1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

phát triển du lịch cộng đồng gắn với bảo tồn văn hóa truyền thống của dân tộc thái trên địa bàn huyện con cuông, tỉnh nghệ an

135 699 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 135
Dung lượng 1,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

4.1.6 Chính sách phát triển DLCĐ gắn với bảo tồn VHTT của dân tộc Thái 60 4.1.7 Hoạt động liên kết phát triển du lịch cộng đồng gắn với bảo tồn văn hóa truyền thống của dân tộc Thái 61 4

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

- -

LÔ VĂN ỐC

PHÁT TRIỂN DU LỊCH CỘNG ĐỒNG GẮN VỚI BẢO TỒN VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG CỦA DÂN TỘC THÁI TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN CON CUÔNG, TỈNH NGHỆ AN

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ NÔNG NGHIỆP

HÀ NỘI, NĂM 2015

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

- -

LÔ VĂN ỐC

PHÁT TRIỂN DU LỊCH CỘNG ĐỒNG GẮN VỚI BẢO TỒN VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG CỦA DÂN TỘC THÁI TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN CON CUÔNG, TỈNH NGHỆ AN

Người hướng dẫn khoa học:

PGS.TS QUYỀN ĐÌNH HÀ

HÀ NỘI, NĂM 2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này

là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc Đồng thời tôi xin cam đoan rằng trong quá trình thực hiện đề tài này tại địa phương tôi luôn chấp hành đúng mọi quy định của địa phương nơi thực hiện đề tài

Hà Nội, ngày 06 tháng 06 năm 2015

Học viên

Lô Văn Ốc

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để thực hiện và hoàn thành luận văn này, ngoài sự nỗ lực của bản thân tôi

đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ nhiệt tình về nhiều mặt của các tổ chức và các

cá nhân trong và ngoài trường

Trước tiên, tôi xin được bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đến Ban giám hiệu trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội nay là Học viện Nông nghiệp Việt Nam, khoa Kinh tế và PTNT, bộ môn Phát triển nông thôn và các Thầy, Cô giáo đã tạo mọi điều kiện cho tôi học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Thầy PGS.TS Quyền Đình Hà, người đã trực tiếp tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Tôi xin cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của lãnh đạo UBND huyện Con Cuông, ban quản lý vườn quốc gia Pù Mát, phòng văn hóa – dân tộc, phòng Nông nghiệp, phòng Lao động thương binh và Xã hội, Trạm khuyến nông, Hội nông dân, Hội phụ

nữ, Đoàn thanh niên, UBND các xã Yên Khê, Môn Sơn, Lục Dạ và những hộ dân đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi cung cấp số liệu, tư liệu khách quan và nói lên những suy nghĩ của mình để giúp tôi hoàn thành luận văn này

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn gia đình và bạn bè đã ủng hộ và giúp đỡ tôi nhiệt tình trong quá trình học tập và nghiên cứu của mình

Xin trân trọng cảm ơn!

Tác giả luận văn

Lô Văn Ốc

Trang 5

MỤC LỤC

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

PHẦN II: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 4

2.1.2 Sự cần thiết phải phát triển du lịch cộng đồng gắn với bảo tồn văn hóa

2.1.3 Vai trò của phát triển du lịch cộng đồng gắn với bảo tồn văn hóa truyền

2.1.4 Đặc điểm của phát triển du lịch cộng đồng gắn với bảo tồn văn hóa

2.1.5 Nguyên tắc của phát triển du lịch cộng đồng gắn với bảo tồn văn hóa

2.1.6 Nội dung của phát triển du lịch cộng đồng gắn với bảo tồn văn hóa truyền

2.1.7 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch cộng đồng gắn với bảo tồn

văn hóa truyền thống của dân tộc Thái 17

Trang 6

2.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài 19 2.2.1 Kinh nghiệm phát triển du lịch cộng đồng gắn với bảo tồn văn hóa truyền

2.2.2 Kinh nghiệm phát triển du lịch cộng đồng gắn với bảo tồn văn hóa truyền

2.2.3 Những bài học kinh nghiệm phát triển du lịch cộng đồng 25

3.1 Đặc điểm của địa bàn nghiên cứu 27

3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 28 3.1.3 Đánh giá thuận lợi và khó khăn về điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội cho

phát triển du lịch cộng đồng gắn với bảo tồn văn hóa truyền thống của dân tộc Thái trên địa bàn huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An 34

3.2.2 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 36 3.2.3 Phương pháp thu thập số liệu 36 3.2.4 Phương pháp xử lý số liệu 38 3.2.5 Phương pháp phân tích, số liệu 38 3.2.6 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 40 PHẦN IV: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 41 4.1 Thực trạng phát triển du lịch cộng đồng gắn với bảo tồn VHTT của dân

tộc Thái trên địa bàn huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An 41 4.1.1 Quy hoạch phát triển du lịch cộng đồng gắn với bảo tồn văn hóa truyền

thống của dân tộc Thái trên địa bàn huyện Con Cuông 41 4.1.2 Đầu tư và huy động vốn đầu tư cho DLCĐ gắn với bảo tồn VHTT của dân

tộc Thái trên địa bàn huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An 45 4.1.3 Quản lý tài nguyên du lịch, cơ sở vật chất phục vụ DLCĐ gắn với bảo tồn

VHTT của dân tộc Thái trên địa bàn huyện Con Cuông 46 4.1.4 Các sản phẩm DLCĐ gắn với bảo tồn VHTT của dân tộc Thái trên địa bàn

huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An 58 4.1.5 Lực lượng lao động hoạt động DLCĐ gắn với bảo tồn VHTT của dân tộc

Thái trên địa bàn huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An 59

Trang 7

4.1.6 Chính sách phát triển DLCĐ gắn với bảo tồn VHTT của dân tộc Thái 60 4.1.7 Hoạt động liên kết phát triển du lịch cộng đồng gắn với bảo tồn văn hóa

truyền thống của dân tộc Thái 61 4.1.8 Kết quả hoạt động du lịch cộng đồng gắn với bảo tồn văn hóa truyền

thống của dân tộc Thái trên địa bàn huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An 61 4.1.9 Sự tham gia của người dân vào hoạt động DLCĐ gắn với bảo tồn VHTT

của dân tộc Thái trên địa bàn huyện Con Cuông 66 4.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến phát triển DLCĐ gắn với bảo tồn VHTT của dân

tộc Thái trên địa bàn huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An 76

4.2.8 Đánh giá khả năng phát triển du lịch cộng đồng gắn với bảo tồn VHTT

của dân tộc Thái trên địa bàn huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An 82 4.3 Những giải pháp phát triển du lịch cộng đồng gắn với bảo tồn văn hóa truyền

thống của dân tộc Thái trên địa bàn huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An 88 4.3.1 Quan điểm, định hướng và mục tiêu phát triển du lịch cộng đồng gắn với bảo

tồn văn hóa truyền thống của dân tộc Thái trên địa bàn huyện Con Cuông 88 4.3.2 Những giải pháp phát triển du lịch cộng đồng gắn với bảo tồn văn hóa truyền

thống của dân tộc Thái trên địa bàn huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An 91

5.2.2 Đối với chính quyền địa phương 105 5.2.3 Đối với người dân ở các xã Môn Sơn, Yên Khê, Lục Dạ 106

PHỤ LỤC

Trang 8

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DLCĐ : Du lịch cộng đồng CLB : Câu lạc bộ

UBND : Ủy ban nhân dân DLST : Du lịch sinh thái DLLS : Du lịch lịch sử BCH : Ban chấp hành HĐND : Hội đồng nhân dân HTX : Hợp tác xã

VHTT : Văn hóa truyền thống VQG : Vườn quốc gia

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

3.1 Tình hình sử dụng đất đai của huyện Con Cuông qua 3 năm (2011 - 2013) 29 3.2 Tình hình dân số, lao động trên địa bàn huyện (2011 – 2013) 31 3.3 Tình hình phát triển kinh tế của huyện Con Cuông trong 3 năm

4.1 Nguồn vốn cho phát triển DLCĐ 46 4.2 Sự thay đổi một số loại hình văn học nghệ thuật dân gian trước và

sau khi có DLCĐ gắn với bảo tồn VHTT của dân tộc Thái 52 4.3 Tỷ lệ hộ làm DLCĐ gắn với bảo tồn VHTT của dân tộc Thái biết

chữ viết của dân tộc Thái trước và sau khi tham gia DLCĐ 53 4.4 Sử dụng trang phục truyền thống của các hộ làm DLCĐ gắn với

bảo tồn VHTT của dân tộc Thái 54 4.5 Sử dụng món ăn truyền thống của dân tộc Thái trước và sau khi có

DLCĐ gắn với bảo tồn VHTT của dân tộc Thái 56 4.6 Số lượng lao động DLCĐ gắn với bảo tồn VHTT của dân tộc Thái

4.7 Lượng khách du lịch đến Con Cuông giai đoạn 2011 – 2013 62 4.8 Thời gian lưu trú của du khách du lịch cộng đồng trên địa bàn

huyện Con Cuông giai đoan 2011 - 2013 64 4.9 Doanh thu từ hoạt động du lịch cộng đồng gắn với bảo tồn văn hóa

truyền thống của dân tộc Thái trên địa bàn huyện Con Cuông 65 4.10 Một số thông tin của các hộ tham gia làm DLCĐ gắn với bảo tồn

VHTT của dân tộc Thái trên địa bàn huyện Con Cuông 66 4.11 Lý do các hộ không tham gia vào hoạt động phát triển du lịch cộng

đồng gắn với bảo tồn VHTT của dân tộc Thái 67 4.12 Một số thông tin của các hộ tham gia CLB dân ca Thái Con Cuông 69 4.13 Hiện trạng kinh doanh của các hộ dân ở Con Cuông 70

Trang 10

4.14 Mức độ phản ánh của du khách về các sản phẩm DLCĐ gắn với bảo

tồn VHTT của dân tộc Thái trên địa bàn huyện Con Cuông 71 4.15 Mức độ thu nhập của các hộ dân ở các khu du lịch cộng đồng gắn

với bảo tồn VHTT của dân tộc Thái trên địa bàn huyện Con Cuông 72 4.16 Tỷ lệ hộ nghèo ở các xã có DLCĐ 74 4.17 Xếp loại các yếu tố ảnh hưởng tới phát triển DLCĐ gắn với bảo tồn

VHTT của dân tộc Thái trên địa bàn huyện Con Cuông 76 4.18 Nguồn vốn cho phát triển DLCĐ 77 4.19 Các hình thức quảng cáo phát triển hình ảnh ở DLCĐ trên địa bàn

4.20 Phân tích ma trận SWOT cho phát triển du lịch cộng đồng gắn với

bảo tồn VHTT của dân tộc Thái trên địa bàn huyện Con Cuông 83

Trang 11

DANH MỤC SƠ ĐỒ

4.1 Sơ đồ Venn về quan hệ giữa cộng đồng và các tổ chức, đoàn thể trên địa

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

4.1 Số lượng khách du lịch cộng đồng trên địa bàn huyện Con Cuông 63

DANH MỤC HỘP

4.1 Ý kiến về số lượng và thu nhập của việc dệt thổ cẩm 57 4.2 Ý kiến về khối lượng, mẫu mã các sản phẩm dệt 57 4.3 Một số khó khăn nhất định ảnh hưởng đến lượng khách du lịch 63 4.4 Mong muốn tham gia CLB dân ca Thái 69

Trang 12

PHẦN I

MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong những năm vừa qua, ngành du lịch nói chung và du lịch cộng đồng nói riềng ở nước ta đang phát triển mạnh mẽ, đóng góp cho nền kinh tế quốc dân ngày một tăng, thu về nguồn ngoại tệ đáng kể, tạo ra nhiều việc làm cho người dân tại các địa phương có hoạt động du lịch, cũng là nguồn động lực cho các ngành kinh tế khác phát triển, đóng góp quan trọng vào tăng trưởng kinh tế, xoá đói, giảm nghèo, đảm bảo an sinh xã hội, bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá, bảo

vệ môi trường và giữ vững an ninh, quốc phòng

Du lịch cộng đồng gắn với bảo tồn văn hóa truyền thống càng có ý nghĩa hết sức quan trọng trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế xu thế mở cửa, giao lưu, hội nhập văn hóa ngày càng trở nên sâu rộng, bản lĩnh văn hóa Việt Nam đang phải đối mặt trực tiếp với những thách thức lớn, liên quan đến sự sống còn của dân tộc Trong việc xử lý mối quan hệ giữa bảo tồn và phát triển hệ giá trị văn hóa truyền thống dân tộc với tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế có ý nghĩa to lớn

Là một huyện miền núi của tỉnh Nghệ An Con cuông có tới 88% dân số

là người dân tộc thiểu số trong đó 74% là cộng đồng dân tộc Thái với những giá trị văn hoá phong phú, độc đáo và chứa đựng tính nhân văn cao cả Con Cuông

có vị trí đặc thù và tài nguyên du lịch đa dạng phong phú, được xác định là một trong những trung tâm du lịch của Nghê An Con Cuông nằm trên địa hình nhiều núi đá vôi kết nối nhau có đỉnh cao trên 2700m Do vậy đã tạo ra nhiều hang động, thác nước đẹp, những cánh rừng nguyên sinh tạo nên VQG Pù Mát nằm trong khu dự trữ sinh quyển thế giới được UNESCO công nhận với diện tích 94,804ha, có hệ thực động vật phong phú

Từ tháng 6/2011, VQG Pù Mát đã ký Thỏa thuận đối tác thực hiện giữa

Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) Việt Nam và Ban quản lý Vườn quốc gia Pù Mát về vai trò và nhiệm vụ của đối tác thực hiện dự án “Xây dựng mô hình du lịch cộng đồng tuyến Yên Khê - Lục Dạ -

Trang 13

Môn Sơn, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An” với mục tiêu bảo tồn bản sắc văn hóa của cộng đồng các dân tộc đồng thời tạo sinh kế, tăng thu nhập cho người dân địa phương

Trong nhưng năm qua du lịch cộng đồng gắn với bảo tồn văn hóa truyền thống ở Con Cuông đã đạt được nhiều thành quả tích cực

Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan khác nhau mà

du lịch cộng đồng gắn với bảo tồn văn hóa truyền thống của dân tộc Thái trên địa bàn huyện Con Cuông vẫn còn chứa đựng nhiều tồn tại, thiếu sót, đẩy những giá trị văn hoá truyền thống của đồng bào dân tộc Thái ở đây đứng trước những thách thức,những nguy cơ không nhỏ

Vì những lý do trên, tôi chọn đề tài “Phát triển du lịch cộng đồng gắn

với bảo tồn văn hóa truyền thống của dân tộc Thái trên địa bàn huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An”

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

1.2.1 Mục tiêu chung

Trên cơ sở đánh giá thực trạng và phân tích các yếu tố ảnh hưởng để đề xuất các giải pháp nhằm phát triển du lịch cộng đồng gắn với bảo tồn văn hóa truyền thống của dân tộc Thái trên địa bàn huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An

- Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển du lịch cộng đồng gắn với bảo tồn văn hóa truyền thống của dân tộc Thái trên địa bàn huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An;

Trang 14

1.3 Câu hỏi nghiên cứu

- Vấn đề phát triển du lịch cộng đồng gắn với bảo tồn văn hóa truyền thống trên thế giới và Việt Nam hiện nay như thế nào?

- Thực trạng phát triển du lịch cộng đồng gắn với bảo tồn văn hóa truyền thống của dân tộc Thái trên địa bàn huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An trong những năm qua ra sao?

- Những yếu tố nào ảnh hưởng đến phát triển DLCĐ gắn với bảo tồn VHTT của dân tộc Thái trên địa bàn huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An?

- Những giải pháp nào nhằm phát triển DLCĐ gắn với bảo tồn VHTT của dân tộc Thái trên địa bàn huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An?

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu phát triển du lịch cộng đồng gắn với bảo tồn văn hóa truyền thống của dân tộc Thái, chủ thể là các hộ hoạt động du lịch cộng đồng trên địa bàn huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An

+ Thời gian nghiên cứu và thực hiện đề tài từ tháng 3/2014 đến tháng 5/2015

+ Thời gian lấy số liệu sử dụng làm tài liệu nghiên cứu trong đề tài từ năm

2010 đến 2013

Trang 15

PHẦN II

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

2.1 Cơ sở lý luận của đề tài

Khái niệm này cũng được nhắc đến trong chương trình nghiên cứu của nhiều tổ chức xã hội trên thế giới Pachamama (Tổ chức hướng đến việc giới thiệu và bảo tồn văn hóa bản địa khu vực Châu Mỹ) đã đưa ra quan điểm của mình về Community-Based Tourism như sau: “DLCĐ là loại hình du lịch mà du khách từ bên ngoài đến với cộng đồng địa phương để tìm hiểu về phong tục, lối sống, niềm tin và được thưởng thức ẩm thực địa phương Cộng đồng địa phương kiểm soát cả những tác động và những lợi ích thông qua quá trình tham gia vào hình thức du lịch này, từ đó tăng cường khả năng tự quản, tăng cường phương thức sinh kế và phát huy giá trị truyền thống của địa phương”

Khái niệm du lịch cộng đồng của nhà nghiên cứu Nicole Hause và Wolffgang Strasdas: “Du lịch cộng đồng là loại hình du lịch trong đó chủ yếu là người dân địa phương đứng ra phát triển và quản lý Lợi ích kinh tế có được từ

du lịch sẽ đọng lại nền kinh tế địa phương”

Tại Việt Nam, hàng loạt khái niệm về DLCĐ đã được đề cập Tác giả Trần Thị Mai (2005) đã xây dựng nội dung cho khái niệm này như sau: “DLCĐ

là hoạt động tương hỗ giữa các đối tác liên quan, nhằm mang lại lợi ích về kinh

tế cho cộng đồng dân cư địa phương, bảo vệ được môi trường và mang đến cho

Trang 16

du khách kinh nghiệm mới, góp phần thựchiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương có dự án.” Cùng có quan điểm nhấn mạnh vai trò của phương thức phát triển DLCĐ trong công tác bảo tồn môi trường tự nhiên và nhân văn, tác giả Võ Quế (2006) đã nhìn nhận: “Du lịch dựa vào cộng đồng là phương thức phát triển du lịch trong đó cộng đồng dân cư tổ chức cung cấp các dịch vụ để phát triển du lịch, đồng thời tham gia bảo tồn tài nguyên thiên nhiên

và môi trường, đồng thời cộng đồng được hưởng quyền lợi về vật chất và tinh thần từ phát triển du lịch và bảo tồn tự nhiên.” Bên cạnh nội dung xem xét phát triển DLCĐ là phương thức góp phần đẩy mạnh tính hiệu quả trong công tác bảo tồn, tác giả Bùi Thị Hải Yến (2012) còn đề cập đến việc tham gia của cộng đồng địa phương, với cách nhìn về DLCĐ: “DLCĐ có thể hiểu là phương thức phát triển bền vững mà ở đó cộng đồng địa phương có sự tham gia trực tiếp và chủ yếu trong các giai đoạn phát triển và mọi hoạt động du lịch Cộng đồng nhận được sự hợp tác, hỗ trợ của các tổ chức, cá nhân trong nước và quốc tế; của chính quyền địa phương cũng như chính phủ và nhận được phần lớn lợi nhuận thu được

từ hoạt động du lịch nhằm phát triển cộng đồng, bảo tồn khai thác tài nguyên môi trường du lịch bền vững, đáp ứng các nhu cầu du lịch phong phú, có chất lượng cao và hợp lý của du khách.”

Tựu chung lại, khái niệm DLCĐ chứa đựng các nội dung chủ yếu như sau:

- Du khách là tác nhân bên ngoài, là tiền đề mang lại lợi ích kinh tế và sẽ

có những tác động nhất định kèm theo việc thụ hưởng các giá trị về môi trường sinh thái tự nhiên và nhân văn khi đến với một cộng đồng địa phương cụ thể

- Cộng đồng địa phương là người kiểm soát các giá trị về mặt tài nguyên

du lịch để hỗ trợ du khách có cơ hội tìm hiểu và nâng cao nhận thức của mình khi

có cơ hội tiếp cận hệ thống tài nguyên du lịch tại không gian sinh sống của cộng đồng địa phương

- Cộng đồng địa phương sẽ nhận được lợi ích về mặt kinh tế, mở rộng tầm hiểu biết về đặc điểm tính cách của du khách cũng như có cơ hội nắm bắt các thông tin bên ngoài từ du khách

Trang 17

- Cộng đồng địa phương ngày càng được tăng cường về khả năng tổ chức, vận hành và thực hiện các hoạt động, xây dựng các sản phẩm du lịch phục vụ cho du khách Từ đó, cộng đồng ngày càng phát huy vai trò làm chủ của mình

Du lịch cộng đồng là một loại hình du lịch do chính cộng đồng người dân phối hợp tổ chức, quản lý và làm chủ để đem lại lợi ích kinh tế và bảo vệ được môi trường chung thông qua việc giới thiệu với du khách các nét đặc trưng của địa phương (phong cảnh, văn hóa…)

Du lịch cộng đồng dựa trên sự tò mò, mong muốn của khách du lịch để tìm hiểu thêm về cuộc sống hang ngày của người dân từ các nền văn hóa khác nhau Du lịch cộng đồng thường liên kết với người dân thành thị đến các vùng nông thôn để thưởng thức cuộc sống tại đó trong một khoảng thời gian nhất định

(Tài liệu hướng dẫn phát triển du lịch cộng đồng, 2012, Viện Nghiên cứu và Phát triển Ngành nghề Nông thôn Việt Nam)

* Khái niệm văn hóa truyền thống

Theo nghĩa rộng, văn hóa được hiểu là toàn bộ những giá trị, những hoạt động tinh thần của con người Taylor cho rằng “Văn hóa hiểu theo nghĩa rộng nhất của nó là toàn bộ phức thể bao gồm hiểu biết, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục và những khả năng và tập quán khác mà con người có được với tư cách là một thành viên của xã hội” Tiêu biểu cho cách hiểu này là A.K Vlêđốp: “Việc coi văn hóa tinh thần chỉ là tổng hợp những giá trị tinh thần

là phiến diện Văn hóa tinh thần như là sự hoạt động sáng tạo tích cực của con người, như là sự sản xuất cất giữ và sử dụng những giá trị tinh thần”

Theo nghĩa hẹp, các tác giả cho rằng văn hóa tinh thần là những dấu ấn tinh thần, những giá trị tinh thần đặc thù của một quốc gia dân tộc nhằm phân biệt dân tộc này với dân tộc khác Tiêu biểu cho cách hiểu này là khái niệm văn hóa của

UNESCO được thừa nhận rộng rãi: Văn hóa là “tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo của con người đã diễn ra trong quá khứ cũng như đang diễn ra trong hiện tại Qua hàng thế kỷ các hoạt động sáng tạo ấy đã cấu thành nên một hệ thống các giá trị, truyền thống thị hiếu thẩm mỹ và lối sống mà dựa trên đó từng dân tộc khẳng định bản sắc riêng của mình” (2, tr.5)

Trang 18

Văn hóa là một hệ thống hữu cơ những giá trị vật chất và tinh thần do con người, loài người sáng tạo, tích lũy thông qua hoạt động thực tiễn trong suốt quá trình lịch sử của mình Con người là sản phẩm cao nhất của tự nhiên và văn hóa là sản phẩm đặc sắc nhất của con người Có thể nói văn hóa là sự hóa thân của đời sống,

nó thấm vào mọi lĩnh vực hoạt động của con người, nó xuyên suốt cơ thể xã hội, nó biểu hiện trình độ người, trình độ xã hội, văn minh quốc gia, văn minh nhân loại Theo Trần Văn Giàu (2013): “Giá trị truyền thống được hiểu là những cái tốt, bởi vì những cái tốt mới được gọi là giá trị Thậm chí không phải bất cứ cái

gì tốt đều được gọi là giá trị; mà phải là cái tốt cơ bản, phổ biến, có nhiều tác dụng tích cực cho đạo đức, cho sự hướng dẫn nhận định, đánh giá và dẫn dắt hành động của một dân tộc thì mới mang đầy đủ ý nghĩa của khái niệm “giá trị truyền thống”

Theo Trần Ngọc Thêm (2013): “Truyền thống văn hóa là những giá trị tương đối ổn định (những kinh nghiệm tập thể) thể hiện dưới những khuôn mẫu xã hội được tích lũy và tái tạo trong cộng đồng người qua không gian và được cố định hóa dưới dạng những phong tục tập quán, nghi lễ, luật pháp, dư luận ” (3, tr.26) Theo Tần Nguyên Việt (2008): “Theo đó, có thể coi truyền thống là một

bộ phận tương đối ổn định của ý thức xã hội, được lặp đi lặp lại trong suốt tiến trình hình thành và phát triển của các nền văn hóa tinh thần và vật chất, là một giá trị nhất định đối với từng nhóm người, từng giai cấp, cộng đồng và xã hội nói chung” (4, tr.113)

Như vậy, có thể khái quát văn hóa truyền thống có những tính chất cơ bản sau đây:

Thứ nhất, tính giá trị Văn hóa truyền thống mang tính giá trị bởi vì nó là

chuẩn mực, là thước đo cho hành vi đạo đức, cho những quan hệ ứng xử giữa người và người trong một cộng đồng, một giai cấp, một quốc gia, một dân tộc nhất định Giá trị văn hóa truyền thống để phân biệt phải trái, đúng, sai để định hướng cho các hoạt động vì mục đích xây dựng cuộc sống tự do và tiến bộ của

dân tộc đó

Trang 19

Thứ hai, tính lưu truyền Văn hóa ra đời, phát triển trong suốt chiều dài

lịch sử của dân tộc Những giá trị của nó được chuyển giao tiếp nối, qua nhiều thế hệ và giá trị văn hóa truyền thống đó được giữ gìn phát huy lên một tầm cao mới Qua hàng nghìn năm lịch sử, các giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam như chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa nhân văn, ý thức cộng đồng được lưu truyền phát

triển tạo thành một hệ giá trị mới của dân tộc Việt Nam

Thứ ba, tính ổn định Những giá trị của văn hóa truyền thống được gạn

lọc, khẳng định qua nhiều thế hệ, nó trở thành cái chân, cái thiện, cái mỹ được lịch sử thừa nhận Nó là một trong những hệ giá trị của văn hóa dân tộc, một thành

tố ổn định của ý thức xã hội

* Các loại hình văn hóa

Văn hóa được phân loại thành hai phạm trù lớn là văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể Văn hóa vật thể bao gồm những sản phẩm văn hóa chứa đựng trong vật chất mà sự tồn tại của chúng gắn liền với sự hiện diện của khối vật chất cụ thể Văn hóa phi vật thể gồm những sản phẩm văn hóa có giá trị tinh thần thuần túy, sự tồn tại của chúng có tính độc lập tương đối

- Công viên, tượng đài…

Văn hóa phi vật thể

- Các hệ thống tư tưởng, tôn giáo, triết học…

- Các sáng tác văn học nghệ thuật…

- Những chuẩn mực đạo đức, phong tục tập quán, lối sống…

- Những phẩm chất tinh thần, tâm hồn…

Trang 20

Tất nhiên, sự phân chia trên chỉ là tương đối, để dễ phân biệt, không nên cứng nhắc trong quan niệm, bởi lẽ trong những cái gọi là “văn hóa vật thể” có giá trị của “văn hóa phi vật thể” thì ít nhiều cũng cần nhân tố vật chất nhất định để thể hiện chúng

* Bảo tồn văn hóa truyền thống

Bảo tồn văn hóa không phải là hoạt động cản trở sự phát triển văn hóa, mà trong một chừng mực nào đó còn là cơ sở cho sự phát triển văn hóa theo đúng hướng Bản thân quá trình phát triển văn hóa có sự đào thải yếu tố văn hóa lỗi thời, lạc hậu, không phù hợp với hiện thực khách quan Sẽ là sai lầm khi coi bảo tồn văn hóa triệt tiêu sự phát triển văn hóa và ngược lại phát triển văn hóa sẽ triệt tiêu bảo tồn văn hóa Bảo tồn và phát triển văn hóa có thể được coi là thúc đẩy nhau; bảo tồn văn hóa giữ vai trò là cơ sở góp phần thúc đẩy phát triển văn hóa Bên cạnh đó, thông qua phát triển văn hóa, con người nhận thức và thực hiện hoạt động bảo tồn văn hóa nhằm thể hiện bản sắc riêng của mình Cũng bởi tầm quan trọng của việc bảo tồn văn hóa mà trong quá trình phát triển chứa đựng sự đánh giá, xác lập vị thế của yếu tố văn hóa mới dựa trên nền tảng giá trị đã được bảo tồn

Hiện tại có các phương pháp bảo tồn văn hóa truyền thống sau đây:

Đối với văn hóa vật thể: Thực hiện công tác trùng tu, tôn tạo, bảo quản các di tích lịch sử và các văn hóa vật thể Tu bổ di tích không chỉ đơn giản là khôi phục lại như mới một công trình kiến trúc cổ truyền, mà là sự tổng hợp của nhiều mặt hoạt động phức tạp có quan hệ qua lại rất chặt chẽ như: Nghiên cứu sáng tạo nghệ thuật và quá trình thi công, sản xuất…Công tác tu bổ di tích phải đáp ứng được các như cầu: Giải phóng, loại bỏ khỏi di tích tất cả các lớp bổ sung

xa lạ, gây ảnh hưởng xấu tới các mặt giá trị của di tích; giữ lại tối đa những yếu

tố nguyên gốc của di tích; trên cơ sở khoa học đáng tin cậy khôi phục lại một cách chính xác những yếu tố đã bị thiếu hụt, mất mát trong quá trình tồn tại của

di tích; trả lại cho di tích hình dáng vốn có của nó; làm cho di tích có độ bền vững về mặt kết cấu để tồn tại lâu dài trước tác động của điều kiện khí hậu và thời tiết khắc nghiệt, cũng như thử thách của thời gian

Trang 21

Đối với văn hóa phi vật thể có hai phương pháp: Một là, phương pháp bảo tồn tĩnh: Quay phim, chụp ảnh, ghi chép để tư liệu hóa thật chi tiết (khi có nhu cầu, thì căn cứ vào đó để phục dựng) Hai là, bảo tồn động: Đưa nó về với cộng đồng Vì cộng đồng chính là chủ thể của di sản, không ai có thể thay thế họ Tất nhiên, khi bảo tồn trong cộng đồng thì nó sẽ biến đổi, nhưng “cái hồn” của di sản vẫn sẽ được người dân lưu giữ Có thể, qua quá trình phát triển, nó sẽ gắn với một tâm thức khác Vấn đề là ta phải chủ động tạo điều kiện cho nó kế thừa, và nhập vào xã hội mới

2.1.2 Sự cần thiết phải phát triển du lịch cộng đồng gắn với bảo tồn văn hóa truyền thống

Tại sao phải phát triển du lịch cộng đồng gắn với bảo tồn văn hóa truyền thống? Câu hỏi này được các nhà hoạch định chính sách, các nhà chỉ đạo thực hiện chính sách, các tổ chức nghiên cứu và phát triển ở hầu hết các nước trên thế giới đặt ra Câu trả lời là những nguyên nhân sau:

Thứ nhất: Những địa phương, những vùng trước khi phát triển du lịch

cộng đồng, hoặc những nơi có tiềm năng phát triển du lịch công đồng thì hầu hết

là những địa phương, những vùng khó khăn, miền núi, vùng sâu – vùng xa, đời sống người dân gặp nhiều khó khăn, tỷ lệ hộ nghèo cao

Thứ hai: người nghèo không thể tự vươn lên nếu thiếu sự hỗ trợ của từ Chính phủ, xã hội và cộng đồng Cần nhận thức rõ đặc điểm cơ bản của người

nghèo, hộ nghèo Người nghèo thường được biểu hiện ở sự nghèo về nguồn lực, kiến thức kỹ năng, ốm đau bệnh tật Người nghèo thường khó tự đứng lên nếu không có sự hỗ trợ Họ tiếp tục đi vào vòng luẩn quẩn: thiếu kiến thức, thiếu vốn, năng suất thấp, đói ăn, tàn phá tài nguyên thiên nhiên, suy thoái môi trường, sản xuất khó khăn, lại dẫn đến làm tăng nghèo đói

Thứ ba: Du lịch cộng đồng gắn với bảo tồn văn hoá truyền thống của dân

tộc ít người là một hình thức du lịch không những mang lại giá trị kinh tế mà còn

có ý nghĩa quan trọng trong việc giáo dục mọi người về vấn đề hiểu biết về lịch

sử dân tộc mình

Trang 22

Khi người dân địa phương đã nắm rõ được nguyên tắc và lợi ích từ du lịch cộng đồng gắn với bảo tồn văn hoá truyền thống của dân tộc, họ sẽ là những người trực tiếp giữ gìn, bảo tồn các di sản văn hoá và họ cũng sẽ là những người truyền sự cảm thụ này đến cho du khách Từ đó tạo ra một khối thống nhất để bảo vệ, gìn giữ những giá trị văn hoá từ bao đời nay để lại

Thứ tư: Phát triển DLCĐ gắn với bảo tồn VHTT của dân tộc Thái sẽ đảm bảo thực hiện các mục tiêu an sinh xã hội, ổn định chính trị và xã hội Các vùng

nghèo thường là các vùng nông thôn, xa xôi hẻo lánh Người nghèo thường là nông dân, dân tộc thiểu số, trẻ em, thuộc nhóm dễ bị tổn thương Do đó, lợi ích

từ du lịch cộng đồng gắn với bảo tồn văn hóa truyền thống của dân tộc Thái là góp phần thực hiện các mục tiêu an sinh xã hội

2.1.3 Vai trò của phát triển du lịch cộng đồng gắn với bảo tồn văn hóa truyền thống của dân tộc Thái

a) Giảm nghèo thông qua phát triển sinh kế nông thôn

Khi DLCĐ gắn với bảo tồn văn hóa truyền thống của dân tộc thái phát triển, người dân địa phương hơn ai hết, họ là những người am hiểu địa hình, am hiểu nền văn hoá bản địa Họ chính là người tham gia du lịch cộng đồng, tham gia phục vụ du lịch tại địa phương và họ cũng chính là nguồn tài nguyên nhân văn vô cùng quý giá của các khu DL Hay nói cách khác, DLCĐ gắn với bảo tồn văn hóa của dân tộc Thái tạo việc làm cho lao động sở tại, giảm thiểu dòng lao động di chuyển ra thành phố và các nơi khác

Sản phẩm của địa phương không những được tiêu thụ tại chỗ mà còn làm quà cho du khách sau mỗi chuyến đi du lịch, chính điều này đã quảng bá được sản phẩm của địa phương đi khắp muôn phương

Văn hoá địa phương luôn hấp dẫn khách du lịch, những nét văn hoá đặc sắc này khi DLCĐ gắn với bảo tồn văn hóa truyền thống của dân tộc Thái được khai thác và phát triển thì đây không những là một trong những hình thức giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc và còn tạo thu nhập cho người dân địa phương thông qua các buổi biểu diễn văn nghệ, các lễ hội truyền thống

Trang 23

b) Góp phần bảo tồn các di tích lịch sử, bản sắc văn hoá dân tộc

DLCĐ gắn với bảo tồn văn hoá truyền thống của dân tộc Thái là một hình thức du lịch không những mang lại giá trị kinh tế mà còn có ý nghĩa quan trọng trong việc giáo dục mọi người về vấn đề hiểu biết về văn hóa dân tộc mình

Khi người dân địa phương đã nắm rõ được nguyên tắc và lợi ích từ DLCĐ gắn với bảo tồn văn hoá truyền thống của dân tộc Thái, họ sẽ là những người trực tiếp giữ gìn, bảo tồn các di sản văn hoá và họ cũng sẽ là những người truyền sự cảm thụ này đến cho du khách Từ đó tạo ra một khối thống nhất để bảo vệ, gìn giữ những giá trị văn hoá từ bao đời nay để lại

Văn hoá địa phương là một phần không thể thiếu trong loại hình DLCĐ gắn với bảo tồn văn hóa truyền thống của dân tộc Thái Loại hình du lịch này giúp cho các nét văn hoá đặc sắc riêng của địa phương đến với du khách, đến với bạn bè quốc tế; khai thác giá trị văn hoá địa phương nhưng không làm tổn hại tới

nó mà chính DLCĐ gắn với bảo tồn văn hóa truyền thống của dân tộc Thái giúp khơi dậy lòng tự hào dân tộc, khuyến khích, gìn giữ và bảo vệ những nét hay nét đẹp trong văn hoá cổ xưa của địa phương Văn hoá địa phương chính là yếu tố thu hút du khách đến với du lịch và giúp lưu giữ lại các nét văn hoá đặc sắc này

Trong nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế, Nhà nước, Chính phủ ta luôn kêu gọi xây dựng nền văn hoá tiến bộ, đậm đà bản sắc dân tộc thì DLCĐ gắn với bảo tồn văn hóa truyền thống của dân tộc chính là một giải pháp hữu hiệu và mang tính khả thi hơn cả

c) Giáo dục ý thức bảo tồn các di sản văn hoá của dân tộc

Nhờ có DLCĐ gắn với bảo tồn văn hóa truyền thống của dân tộc Thái mà người dân được tiếp xúc giao lưu, học hỏi với du khách; với nhiều nền văn hóa khác nhau Đây là cơ hội trao đổi văn hoá, mở mang kiến thức và nâng cao trình

độ Thông qua việc tìm hiểu nền văn hoá dân tộc thiểu số, chúng ta có thể chia sẻ những khó khăn trong cuộc sống mà người dân đang gặp phải Từ đó tăng cường tinh thần đoàn kết toàn dân tộc

DLCĐ gắn với bảo tồn văn hóa truyền thống của dân tộc Thái chính là hình thức tuyên truyền, giáo dục không những cho những nhà kinh doanh du lịch,

Trang 24

nhân dân địa phương mà cả du khách đến tham quan hay nói cách khác là cả cộng đồng lòng biết ơn cội nguồn, biết ơn những vị anh hùng đã hy sinh vì độc lập tự do của Tổ Quốc, vì lý tưởng cách mạng, khơi dậy niềm tự hào về truyền thống đấu tranh anh dũng, bất khuất của ông cha ta

d) Góp phần nâng cao hình ảnh của địa phương và của quốc gia

Không chỉ có giá trị về mặt kinh tế, hoạt động du lịch cộng đồng đã giúp người dân hiểu và trân trọng những bản sắc văn hóa của chính cộng đồng mình bởi

đó là vốn để phát triển du lịch, tạo điều kiện cho du khách được tăng cường sự trao đổi văn hóa của các dân tộc, các vùng miền; bồi dưỡng lòng tự hào dân tộc mình, được phát huy và bồi dưỡng những giá trị đạo đức sâu sắc Các lễ hội truyền thống, các trò chơi dân gian được khôi phục và phát triển Văn hóa giao tiếp của người dân không ngừng được nâng lên DLCĐ còn góp phần bảo vệ, tôn tạo nguồn tài nguyên

du lịch tự nhiên và nhân văn của địa phương Công tác bảo vệ và phát triển rừng rất được quan tâm bởi rừng là yếu tố làm cho khu vực luôn có được khí hậu trong lành, mát mẻ Chính những điều này góp phần nâng cao hình ảnh địa phương và quốc gia

2.1.4 Đặc điểm của phát triển du lịch cộng đồng gắn với bảo tồn văn hóa truyền dân tộc Thái

Du lịch cộng đồng là loại du lịch mà cồng đồng dân cư là những người được tham gia từ đầu trong suốt quá trình phát triển du lịch

Địa điểm diễn ra các hoạt động du lịch cộng đồng được tổ chức tại nơi cu trú hoặc là gần nơi cư trú của cộng đồng địa phương

Cộng đồng dân cư phải là người dân làm ăn sinh sống tại trong hoặc liền

kề với các tài nguyên du lịch

Du lịch cộng đồng có ý nhĩa là giao quyền cho cộng đồng, khuyến khích tham gia, đảm nhận các hoạt động du lịch vào bảo tồn tài nguyên

Phát triển du lịch cộng đồng phải đảm bảo sự công bằng trong việc chia sẻ quyền lợi giữa cộng đồng địa phương và các bên tham gia

Du lịch cộng đồng còn bao gồm các yếu tố trợ giúp, tạo điều kiện của các bên tham gia trong đó có vai trò của nhà nước, cơ quan, các tổ chức chính phủ và phi chính phủ

Trang 25

Du lịch cộng đồng gắn với bảo tồn VHTT của dân tộc Thái là du lịch mang bản sắc riêng của dân tộc Thái được thể hiện qua phong tục tập quán, đời sống sinh hoạt, lễ hội có sức thu hút, hấp dẫn du khách đến tìm hiểu và nghiên cứu

Du lịch cộng đồng gắn với bảo tồn văn hóa truyền thống của dân tộc Thái

là loại hình du lịch khai thác các tài nguyên nhân văn, các nét văn hóa đặc trưng của dân tộc Thái

Du lịch cộng đồng gắn với bảo tồn văn hóa truyền thống của dân tộc Thái có tác dụng giáo dục con người tự hào về những giá trị văn hóa, truyền thống tốt đẹp của dân tộc Thái nói riêng và dân tộc Việt Nam nói chung Từ đó, có thêm ý thức để trân trọng, giữ gìn và phát huy những giá trị mà những thế hệ đi trước đã để lại Mặt cũng là một cách để giới thiệu với bạn bè quốc tế về nét đẹp của quốc gia

2.1.5 Nguyên tắc của phát triển du lịch cộng đồng gắn với bảo tồn văn hóa truyền thống dân tộc Thái

Nguyên tắc 1: Khai thác, sử dụng nguồn lực một cách bền vững: Việc bảo tồn và sử dụng bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên nhân văn là hết sức cần thiết

Nguyên tắc 2: Giảm sự tiêu thụ quá mức tài nguyên và giảm thiểu chất thải: Sẽ tránh được những chi phí tốn kém cho việc hồi phục tổn hại về môi trường và đóng góp cho chất lượng của du lịch

Nguyên tác 3: Duy trì tính đa dạng của đa dạng thiên nhiên, đa dạng xã hội và đa dạng văn hóa: Là cốt yếu cho du lịch phát triển bền vững lâu dài, và cũng là chỗ dựa vững chắc để phát triển ngành công nghiệp du lịch

Nguyên tắc 4: Phát triển du lịch phải đặt trong quy hoạch phát triển tổng thể kinh tế – xã hội: Thực hiện việc phát triển du lịch vào trong quy hoạch chiến lược phát triển kinh tế – xã hội cấp quốc gia và địa phương

Nguyên tắc 5: Phát triển du lịch phải hỗ trợ kinh tế địa phương phát triển: Ngành du lịch là ngành nằm trong cơ cấu hoạt động kinh tế của địa phương Nguyên tắc 6: Chú trọng công tác đào tạo nguồn nhân lực: Việc đào tạo nguồn nhân lực trong đó có lồng ghép vần đề phát triển du lịch bền vững vào

Trang 26

thực tiễn công việc và cùng với việc tuyển dụng lao động địa phương ở mọi cấp

sẽ làm tăng chất lượng các sản phẩm du lịch

Nguyên tắc 7: Tiếp thị du lịch một cách có trách nhiệm: Việc tiếp thị, cung cấp cho khách du lịch những thông tin đầy đủ và chính xác sẽ nâng cao sự tôn trọng của du khách đối với môi trường thiên nhiên, văn hóa và xã hội ở nơi tham quan, đồng thời sẽ làm tăng thêm sự hài lòng của du khách

Nguyên tắc 8: Coi trọng công tác nghiên cứu, tiếp tục nghiên cứu và giám sát các hoạt động du lịch thông qua việc sử dụng và phân tích có hiệu quả các số liệu là rất cần thiết để giúp cho việc giải quyết những vấn đề tồn đọng và tương lai lợi ích cho các điểm tham quan du lịch

2.1.6 Nội dung của phát triển du lịch cộng đồng gắn với bảo tồn văn hóa truyền thống dân tộc Thái

2.1.6.1 Quy hoạch phát triển du lịch

Để đánh giá tính bền vững của du lịch cần chú trọng đến công tác quy hoạch, một trong những nguyên nhân gây nên tình trạng mất ổn định, cảnh quan thiên nhiên bị tàn phá, môi trường bị xâm hại, không gian kiến trúc du lịch bị phá vỡ

là do thiếu quan tâm đến công tác quy hoạch Vì vậy, để phát triển du lịch bền vững công việc quan trọng là phải có quy hoạch, kế hoạch trên cơ sở đó đảm bảo việc đầu

tư cho du lịch hình thành và phát triển bền vững Quy hoạch cho du lịch phải được nằm trong tổng thể quy hoạch chung của ngành, của tỉnh, của địa phương

2.1.6.2 Tổ chức đầu tư, huy động vốn đầu tư phát triển du lịch

Để đạt được hiểu quả trong sản xuất kinh doanh du lịch cần phải có sự đầu

tư, khả năng đầu tư nâng cao, ổn định và hợp lý thì tính bền vững trong quá trình phát triển nhìn từ góc độ kinh tế ngày càng được đảm bảo và phát huy được hiệu quả đầu tư cho du lịch

Nguồn vốn đầu tư được huy động từ nhiều nguồn thông qua các chính sách thu hút đầu tư của Nhà nước như cải cách các thủ tục hành chính, tạo thuận lợi cho các nhà đầu tư tham gia vào lĩnh vực du lịch để tạo ra nguồn vốn dồi dào, bên cạnh đó động viên các doanh nghiệp, các nhà tài trợ…tham gia hình thành

Trang 27

quỹ phát triển du lịch để thực hiện và triển khai các chính sách quản lý du lịch của Nhà nước

2.1.6.3 Quản lý, phát triển tài nguyên du lịch và cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch

Việc phát triển du lịch bền vững đòi hỏi phải quản lý bảo tồn, tôn tạo và phát triển tất cả các dạng tài nguyên để có thể đáp ứng cho các nhu cầu về kinh

tế, xã hội, môi trường, thẩm mỹ…hiện nay mà vẫn duy trì được bản sắc văn hóa dân tộc, sự đa dạng sinh học, đảm bảo sự phát triển bền vững ở thế hệ hiện nay

và mai sau Bên cạnh đó, việc đầu tư cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch cần phải được quan tâm phát triển đồng bộ như hệ thống giao thông, hệ thống điện, cung cấp nước sinh hoạt, mạng lưới bưu chính viễn thông, y tế, giáo dục…là động lực để

về vốn, đào tạo nguồn nhân lực, có chiến lược đầu tư khai thác đồng thời trùng

tu, tôn tạo những danh thắng hiện hữu cũng như thực hiện một số biện pháp hữu hiệu để phát triển đa dạng hóa sản phẩm du lịch Những sản phẩm mới của du lịch không chỉ thu hút nhiều du khách mà còn làm tăng thời gian lưu trú và mức chi tiêu của khách, ngoài ra còn mở rộng không gian du lịch làm tăng sức chứa của khu du lịch, nâng cao hiệu quả kinh doanh, bảo đảm duy trì chất lượng các dịch vụ một cách tốt nhất

2.1.6.5 Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực phục vụ du lịch

Do việc phát triển du lịch trong những năm gần đây được phát triển về chiểu rộng lẫn chiều sâu nên đội ngũ lao động phục vụ tại các khu du lịch so với yêu cầu còn thiếu về số lượng và chất lượng Bên cạnh đó lao động còn mang tính thời vụ cao, trình độ chuyên môn nghiệp vụ chưa được đào tạo bài bản, hệ thống cho nên chất lượng phục vụ hạn chế lớn Vì vậy, việc đào tạo để phát triển nguồn nhân lực là việc rất cấp thiết không chỉ nâng cao chất lượng phục vụ mà còn làm cho du lịch phát triển một cách bền vững

Trang 28

2.1.6.6 Chính sách quản lý du lịch và thực hiện quản lý Nhà nước về du lịch

Để phát triển du lịch bền vững cần xây dựng và thực hiện một số nội dung chính sách, quy chế, hệ thống, tiêu chuẩn phù hợp và khai thác sử dụng các tài nguyên du lịch và môi trường du lịch, sự tham gia của cộng đồng trong công tác quản lý du lịch Thực hiện sự quản lý của Nhà nước về du lịch là sự kiểm tra, kiểm soát của Nhà nước về các mặt như những lĩnh vực cần được khuyến khích cần phải hạn chế không để xẩy ra tình trạng tăng trưởng quá “nóng”, ảnh hưởng đến cung cầu du lịch Các cơ quan quản lý Nhà nước thường xuyên tổ chức thanh tra, kiểm tra và có những biện pháp chế tài đối với những cá nhân, tổ chức vi phạm chính sách quản lý của Nhà nước

2.1.6.7 Liên kết phát triển hoạt động du lịch

Việc liên kết là hết sức cần thiết để khai thác và bổ sung những mặt mạnh mặt yếu lẫn nhau giữa các vùng, các khu du lịch giữa các doanh nghiệp hoạt động du lịch với nhau để cùng phát triển làm nổi bật được những nét đặc trưng của từng địa phương, hạn chế trùng lặp sản phẩm du lịch để cảm giác nhàm chán cho khách du lịch

Việc liên kết giữa cộng đồng dân cư và các doanh nghiệp hoạt động du lịch thông qua sự hưởng lợi của người dân với các doanh nghiệp như giải quyết việc làm, tăng nguồn thu cá nhân, nâng cao trình độ giao tiếp với khách, ngược lại cộng đồng dân cư chính là người bảo vệ các điều kiện, môi trường để du lịch phát triển bền vững

2.1.7 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch cộng đồng gắn với bảo tồn văn hóa truyền thống của dân tộc Thái

* Vốn

Làm du lịch hay bất cứ một ngành nghề nào khác đều phải cần tới yếu tố vốn kinh doanh Đây là điều kiện then chốt trong việc đầu tư kinh doanh, và đối với người dân Con Cuông, đây là một trở ngại lớn bởi hầu hết các hộ gia đình là thuần nông… Các hộ sản xuất các mặt hàng truyền thống cũng cần được hỗ trợ vay vốn, mở rộng sản xuất, đa dạng mẫu mã sản phẩm, đáp ứng nhu cầu càng cao của du khách

Trang 29

* Điểm hấp dẫn của tài nguyên du lịch: Điểm hấp dẫn của tài nguyên du lịch là những đặc điểm về văn hóa vật thể hoặc văn hóa phi vật thể ở một nơi mà khách du lịch cảm thấy đáp ứng một khía cạnh nhu cầu tò mò, thưởng ngoạn, hiểu biết, trải nghiệm hoặt giải trí của mìn Điểm hấp dẫn là động lực chủ yếu (nhưng không phải là duy nhất) thu hút khách du lịch Trong hệ thống du lịch

“Tài nguyên tự nhiên và văn hóa” là tiểu hệ thống của điểm đến du lịch Nếu không có điểm hấp dẫn sẽ không có nhu cầu về các dịch vụ du lịch khác

* Điều kiện cơ sở vật chất

Các hộ gia đình tham gia hoạt động du lịch cộng đồng phụ thuộc nhiều vào điều kiện cơ sở vật chất hiện có Những gia đình có nhà sàn truyền thống đẹp, văn minh; hoặc các công trình kiến trúc có giá trị… sẽ có nhiều cơ hội tham gia làm du lịch như cung cấp cho các đoàn khách nơi tham quan, nghỉ ngơi, ăn uống… số lượng khách tiếp đón có thể nhiều hay ít, và phụ thuộc khá nhiều vào không gian ngôi nhà sàn cũng như những điều kiện cơ sở vật chất khác

* Các tổ chức, đoàn thể

Các tổ chức, đoàn thể có tác động thúc đẩy người dân tham gia hoạt động du lịch cộng đồng, cung cấp các thông tin hữu ích cũng như hỗ trợ vốn vay, giúp đỡ, chia sẻ khó khăn… tạo động lực thúc đẩy du lịch cộng đồng phát triển bền vững Phát huy các tổ chức, đoàn thể trong cộng đồng sẽ giúp tăng khả năng quản lý

và tham gia của người dân, có điều kiện thuận tiện hơn trong việc tham gia vào phát triển du lịch cộng đồng gắn với bảo tồn VHTT của dân tộc Thái trên địa bàn huyện Con Cuông

* Cộng đồng dân cư địa phương: Cộng đồng dân cư địa phương tham gia vào

hệ thống du lịch dưới nhiều hình thức: Cung cấp nhân lực hoặc trực tiếp tham gia vào các hoạt động du lịch và bản thân họ có thể là điểm hấp dẫn du lịch Cộng đồng đia phương là những người trực tiếp tiếp nhận những tác động kinh tế – xã hội – môi trường cả tiêu cực và tích cực Sự tham gia của cộng đồng địa phương trong quá trình ra chính sách phát triển du lịch bền vững được thừa nhận rộng rãi và có ý nghĩa quan trọng, bởi vì cộng đồng địa phương người được hưởng lợi trực tiếp thông qua việc phát triển du lịch bền vững

Trang 30

* Đội ngũ lao động hoạt động du lịch: Đội ngũ lao động hoạt động du lịch

có vai trò quyết định đến chất lượng phục vụ du lịch; bao gồm đội ngũ lao động gián tiếp cung cấp dịch vụ liên quan đến du lịch và đội ngũ lao động trực tiếp trong ngành du lịch, đội ngũ quản lý kinh doanh du lịch là nhân tố có ảnh hưởng lớn đến việc phát triển du lịch bền vững

* Thành phần nhà nước: Thành phần nhà nước có vai trò quy hoạch, quản

lý và xúc tiến du lịch Vai trò này có thay đổi rất lớn trong cách tiếp cận và kết quả đạt được Ở các nước đang phát triển, các cơ quan nhà nước không sở hữu hoặc kiểm soát nhiều quan hệ trọng yếu trong hệ thống du lịch

Cần phải nhận thấy rằng, ngành du lịch hoặc những ngành kinh tế khác tồn tại dựa trên những hệ thống (cung và cầu) và trong nhiều trường hợp có sự liên kết mạnh mẽ giữa các thành phần kinh tế trong nước với nhau và giữa các

doanh nghiệp trong và ngoài nước

2.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài

2.2.1 Kinh nghiệm phát triển du lịch cộng đồng gắn với bảo tồn văn hóa truyền thống trên thế giới

2.2.1.1 Thái Lan

Thái Lan là quốc gia có nền du lịch phát triển vào loại bậc nhất trong khu vực Đông Nam Á Truyền thống văn hóa và sự mến khách của nhân dân Thái Lan là yếu tố quan trọng góp phần tăng cường thu hút khách du lịch đến với đất nước này thông qua các tour du lịch tìm hiểu về văn hóa Chính phủ nước này đã sớm nhận thức được tầm quan trọng của ngành du lịch trong nền kinh tế quốc dân nên họ đã đi một bước dài trong công cuộc khai thác tiềm năng và phát triển

du lịch, đặc biệt là du lịch văn hóa

Du lịch văn hóa đã mang về nguồn ngoại tệ lớn cho Thái Lan Hàng năm, Thái Lan đón một lượng khách du lịch quốc tế trên 10 triệu lượt người Thị trường khách quốc tế chủ yếu của Thái Lan là các nước trong khối ASEAN, châu

Á, châu Âu như Pháp, Đức, Bỉ… (Đỗ Thị Ánh Tuyết, 2006)

Trang 31

2.2.1.2 Malaysia

Malaysia là đất nước giàu tiềm năng du lịch với nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, các giá trị văn hóa dân tộc đặc sắc hấp dẫn Tất cả các yếu tố trên tạo thành một điểm độc đáo trong các sản phẩm du lịch của Malaysia

Nền văn hóa Malaysia là một nền văn hóa độc đáo, bao gồm những nét riêng biệt của văn hóa Trung Hoa, Nam Ấn, văn hóa bản địa và sự pha trộn giữa chúng Đặc biệt, Malaysia còn thể hiện rõ nét những điểm văn hóa tiêu biểu của một quốc gia Hồi giáo Cũng như đặc trưng lớn nhất của nền văn hóa, ẩm thực Malaysia là sự pha trộn độc đáo của các cộng đồng dân tộc khác nhau, từng hương vị riêng hòa lẫn với nhau tạo nên những món ăn truyền thống đặc biệt, đa dạng cả về màu sắc lẫn hương vị

Malaxia có lợi thế về DLST kết hợp với DLLS, văn hóa bởi đất nước này có sông, suối và ngọn núi cao nhất khu vực Đông Nam Á Malaixia cũng có nhiều công trình văn hoá bản địa và dấu ấn văn hoá của người Hà Lan và Bồ Đào Nha

Bất chấp hậu quả ghê gớm của thảm hoạ sóng thần cuối năm 2004, nhờ những cách đi riêng mà lượng du khách đến với Malaixia đã tăng lên đáng kể trong thời gian gần đây Kết thúc năm 2007, ngành công nghiệp không khói của Malaixia đã thu hút gần 17 triệu lượt khách du lịch nước ngoài, chiếm 33% trong tổng sản phẩm quốc nội của quốc gia 26 triệu dân này Để khai thác tiềm năng

DL phần việc của chính phủ, doanh nghiệp, người dân là khá rõ ràng

Chính phủ chịu trách nhiệm quảng bá thông qua mở văn phòng xúc tiến

DL ở nhiều quốc gia trên thế giới, quảng cáo trên đài truyền hình quốc tế lớn Hàng năm, Chính phủ đứng ra mời các nhà báo ở nhiều quốc gia, các công ty DL đến thăm để viết bài và kết nối các công ty trong nước Tất nhiên Chính phủ cũng chỉ đạo hải quan các cửa khẩu thông thoáng trong nhập cảnh đến an ninh nội địa phải đảm bảo cho du khách Chương trình “visit Ma-lay-si-a năm 2007” thành công ngoài sự mong đợi khiến các nước này chỉ đạo tiếp tục kéo dài chương trình tới 31-08-2008 với chủ đề “lễ kỷ niệm vàng” kết hợp với những hoạt động kỷ niệm 50 năm ngày quốc gia độc lập

Trang 32

Với doanh nghiệp, họ chọn DL kết hợp với mua sắm là hướng đi chính, ở Malaixia có một khối lượng khổng lồ các siêu thị với 13 bang Bất kỳ một sản phẩm nào ở bất kỳ siêu thị nào ở 13 bang đều chỉ có một giá, và là hàng thật do Nhà nước kiểm soát rất chặt chẽ

Với người dân họ ý thức được rằng du khách không chỉ mang lại nguồn thu cho đất nước mà còn mang lại việc làm không mấy vất vả mà lại có thu nhập tương đối cao cho người dân địa phương

2.2.1.3 Du lịch văn hóa bản địa ở Rio Blanco (Ecuador)

Do vị trí xa cách nên việc tiếp cận của du khỏch tới khu vực này cũn nhiều khú khăn, chính vì vậy lượng du khách tới đây cũn chưa đáng kể Khi bắt đấu giới thiệu về ý tưởng dự án, người dân cộng đồng cũng chưa tin phát triển du lịch sinh thái bền vững sẽ đem lại lợi ích cho họ cũng như về khả năng tham gia của họ Nhiều ý kiến trả lời rằng họ cảm thấy rụt rè khi tiếp xúc với khách nước ngoài Tuy nhiên, sau một số buổi họp trao đổi giữa dân làng, họ đó đồng ý thử nghiệm

dự án này

Ngay sau khi quyết định, những người dân Rio Blanco đó thành lập một

Ủy ban, bao gồm một chủ tịch và phú chủ tịch cộng đồng Họ dựa vào mô hình

du lịch sinh thái bền vững ở Capirona (một khu du lịch sinh thái gần đó) và cải tiến nó bằng các kinh nghiệm của mình Trong năm đầu hoạt động, họ đó đón được 150 khách và thu được 6.000USD Thay vì giữ doanh thu du lịch ở một quỹ chung để sử dụng cho các dự án của cộng đồng, họ đã phân phối đều cho mọi thành viên Họ đầu tư lại khoảng 60% vào dự án - thức ăn, dầu ca nô và hoàn trả các khoản vay mua giường, chăn đệm, bát đĩa và các đồ đạc khác Một sửa đổi nữa là các điểm đón khách ở đây được xây cách trung tâm cộng đồng khoảng 1km Một phần là do khách thích ở gần rừng nguyên sinh hơn là gần các khu trung tâm, ngoài ra cũng để xóa bỏ những nhu cầu không đáng có như rượu chè

và mại dâm Khi du khách tới đây, việc nấu nướng, dọn dẹp và biểu diễn văn hóa được giao công bằng cho mọi người qua một lịch làm việc luân phiên Qua đó, mỗi thành viên thường chỉ cần khoảng 4 giờ để phục vụ khách Qua thực tế năm đầu tiên, hầu hết mọi người được phỏng vấn đều khụng cũn rụt rố như trước Họ

Trang 33

có suy nghĩ tích cực về du lịch sinh thái, du lịch bền vững và tin rằng du lịch có tác dụng tốt đến cộng đồng Du lịch thực sự vừa giúp cộng đồng có ý thức trách nhiệm bảo tồn bản sắc văn hóa, gìn giữ các nét đẹp truyền thống, vừa tạo ra công việc và thu nhập cho họ

2.2.2 Kinh nghiệm phát triển du lịch cộng đồng gắn với bảo tồn văn hóa truyền thống ở Việt Nam

2.2.2.1 Du lịch Bản Lát ở Mai Châu

Cách Hà Nội 130 km, thung lũng du lịch Mai Châu, Hòa Bình là điểm đến ưa thích của nhiều du khách Người Thái trắng ở Mai Châu làm du lịch trong chính nhà sàn của họ, đặc biệt là ở bản Pom Coọng và bản Lát Mai Châu, cách thị xã Hoà Bình 60 km Đứng trên đỉnh đốc Cun, thung lũng Mai Châu hiện ra dưới tầm mắt du khách: một thung lũng xanh rờn cây lá, đồng lúa và những nếp nhà sàn đều tăm tắp như xếp hàng chào đón khách Nhà sàn ở đây cao ráo, sạch sẽ, sàn nhà cách mặt đất khoảng 1,5 m bằng những cột gỗ chắc chắn Khách đến nhà được chủ nhà mời múc nước rửa chân trước khi bước lên cầu thang Sàn nhà bằng tre hoặc bương Mái nhà lợp lá gồi hoặc lá mây Các cửa sổ trong nhà có kích thước khá lớn để đón gió mát

và cũng là nơi để chủ nhà treo các giò hoa phong lan, lồng chim cảnh Một khung dệt vải thổ cẩm được đặt cạnh một ô cửa sổ Bạn là khách, sẽ được ông chủ nhà trải chiếu hoa mời ngồi, rồi bày ra giữa chiếu một vò rượu cần bằng nếp cẩm Một đêm nghỉ lại ở nhà sàn Mai Châu, bạn sẽ được xem múa, hát, nghe nhạc cồng chiêng…

Bản Lát có 64 nhà sàn đón khách du lịch, ông Lương Văn Thù, trưởng bản cho biết: “Chúng tôi đặt ra mức giá chung là 50.000 đồng/khách, chẳng bà con nào phá giá đâu, mười năm nay vẫn thế Khi đông còn san sẻ khách hoặc góp người múa xòe cho nhau nữa" Dưới chân nhà sàn, các cô gái Thái miệt mài bên khung cửi và đấy cũng là nơi bán đồ lưu niệm do chính người Thái sản xuất: khăn phiêu, váy, ví,

áo thổ cẩm Đặc sản vùng này còn có loại rượu cần tuyệt ngon làm bằng lúa nếp, lá hính ho, mèo, gừng, giá 30.000 đồng/chóe

Cụ ông Hà Văn Đội cho hay, ngày xưa, cụ chuyên lên núi săn thú bằng nỏ

và bây giờ, cũng làm nỏ nhưng là để bán cho du khách Mỗi tháng, cụ Đội làm được 3 bộ tên nỏ, bán trên 300.000 đồng Món cơm nếp trong ống lam của Mai

Trang 34

Châu, do có nước dừa nên thơm ngon vô cùng, được bán với giá 2.000 đồng/ống Đêm về, trên sàn nhà bằng nứa, bên bếp lửa ấm cúng, đội xòe của bản Pom Coọng làm ngất ngây du khách Du khách có thể ăn măng nướng, thịt heo nướng,

gà gói lá dong, cá suối hấp và say men rượu cần

Tính riêng từ đầu năm 2010, ngành du lịch huyện Mai Châu đã thu hút được gần 14.000 lượt du khách, thu gần 6 tỷ đồng từ du lịch Mai Châu hiện là

mô hình tiêu biểu cho phương thức làm du lịch cộng đồng

2.2.2.2 Du lịch cộng đồng Sa Pa

Cùng với khai thác giá trị cảnh quan thiên nhiên, Sa Pa đang hướng đến việc phát triển du lịch cộng đồng, nhằm phát huy bản sắc văn hoá truyền thống dân tộc

Sa Pa là một trong những điểm du lịch nổi tiếng ở nước ta Khách du lịch trong và ngoài nước đến Sa Pa bị hấp dẫn bởi khí hậu dịu dàng, phong cảnh nên thơ, hùng vĩ, những thắng cảnh như thị trấn, đỉnh Phanxipăng Du khách có thể đến các bản làng, ăn ở, sinh hoạt với cộng đồng các dân tộc ở Sa Pa

Sa Pa có 5 tuyến du lịch mang tính cộng đồng, mỗi tuyến mang những nét đặc trưng về truyền thống sản xuất, đời sống văn hóa của cộng đồng các dân tộc ở

Sa Pa Tuyến Sa Pa - Sả Hồ có bản Cát Cát có 100% người Mông sinh sống Tuyến Sa Pa - Tả Van mang nét đặc trưng cùng với nếp sống, nét văn hóa của đồng bào dân tộc Giáy Ở đây còn có những di tích được Nhà nước xếp hạng Với gần 200 phiến đá to nhỏ khác nhau, trên mỗi phiến đá có khắc hình ảnh và hoa văn độc đáo của người cổ xưa chứa đựng bản sắc của cộng đồng các dân tộc Sa Pa Tuyến Sa Pa - Bản Hồ mang nét đặc trưng của dân tộc Tày Tuyến Sa Pa - Tả Phìn mang nét đặc trưng của dân tộc Dao Hiệu quả bước đầu cho thấy: Nhiều du khách rất quan tâm đến phương thức du lịch cộng đồng Năm 2004 có 100 nghìn lượt khách, năm 2005 tăng lên 170 nghìn lượt khách, năm 2006 tăng lên 280 nghìn lượt khách (Trong đó có 40% là người nước ngoài mang 76 quốc tịch khác nhau, riêng số khách du lịch người Pháp chiếm 17%) Dự kiến năm 2015 sẽ là

360 nghìn lượt khách

Trang 35

Sự phát triển của du lịch cộng đồng ở Sa Pa đã góp phần xóa đói giảm nghèo, nâng cao đời sống của đồng bào dân tộc các làng bản Điển hình như bản Sín Chải, năm 2000 có tới 68% số hộ đói nghèo, đến nay chỉ còn 26% Các bản khác tỷ lệ đói nghèo cũng giảm khá nhanh nhờ phát triển du lịch cộng đồng Số người dân tham gia hoạt động dịch vụ du lịch khá cao Bản Cát Cát có 360 người Mông thì có tới 120 người tham gia các hoạt động dịch vụ du lịch như bán hàng rong, chở xe ôm, bán thổ cẩm, hướng dẫn khách du lịch, biểu diễn văn nghệ.…Những gia đình tham gia hoạt động dịch vụ du lịch có mức thu nhập cao hơn từ 2-2,5 lần gia đình thuần nông

Các thành viên của cộng đồng tham gia tích cực các hoạt động như lễ hội Lồng Tổng (xuống đồng) Vào dịp này các nét văn hóa truyền thống của địa phương được thể hiện; các mặt hàng thổ cẩm, bánh trái; và các đặc sản được bày bán cho du khách Điều này sẽ mang tới ấn tượng tốt đẹp và thu hút khách tham quan

Một số gia đình có khung cửi có thể sản xuất hàng thủ công truyền thống: dệt thổ cẩm, may túi xách, trang phục người Tày…để bán cho du khách

Những gia đình có thuyền máy thì tham gia vào HTX dịch vụ vận chuyển

du lịch hồ Ba Bể phục vụ du khách tham quan hồ Ba Bể

Các gia đình thành viên khác trong thôn không có điều kiện hay vì lý do nào đó mà không tham gia vào các hình thức trên thì có thể trồng cây ăn quả, làm bánh đặc sản địa phương hay chế biến thực phẩm

Nhưng trên hết trong quá trình quy hoạch các tuyến, điểm du lịch…người dân được tham gia đóng góp ý kiến và công lao động Vì thế, vai trò và trách nhiệm của họ trong việc bảo vệ các sản phẩm du lịch được nâng cao

Trang 36

2.2.3 Những bài học kinh nghiệm phát triển du lịch cộng đồng

• Một là, xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và đề ra các chính sách, giải pháp để thúc đẩy phát triển du lịch

• Hai là, mạnh dạn đầu tư hạ tầng kỹ thuật và cơ sở vật chất nhằm phát triển du lịch

• Ba là, tạo ra những sản phẩm độc đáo, đa dạng, hấp dẫn lôi cuốn sự chú

ý của du khách

• Bốn là, tăng cường tuyên truyền, quảng bá về du lịch

• Năm là, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực cho du lịch

Cần đa dạng hóa các sản phẩm du lịch, tạo ra sự đặc sắc riêng về các loại hình du lịch Phát triển các nghề thủ công truyền thống

Phát triển du lịch cộng đồng cần có sự quảng bá rộng rãi, có sự phối hợp chặt chẽ giữa Chính quyền địa phương, doanh nghiệp và người dân

Tăng cường công tác tuyên truyền phổ biến về bảo vệ môi trường cho nhân dân địa phương, khách du lịch nhằm nâng cao nhận thức về vai trò của tài nguyên thiên nhiên và đa dạng hóa sinh học đối với đời sống con người

Hoạt động du lịch cộng đồng có nhiều tác động cả tích cực lẫn tiêu cực trên cả phương diện kinh tế lẫn văn hóa, xã hội, tới sự phát triển các cộng đồng dân tộc ở địa phương Trong quá trình phát triển và dưới tác động của du lịch, những người dân tộc thiểu số từng bước hòa nhập vào sự phát triển chung của đất nước, vào nền kinh tế thị trường Văn hóa địa phương thông qua du lịch dường như mềm dẻo, đa dạng, tích cực và được biểu đạt ra thế giới bên ngoài Bên cạnh những lợi ích rõ rệt du lịch cộng đồng đem lại còn có những tác động tiêu cực về văn hóa và xã hội, các sản phẩm văn hóa bị đóng gói mất dần tính chân thực, mang tính trình diễn và dần trở thành thách thức đối với các quan hệ cộng đồng

Để du lịch cộng đồng gắn với bảo tồn văn hóa truyền thống thành công thì cẩn có các điều kiện sau:

Sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương trong việc lập kế hoạch và quản lý du lịch cộng đồng là điều kiện tiên quyết để thực hiện thành công du lịch cộng đồng tại địa phương

Trang 37

Việc đào tạo nâng cao năng lực cho các bên liên quan đến du lịch cộng đồng địa phương là không thể thiếu

Xây dựng mối quan hệ đối tác chiến lược với các công ty du lịch để phát triển du lịch cộng đồng gắn với bảo tồn văn hóa truyền thống

Găn kết kế hoạch phát triển du lịch cộng đồng của địa phương vào chính sách phát triển du lịch chung của quốc gia

Trang 38

PHẦN III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CÚU

3.1 Đặc điểm của địa bàn nghiên cứu

3.1.1 Điều kiện tự nhiên

3.1.1.1 Vị trí địa lý

Hình 3.1 Bản đồ hành chính huyện Con Cuông

Con Cuông là huyện miền núi vùng cao phía tây nam của tỉnh Nghệ An, nằm trong khoang thứ hai giải đất miền Trung, sâu vào thềm cao nguyên Trấn Ninh Trung tâm huyện lị cách thành phố Vinh 130 km Toạ độ địa lý từ 18046'30" đến 19019'42"

vĩ độ bắc, từ 104037'57" đến 105003'08" kinh độ đông

Phía Đông Nam huyện Con Cuông giáp huyện Anh Sơn

Phía Tây Bắc giáp huyện Tương Dương

Phía Đông Bắc giáp huyện Quỳ Hợp

Phía Tây Nam giáp nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào, với chiều dài đường biên giới dài 55,3km

Trang 39

3.1.1.3 Khí hậu, thuỷ văn

Nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, có mùa đông lạnh và chia làm 2 mùa

rõ rệt: Mùa hạ nóng ẩm, mưa nhiều; mùa đông lạnh giá, ít mưa

Chia làm 2 mùa rõ rệt, mùa nóng từ tháng 4 đến tháng 8, nhiệt độ trung bình 23-240C, mùa lạnh từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau, nhiệt độ bình quân 19.90C, số giờ nắng trung bình/năm là 1500- 1700 giờ Lượng mưa bình quân hàng năm từ 1200 - 2000 mm/ năm, phân bổ cao dần từ Tây sang Đông và chia làm 2 mùa rõ rệt Có 2 mùa gió chính, gió mùa đông bắc xuất hiện từ tháng 11năm trước đến tháng 3 năm sau thường kèm theo mưa phùn, giá lạnh và có 1 hoặc 2 lần sương muối/ năm; gió Lào xuất hiện từ tháng tư đến tháng tám gây khô nóng và hạn hán; huyện ít bị ảnh hưởng lốc cục bộ và mưa đá hàng năm

3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

3.1.2.1 Tình hình đất đai của huyện

Theo số liệu thống kê năm 2013 tổng diện tích đất tự nhiên của toàn huyện là 173.831,12 ha, trong đó:

Trang 40

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 29

Bảng 3.1 Tình hình sử dụng đất đai của huyện Con Cuông qua 3 năm (2011 - 2013)

ĐVT: ha

SL(ha) CC(%) SL(ha) CC(%) SL(ha) CC(%) 12/11 13/12 BQ

Tổng diện tích tự nhiên 173.831,12 100,00 173.831,12 100,00 173.831,12 100,00 100,00 100,00 100,00

1 Đất nông nghiệp 164.255,77 94,49 164.255,77 94,49 164.270,77 94,50 100,00 100,01 100,005

1.1 Đất SX nông nghiệp 10.142,80 5,83 10.142,8 5,83 10.157,80 5,84 100,00 100,15 100,075 1.2 Đất lâm nghiệp 154.055,06 88,62 154.055,06 88,62 154.055,06 88,62 100,00 100,00 100,00 1.3 Đất nuôi trồng thuỷ sản 57,91 0,03 57,91 0,03 57,91 0,03 100,00 100,00 100,00

2 Đất phi nông nghiệp 3.112,55 1,79 3.112,55 1,79 3.112,55 1,79 100,00 100,00 100,00

Ngày đăng: 29/05/2016, 14:02

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Tô Duy Hợp và cộng sự (2000). “Phát triển cộng đồng – lý thuyết và vận dụng”, Nhà xuất bản Văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển cộng đồng – lý thuyết và vận dụng”
Tác giả: Tô Duy Hợp và cộng sự
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn hóa thông tin
Năm: 2000
3. Nguyễn Thị Len (2005). “Khai thác tiềm năng phát triển du lịch văn hóa tại Ninh Bình”, Khóa luận tốt nghiệp đại học, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội.(trang 6, 9,11) Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Khai thác tiềm năng phát triển du lịch văn hóa tại Ninh "Bình”
Tác giả: Nguyễn Thị Len
Năm: 2005
4. Nguyễn Kim Lê (2012). “Văn hóa Thái với hoạt động du lịch ở Mường Lò (Nghĩa Lộ), Yên Bái”, Luận văn thạc sỹ dân tộc học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn. (trang 10, 11, 13, 18) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa Thái với hoạt động du lịch ở Mường Lò (Nghĩa Lộ), Yên Bái
Tác giả: Nguyễn Kim Lê
Năm: 2012
6. Khuất Hữu Oanh (2007). “Tiềm năng và định hướng phát triển du lịch trên địa bàn thị xã Sơn Tây, tỉnh Hà Tây”, Luận văn thạc sỹ kinh tế, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội. (trang 13, 16, 17, 21, 22) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiềm năng và định hướng phát triển du lịch trên địa bàn thị xã Sơn Tây, tỉnh Hà Tây
Tác giả: Khuất Hữu Oanh
Năm: 2007
7. Nguyễn Anh Phương (2007). “Nghiên cứu một số giải pháp phát triển du lịch bền vững tại huyện Buôn Đôn tỉnh Dak Lak”, Luận văn thạc sỹ kinh tế, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nộ. (trang 17,22) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số giải pháp phát triển du lịch bền vững tại huyện Buôn Đôn tỉnh Dak Lak
Tác giả: Nguyễn Anh Phương
Năm: 2007
10. Nguyễn Văn Thể (2012). “Phát triển du lịch huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang”, Luận văn thạc sỹ kinh tế, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển du lịch huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang
Tác giả: Nguyễn Văn Thể
Năm: 2012
11. Nguyễn Thị Thanh Thúy (2009). “Khai thác tiềm năng du lịch văn hóa cộng đồng trên địa bàn tỉnh Điện Biên”, Khóa luận tốt nghiệp đại học, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội. (trang 13, 14, 18) Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Khai thác tiềm năng du lịch văn hóa cộng "đồng "trên "địa bàn tỉnh "Điện Biên”
Tác giả: Nguyễn Thị Thanh Thúy
Năm: 2009
12. Trương Văn Tuyển (2007). Giáo trình Phát triển cộng đồng, lý luận và ứng dụng trong phát triển nông thôn, Nhà xuất bản Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Phát triển cộng "đồng, lý luận và "ứng dụng "trong phát triển nông thôn
Tác giả: Trương Văn Tuyển
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 2007
13. Trần Vương (2005). Con Cuông vùng sinh thái hấp dẫn, di tích độc đáo. NXB Nghệ An 14. http://www.vietnamplus.vn/du-lich-cong-dong-la-huong-di-tiem-nang-o-tinh-nghe-an/232021.vnp. ngày 26/11/2013 lúc 11h01 Link
1. Đề án bảo tồn, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Thái huyện Con Cuông giai đoạn 2013-2017 (có tính đến năm 2020) Khác
5. Đỗ Cẩm Ly (2011). Du lịch văn hóa tâm linh có sự tham gia của cộng đồng tại khu di tích Đền Quốc Mẫu Âu Cơ, xã Hiền Lương, Hạ Hòa, Phú Thọ”. (trang 10, 12, 13, 14, 15, 23, 26 Khác
8. Võ Quế (2006). Du lịch cộng đồng lý thuyết và vận dụng. NXB Khoa học và kỹ thuật Khác
9. Tài liệu hướng dẫn phát triển du lịch cộng đông (2012), Viện Nghiên cứu và Phát triển Ngành nghề Nông thôn Việt Nam Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 3.1 Bản đồ hành chính huyện Con Cuông - phát triển du lịch cộng đồng gắn với bảo tồn văn hóa truyền thống của dân tộc thái trên địa bàn huyện con cuông, tỉnh nghệ an
Hình 3.1 Bản đồ hành chính huyện Con Cuông (Trang 38)
Bảng 3.1 Tình hình sử dụng đất đai của huyện Con Cuông qua 3 năm (2011 - 2013) - phát triển du lịch cộng đồng gắn với bảo tồn văn hóa truyền thống của dân tộc thái trên địa bàn huyện con cuông, tỉnh nghệ an
Bảng 3.1 Tình hình sử dụng đất đai của huyện Con Cuông qua 3 năm (2011 - 2013) (Trang 40)
Bảng 3.2 Tình hình dân số, lao động trên địa bàn huyện (2011 – 2013) - phát triển du lịch cộng đồng gắn với bảo tồn văn hóa truyền thống của dân tộc thái trên địa bàn huyện con cuông, tỉnh nghệ an
Bảng 3.2 Tình hình dân số, lao động trên địa bàn huyện (2011 – 2013) (Trang 42)
Bảng 3.3 Tình hình phát triển kinh tế của huyện Con Cuông trong 3 năm (2011 – 2013) - phát triển du lịch cộng đồng gắn với bảo tồn văn hóa truyền thống của dân tộc thái trên địa bàn huyện con cuông, tỉnh nghệ an
Bảng 3.3 Tình hình phát triển kinh tế của huyện Con Cuông trong 3 năm (2011 – 2013) (Trang 44)
Bảng 4.6  Số lượng lao động DLCĐ gắn với bảo tồn VHTT của dân tộc Thái - phát triển du lịch cộng đồng gắn với bảo tồn văn hóa truyền thống của dân tộc thái trên địa bàn huyện con cuông, tỉnh nghệ an
Bảng 4.6 Số lượng lao động DLCĐ gắn với bảo tồn VHTT của dân tộc Thái (Trang 70)
Bảng 4.8 Thời gian lưu trú của du khách du lịch cộng đồng trên địa bàn - phát triển du lịch cộng đồng gắn với bảo tồn văn hóa truyền thống của dân tộc thái trên địa bàn huyện con cuông, tỉnh nghệ an
Bảng 4.8 Thời gian lưu trú của du khách du lịch cộng đồng trên địa bàn (Trang 75)
Bảng 4.9 Doanh thu từ hoạt động du lịch cộng đồng gắn với bảo tồn văn hóa - phát triển du lịch cộng đồng gắn với bảo tồn văn hóa truyền thống của dân tộc thái trên địa bàn huyện con cuông, tỉnh nghệ an
Bảng 4.9 Doanh thu từ hoạt động du lịch cộng đồng gắn với bảo tồn văn hóa (Trang 76)
Bảng 4.10 Một số thông tin của các hộ tham gia làm DLCĐ gắn với bảo tồn - phát triển du lịch cộng đồng gắn với bảo tồn văn hóa truyền thống của dân tộc thái trên địa bàn huyện con cuông, tỉnh nghệ an
Bảng 4.10 Một số thông tin của các hộ tham gia làm DLCĐ gắn với bảo tồn (Trang 77)
Bảng 4.12 Một số thông tin của các hộ tham gia CLB dân ca Thái Con Cuông - phát triển du lịch cộng đồng gắn với bảo tồn văn hóa truyền thống của dân tộc thái trên địa bàn huyện con cuông, tỉnh nghệ an
Bảng 4.12 Một số thông tin của các hộ tham gia CLB dân ca Thái Con Cuông (Trang 80)
Bảng 4.15 Mức độ thu nhập của các hộ dân ở các khu du lịch cộng đồng gắn  với bảo tồn VHTT của dân tộc Thái trên địa bàn huyện Con Cuông - phát triển du lịch cộng đồng gắn với bảo tồn văn hóa truyền thống của dân tộc thái trên địa bàn huyện con cuông, tỉnh nghệ an
Bảng 4.15 Mức độ thu nhập của các hộ dân ở các khu du lịch cộng đồng gắn với bảo tồn VHTT của dân tộc Thái trên địa bàn huyện Con Cuông (Trang 83)
Bảng 4.16 Tỷ lệ hộ nghèo ở các xã có DLCĐ - phát triển du lịch cộng đồng gắn với bảo tồn văn hóa truyền thống của dân tộc thái trên địa bàn huyện con cuông, tỉnh nghệ an
Bảng 4.16 Tỷ lệ hộ nghèo ở các xã có DLCĐ (Trang 85)
Bảng 4.17 Xếp loại các yếu tố ảnh hưởng tới phát triển DLCĐ gắn với bảo - phát triển du lịch cộng đồng gắn với bảo tồn văn hóa truyền thống của dân tộc thái trên địa bàn huyện con cuông, tỉnh nghệ an
Bảng 4.17 Xếp loại các yếu tố ảnh hưởng tới phát triển DLCĐ gắn với bảo (Trang 87)
Bảng 4.19 Các hình thức quảng cáo phát triển hình ảnh ở DLCĐ trên địa - phát triển du lịch cộng đồng gắn với bảo tồn văn hóa truyền thống của dân tộc thái trên địa bàn huyện con cuông, tỉnh nghệ an
Bảng 4.19 Các hình thức quảng cáo phát triển hình ảnh ở DLCĐ trên địa (Trang 89)
Sơ đồ 4.1: Sơ đồ Venn về quan hệ giữa cộng đồng và các tổ chức, đoàn thể - phát triển du lịch cộng đồng gắn với bảo tồn văn hóa truyền thống của dân tộc thái trên địa bàn huyện con cuông, tỉnh nghệ an
Sơ đồ 4.1 Sơ đồ Venn về quan hệ giữa cộng đồng và các tổ chức, đoàn thể (Trang 90)
Bảng 4.20 Phân tích ma trận SWOT cho phát triển du lịch cộng đồng gắn  với bảo tồn VHTT của dân tộc Thái trên địa bàn huyện Con Cuông - phát triển du lịch cộng đồng gắn với bảo tồn văn hóa truyền thống của dân tộc thái trên địa bàn huyện con cuông, tỉnh nghệ an
Bảng 4.20 Phân tích ma trận SWOT cho phát triển du lịch cộng đồng gắn với bảo tồn VHTT của dân tộc Thái trên địa bàn huyện Con Cuông (Trang 94)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w