chữ rồi cấp nghĩa cả từ cho nó để phục vụ cho  ý  mình  là  sai  thôi.  Thứ  ba,  vì  thế,  các  từ  điển  trước  và  sau Génibrel  của  người  bản  ngữ  đã  không  hề  có  từ  đơn  NHẺ  với 

nghĩa  là đầy.  Đến  nay,  nhiều  từ  điển  chữ  Nôm  đã  ra  đời  vẫn 

không có mục từ đơn NHẺ với nghĩa đầy vì không có ngữ liệu thứ hai  nào.  Có  thể  khẳng  định,  cách  phiên  này  đã  tưởng  tượng  ra thêm một chữ cho kho tàng tiếng Việt mà thôi! 

Chữ nễ 你 này phiên được là né vì: 

‐ Đã có trong các từ điển như vậy. Ví dụ Từ điển P. de Béhaine 

(1772‐1773)  chữ  Nôm  你  [5,  tr.  396]  và  chữ  quốc  ngữ né (nghĩa  là  tránh) với các ngữ liệu né mình, tránh mình. Từ điển Aj. L. Taberd  (1838) cũng tương tự [6, tr. 329]. Đại Nam quấc âm tự vị của Huinh  Tinh Paulus Cua (1896) có chữ Nôm 你 và quốc ngữ là Né và chú 

Trang 24

Xem  chữ né có  hợp  nghĩa  câu  thơ  không,  chưa  cần  phân  tích, 

Trang 25

11 Tài LỌN công danh hợp mọi bề (141 1)

Bản Đào Duy Anh (1976) phiên là LUẬN và giải thích là: luận 

về công danh thì thấy tài của mình là hợp mọi bề. Nhóm Mai Quốc Liên (2001) đã kế thừa cả cách phiên lẫn cách chú này. Tự dạng của 

chữ này được ghi bằng 論, đọc theo âm Hán Việt là luận, nghĩa là 

bàn luận. Trong văn bản phiên âm QÂTT của nhóm Mai Quốc Liên, 

chữ luận còn  được  phiên  thành trọn ở  các  vị  trí  sau  38.  3: trọn  thuở 

đông hằng nhờ bếp, 53. 6: già được trọn ấy là tiên, 58. 1: buồng văn đắp  cửa  trọn  ngày  thu,  187.  8: trung  hiếu  cương  thường  lòng  đỏ,  tự  nhiên  trọn  nghiệp  ba  thân,  194.  1: mười  hai  tháng  trọn  mười  hai,  và  được 

phiên thành lọn ở ba vị trí là 216. 7: dầu thấy xuân lan cùng lọn được, 

94. 1: ngồi coi tháng lọn lẫn ngày qua, 109. 1: lấy đâu xuất xử lọn hai bề. 

Sở dĩ có sự phiên bất nhất như vậy vì mỗi đồng tác giả có phương pháp phiên âm khác nhau.  

Tuy  nhiên,  chúng  tôi  cho  rằng  vị  trí  này  nên  đọc  là lọn chứ  không phải là luận vì những lý do như sau.  

Tài  lọn là  một  từ  được  dịch  từ  chữ toàn  tài trong  Hán  văn. 

Trang 26

Về  cách  phiên  âm,  chữ luận là  một  kiểu  ghi  âm  không  toàn 

diện cho tổ hợp phụ âm đầu / tl / mà chúng ta thường thấy ở các văn bản từ thế kỷ XVII trở về trước. Ở thế kỷ XV, thời của Nguyễn Trãi thì tổ hợp phụ âm này còn khá phổ biến. Trong quá trình đơn tiết  hóa  mạnh  của  tiếng  Việt,  tổ  hợp  phụ  âm  /  tl  /  sẽ  có  hai  xu hướng phân hóa, thứ nhất là chuyển đổi thành phụ âm / tr /, thứ hai  là  rụng  tiền  tố  /  t  /  và  lưu  lại  âm  lỏng  /  l  /.  Sự  phân  hóa  này 

cứu phải chọn một âm đọc không thực sự cổ như thế bởi việc tái lập  ngữ  âm  là  /  tlọn  /  như  ở  trường  hợp  này  sẽ  gây  trở  ngại  rất nhiều cho người đọc hiện nay.  

Trên  đây  là  một  số  trường  hợp  chúng  tôi  đưa  ra  góp  ý. Những  ý  kiến  chúng  tôi  nêu  ra  trên  đây  có  thể  có  đôi  chỗ  chưa thực sự tuyệt đối đúng, rất mong sẽ có những trao đổi thẳng thắn, mang  tính  học  thuật  và  tôn  trọng  lẫn  nhau.  Mục  đích  của  chúng tôi là, với tấm lòng trân trọng di sản thơ Nguyễn Trãi, để hiểu sâu tâm hồn danh nhân, trước hết phải khảo cứu chữ nghĩa cẩn thận. Chỉ qua những trao đổi học thuật mới càng ngày càng đúng đắn hơn. Từ đó chúng ta có thể rút ra những kinh nghiệm trong việc phiên và hiểu sâu kho tàng văn học Nôm của dân tộc.  

 Hà Nội 14 ‐ 6 ‐ 2010.  

Trang 27

Tài liệu tham khảo

1 Nguyễn Trãi 阮廌 (1868). Quốc âm thi tập 國音詩集. Việt Nam: 

Phúc Khê tàng bản. (bản A) 

2 Trương Vĩnh Ký (1884). Dictionnaire Annamite ‐ Francais.  

3 A.  de.  Rhodes,  (1994), Dictionarium  Annamiticium  Lussitanum 

Vietnamiens (Từ  điển  Việt  ‐  Bồ  ‐  La),  Rome  1651,  Thanh  Lãng 

Trang 28

11 Paul  Schneider,  (1993), Dictionnaire  historique  des  ideogrammes 

[1]   Tiếc là đến nay chưa có một công trình nghiên cứu văn bản học nghiêm túc về tác phẩm Nôm quan trọng hàng đầu này.  

[2]   Trần  Trọng  Dương  đề  xuất  cách  phiên  khác  là  nhác trong   nhác  trông.  Cách  phiên  này  vừa  đảm  bảo  về  nghĩa  và  mối  tương  quan  giữa  văn  tự  và  âm  thanh.  Hơn  nữa,  phiên nhác  cũng sẽ tạo âm hưởng cổ kính, hơn là liếc.  

Trang 29

NGUYỄN TRÃI VÀ SEX

Trong  tập  thơ  Nôm Quốc  âm  thi  tập của  Nguyễn  Trãi  có  một mục thơ  đặc  biệt,  đó  là mục Tích  cảnh  thi (Thơ  tiếc  cảnh).  Thi  phẩm  gồm  13 thủ nối  tiếp  nhau,  mỗi thủ 4  câu,  trong  đó  có  8 thủ  dùng cách tuyệt cú thủ vĩ liên hoàn, câu cuối của thủ trước liên hoàn 

về  ý,  về  chữ  với  câu  đầu  ở thủ sau.  Trong  5 thủ còn  lại,  cũng  có  hai thủ cuối theo cách liên hoàn. Trong cổ thi thủ là bài, mục là tập  hợp nhiều thủ. Đó là cách tính đơn vị theo hình thức. Ta thấy rất  nhiều  khi,  mục tương  đương  với  bài  và thủ lúc  đó  tương  đương 

với  khổ  thơ,  nhất  là  khi  làm  thơ  theo  cách  tuyệt  cú  thủ  vĩ  liên hoàn,  một  cách  để  chủ  thể  sáng  tạo  kéo  dài  ý  thơ  khỏi  sự  gò  bó 

chật  hẹp  của  khuôn  khổ  tứ  tuyệt.  Thực  chất, Tích  cảnh  thi là  một 

bài thơ dài khi ta thấy tâm trạng của tác giả tuôn chảy qua suốt 13 khổ  liền  mạch,  nồng  nàn.  Đó  là  tâm  trạng  của  một  thi  nhân  biết mình  đã  già,  đứng  trước  sự  luân  chuyển  của  thời  gian,  của  cảnh sắc rồi cảm động mà thốt nên thơ. Tôi đoán bài thơ này Nguyễn Trãi làm trong năm mình 60 tuổi, vì với nhà thơ xưa, năm chẵn và năm đại hạn dễ gây nên nhiều xúc động, suy tư, ví như các năm 

30, 40, 49, 50, 60 tuổi.  

Bài  thơ  ra  đời  cách  nay  đã  hơn  năm  trăm  rưỡi  năm  nhưng khi đọc ta không khỏi kinh ngạc vì tính hiện đại của nó. Nó xuyên thấu thời gian để hiện diện trước mắt chúng ta tươi tắn và nhuần nhị.  Phải  đặt  vào  thế  kỉ  XV  chúng  ta  mới  nhận  ra  sự  bứt  phá  vô song  của  một  thi  nhân  lớn,  một  nhân  cách  lớn.  Trong  suốt  cả  13 

Trang 30

cứng/Rày liễu đã rủ tơ mềm), như vậy tỉ lệ sử dụng đối là 1/26 tính 

theo  dung  lượng  toàn  bài.  Tư  duy  đối  liên  là  hết  sức  phổ  biến trong thơ ca trung đại, Hán cũng như Nôm, khó ai mà thoát khỏi kiểu thức đó. Một bài thơ bát cú Đường luật, tỉ lệ đối lên đến 1/2. Đối với tứ tuyệt, theo căn nguyên hình thành thì sẽ có đến 3/4 số loại bài có đối. Với một tỉ lệ đối nhỏ một cách bất thường, sự lựa chọn của Nguyễn Trãi quả là lạ lùng, khiến chúng ta khi tiếp xúc 

dào  như  bất  tận  của  tác  gia: Hầu  nên  khôn  lại  tiếc  khuâng  khuâng. 

Trang 31

có trong thơ xưa, diễn đạt tinh  khôi một tâm trạng bâng khuâng nhưng  điềm  tĩnh  của  một  tư  cách  già  giặn,  hiểu  đời,  từng  trải, 

nhận mình thuộc hạng đã hầu nên khôn. Chỉ vài nét hình thức thôi 

ta đã thấy thi phẩm này mới mẻ biết chừng nào, Nguyễn Trãi hiện đại biết chừng nào!.  

Cảnh báo đôi nét lạ và mới về mặt nghệ thuật ngôn từ của bài thơ cũng chính là dự cảm về sự vận động tâm trạng thơ, về những 

nét  lạ  trong  tư  duy  thơ  của  Nguyễn  Trãi.  Bài  thơ Tích  cảnh  thi đã 

qua nhiều cách phiên âm và chú thích chữ nghĩa của nhiều học giả, qua đó ta trực tiếp hoặc gián tiếp nhận ra cách cảm, cách hiểu nội dung câu chữ của những học giả đó. Người viết bài này, nếu đưa ra cách hiểu của mình thì chỉ nghiêng về mục tiêu bình thơ mà sẽ đẩy công việc khảo cứu sang “mặt sau của tấm huy chương”.  

Thơ  vốn  đa  tầng  nghĩa.  Thơ  xưa  vốn  thế  hơn.  Thơ  của  vĩ nhân lại càng thế. Lần theo các khổ của bài thơ dài này ta càng kì 

lạ về sự đa dạng, ngầm ẩn những điều Nguyễn Trãi muốn kí thác tâm tình của mình trong một mối cảm hoài tiếc cảnh.  

Hầu nên khôn lại tiếc khuâng khuâng  Thu đến đêm qua cảm vả mừng  Một tiếng chày đâu đâm cối nguyệt  Khoan khoan những lệ ác tan vầng.  

Ngay từ khổ thơ mở đầu, con người tác giả đã hiện hữu với thời cảnh,  tư thế và  tâm trạng.  Tác giả, như nhiều đêm khác của 

cuộc  đời thức  nhẫn  nẻo  sơ  chung,  đêm  đang  qua  và  hừng  đông 

đang  rạng.  Một  đêm  Thu.  Ngồi  chiêm  ngẫm  cuộc  đời  cũng  đã sang  Thu  của  mình,  tâm  trạng  tác  giả  tuy  điềm  tĩnh  nhưng  đa đoan.  Trong  4  câu  thơ  có  đến  5  tâm  trạng  xen  lẫn  tạo  nên  một 

trang thái bâng khuâng: hầu (một sự tự đánh giá có tính lưỡng lự, 

Trang 32

không  quyết  đoán), tiếc, cảm, mừng (hiểu  gần  như vui nhưng  tức  thời  hơn), lệ (sợ).  Tác  giả  bâng  khuâng  tiếc  gì  vậy  khi  đã  tự  cho 

mình cũng có thể gọi là lão thực cuộc đời. Ở khổ thơ này rõ ràng 

là tác giả tiếc đêm trôi qua mất. Cũng là tiếc thời gian cả nhưng tiếc 

đêm trôi thì ắt hẳn khác tiếc ngày trôi. Trong sự đối diện với đêm, ngày  là  không  gian  hoạt  động.  Tiếc  ngày  là  tiếc  công  việc,  lao động, tụ hội, giao tiếp, sự nghiệp, công danh. Tất cả thường diễn 

ra giữa thanh thiên bạch nhật. Còn tiếc đêm thường là tiếc sự êm đềm, tiếc những giấc mơ, tiếc những chiêm nghiệm lặng lẽ và…  Tiếc đêm như vợ chồng mới cưới, tiếc đêm như nhân duyên 

sợ ngày lên mà hát Năm trống canh tôi thức đã ba/ Còn hai trống nữa 

tôi ra trông trời/ Trách trời sao khéo rạng đông/ Chẳng khuya chút nữa  cho lòng thở than… (quan họ). Nguyễn Trãi ngồi tàn canh, giờ sửu 

sang giờ dần, trăng 16,17 đang còn cuối khung trời phía tây, phía đông  hừng  đông  đang  rạng,  tiếng  chày  giã  gió  hay  giã  bún  phía 

Tây Hồ bắt đầu vọng đến, Cụ thốt lên: Một tiếng chày đâu đâm cối 

nguyệt/  Khoan  khoan  những  lệ  ác  tan  vầng.  Chậm  thôi,  chậm  thôi, 

một chút kinh động thôi cũng đủ làm mặt trời (ác) lên, hừng đông (vầng) mĩ lệ mà ngắn ngủi kia sẽ tan biến trong ánh ngày.  

Đã đành tiếng chày trong ngữ liệu thường gắn với mùa Thu, 

đó  là thu  châm,  là chử  thanh:  tiếng  chày đập vải  trên  bến  thu.  Đã 

đành cối nguyệt là ngữ liệu về huyền thoại ngọc thỏ giã thuốc tiên trên  cung  trăng.  Tất  cả  điều  đó  Nguyễn  Trãi  quá  thông  thạo. 

Nhưng  khi  viết  một  động  từ đâm mạnh  mẽ,  chả  nhẽ  văn  hóa  Nguyễn  Trãi  lại  không  có  ẩn  ngữ  dân  gian chày‐cối,  cái  điều  mà  trước  ông,  ở  truyện Hà  Ô  Lôi trong Lĩnh  Nam  chích  quái còn  lưu 

một chứng cứ hiển nhiên. Và tiếng chày nữa, chả nhẽ chỉ là ước lệ thôi  ư  khi  mà  hiển  nhiên  trong  lúc  Nguyễn  Trãi  ngồi  chiêm nghiệm  cũng  là  lúc  nghề  bún  nghề  giấy  thập  thình  giã.  Điều  ấy 

sau  này  còn  lưu  lại  trong  ca  dao  Hà  Nội  và  trong Tức  cảnh  Hà 

Trang 33

Nội của Dương Khuê, bài thơ tương đồng thời khắc sáng tác: Nhịp  chày Yên Thái, mặt gương Tây Hồ.  

Tiếc đêm, chày ‐ cối mấp mé mở từ đầu cho ta một lớp nghĩa 

thầm kín về sex và ta hãy đọc tiếp bài thơ này.  

Dịp trúc còn khoe tiết cứng  Rày liễu đã rủ tơ mềm  Lầu hồng có khách cầm xuân ở  Cầm ngọc tay ai dắng dõi thêm.  

Ở  khổ  tiếp  này,  trước  hết  Nguyễn  Trãi  tiếc  mùa  đi.  Thành 

ngữ dân gian nói Xuân lan ‐ Thu cúc ‐ Hạ trúc ‐ Đông tùng, còn liễu 

tự  do  hơn.  Song liễu  nhứ (bông  liễu), liễu  ti (tơ  liễu  hoặc  tơ  của 

bông  một  loại  liễu)  thường  chỉ  mùa  Thu.  Hạ  qua  Thu  tới  khiến người  ta  tiếc  mùa.  Song  thật  là  đột  ngột,  trong  nỗi  tiếc  của  Cụ, hình  ảnh  đàn  bà  con  gái  lại  xuất  hiện  mà  xuất  hiện  với  tư  cách chiếm  lĩnh  khổ  thơ.  Trước  Nguyễn  Trãi  những  8  thế  kỷ,  đời 

Đường, hai chữ hồng lâu (lầu hồng) đã chỉ chỗ ở của phụ nữ nhà  đài các, quyền quý và dĩ nhiên là trang lệ. Cầm xuân cũng như khóa 

xuân (xuân tỏa) chỉ mĩ nhân bị hoặc tự giam mình gìn giữ trinh tiết 

hoặc  chính  chuyên  (Một  nền  Đồng  Tước  khóa  xuân  hai  kiều).  Và 

chữ xuân nữa,  ai  cũng  biết,  trong  cổ  thi,  với  sự  đa  nghĩa  của  nó, 

dành  một  nghĩa  trỏ  tình  yêu,  tình  dục.  Trong Truyện  Kiều trên 

Trang 34

Khổ này thì rõ ra là lão đại tiếc thiếu niên. Người già mà tiếc thời  trẻ  trai thì có có  nhiều  thứ để  tiếc  lắm.  Nhưng  tiếc gì mà  hơi thơ lại có khách cầm xuân, có đàn bà con gái. Ở khổ thơ trước cầm ngọc  dắng  dõi  là  của  một  người,  một  giai  nhân  nhưng  ở  khổ 

này quản huyền dắng dõi lại là một chuyện khác. Trong cấu trúc cụm 

từ đồng đẳng của nó, quản huyền (đàn sáo) chỉ chuyện xướng ca, cuộc xướng ca có tính thù tạc, có tính văn nghệ. Ở đó, văn nhân và 

ca  kĩ,  quan  viên  và  cầm  giả,  tài  tử  và  giai  nhân  giao  tình.  Quản huyền không phải là  nhạc của nghi thức nghi lễ triều chính. Bạch 

Tiếc thiếu niên qua lật hẹn lành  Hoa hoa nguyệt nguyệt luống vô tình  Xuân xanh nỡ phụ cười đầu bạc  Đầu bạc xưa rày có thuở xanh.  

Trang 35

Cái hẹn lành nào của thời trẻ trai mà tuổi ta đã lỡ thì, sái cảnh  (lật) vậy? Không thể khác hơn, hẹn lành chính là hảo cầu trong Kinh 

Thi: Yểu điệu thục nữ/ Quân tử hảo cầu. Hảo cầu là ước nguyện tốt 

lành  chuyện  tình  duyên  nam  nữ.  Ẩn  ngữ  tiếp  theo  về hoa  hoa 

nguyệt  nguyệt thì  lộ  hết  cả  ra  sự  luyến  tiếc  cái  gì  của  tuổi  già:  cái 

chuyện  hoa  nguyệt  ý  mà.  Đọc  hai  câu  thơ  của  Nguyễn  Trãi  nhớ 

Đỗ Phủ biết dường nào: 

Xuân thủy thuyền như thiên thượng tọa 

Lão lai hoa tự vụ trung khan.  

Ôi cái thời trẻ trai (xuân thủy) nhảy lên thuyền để đi xa thì sung sướng như cưỡi lên trời vậy; Thế mà giờ đây già đến (lão lai) nhìn vào hoa đẹp cũng bằng nhìn đám hơi mù mà thôi. Già vốn dĩ 

là vậy. Cho nên vô tình chuyện nguyệt hoa thì chẳng khá tiếc sao. 

Một chữ luống đọc lên mà ngẩn ngơ cả ruột, nghe nó nuối tiếcquá 

đi  mất!.  Nhưng  đời  là  vậy,  hỡi  xuân  xanh  chớ  cười  thu  héo,  ta cũng đã có thời sung mãn tràn trề cùng hoa nguyệt quản huyền. Theo cái dòng đó, ông nhắn nhủ thêm: 

Đừng  lo  mà  phụ  người, xuân đi  (!),  nó  chả  được  mấy  phen  đâu, 

đời  người  mấy  ai  trăm  tuổi,  sang  Thu  là  bạc  tóc  cả  mà.  Cái  cụ Nguyễn  Trãi  sao  mà  hay  thế,  dễ  thương  thế.  Y  như  các  bậc  thầy đáng  kính  của  tôi  vậy.  Cụ  nào  già  rồi,  đại  lão  rồi  cũng  thỉnh thoảng nheo nheo mắt nói với bọn trẻ cái chuyện ấy, là cái chuyện 

Trang 36

xêch‐xy ấy mà. Lại còn tủm tỉm cười nữa chứ. Các cụ đạt đạo rồi. Nhưng Ức Trai còn đạt đạo hơn vì ông dám viết ra và viết thật vi diệu.  Đạo  cao  đức  trọng,  mũ  cao  áo  dài  là  một  chuyện  còn  con người mới là lắm chuyện. Đọc thơ cụ, ta càng thấy cụ người lắm, gần gụi như thầy ta, ông ta vậy. Thế rồi cụ dạy ta tiếp: 

Ba bảy mươi nào luống nhọc thân  Được thua đã biết sự phân vân  Chớ cười hiền trước rằng dại  Cầm đuốc chơi đêm bởi tiếc xuân.  

Bây  giờ  mới  đến  khổ tiếc  ngày đây.  Cầm  đuốc  chơi  đêm là bỉnh 

chúc dạ  du trong  ngữ liệu truyền  thống.  Người  xưa  dạy đời  người 

vốn ngắn, lo gì chuyện ngàn năm, chơi ngày chưa đủ tranh thủ chơi 

đêm,  cầm  đuốc  mà  chơi.  Từ  nguyên chú  nghĩa bỉnh  chúc  dạ  du thật  trúng là: Cập thời hành lạc (kịp thời mà hành lạc). Cái chữ hành lạc thì 

xưa  nay  vẫn  vậy  thôi,  đa  nghĩa.  Đặt  trong  hơi  thơ  từ  đầu  của 

Nguyễn  Trãi  thì  ta  thấy  rõ  nghĩa  quá  còn  gì.  Còn  vui  nhưng ngày 

vui ngắn chẳng tầy gang thì đốt đuốc lên vậy, kéo ngày sang đêm. Và 

Cụ tiếp tục nhấn mạnh cái khôn của người hiền thuở trước: 

Tiếc xuân cầm đuốc mảng chơi đêm  Những lệ xuân qua tuổi tác thêm  Chẳng thấy ngoài hiên tơ liễu rủ  Một phen liễu rủ một phen mềm.  

Người ta đốt đuốc mê mải chơi đêm vì người ta sợ thêm tuổi tác bỏ phí dần những vui thú rất trần gian, rất thực sinh. Sao mà chẳng  thấy  tơ  liễu  đã  rủ  rồi,  thời  gian  không  chờ  đợi,  và  chầm 

chậm  nhưng  khắc  nghiệt: Một  phen  liễu  rủ  một  phen mềm.  Ta  lại 

gặp chữ mềm đa nghĩa. Cụ thật thâm trầm.  

Trang 37

Giọng  thơ  đột  ngột  hướng  nội,  vừa  nói  với  người  tự  nhiên ngưng lặng rồi nói với lòng mình. Có lẽ người già hay thế. Nhiều suy ngẫm. Câu thơ mềm đi như tơ liễu: 

Liễu mềm rủ nhặt đưa hương  Hứng bện lầu thơ khách ngại rằng  Thấy cảnh lòng thơ càng vấn vít  Một phen tiếc cảnh một phen thương.  

Những phút giây rối lòng đáng ngạc nhiên của một thi nhân 

đã quá từng trải qua vô vàn những biến cố trọng đại của đất nước, của thế thái nhân tình và của cuộc đời mình. Khổ thơ tươi tắn và cẩm tú một cách khác thường, hiếm có trong thơ Nôm. Nhưng là gấm dệt chứ không phải gấm thêu vì những nét hoa văn nổi một cách tinh tế, thầm thì. Chữ nghĩa cả khổ liên quan gần xa với nghề 

dệt  truyền  thống: mềm (phẩm  của  tơ  lụa), rủ (thao  tác  giũ  tơ,  giũ  gấm), nhặt (trạng  thái  mau  thưa  khi  mắc  cửi  và  trong  tình  thế  đồng  âm  gắn  với  thao  tác  dệt), đưa (thoi  qua  lại), bện (thao  tác  xe  sợi), rằng/rường/giằng/giường (trong tình thế đồng âm và ở các khả 

năng  phiên  khác  nhau  còn  dùng  để  chỉ  then  ngang  của  khung 

cửi), vấn  vít (vừa  chỉ  thao  tác  dệt  vừa  chỉ  trạng  thái  đan  xe  sợi  ở 

diềm  tấm);  các  chữ  trong  các  câu  lặp  lại  trong  tình  thế  len  lỏi  để 

nối kết ý thơ: liễu, rủ câu 1 nối kết với câu cuối khổ trên trong cách  thơ liên hoàn, thơ trong câu 2 lặp lại thơ câu 3, cảnh trong câu 3 lặp  lại cảnh câu  4  theo  thế  đan  cài.  Sự  lặp  lại  là  điều  mà  các  nhà  thơ 

câu  nệ  vào  tính  súc  tích  của  thơ  ca  thường  hay  né  tránh  nhưng Nguyễn Trãi thì không né tránh. Ông tự do tự tại: lòng bối rối thì chữ  cũng  bối  rối,  lòng  dệt  đan  thì  chữ  cũng  dệt  đan.  Sự  lặp  chữ giữa các câu tựa hồ làm cái sợi dọc để nối kết các sợi ngang làm nên  một  khổ  thơ  vấn  vít.  Trong  thơ  ca,  có  những  khổ  như  chạm 

Trang 38

trổ,  như  xướng  ca,  như  vẽ  vời,  như  thêu  thùa…  thì  khổ  thơ  này của Ức Trai là gấm dệt.  

Nhưng vấn đề là tại sao lòng của một thi nhân đã già dặn lại 

có lúc bối rối đến đa đoan như vậy?. Đó lại chính là: 

Thương cảnh vì nhân cảnh hữu tình  Huống chi người lạ cảnh hòa thanh  Xuân ba tháng thời Thu ba tháng  Hoa nguyệt dun dùng mấy phát lành.  

Chữ lạ trong  thơ  Nguyễn  Trãi  và  thơ  ca  đương  thời  rất 

thường  dùng  với  nghĩa,  khác  ngày  nay,  chỉ  sự  tươi  đẹp  về  hình 

thức. Nó là kỳ chứ không là dị trong Hán tự (các cụ viết song ngữ  mà). Còn hữu tình thì bao giờ cũng đa nghĩa. Hà cớ chi nàng Điểm  Bích trong Thiền uyển tập anh khi đổ cho nhà sư Huyền Quang gạ  gẫm cái chuyện ấy lại viết rất phúng dụ: Người hòa tươi tốt cảnh hòa 

lạ/Mầu thích ca nào thủa hữu tình. Cũng là lạ với hữu tình ấy cả thôi 

làm  cho  Nguyễn  Trãi  thật  rối  lòng.  Lí  do  tiếc  của  Cụ  là  tiếc  thời 

gian  trôi  đi,  tiếc  hoa  nguyệt  thưa  thoảng: Xuân  ba  tháng  thời  thu 

ba tháng/Hoa  nguyệt  dun  dùng  mấy  phát  lành.  Từ  cổ, dun là  đẩy 

đi, dùng là  chùng  lại.  Với  hoa  chỉ  Xuân,  nguyệt  chỉ  Thu  câu  thơ  Nguyễn Trãi muốn nói: thôi thì thời gian duỗi co dẩy đi chùng lại, 

sự  hảo  cầu  còn  mấy  khoảnh  khắc  đâu,  đằng  này  người  đẹp  thế, 

cảnh thanh thế…, khiến thi nhân bởi chưng thương mà tiếc. Và hoa 

nguyệt nữa, làm sao mà tránh được ý ngầm.  

Mạch thơ thủ vĩ liên hoàn dứt, ta đột ngột gặp một tứ thơ lạ: 

Loàn đan ướm hỏi khách lầu hồng  Đầm ấm thì thương kẻ lạnh lùng  Ngoài ấy dù còn áo lẻ 

Cả lòng mượn lấy đắp hơi cùng.  

Trang 39

Có người từng hiểu khổ thơ này theo cái ý là tâm sự thầm kín của Nguyễn Trãi nhắn nhe vua khi bị thất sủng, ghẻ lạnh. Hiểu  thế  cũng  được  nhưng  có  liệu  xa  thơ  không  khi  trên  mặt bằng hiện hữu của câu chữ là chuyện duyên tình. Thiếu gì cách 

nhắn  nhe  mà  lại  mượn  chuyện  tình  ái,  mượn khách  lầu  hồng. 

Khổ  thơ  rõ  là  ướm  chuyện  tình  ái  và  khí  sỗ  sàng.  Tác  giả  biết 

vậy  nên  Cụ  già  đã  tự  nhận  mình  là loàn  đan ngay  từ  đầu. 

Nguyễn Trãi mà cũng loàn đan nhỉ. Cái chuyện bén tiếng quen hơi  khó  nói  thế  mà  Cụ  cũng  thơ  được.  Đây  là  một  khổ  thơ  lạ trong  toàn  bộ  thơ  Nôm  Nguyễn  Trãi  chứng  tỏ  Cụ  rất  đời,  rất 

tình.  Bởi  vì,  Cụ  cho  rằng  cái  sự tình là  chuyện  tự  nhiên  trong 

vận hành trời đất: 

Ba xuân thì được chín mươi ngày  Sinh vật lòng trời chẳng tây 

 Rỉ bảo đông phong hời hợt ít  Thế tình chứ tiếc dửng dưng thay.  

Sinh (những loài sống), vật (những loài khác nữa) cũng đều hưởng  xuân  của  đất  trời  không  riêng  gì  ai,  không  riêng  gì  trẻ trung với già cả, trời không thiên vị bao giờ. Bởi vậy, ngọn gió tình kia, ta nhắn khẽ là hời hợt nhau nó vừa vừa thôi, hãy mạnh dạn lên. Đông phong là gió mùa xuân thổi từ phía đông đến, mang hơi 

ấm  của  sinh  khí.  Đông  phong  còn  là  gió  tình  trong  thi  liệu  cổ 

truyền. Đỗ Mục đời Đường có câu thơ: Đông phong bất dữ Chu lang 

tiện/ Đồng tước xuân thâm tỏa nhị kiều nghĩa là nếu ngọn gió đông 

không  giúp  sức  cho  Chu  Du  thì  hai  cô  họ  Kiều  đã  bị  Tào  Tháo 

nhốt  kín  vào  đài  Đồng  Tước.  Sau  này,  các nhà  thơ  còn  hiểu đông 

phong như là phương tiện tạo cơ hội ân ái nam nữ. Nguyễn Du để 

cho  Thúy  Kiều  suy  ngẫm  về  Kim  Trọng  khi  mình  gặp  tai  biến: 

Bước chân đến chốn lạc loài/ Nhị đào thà bẻ cho người tình chung/ Vì ai 

Trang 40

văn  với  cụm  từ ngăn  đón  gió  đông đều  dịch barré  chemin  du 

bonhneur (ngăn  cản  con  đường  đến  hạnh  phúc)  là  vì  thế.  Chắc 

chắn,  Nguyễn  Trãi  cũng  hiểu đông  phong theo  nghĩa  trên  nên  Cụ  mới rỉ bảo, nhắn khe khẽ thôi rằng hãy mạnh mẽ lên chứ kẻo rồi lại 

tiếc thay cho thế tình dửng dưng.  

Lầu xanh từ thấy, khách thi nhân 

Vì cảnh lòng người tiếc cảnh xuân  Mới trách thanh đồng tin diễn đến  Bởi chưng hệ chúa Đông quân.  

Lại lầu xanh, từ tít đời Đường, vốn đã dùng để chỉ chỗ kĩ nữ 

ở.  Thi  nhân  và  giai  nhân.  Câu  thơ  cần  đọc  theo  lối  đảo  trang thường gặp: khách thi nhân từ khi gặp giai nhân mà vì cảnh lòng 

mà  tiếc  cảnh xuân.  Tác  giả  trách  sự  trễ  tràng  của  chuyện  gặp  gỡ 

bởi  sự  ràng  buộc  của  chúa  xuân.  Dầu  kín  đáo  ta  cũng  nhận  ra được điều muốn ngỏ. Và hạnh phúc chan hòa sẽ tới: 

Đâu đâu cũng chịu lệnh Đông quân  Nào chốn nào chẳng gió xuân  Huống lại vườn còn hoa trúc cũ  Trồi thức tốt lạ mười phân.  

Hoa trúc trong vườn còn còn đâm chồi nẩy lộc huống chi là người.  

Nguyễn  Trãi  cách  chúng  ta  hơn  năm  thế  kỷ.  Cụ  sống  một thời  hậu  chiến  đầy  những  biến  động  phức  tạp  như  tham  nhũng công thần, tranh quyền đoạt vị, mưu mô hại người, mê tín thủ lợi, buôn  thánh  bán  thần…  thế  mà  tâm  hồn  không  nhơ  lầm  bụi,  vẫn thật tinh khôi. Là người đạt đạo, Cụ không ngần ngại chuyện sex 

Ngày đăng: 06/01/2020, 23:28

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w