1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đề cương ôn tập Mác 1

15 52 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 59,23 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nội dung về vấn đề cơ bản của triết học.. Cách giải quyết vấn đề cơ bản của triết học của các trào lưu triết học.. Nội dung và ý nghĩa phương pháp luận của định nghĩa vật chất của L

Trang 1

NHỮNG NGUYÊN LÍ MAC – LENIN (I)

1. Nội dung về vấn đề cơ bản của triết học Cách giải quyết vấn đề cơ bản của triết học của các trào lưu triết học.

- Theo Mác – Ăngghen: “Vấn đề cơ bản lớn nhất của mọi triết học, đặc biệt là của triết học hiện đại, là vấn đề quan hện giữa tư duy và tồn tại” Nội dung của vấn đề này gồm hai mặt: + Mặt thứ nhất (mặt bản thể luận) trả lời câu hỏi: trong mối quan hệ giữa tư duy và tồn tại, giữa ý thức và vật chất thì cái nào có trước, cái nào có sau, cái nào sinh ra cái nào, cái nào quyết định cái nào?

+ Mặt thứ hai (mặt nhận thức luận) trả lời câu hỏi: tư duy con người có khả năng nhận thức thế giới xung quanh hay không?

- Cách giải quyết vấn đề cơ bản của triết học của các trào lưu triết học:

* Giải quyết mặt thứ nhất:

+ Chủ nghĩa duy vật cho rằng vật chất (tồn tại, tự nhiên) có trước, ý thức (tư duy, tinh thần) có sau, vật chất quyết định ý thức

+ Chủ nghĩa duy tâm cho rằng ý thức (tư duy, tinh thần) có trước, vật chất có sau, ý thức quyết định vật chất Chủ nghĩa duy tâm có hai hình thức cơ bản là CNDT khách quan và CNDT chủ quan CNDT khách quan cho rằng có một lực lượng siêu nhiên có trước, sinh

ra và quyết định thế giới vật chất, còn CNDT chủ quan cho rằng cảm giác, ý thức quyết định vật chất, vật chất không tồn tại độc lập mà phụ thuộc vào cảm giác, ý thức

+ Thuyết nhất nguyên: là khuynh hướng triết học cho rằng thế giới chỉ có một bản nguyên duy nhất, hoặc là thực thể vật chất, hoặc là thực thể tinh thần.(nhất nguyên duy vật/ nhất nguyên duy tâm)

+ Thuyết nhị nguyên: là khuynh hướng triết học cho rằng có hai thực thể song song tồn tại, không phụ thuộc lẫn nhau (cả vật chất lẫn tinh thần)

+ Thuyết đa nguyên: là khuynh hướng triết học cho rằng có nhiều cơ sở, nhiều bản nguyên tồn tại (Các nhà triết học cổ đại đưa ra những bản nguyên đa dạng như đất, nước, lửa, không khí với tư cách là cơ sở của mọi tồn tại)

* Giải quyết mặt thứ hai: Vấn đề cơ bản của triết học có hai khuynh hướng đối lập nhau là thuyết khả tri và thuyết bất khả tri Đa số các nhà triết học khẳng định rằng con người có khả năng nhận thức được thế giới khách quan (khả tri) Một số ít các nhà triết học phủ nhận một phần hay toàn bộ khả năng nhận thức của con người (bất khả tri)

2. Nội dung và ý nghĩa phương pháp luận của định nghĩa vật chất của Lê-nin.

- Định nghĩa vật chất của Lê-nin: “Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và không phụ thuộc vào cảm giác”

- Nội dung của định nghĩa:

+ Vật chất là cái khách quan, tồn tại bên ngoài ý thức và không phụ thuộc vào ý thức, bất kể sự tồn tại ấy đã được con người nhận thức hay chưa

+ Vật chất là cái gây nên cảm giác ở con người khi trực tiếp hoặc gián tiếp tác động lên giác quan của con người

+ Cảm giác, tư duy, ý thức là sự phản ánh của vật chất

- Ý nghĩa phương pháp luận: Định nghĩa vật chất của Lê-nin đã:

Trang 2

+ Giải quyết triệt để hai mặt trong vấn đề cơ bản của triết học theo quan điểm của CNDVBC

+ Khắc phục triệt để những sai lầm, hạn chế của CNDV trước Mác về phạm trù vật chất; bác bỏ, phủ nhận CNDT và tôn giáo về vấn đề vật chất

+ Tạo cơ sở cho các nhà triết học DVBC xây dựng quan điểm vật chất trong đời sống xã hội

3. Quan điểm duy vật biện chứng về nguồn gốc, bản chất và kết cấu của ý thức.

a, Nguồn gốc: Ý thức ra đời là kết quả của quá trình tiến hóa lâu dài của tự nhiên và xã hội.

- Nguồn gốc tự nhiên: bộ óc người và thế giới hiện thực khách quan

+ Ý thức là kết quả của quá trình tiến hóa của thuộc tính phản ánh có ở mọi dạng vật

chất Phản ánh là sự tái tạo những đặc điểm của một hệ thống vật chất có ở mọi dạng vật

chất khác trong quá trình tác động qua lại giữa chúng, gồm phản ánh lí hóa và phản ánh sinh học

+ Ý thức là hình thức cao nhất của sự phản ánh thế giới hiện thực, ý thức là hình thức

phản ánh chỉ có ở con người Ý thức là đặc tính riêng của một vật chất có tổ chức cao là bộ óc người Bộ óc người là một tổ chức sống đặc biệt, có cấu trúc tinh vi và phức tạp Bộ óc

người là cơ quan vật chất của ý thức Hoạt động ý thức chỉ diễn ra trong bộ não người, trên

cơ sở các quá trình sinh lí – thần kinh của bộ não

 Bộ óc người cùng với thế giới bên ngoài tác động lên nó chính là nguồn gốc tự nhiên của ý thức.

- Nguồn gốc xã hội: Lao động và ngôn ngữ

+ Ý thức người ra đời cùng với quá trình hình thành bộ óc người nhờ có lao động và ngôn ngữ

+ Lao động là quá trình diễn biến giữa con người và tự nhiên, trong đó con người

đóng vai trò là môi giới, điều tiết và giám sát trong sự trao đổi vật chất giữa người và tự nhiên Đặc điểm của lao động: là hoạt động đặc thù của con người, lao động luôn mang tính tập thể

+ Vai trò của lao động: lao động đã sáng tạo ra bản thân con người, nhờ có lao động mà con người tách khỏi thế giới động vật; lao động làm cho cơ thể con người ngày càng hoàn thiện, đặc biệt là bộ óc và các giác quan; thế giới khách quan bộc lộ những thuộc tính, những kết cấu, những quy luật vận động của mình trong quá trình lao động; trong lao động, đồng thời với lao động là ngôn ngữ (ngôn ngữ xuất hiện từ lao động)

+ Ngôn ngư là cái vỏ vật chất của tư duy, là hiện thực trực tiếp của tư tưởng Vai trò

của ngôn ngữ: là phương tiện giao tiếp trong xã hội, để trao đổi tri thức, kinh nghiệm…; là phương tiện để tổ kết thực tiễn, đồng thời là công cụ của tư duy nhằm khái quát hóa, trừu tượng hóa hiện thực

 Không có ngôn ngư thì ý thức không thể hình thành, tồn tại và phát triển Ý thức là nội dung thì ngôn ngư là hình thức biểu hiện của nó.

(Trong 2 nguồn gốc thì nguồn gốc xã hội quyết định bản chất ý thức Tách ra khỏi môi trường xã hội, con người sẽ mất ý thức Người nào mắc khiếm khuyết về ngôn ngữ thì ý thức kém phát triển hơn Học thức kém thì ý thức cũng kém phát triển.)

b, Bản chất của ý thức:

- Ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào bộ óc con người một cách năng động và sáng tạo Điều này được thể hiện ở:

Trang 3

+ Ý thức cũng là “hiện thực”, nhưng đó là hiện thực trong tư tưởng Đó là sự thống nhất giữa vật chất và ý thức Trong đó, vật chất là cái được phản ánh, còn ý thức là cái phản ánh

+ Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan, bởi vì ý thức con người mang tính năng động, sáng tạo lại hiện thực theo nhu cầu của thực tiễn

+ Phản ánh ý thức là sự phản ánh sáng tạo Tính sáng tạo của ý thức rất đa dạng, phong phú Tuy nhiên, đó là sự sáng tạo dựa trên sự phản ánh

- Quá trình ý thức được thống nhất bởi các mặt sau:

+ Trao đổi thông tin giữa chủ thể và đồi tượng phản ánh Sự trao đổi này mang tính chất hai chiều, có chọn lọc các thông tin cần thiết

+ Mô hình hóa đối tượng trong tư duy dưới dạng hình ảnh tinh thần

+ Chuyển mô hình từ tư duy ra hiện thực khách quan (hiện thực hóa tư tưởng thông qua hoạt động thực tiễn)

+ Ý thức không phải là một hiện tượng tự nhiên thuần túy mà là một hiện tượng xã hội Ý thức chỉ được nảy sinh trong lao động, trong hoạt động cải tạo thế giới của con người (Ý thức mang bản chất là có tính xã hội)

c, Kết cấu của ý thức: Ý thức là một hiện tượng xã hội – tâm lí có kết cấu hết sức phức tạp.

Tùy theo cách tiếp cận mà có nhiều cách phân chia khác nhau

- Theo chiều ngang, ý thức gồm:

+ Tri thức: là kết quả của quá trình nhận thức của con người về thế giới hiện thực, làm tái hiện trong tư tưởng những thuộc tính, những quy luật của thế giới ấy và diễn đạt chúng dưới những hình thức ngôn ngữ hoặc các hệ thống ký hiệu khác

+ Tình cảm: là sự cảm động của con người trong mối quan hệ với thực tại xung quanh và với chính mình

+ Các yếu tố khác như niềm tin, lí trí, ý chí,… Trong tất cả các yếu tố này thì tri thức là yếu tố quan trọng nhất

(Tri thức là yếu tố quan trọng nhất, thiếu tri thức thì mọi thứ đều là ý thức vô hồn, ý thức trống rỗng Tri thức quan trọng vì thiếu tri thức thì mọi lí tưởng của con người đều là hão huyền, ước mơ vô vọng Muốn có ý thức thì phải học (trường học và trường đời).)

- Theo chiều dọc, ý thức bao gồm:

+ Tự ý thức: là ý thức về bản thân mình trong quan hệ với thế giới bên ngoài

+ Tiềm thức: là những tri thức mà con người đã có được từ trước nhưng gần như trở thành bản năng , thành kĩ năng trong tầng sâu ý thức

+ Vô thức: là trạng thái tâm lí ở chiều sâu, điều chỉnh suy nghĩ, hành vi, thái độ ứng xử của con người mà chưa có sự tranh luận nội tâm, chưa có sự truyền thông tin bên trong, chưa có sự kiểm tra, tính toán của lí trí…

4. Nội dung và ý nghĩa phương pháp luận của nguyên lí về mối liên hệ phổ biến và nguyên lí phát triển trong phép biện chứng duy vật:

a, Nguyên lí về mối liên hệ phổ biến:

* Khái niệm mối liên hệ phổ biến:

+ Quan điểm siêu hình cho rằng sự vật, hiện tượng tồn tại độc lập, tách biệt nhau, giữa chúng không có sự liên hệ hoặc nếu có thì đó chỉ là liên hệ bề ngoài, thụ động, một chiều, giữa các hình thức liên hệ không có chuyển hóa lẫn nhau

Trang 4

+ Quan điểm DVBC cho rằng mối liên hệ là phạm trù triết học dùng để chỉ sự quy định, sự tác động qua lại, sự chuyển hóa lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng, hay giữa các mặt của một sự vật hiện tượng trong thế giới

* Tính chất của mối liên hệ:

- Mối liên hệ phổ biến mang tính khách quan, nó là cái vốn có của sự vật, hiện tượng

- Mối liên hệ mang tính phổ biến, thể hiện ở chỗ:

+ Bất cứ sự vật, hiện tượng nào cũng liên hệ với sự vật, hiện tượng khác, không có sự vật, hiện tượng nào nằm ngoài mối liên hệ

+ Mối liên hệ biểu hiện dưới nhiều hình thức riêng biệt, cụ thể tùy theo từng điều kiện nhất định Song, dù dưới hình thức nào chúng cũng chỉ là biểu hiện của mối liên hệ phổ biến nhất, chung nhất

- Mối liên hệ mang tính đa dạng, phong phú, vì thế hình thức liên hệ giữa chúng cũng rất đa dạng Tuy nhiên, có thể căn cứ vào vị trí, phạm vi, vai trò, tính chất mà phân chia ra thành những mối liên hệ khác nhau như: mối liên hệ bên trong, bên ngoài; mối liên hệ bản chất – không bản chất; trực tiếp – gián tiếp;… Nhưng sự phân chia này cũng chỉ là tương đối

* Ý nghĩa phương pháp luận:

- Khi xem xét sự vật, hiện tượng cần phải có quan điểm toàn diện Quan điểm này yêu cầu: phải xem xét tất cả các mặt, các mối liên hệ của sự vật và các khâu trung gian của nó; phải nắm bắt và đánh giá đúng vai trò, vị trí của từng mặt, từng mối liên hệ trong quá trình cấu thành sự vật

- Trong quan điểm toàn diện bao hàm cả quan điểm lịch sử cụ thể Vì vậy, khi xem xét sự vật, hiện tượng phải đặt sự vật, hiện tượng vào không gian, thời gian cụ thể…

b, Nguyên lí về sự phát triển:

* Khái niệm “phát triển”:

+ Quan điểm siêu hình cho rằng phát triển chỉ là sự tăng, giảm đơn thuần về mặt số lượng hay khối lượng mà không có sự thay đổi về chất Phát triển cũng như quá trình chuyển lên liên tục, không có bước quanh co, thăng trầm phức tạp Nguồn gốc phát triển là

do bên ngoài quy định

+ Quan điểm DVBC cho rằng phát triển là quá trình vận động tiến lên từ thấp lên cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hòa thiện đến hoàn thiện hơn

* Tính chất của sự phát triển:

- Phát triển mang tính khách quan, nó là cái vốn có của bản thân sự vật, hiện tượng

- Phát triển không chỉ là sự thay đổi về mặt số lượng hay khối lượng mà nó còn là sự thay đổi về chất

- Phát triển mang tính kế thừa nhưng trên cơ sở có sự phê phán, lọc bỏ, cải tạo và phát triển, không kế thừa nguyên xi hay lắp ghép từ cái cũ sang cái mới một cách máy móc, hình thức

- Tùy vào sự vật, hiện tượng, quá trình cụ thể, phát triển còn bao gồm cả sự thụt lùi đi xuống nhưng khuynh hướng chung là đi lên, là tiến bộ Theo quan điểm DVBC thì khuynh hướng của sự phát triển xảy ra theo hình đường xoáy ốc

- Nguồn gốc của sự phát triển là ở trong bản thân sự vật hiện tượng, do mâu thuẫn của sự vật hiện tượng quy định

* Ý nghĩa phương pháp luận:

- Khi xem xét sự vật hiện tượng cần phải có quan điểm phát triển Yêu cầu:

Trang 5

+ Xem xét sự vật hiện tượng phải đặt chúng trong sự vận động phát triển không ngừng, vạch ra xu hướng biến đổi chuyển hóa của chúng

+ Phải biết phân chia quá trình phát triển của sự vật thành nhiều giai đoạn, trên cơ sở đó tìm ra phương pháp nhận thức và cách tác động phù hợp nhằm thúc đẩy sự vật phát triển nhanh hơn hoặc kìm hãm sự phát triển của nó

5. Nội dung và ý nghĩa phương pháp luận của quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập Đây là một trong 3 quy luật cơ bản của phép BCDV Nó nói

lên nguồn gốc, động lực của sự phát triển Lênin gọi quy luật này là hạt nhân của phép biện chứng

a, Nội dung

- Khái niệm mặt đối lập: Mặt đối lập là những mặt có thuộc tính, khuynh hướng vận động trái ngược nhau, bài trừ, gạt bỏ, chống đối lẫn nhau, nhưng tồn tại và gắn bó với nhau trong một thể thống nhất hợp thành một mâu thuẫn

- Đặc điểm của mâu thuẫn:

+ Tính khách quan: Mâu thuẫn nằm ngoài ý thức con người, không có sinh vật nào tồn tại mà không có mâu thuẫn

+ Tính phổ biến trong tự nhiên: Có mâu thuẫn giữa cực bắc và cực nam của nam châm, mâu thuẫn giữa cộng trừ, nhân chia,…

Trong tư duy có mâu thuẫn đúng sai, sướng khổ,

- Khái niệm thống nhất giữa các mặt đối lập: Được hiểu theo 2 nghĩa:

+ Nghĩa 1: Là sự liên hệ, nương tựa, rang buộc, cấu kết hữu cơ với nhau đến mức không có cái này sẽ không có cái kia, cái này mất đi cái kia cũng mất theo, caí này xuất hiện cái kia xuất hiện theo (Ví dụ: không có sai thì không có đúng)

+ Nghĩa 2: bao hàm sự khác biệt giữa những cái tưởng như không thể thống nhất nhưng vẫn thống nhất với nhau

- Khái niệm đấu tranh giữa các mặt đối lập: Đấu tranh không hiểu là đánh nhau, đấu tranh được hiểu là sự bài trừ, gạt bỏ đi đến phủ định lẫn nhau, khi đủ điều kiejn thì chuyển hóa các mặt đối lập Có thể mặt này chuyển thành mặt kia, có thể cả 2 mặt đều biến thành thứ khác

- Quan hệ giữa thống nhất và đấu tranh: Thống nhất ứng với quan điểm cho rằng đứng im của vật chất là tương đối, tạm thời Đấu tranh của các mặt đối lập ứng với quan điểm vận động là tuyệt đối, đấu tranh cũng được hiểu là tuyệt đối và nó diễn ra cho đến khi sự vật hết mâu thuẫn Khi đó cái chết xảy ra đối với sinh vật, đối với sự vật nói chung  không còn lí

do để tồn tại vì mất hết động lực

* Ý nghĩa phương pháp luận:

- Nghiên cứu quy luật mâu thuẫn giúp ta hiểu được nguồn gốc, động lực của sự tự thân vận động, tự thân phát triển của sự vật, hiện tượng Chống quan điểm duy tâm, siêu hình tìm nguồn gốc vận động, phát triển từ bên ngoài, từ những nguyên nhân thần bí

- Xác định mâu thuẫn là hiện tượng tất yếu khách quan (chấp nhận mâu thuẫn để tìm cách giải quyết mâu thuẫn, thúc đẩy sự vật phát triển tiến lên)

- Nắm vững mâu thuẫn cơ bản, mâu thuẫn chủ yếu để xác định nhiệm vụ chiến lược cũng như nhiệm vụ trung tâm trước mắt cho từng thời kì cách mạng

- Có cách giải quyết thích hợp với bản chất của từng mâu thuẫn, trình độ chín muồi và điều kiện tồn tại của mâu thuẫn

Trang 6

6. Nội dung và ý nghĩa phương pháp luận của quy luật chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng thành những sự thay đổi về chất và ngược lại Đây là một trong

3 quy luật của phép BCDV Nó nói lên hình thức của sự phát triển

a Nội dung:

- Khái niệm:

+ Chất là tính quy định vốn có của sự vật, hiện tượng, nói lên sự vật đó là cái phân biệt nó với sự vật, hiện tượng khác (Chất xuất phát từ cấu trúc bên trong của sự vật và biểu

hiện ra thông qua các thuộc tính của sự vật Chất là tổng hợp các thuộc tính, trong đó có thuộc tính cơ bản và thuộc tính không cơ bản Chỉ thuộc tính cơ bản mới phân biệt chất)

+ Lượng là tính quy định của sự vật, hiện tượng về mặt quy mô, cường độ, trình độ, tốc độ, vv (Lượng có thể đo được bằng con số Tuy nhiên, sự vật phức tạp thì thông số về

lượng của nó cũng phức tạp; do đó để nhận thưc được lượng của nó, phải sử dụng nhiều con số thống kê và phải thông qua sự phán đoán, đánh giá của tư duy)

- Quan hệ biện chứng giữa chất và lượng:

+ Tính thống nhất giữa chất và lượng trong một sự vật: Chất và lượng là hai mặt thống nhất hữu cơ với nhau Chất nào có lượng đó; lượng nào có chất đó Chất và lượng có sự phù hợp với nhau Sự phù hợp này diễn ra trong một phạm vi, giới hạn nhất định gọi là

“độ” Độ là phạm vi, giới hạn trong đó lượng đổi chưa làm chất thay đổi

+ Quá trình chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng thành những sự thay đổi về chất: Sự phát triển bắt đầu từ sự thay đổi về lượng Lượng biến đổi trong phạm vi “độ” chưa làm chất thay đổi Vượt quá độ, sự biến đổi về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất Chất cũ mất đi, chất mới ra đời Sự thay đổi về chất gọi là bước nhảy Điểm diễn ra bước nhảy gọi là điểm nút

+ Quá trình chuyển hóa từ những thay đổi về chất thành những sự thay đổi về lượng: Chất mới ra đời thúc đẩy quá trình biến đổi về lượng với quy mô và tốc độ cao hơn Bởi vì trong phạm vi chất cũ, lượng biến đổi đến một giới hạn nhất định thì bị chất cũ kìm hãm

Do đó, thay chất cũ bằng chất mới là phá bỏ sự kìm hãm đó Mặt khác, chất mới cần được kết hợp với lượng mới

+ Bước nhảy và các hình thức của bước nhảy: Bước nhảy là sự thay đổi về chất từ chất cũ sang chất mới Bước nhảy có nhiều hình thức đa dạng phong phú tùy theo bản chất của sự vật và điều kiện tồn tại của sự vật Người ta chia bước nhảy thành: Bước nhảy đột biến & Bước nhảy dần dần; Bước nhảy toàn bộ & Bước nhảy bộ phận

b Ý nghĩa phương pháp luận:

- Giúp ta hiểu được cách thức của sự phát triển Chống lại các quan điểm duy tâm, siêu hình (Quan điểm siêu hình chỉ thừa nhận sự thay đổi về lượng, phủ nhận sự thay đổi về chất; không thừa nhận cái mới, cái tiến bộ tất yếu thay thế cái cũ, lạc hậu và cho rằng cái mới ra đời là ngẫu nhiên hoặc do nguyên nhân bên ngoài)

- Trong hoạt động thực tiễn muốn có chất mới, cần phải có quá trình tích lũy về lượng Cần chống khuynh hướng bảo thủ, trì trệ, tranh thủ tạo ra những bước nhảy để thúc đẩy sự vật phát triển tiến lên Đồng thời, phải chống lại bệnh chủ quan nóng vội, duy ý chí, thực hiện bước nhảy khi chưa có sự chín muồi về lượng và bất chấp những điều kiện tồn tại cụ thể của sự vật, hiện tượng

- Kết hợp tinh thần cách mạng với khoa học nghiêm túc

7. Nội dung và ý nghĩa phương pháp luận của quy luật phủ định của phủ định.

Đây là một trong 3 quy luật BCDV Nó nói lên khuynh hướng của sự phát triển

Trang 7

a Nội dung:

- Khái niệm phủ định và phủ định biện chứng:

+ Phủ định nói chung là sự bài trừ, bác bỏ sự vật nhất định nào đó Nói cách khác, phủ định là một quá trình vận động trong đó sự vật, hiện tượng này được thay thế bởi sự vật, hiện tượng khác (đây là sự biến đổi nói chung)

+ Phủ định biện chứng là quá trình tự phủ định, tự phát triển, là mắt khâu trên con đường dẫn tới sự ra đời của cái mới, cái tiến bộ hơn so với cái tự phủ định

- Đặc trưng của phủ định biện chứng:

+ Tính khách quan: PĐBC là sự tự thân phủ định, là kết quả giải quyết mâu thuẫn bên trong của sự vật tồn tại khách quan

+ Tính kế thừa: là đặc trưng cơ bản nhất của PĐBC PĐBC là quá trình cái mới ra đời phủ định cái cũ, nhưng cái mới chỉ phủ định mặt lạc hậu, lỗi thời của cái cũ, đồng thời kế thừa những giá trị của cái cũ Do đó, PĐBC là sự phủ định nhưng cũng là sự khẳng định

 Đối lập với quan điểm siêu hình

- PĐBC được hoàn thành trong một chu kì phát triển Sự vật ở điểm xuất phát ban đầu qua lần phủ định thứ nhất trở thành cái đối lập với nó – bước trung gian của sự phát triển; lần phủ định thứ hai, tái lập cái ban đầu nhưng trên cơ sở cao hơn Lần phủ định thứ hai được gọi là phủ định của phủ định Phủ định của phủ định làm xuất hiện cái mới là kết quả tổng hợp tất cả những yếu tố tích cực ban đầu đã được phát triển từ trong cái khẳng định ban đầu và trong những cái phủ định tiếp theo Do vậy, cái mới có nội dung toàn diện và phong phú hơn Quy luật PĐCPĐ đã khái quát tính chất tiến lên của sự phát triển Sự phát triển không phải diễn ra theo đường thẳng mà theo đường “xoáy ốc”

b, Ý nghĩa phương pháp luận:

- Giúp ta hiểu được khuynh hướng của sự phát triển: tiến lên theo đường trôn ốc, cái mới thay thế cái cũ

- Khắc phục cách nhìn đơn giản về sự phát triển: phát triển theo đường thẳng, đường tròn khép kín

- Tin tưởng vào sự tất thắng của cái mới, vào chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản Ủng hộ và tạo điều kiện cho cái mới, cái tiến bộ chiến thắng cái cũ, cái lạc hậu

8. Các cặp phạm trù của phép biện chứng duy vật.

a, Cái chung và cái riêng

* Khái niệm:

- Cái riêng là phạm trù triết học dùng để chỉ một sự vật, một hiện tượng, một quá

trình riêng lẻ nhất định

- Cái chung là phạm trù triết học dùng để chỉ những mặt, những thuộc tính chung

không những chỉ có ở một kết cấu vật chất nhất định mà còn được lặp lại trong nhiều sự vật, hiện tượng hay quá trình riêng lẻ khác

- Cái đơn nhất là phạm trù triết học dùng để chỉ những nét, những mặt, những thuộc

tính chỉ có ở một kết cấu vật chất nhất định nào đó và không được lặp lại ở bất kì một kết cấu vật chất nào khác

- Cái đặc thù là phạm trù triết học dùng để chỉ những thuộc tính, những đặc điểm,

những bộ phận giống nhau tồn tại ở một số sự vật, hiện tượng (không tồn tại ở tất cả sự vật hiện tượng)

* Tính chất và mối quan hệ biện chứng:

CNDV cho rằng cái riêng, cái chung và cái đơn nhất đều tồn tại và khẳng định:

Trang 8

+ Cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng, thông qua cái riêng để biểu hiện sự tồn tại của mình Điều này có nghĩa là không có cái chung trừu tượng, thuần túy tồn tại độc lập ở bên ngoài cái riêng

+ Cái riêng chỉ tồn tại trong mối quan hệ đưa đến cái chung, không có cái riêng nào tồn tại tác rời cái chung và cũng không có cái riêng nào tồn tại vĩnh viễn

+ Cái riêng là cái toàn bộ, phong phú hơn cái chung, còn cái chung là cái bộ phận nhưng sâu sắc hơn cái riêng vì cái chung phản ánh thuộc tính, những mối liên hệ tất nhiên lặp lại ở nhiều cái riêng cùng loại  Cái chung là cái gắn liền với bản chất, quy định phương hướng tồn tại và phát triển của cái riêng

+ Cái đơn nhất và cái chung có thể chuyển hóa cho nhau trong quá trình phát triển của sự vật (Sự chuyển hóa của cái đơn nhất  cái chung là biểu hiệu của quá trình cái mới

ra đời thay thế cái cũ; sự chuyển hóa của cái chung  cái đơn nhất là biểu hiện của cái cũ, cái lỗi thời bị phủ định.)

* Ý nghĩa phương pháp luận của cặp phạm trù:

- Muốn biết được cái chung, cái bản chất thì phải xuất phát từ cái riêng, từ những sự vật, hiện tượng riêng lẻ

- Nhiệm vụ của nhận thức là phải tìm ra cái chung trong hoạt động thực tiễn, phải dựa vào cái chung để cải tạo cái riêng

- Trong hoạt động thực tiễn thấy sự chuyển hóa nào có lợi chúng ta cần chủ động tác động để nó sớm trở thành hiện thực

b, Cặp phạm trù nguyên nhân và kết quả:

* Khái niệm:

- Nguyên nhân là phạm trù để chỉ sự tác động lẫn nhau giữa các mặt trong một sự vật

hiện tượng hoặc giữa các sự vật, hiện tượng với nhau gây ra một biến đổi nhất định

- Kết quả là phạm trù dùng để chỉ những biến đổi do sự tác động lẫn nhau giữa các

sự vật, hiện tượng hoặc các mặt trong cùng một sự vật, hiện tượng gây ra Kết quả chỉ là sự biến đổi do nguyên nhân gây ra

* Tính chất và mối liên hệ giữa nguyên nhân và kết quả:

- Tính chất: Tính khách quan; tính tất yếu; tính phổ biến lặp đi lặp lại; nguyên nhân khác nguyên cớ (Nguyên cớ mang tính chủ quan dùng để che đậy những nguyên nhân, là điều kiện cần thiết để chuyển hóa nguyên nhân thành kết quả.)

- Mối liên hệ giưa nguyên nhân và kết quả:

+ Nguyên nhân quyết định kết quả

+ Nguyên nhân có trước, sinh ra kết quả

+ Nguyên nhân thế nào thì sinh ra kết quả thế ấy

Mối quan hệ nhân quả không chỉ đơn thuần là sự đi kế tiếp nhau về thời gian mà là mối liên hệ sản sinh: cái này tất yếu sinh ra cái kia Cùng một nguyên nhân sinh ra nhiều kết quả, và ngược lại, một kết quả do nhiều nguyên nhân sinh ra Do đó, mối quan hệ nguyên nhân – kết quả rất phức tạp

Nguyên nhân và kết quả có thể chuyển hóa lẫn nhau trong những điều kiện nhất định Nguyên nhân sinh ra kết quả, rồi kết quả lại tác động tới sự vật, hiện tượng khác và trở thành nguyên nhân sinh ra kết quả khác nữa Do đó, sự phân biệt nguyên nhân, kết quả chỉ có tính tương đối

* Ý nghĩa phương pháp luận:

Trang 9

- Cặp phạm trù nguyên nhân – kết quả của phép BCDV là cơ sở lí luận để giải thích một cách đúng đắn mối quan hệ nhân – quả; chống lại các quan điểm duy tâm, tôn giáo về những nguyên nhân thần bí

- Nguyên nhân quyết định kết quả nên muốn có một kết quả nhất định thì phải có nguyên nhân và điều kiện nhất định Muốn khắc phục một hiện tượng tiêu cực thì phải tiêu diệt nguyên nhân sinh ra nó

- Phân loại nguyên nhân, tìm ra nguyên nhân cơ bản, nguyên nhân chủ yếu giữa vai trò quyết định đối với kết quả

- Biết sử dụng sức mạnh tổng hợp của nhiều nguyên nhân để tạo ra kết quả nhất định

- Biết sử dụng kết quả để tác động lại nguyên nhân, thúc đẩy nguyên nhân tích cực, hạn chế nguyên nhân tiêu cực

c, Cặp phạm trù nội dung và hình thức:

* Khái niệm:

- Nội dung là tổng hợp tất cả những mặt, những yếu tố, những quá trình tạo nên sự

vật

- Hình thức là cách tổ chức, kết cấu của nội dung, là mối liên hệ ổn định giữa các

mặt, các yếu tố, các bộ phận tạo thành nội dung Hình thức có hình thức bên trong và hình thức bên ngoài, trong đó hình thức bên trong quan trọng hơn

* Mối liên hệ biện chứng giữa nội dung và hình thức:

- Nội dung và hình thức gắn bó với nhau trong mỗi sự vật Không có nội dung nào lại không có một hình thức nhất định, cũng không có một hình thức nào lại không chứa đựng một nội dung nhất định

- Nội dung quyết định hình thức Bởi vì, mối liên hệ giữa những mặt, những yếu tố, những bộ phận nào thì do chính những mặt, những yếu tố, những bộ phận đó quyết định

- Hình thức phải phù hợp với nội dung, tuy nhiên sự phù hợp này không cứng nhắc, cùng một nội dung nhưng trong những điều kiện tồn tại khác nhau có thể có các hình thức khác nhau

- Hình thức có tác động trở lại nội dung Nếu hình thức phù hợp với nội dung thì sẽ tạo điều kiện cho nội dung phát triển Ngược lại, nếu hình thức không phù hợp với nội dung thì sẽ cản trở sự phát triển của nội dung

- Khi hình thức cũ, lỗi thời mâu thuẫn với nội dung mới, cuộc đấu tranh giữa nội dung và hình thức sẽ dần đến xóa bỏ hình thức cũ, thay bằng hình thức mới cho phù hợp với nội dung mới Đồng thời, nội dung cũng được cải tạo lại

* Ý nghĩa phương pháp luận:

- Trong hoạt động thực tiễn, cần tránh sự tách rời giữa nội dung và hình thức

- Vì nội dung quyết định hình thức cho nên khi xem xét sự vật, hiện tượng, trước hết cần căn cứ vào nội dung của nó

- Trong hoạt động thực tiễn, cần phải biết sử dụng nhiều hình thức để phục vụ cho một nội dung nhất định

- Cần thường xuyên đổi mới nội dung và hình thức hoạt động cho phù hợp với tình hình mới

9. Quan điểm của chủ nghĩa DVBC về bản chất của nhận thức, quan hệ biện chứng giữa nhận thức cảm tính và nhận thức lí tính, thực tiễn và vai trò của thực tiễn đối với nhận thức.

a, Lênin đã nêu lên 3 kết luận được xem là cơ sở lí luận của lí luận nhận thức DVBC:

Trang 10

1 Có những sự vật tồn tại độc lập với ý thức của chúng ta, ở ngoài chúng ta.

2. Dứt khoát là không có và không thể có bất kì sự khác nhau nào về nguyên tắc giữa

“hiện tượng” và “vật tự nó” Chỉ có sự khác nhau giữa cái đã được nhận thức và cái chưa được nhận thức

3. Nhận thức không phải là hành động tức thời, đơn giản, máy móc và thụ động mà là một quá trình biện chứng, tích cực, sáng tạo Quá trình nhận thức diễn ra theo con đường từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, rồi từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn Đó cũng là quá trình nhận thức đi từ hiện tượng đến bản chất, từ bản chất kém sâu sắc đến bản chất sâu sắc hơn

b, Quan hệ biện chứng giữa nhận thức cảm tính và nhận thức lí tính:

- Nhận thức cảm tính (trực quan sinh động) là giai đoạn đầu của quá trình nhận thức, là

sự phản ánh trực tiếp, cụ thể, sinh động, hiện thực khách quan vào các giác quan của con người Nhận thức cảm tính bao gồm:

+ Cảm giác: Sự vật, hiện tượng tác động vào giác quan gây nên sự kích thích của tế bào thần kinh làm xuất hiện các cảm giác Cảm giác là sự phản ánh các thuộc tính riêng lẻ của sự vật, hiện tượng thông qua các giác quan của con người

+ Tri giác: là sự phản ánh trực tiếp các sự vật, hiện tượng thông qua các giác quan của con người

+ Biểu tượng: là hình ảnh được lưu giữ trong chủ thể khi không còn sự vật, hiện tượng hiện diện trực tiếp trước chủ thể

- Nhận thức lí tính (tư duy trừu tượng) là giai đoạn tiếp theo của quá trình nhận thức, đây

là giai đoạn phản ánh trình độ cao, nó không dừng lại ở cái vẻ bề ngoài, cái hiện tượng mà nó là sự phản ánh bên trong, mối liên hệ bản chất Chính vì vậy mà nó phản ánh, vạch ra được quy luạt của sự vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng Nhận thức lí tính gồm 3 giai đoạn cơ bản:

+ Khái niệm: là hình thức cơ bản của tư duy phản ánh một cách tương đối đầy đủ và có hệ thống về bản chất, quy luật của đối tượng và thường được biểu đạt bằng ngôn ngữ dưới dạng những thuật ngữ

+ Phán đoán: là sự liên hệ giữa các khái niện theo một quy tắc xác định mà chúng ta có thế xác định được trị số logic của nó

+ Suy lí: là một thao tác của tư duy để đi đến những tri thức mới từ những tri thức đã có

- Nhận thức cảm tính và lí tính không tách bạch nhau mà luôn có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Không có nhận thức cảm tính thì không có nhận thức lí tính, không có nhận thức lí tính thì không nhận thức được bản chất thật sự của sự vật Nhận thức cảm tính là cơ sở, là nơi cung cấp nguyên liệu cho nhận thức lí tính trong quá trình nhận thức gián tiếp đối với sự vật, hiện tượng đi sâu vào bản chất Ngược lại, nhận thức lí tính chi phối nhận thức cảm tính, làm cho nó tinh vi, nhạy bén và chính xác hơn

c, Thực tiễn và vai trò của thực tiễn đối với nhận thức:

- Thực tiễn là những hoạt động vật chất có mục đích mang tính lịch sử – xã hội của con

người nhằm cải tạo tự nhiên, xã hội và cả tạo chính bản thân con người

- Thực tiễn có nhiều hình thức khác nhau, trong đó có 3 hình thức cơ bản:

+ Hoạt động sản xuất vật chất: Đây là hình thức cơ bản của hoạt động thực tiễn, có vai trò quyết định và là cơ sở cho các hoạt động khác của thực tiễn

Ngày đăng: 14/12/2019, 22:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w