Đề cương ôn tập luật hành chính
Trang 12 Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện;
3 Chủ tịch Hội đồng nhân dân huyện;
4 Đại biểu Hội đồng nhân dân xã
5 Nhân viên Phòng tư pháp huyện
6 Nhân viên Tư pháp xã
7 Thành viên Ban thanh tra nhân dân
Câu 1: Phân biệt các loại trách nhiệm pháp lý, Hình sự, Dân sự, Hành chính, Kỷ luật
Phân biệt các loại trách nhiệm pháp lý:
Trách nhiệm hình sự
Trách nhiệm dânsự
Trách nhiệm hành chính
Trách nhiệm kỷ luật
Khái
niệm
Trách nhiệmhình sự là tráchnhiệm pháp lý
áp dụng đối vớicác cá nhân,
thương mại viphạm pháp luật
những hậu quảpháp lý bất lợi
vi phạm tội củamình
Trách nhiệm dân
sự là tráchnhiệm pháp
lý mang tính tàisản được ápdụng đối vớingười vi phạmpháp luật dân sựnhằm bù đắp vềtổn thất vật chất,
cho người bị hại
Trách nhiệm hànhchính là loại tráchnhiệm pháp lý đặt
ra đối với các cánhân, tổ chức vi
chính hay nói cáchkhác TNHC là trách
hành nghĩa vụ dopháp luật hànhchính quy định vàtrách nhiệm phátsinh do vi phạmnghĩa vụ đó
Trách nhiệm kỷluật là trách nhiệmpháp lý áp dụng
bộ, côngchức, viênchức do vi phạm
kỷ luật, viphạm quy
tắc hay nghĩa
vụ trong hoạtđộng công vụhoặc vi phạmpháp luật mà chưađến mức truy cứutrách nhiệm hìnhsự
Chủ thể
Thủ trưởng, cơ quan đơn vị, xí nghiệp
Trang 2vi phạm pháp luật hình
sự bị coi là tội phạm theo quy định của luật hình sự
Áp dụng đối với chủ thể vi phạm pháp luật dân sự
Các chủ thể trong trách nhiệm hành chính là Nhà nước đối với tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật hành chính
Cá nhân khi thực hiện hành vi, vi phạm kỷ luật hoặc
vi phạm pháp luật khác mà theo quy định phải chịu trách nhiệm kỷ luật
Mục
đích
Trừng trị người, pháp nhân thương mại phạm tội mà còn giáodục họ ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa họ phạm tội mới,…
Buộc người có hành vi vi phạm pháp luật vào nghĩa vụ bồi thường cho người bị tổn hại
do hành vi đó gây ra nhằm khắc phục những tổn thất
đã gây ra
Xử lý vi phạm hànhchính, loại trừ những vi phạm pháp luật, ổn định trật tự quản lý trên các lĩnh
vực vực quản lý hành chính nhà nước
Đảm bảo trật tự nội bộ của cơ quan, tổ chức
Các hình
thức xử
lý
Phạt chínhPhạt bổ sungCác biện pháp khắc phục
Bồi thường thiệt hại
Các biện pháp khắc phục
Cảnh cáoPhạt tiền
Khiển tráchCảnh cáo
Hạ bậc lương
Hạ ngạchCắt chứcBuộc thôi việc
Trình tự
áp dụng
Được áp dụng theo trình tự tư pháp
Được áp dụng theo trình tự tư pháp
… Là trình tự hành chính
Câu hỏi ôn tập và thảo luận
Câu 1 Thế nào là tổ chức xã hội? Thông qua các đặc điểm của tổ chức xã hội, hãy phân biệt tổ chức xã hội với cơ quan nhà nước?
Tổ chức xã hội là khái niệm thường dùng trong xã hội học, và có thể
được hiểu theo nghĩa hẹp hoặc rộng Theo nghĩa rộng, tổ chức xã hội để chỉ bất kể tổ chức nào trong xã hội Theo nghĩa hẹp, thì tổ chức xã hội
chính là một tiểu hệ thống xã hội trong một tổ chức xã hội nào đó
Các tổ chức xã hội có những đặc điểm chung nhất định, phân biệt với các cơ quan nhà nước và các tổ chức kinh tế Các đặc điểm đó bao
gồm:
Trang 3Lớp: DH17LKT01
– Các tổ chức xã hội được hình thành trên nguyên tắc tự nguyện của những thành viên cùng chung một lợi ích hay cùng giai cấp, cùng nghề nghiệp, cùng sở thích…
– Các tổ chức xã hội nhân danh chính tổ chức mình để tham gia các hoạtđộng quản lý nhà nước, chỉ trong trường hợp đặc biệt do pháp luật quy định tổ chức xã hội mới hoạt động nhân danh nhà nước
– Các tổ chức xã hội hoạt động tự quản theo quy định của pháp luật và theo điều lệ do các thành viên trong tổ chức xây dựng
– Các tổ chức xã hội hoạt động không nhằm mục đích lợi nhuận mà nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các thành viên
Cơ quan Nhà nước có những đặc điểm sau:
Mang tính quyền lực Nhà nước;
Nhân danh Nhà nước để thực thi quyền lực Nhà nước;
Trong phạm vi thẩm quyền của mình, cơ quan Nhà nước có quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật hoặc văn bản áp dụng pháp luật;Giám sát thực hiện các văn bản mà mình ban hành
Có quyền thực hiện biện pháp cưỡng chế khi cần thiết
Thẩm quyền của các cơ quan nhà nước có những giới hạn về không gian(lãnh thổ), về thời gian có hiệu lực, về đối tượng chịu sự tác động Thẩm quyền của cơ quan phụ thuộc vào địa vị pháp lý của nó trong bộ máy nhà nước Giới hạn thẩm quyền của cơ quan nhà nước là giới hạn pháp
lý vì được pháp luật quy định
Mỗi cơ quan nhà nước có hình thức và phương pháp hoạt động riêng do pháp luật quy định
Câu 2 Hãy phân loại các tổ chức xã hội ở nước ta Theo anh/Chị loại tổ chức xã hộ nào nằm trong cơ cấu quyền lực chính trị?
có 5 loại tổ chức xã hội ở Việt Nam là tổ chức trính trị, tổ chức chính trị xã hội, tổ chức chính trị xã hội nghề nghiệp, các tổ chức tự quản và tổ chức khác
1 Tổ chức trính trị: Là tổ chức mà thành viên cùng hoạt động với nhau
vì một khuynh hướng chính trị nhất định
2 Tổ chức chính trị xã hội: Tổ chức mang màu sắc chính trị với vai trò là đại diện của các tầng lớp trong xã hội đối với hoạt động của nhà nước cũng như đóng một vai trò quan trọng trong hệ thống chính trị, cơ sở của chính quyền nhân dân
– Ở Việt Nam hiện có 6 tổ chức chính trị xã hội là Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Công đoàn, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Hội nông dân Việt Nam và Hội cựu chiến binh Việt Nam
Trang 4Lớp: DH17LKT01
3 Tổ chức chính trị xã hội nghề nghiệp: Thành lập theo sang kiến của nhà nước Hình thành theo các quy định của nhà nước và được quản lý chặt chẽ bởi cơ quan nhà nước Hỗ trợ nhà nước giải quyết một số vấn
đề xã hội Hoạt động tự quản, cơ cấu do nội bộ tổ chức quyết định, hoạtđộng không mang tính quyền lực chính trị và hoàn toàn tự nguyện
4 Tổ chức tự quản: Thành lâp theo sang kiến của nhà nước Hình thành theo quy định nhà nước và được quản lý bởi cơ quan nhà nước
5 Tổ chức khác: Các hội được thành lập theo dấu hiệu nghề nghiệp, sở thích hoặc các dấu hiệu khác, được thành lập trên cơ sở quyền tự do lập hội của công dân ví dụ như hội người mù, các câu lạc bộ…
Loại tổ chức xã hộ nào nằm trong cơ cấu quyền lực chính trị là: tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội, tổ chức chính trị xã hội nghề nghiệp
Câu 3 Nêu các quan hệ giữa xã hội và cơ quan nhà nước?
Giữa tổ chức xã hội và cơ quan nhà nước có mối quan hệ hợp tác giúp đỡ lẫn nhau trong quá trình hình thành, tồn tại và phát triển Với vai trò là chủ thể quản lí hành chính nhà nước, cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép hay bác bỏ đề nghị xin thành lập tổ chức xã hội đồng thời có quyền chấm dứt hoạt động của các tổ chức xã hội trong những trường hợp cụ thể do pháp luật quy định, tổ chức xã hội chịu sự quản lí của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong suốt quá trình hình thành, tồn tại và phát triển Ngược lại, các tổ chức xă hội cũng có những quyền nhất định đôi với các cơ quan nhà nước, đó là được các cơ quan nhà nước đảm bảo về pháp lí cho sự tồn tại và phát triển, một số
tổ chức được nhận sự giúp đỡ về tài chính tạo điều kiện thuậr lợi cho việc hoàn thành nhiệm vụ của mình, được đề cử giới thiệu thành viên của tổ chức tham gia vào các vị trí trong cơ quan nhà nước
Các tổ chức xã hội khác nhau thì có các quyền và nghĩa vụ khác nhau trong mối quan hệ với cơ quan nhà nước tùy thuộc vào vai trò của chúngtrong hệ thống chính trị
Câu 4 Tại sao vai trò phản biện xã hội của các tổ chức xã hội được xem trọng trong xã hội hiện nay?
+ Phản biện xã hội là sự phản ánh những dư luận xã hội, ý kiến, kiến nghị và kháng nghị của cộng đồng xã hội, của tập thể, tập đoàn người (xây dựng trên mối quan hệ chung về sản xuất, gia đình, chính trị, văn hoá: phong tục, tập quan, lễ giáo ) về một hay nhiều sự việc, vấn đề cóliên quan đến lợi ích chung của cộng đồng, tập thể, tập đoàn người ấy trên cơ sở tổng hợp, phân tích, lập luận (luận giải) khách quan, khoa học, có tính thuyết phục nhằm phân định rõ giữa cái tốt với cái xấu, cái đúng với cái sai, cái khẳng định với cái phủ định, cái được với cái chưa
Trang 5Lớp: DH17LKT01
được, cái hoàn thiện với cái cần tiếp tục hoàn thiện nhằm đáp ứng đúng những yêu cầu do cuộc sống đặt ra, thoả mãn được lợi ích chung của cộng đồng, tập thể, tập đoàn, cũng như của toàn xã hội
Các TCXH ở Việt Nam trong thời gian qua đã góp phần quan trọng vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Cụ thể là:
- Với số lượng đông đảo và có hệ thống tổ chức liên kết khắp nơi, trải dài, rộng, các TCXH có thể tập hợp, đoàn kết các tầng lớp nhân dân, gópphần thực hiện đại đoàn kết dân tộc, động viên nhân dân tham gia vào giải quyết các vấn đề xã hội thúc đẩy xã hội phát triển;
- Các TCXH tích cực phát triển, cung cấp các dịch vụ, thực hiện các chương trình, dự án, các chương trình xã hội hóa giáo dục, y tế, văn hóa,khoa học, bảo vệ môi trường, xoá đói giảm nghèo, từ thiện nhân đạo, bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm… Ở khía cạnh này, các TCXH là lực lượng tích cực tham gia khỏa lấp khiếm khuyết của nền kinh tế thị
trường, góp phần thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội theo định hướng công bằng, văn minh bởi lĩnh vực hoạt động của các TCXH rất đa dạng, địa bàn hoạt động khắp cả nước
và đối tượng thụ hưởng các hoạt động của các TCXH cũng vô cùng đa dạng nhưng tập trung nhiều vào các nhóm đối tượng yếm thế, dễ bị tổn thương…
- Các TCXH tham gia vận động chính sách và đại diện cho hội viên và cộng đồng trong giải quyết quyết các vấn đề xã hội Ở vai trò này, các TCXH không chỉ tập hợp quần chúng và động viên mọi người tham gia vào giải quyết các vấn đề xã hội, tuyên truyền, vận động hội viên và nhân dân thực hiện tốt chủ trương của Đảng và Nhà nước mà còn là cầu nối giữa Nhà nước với người dân, phản ảnh nguyện vọng của người dân, tham gia đóng góp, xây dựng chính sách, giám sát và thực thi chính sách, góp phần xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh;
- Các TCXH còn góp phần thúc đẩy mối quan hệ đoàn kết trong nước và đối ngoại quốc tế, là lực lượng đối ngoại nhân dân Ở khía cạnh này, các TCXH có vai trò lớn trong công tác đối ngoại khi có mối quan hệ rộng rãi với nhân dân các nước, góp phần làm cho các nước hiểu và tăng cường hợp tác với Việt Nam, tranh thủ sự ủng hộ của bạn bè trên thế giới cũng như vận động sự ủng hộ vật chất, tinh thần trong qua trình xây dựng đấtnước thông qua các hoạt động hỗ trợ phát triển như xoá đói, giảm
nghèo, phát triển hệ thống y tế, giáo dục, từ thiện, nhân đạo,…
- Ngoài ra, các TCXH còn có vai trò giám sát và đưa ra các tiêu chuẩn như: minh bạch giải trình, quản trị tốt, các nguyên tắc đạo đức và ứng
xử trong công việc, trong kinh doanh…
Trang 6quyết là phải có sự thống nhất về mặt nhận thức
- phải có một cơ chế để khảo sát, điều tra, khai thác, thu nhận, thẩm
định, xử lý và cuối cùng, phản ánh - thực hiện sự phản biện xã hội; đồng thời, phải xây dựng cơ chế bảo đảm xã hội cần thiết.
- Phản biện xã hội cần tập trung vào những nội dung sau: Một là, chống tham nhũng, lãng phí; hai là, giải quyết vấn đề đất đai và xây dựng cơ bản; ba là, vấn đề quy hoạch và phát triển nông thôn; bốn là, vấn đề cải cách hành chính; năm là, tính cạnh tranh của hàng hoá; sáu là, giá điện,nước, xăng dầu; bảy là, cước phí lưu thông, bảo đảm an toàn giao
thông; tám là, thanh lọc các định chế tài chính; chín là, vấn đề giữ gìn bản sắc dân tộc (với những định chế xã hội dân sự trong một Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa) và mở rộng giao lưu, hợp tác quốc tế
- Cơ chế thực hiện sự phản biện xã hội phải bằng: Luật, pháp lệnh; báo chí, xuất bản và các phương tiện thông tin đại chúng; các đoàn thể chính trị - xã hội mà nòng cốt là Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
- Bằng và thông qua cơ chế này, phản biện xã hội sẽ được thực thi như một quá trình tự giác Ý chí, nguyện vọng, trí tuệ của nhân dân được đề lên thành luật (thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp) Các
cơ quan báo chí, xuất bản, các phương tiện thông tin đại chúng phải thực sự trở thành diễn đàn của nhân dân; nắm bắt, phản ánh một cách chính xác dư luận quần chúng Các đoàn thể chính trị - xã hội phải thật
sự là nơi phản ánh rõ nét và sinh động những mong muốn, nguyện vọng,những đề xuất, giải pháp của các nhóm xã hội và cá nhân, lắng nghe ý kiến và chia sẻ những thông tin để hình thành và phát triển các ý tưởng,các đối án; đồng thời, nâng cao hơn nữa tính xã hội của tổ chức mình để
có thể phản ánh được nhiều hơn, rộng rãi hơn và chất lượng hơn
- Quá trình trên, về thực chất, là sự gặp gỡ, nghe ghi, đối thoại; liên kết, hợp tác giữa một phía là những cán bộ lãnh đạo, quản lý, những người
có trách nhiệm với một phía là những cá nhân, những nhóm xã hội, cộngđồng xã hội và được thực hiện công khai, tự giác ở cả hai phía
Câu hỏi ôn tập phần 1
Câu 1 Hãy chứng minh Luật hành chính là ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật Việt Nam?
Luật hành chính là một ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật Việt Nam bởi luật hành chính có đối tượng điều chỉnh riêng, phương pháp điều chỉnh riêng, nguyên tắc hoạt động riêng và nguồn luật riêng.Đối tượng điều chỉnh của luật hành chính
Đối tượng điều chỉnh của luật hành chính gồm ba nhóm lớm:
Trang 7Lớp: DH17LKT01
Nhóm thứ nhất: Nhóm quan hệ phát sinh trong quan trình cơ quan
hành chính thực hiện hoạt động quản lý hành chính Nhà nước
Nhóm thứ hai: Nhóm quan hệ phát sinh trong quá trình các cơ quan
Nhà nước xây dựng và củng cố chế độ công tác nội bộ: kiểm tra, nâng cấp trình độ nghiệp vụ, khen thưởng, kỉ luật, sắp xếp nhân sự, tổ chức…
Nhóm thứ ba: Quan hệ được phát sinh trong quá trình cá nhân, tổ chức
được Nhà nước trao quyền thực hiện hoạt động quản lý hành chính Nhà nước trong một số trường hợp cụ thể
Phương pháp điều chỉnh của luật hành chính
Phương pháp điều chỉnh của Luật Hành chính là cách thức Nhà nước áp dụng trong việc điều chỉnh bằng pháp luật để tác động vào các quan hệ
xã hội phát sinh trong hoạt động quản lí hành chính Nhà nước
Phương pháp điều chỉnh của luật hành chính là phương pháp mệnh lệnh đơn phương được hình thành từ quan hệ “quyền lực – phục tùng” giữa một bên có quyền nhân danh Nhà nước ra những mệnh lệnh bắt buộc đối với bên kia là cơ quan, tổ chức hoậc cá nhân có nghĩa vụ phục tùng các mệnh lệnh đó
Câu 2 Chỉ ra sự hợp lý trong việc phân chia quan hệ pháp luật hành chính “Công quyền” và quan hệ pháp luật hành chính
“công – tư” tương ứng với 2 nhóm trong đối tượng điều chỉnh của Luật hành chính.
Quan hệ pháp luật hành chính công quyền
- “Chủ thể quản lý” và “chủ thể của quản lý”
- Đối với chủ thể là cơ quan nhà nước thì năng lực chủ thể xuất hiện từkhi cơ quan đó được chính thức thành lập và ấn định thẩm quyền, đồngthời chấm dứt khi cơ quan đó bị giải thể
- Đối với chủ thể là cán bộ có thẩm quyền thì năng lực hành vi là khảnăng thực hiện những hành vi trong phạm vi năng lực pháp luật củaquyền hạn, chức vụ được bổ nhiệm Năng lực hành vi xuất hiện từ khicán bộ đó được chính thức bổ nhiệm hay Nhà nước giao cho một chức vụnhất định trong bộ máy Nhà nước
- Đối với chủ thể là tổ chức xã hội được giao thẩm quyền hành chính nhànước, thì năng lực chủ thể xuất hiện từ khi tổ chức đó được chính thứcthành lập và ấn định thẩm quyền theo nội dung công việc cố định, chu
kì hoặc theo tình huống cụ thể; thẩm quyền này chấm dứt khi tổ chức
đó không còn được ấn định thẩm quyền hành chính nhà nước
Quan hệ pháp luật hành chính công - tư
- Chủ thể quản lý: giống như chủ thể quản lý của quan hệ pháp luật
hành chính công quyền
- Chủ thể của quản lý:
Trang 8Lớp: DH17LKT01
Đối với chủ thể là tổ chức xã hội, đơn vị kinh tế thì năng lực chủ thể xuấthiện khi Nhà nước quy định quyền và nghĩa vụ của các tổ chức xã hội,đơn vị kinh tế đó
Đối với chủ thể là công dân Việt Nam, người nước ngoài, người khôngquốc tịch thì thời điểm xuất hiện năng lực pháp luật và năng lực hành vikhác nhau
+ Năng lực pháp luật hành chính của công dân xuất hiện khi công dân
đó sinh ra và chấm dứt khi công dân đó chết đi Đó là khả năng hưởngcác quyền và nghĩa vụ nhất định do luật hành chính quy định cho cánhân
+ Còn năng lực hành vi hành chính của công dân là năng lực của côngdân thực hiện được các quyền và nghĩa vụ của mình trên thực tế
Đối với các chủ thể cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, hoặc cá nhân cóthẩm quyền hành chính nhà nước nhưng tham gia vào quan hệ phápluật hành chính cụ thể không với tư cách ấy thì vẫn là chủ thể của quản
lý và có năng lực pháp luật hành chính tương ứng như các chủ thể củaquản lý trong quan hệ pháp luật hành chính công - tư
Câu 3 Nói: “Hoạt dộng quản lý hành chính nhà nước là hoạt động chỉ được thực hiện bởi cơ quan hành chính nhà nước “là đúng hay sai? Tại sao?
Sai Vì Chủ thể của quản lý hành chính nhà nước là Nhà nước, thông qua các cơ quan thuộc bộ máy nhà nước, đội ngũ cán bộ, công chức, nhà nước Hay có thể hiểu chủ thể của quản lý hành chính nhà nước là các tổ chức hoặc cá nhân trực tiếp tham gia vào hoạt động quản
lý hành chính nhà nước Nếu hiểu theo nghĩa rộng, chủ thể quản lý hànhchính nhà nước bao gồm cả nhân dân vì nhân dân tham gia vào một số hoạt động quản lý nhà nước ở từng lĩnh vực riêng theo quy định của pháp luật Còn theo nghĩa hẹp, chủ thể quản lý hành chính nhà nước là các cơ quan trong hệ thống hành chính nhà nước và đội ngũ cán bộ, công chức làm việc ở các cơ quan đó
Câu 4 Phân tích mối quan hệ giữa Luật hành chính và Luật hình sự?
LHC liên quan chặt chẽ với LHS và có nhiều chổ giao tiếp với LHS LHS xác định hành vi nào là tội phạm và quy định biện pháp hình phạt tương ứng đối với tội phạm ấy, điều kiện và thủ tục áp dụng Còn LHC quy định nhiều quy tắc có tính bắt buộc chung, quy tắc QLHCNN Trong một số trường hợp khi vi phạn quy tắc ấy có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của LHS (do tái phạm, vi phạm nhiều lần hay gây hậu quả nghiêm trọng) Quy phạm Luật hành chính quy định hành vi nào là vi phạm hành chính, nhưng nhiều hành vi trong số đó rất khó
Trang 9Lớp: DH17LKT01
phân biệt với tội phạm Vì vậy, muốn xác định những hành vi đó là tội phạm hay vi phạm hành chính thì cần phân tích đồng thời các quy phạmtương ứng của cả 2 ngành luật Tội phạm khác với vi phạm hành chính ởmức độ tính chất nguy hiểm cho xã hội cao hơn Do đó hình phạt cũng khác với hình thức xử phạt và biện pháp cưỡng chế khác mà LHC quy định áp dụng đối với chủ thể thực hiện vi phạm hành chính Trình tự xử
lý và chủ thể có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính và tội phạm cũngkhác nhau
Câu 5 Cơ sở của sự phát sinh, thay đổi và chấm dứt quan hệ pháp Luật hành chính.
Quan hệ pháp luật Hành chính là quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình quản lí Hành chính Nhà nước, được điều chỉnh bởi các quy phạm pháp luật Hành chính giữa các cơ quan, tổ chức, cá nhân mang quyền và nghĩa vụ đối với nhau theo quy định của pháp luật Hành chính
Cơ sở làm phát sinh, thay đổi, hoặc chấm dứt quan hệ pháp luật hành chính là: Quy phạm pháp luật, sự kiện pháp lý và năng lực chủ thể của
cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan Trong đó, quy phạm pháp luật hành chính, năng lực chủ thể của cơ quan, tổ chức cá nhân liên quan là điều kiện chung cho việc phát sinh, thay đổi, hoặc chấm dứt quan hệ pháp luật Hành chính
Câu 6 Nhận định: “Quy phạm pháp luật hành chính chỉ được ban hành bởi cơ quan hành chính nhà nước” là đúng hay sai? Tại sao?
Đúng, Vì để thực hiện chức năng quản lý nhà nước, quản lý xã hội, các
cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành các văn bản quy phạm phápluật để điều chỉnh hoạt động quản lý hành chính nhà nước Các quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động quản lý hành chính nhà nước chính là quy phạm pháp luật hành chính Như vậy, quy phạm pháp luật hành chính là các quy tắc xử sự chung do cơ quan Nhà nước, các cán bộ nhà nước có thẩm quyền ban hành, chủ yếu điều chỉnh những quan hệ
xã hội phát sinh trong lĩnh vực quản lý hành chính Nhà nước (hay còn gọi là hoạt động chấp hành - điều hành của Nhà nước) có hiệu lực bắt buộc thi hành đối với những đối tượng có liên quan
Câu 7 Hãy nêu mục đích ý nghĩa của việc phân chia quan hệ pháp luật hành chính công quyền và quan hệ pháp luật hành chính công – tư.
Mục đích của việc phân chia quan hệ pháp luật hành chính
"công" và "tư"
Trang 10- Thấy rõ được phạm vi điều chỉnh của luật hành chính ở tầm rộng, nhận
ra bản chất các mối quan hệ pháp luật có nguồn gốc hoặc có khả năngđược điều chỉnh, hoặc quan hệ trực tiếp với quan hệ pháp luật hànhchính
- Khẳng định mục đích chính của quản lý nhà nước là hướng tới nhân dân, với vai trò là "công bộc" của nhân dân, cơ quan hành chính nhà nước có trách nhiệm phải phục vụ, đáp ứng những nhu cầu và quyền lợi hợp pháp của công dân
- Cải cách hành chính: "cắt khúc" quan hệ pháp luật hành chính theo từng đoạn, xem thủ tục nào còn rườm rà, khâu nào còn chưa hợp lý để
có sự cải cách thích hợp, góp phần vào việc cải cách chung "toàn khâu" thể chế hành chính:
+ Thủ tục quan hệ pháp luật hành chính công quyền: Trước hết phải chính xác, gọn, đồng bộ và thống nhất
+ Thủ tục của quan hệ pháp luật hành chính công - tư: Trước hết phải nhanh chóng, "phục vụ" và không gây phiền hà cho nhân dân Thực hiện
"một cửa một dấu" là một ví dụ
Câu 8 Phân biệt khách thể và đối tượng trong quan hệ pháp luật hành chính
Chủ thể của quan hệ pháp luật hành chính
Chủ thể của quan hệ pháp luật hành chính là những bên tham gia vào quan hệ pháp luật hành chính, có năng lực chủ thể có quyền
và nghĩa vụ tương ứng đối với nhau theo quy định của pháp luật hành
chính
Chủ thể của quan hệ pháp luật hành chính bao gồm: cơ quan nhà nước,cán bộ nhà nước, tổ chức xã hội, đơn vị kinh tế, công dân Việt Nam,người nước ngoài và người không quốc tịch
Trong đó, có một loại chủ thể luôn luôn hiện diện trong mọi quan hệpháp luật hành chính đó là chủ thể quản lý -bên có thẩm quyền hànhchính nhà nước
Khách thể của quan hệ pháp luật hành chính
Là trật tự quản lý hành chính nhà nước Trật tự này được quy định
trong từng lĩnh vực cụ thể và khi tham gia vào quan hệ này, đối tượng
Trang 11Lớp: DH17LKT01
mà các chủ thể mong muốn hướng tới là những lợi ích về vật chất hoặcnhững lợi ích phi vật chất, nó đóng vai trò là yếu tố định hướng cho sựhình thành và “vận động” của một quan hệ pháp luật hành chính
Ở đây có sự khác nhau về khách thể của quan hệ pháp luật hành chính công quyền và quan hệ pháp luật hành chính công - tư
Câu 9 Thế nào là quan hệ pháp luật hành chính? Dấu hiệu để một quan hệ pháp luật trở thành quan hệ pháp luật hành chính
Khái niệm quan hệ pháp luật hành chính
Quan hệ pháp luật hành chính là quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình quản lý hành chính Nhà nước, được điều chỉnh bởi các quy phạm pháp luật hành chính giữa các cơ quan, tổ chức, cá nhân mang quyền vànghĩa vụ đối với nhau theo quy định của pháp luật hành chính
Chủ thể của quan hệ pháp luật hành chính là những bên tham gia vào quan hệ pháp luật hành chính, có năng lực chủ thể có quyền và nghĩa vụ tương ứng đối với nhau theo quy định của pháp luật hành chính Chủ thể của quan hệ pháp luật hành chính bao gồm: cơ quan nhànước, cán bộ nhà nước, tổ chức xã hội, đơn vị kinh tế, công dân Việt Nam, người nước ngoài và người không quốc tịch Trong đó, có một loại chủ thể luôn luôn hiện diện trong mọi quan hệ pháp luật hành chính đó
là chủ thể quản lý -bên có thẩm quyền hành chính nhà nước
- Chủ thể quản lý hành chính nhà nước: Là các cá nhân hay tổ chức của con người mang quyền lực hành chính nhà nước, nhân danh nhà nước và thực hiện chức năng quản lý hành chính nhà nước
- "Mang quyền lực nhà nước" ở đây cần hội đủ yếu tố sau:
Có thẩm quyền hành chính nhà nước do pháp luật quy định; Tham gia vào quan hệ pháp luật hành chính với tư cách của chủ thể có thẩm quyền hành chính nhà nước, không vượt ra khỏi thẩm quyền đã được luật định; Đây là chủ thể bắt buộc trong quan hệ pháp luật hành chính
có quyền nhân danh Nhà nước để đơn phương ra những mệnh lệnh buộcphía bên kia phải thực hiện Đây là một đặc trưng cơ bản của quan hệ pháp luật hành chính so với các quan hệ pháp luật khác
Như vậy Điều kiện để Quan hệ pháp luật trở thành của quan hệ pháp luật hành chính là phải có năng lực pháp luật hành chính và năng lực hành vi hành chính
Câu 10 Cho biết năng lực pháp lý hành chính và năng lực hành
vi hành chính.
Năng lực pháp luật hành chính là khả năng của các chủ thể có được những quyền chủ thể và nghĩa vụ pháp lý được nhà nước thừa nhận bằng các quy định của Luật hành chính Tuy nhiên, để một chủ thể được tham gia vào một quan hệ pháp luật cụ thể, chủ thể đó không