1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Luận văn THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH về DANH HIỆU VINH dự NHÀ nước “bà mẹ VIỆT NAM ANH HÙNG” tại TỈNH QUẢNG NAM HIỆN NAY

82 152 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 707,18 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngoài những chính sách về danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng theo quy định của Trung ương, tỉnh đã huy động từ tỉnh đến xã và các tổ chức, cá nhân tham gia tích cực vào v

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRẦN NGỌC TÚ

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH VỀ DANH HIỆU

VINH DỰ NHÀ NƯỚC “BÀ MẸ VIỆT NAM ANH HÙNG”

TẠI TỈNH QUẢNG NAM HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRẦN NGỌC TÚ

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH VỀ DANH HIỆU

VINH DỰ NHÀ NƯỚC “BÀ MẸ VIỆT NAM ANH HÙNG”

TẠI TỈNH QUẢNG NAM HIỆN NAY

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng cá nhân tôi Các kết quả nêu trong luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác Các số liệu và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ chính xác cao, trung thực và đáng tin cậy

Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thực hiện đầy đủ tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Học viện Khoa học và Xã hội

Tôi viết lời cam đoan này đề nghị Học viện Khoa học và Xã hội xem xét, cho phép tôi được bảo vệ luận văn của mình

Xin chân thành cám ơn./

TÁC GIÁ LUẬN VĂN

Trần Ngọc Tú

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1 Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH VỀ DANH HIỆU VINH DỰ NHÀ NƯỚC BÀ MẸ VIỆT NAM ANH HÙNG 12

1.1 Cơ sở lý luận về việc thực hiện chính sách danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng 12 1.2 Một số khái niệm cơ bản 13 1.3 Nội dung chính sách về danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng 16 1.4 Nội dung thực hiện chính sách về danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà

mẹ Việt Nam anh hùng 20 1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến tổ chức thực hiện hiện chính sách về danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng 26

Chương 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH VỀ DANH HIỆU VINH DỰ NHÀ NƯỚC BÀ MẸ VIỆT NAM ANH HÙNG TẠI TỈNH QUẢNG NAM HIỆN NAY 31

2.1 Khái quát đặc điểm tình hình tỉnh Quảng Nam 31 2.2 Khái quát chung về thực hiện chính sách về danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng tại tỉnh Quảng Nam 34 2.3 Đánh giá thực trạng thực hiện chính sách về danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng tại tỉnh Quảng Nam 36

Chương 3: GIẢI PHÁP THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH VỀ DANH HIỆU VINH DỰ NHÀ NƯỚC BÀ MẸ VIỆT NAM ANH HÙNG TẠI TỈNH QUẢNG NAM HIỆN NAY 55

3.1 Quan điểm chỉ đạo của Đảng, Nhà nước 55 3.2 Một số giải pháp thực hiện chính sách về danh hiệu vinh dự Nhà nước

Bà mẹ Việt Nam anh hùng tại tỉnh Quảng Nam 56

Trang 5

3.3 Một số đề xuất, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực thi chính sách về danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng 63

KẾT LUẬN 72 TÀI LIỆU THAM KHẢO 74

Trang 6

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Đánh giá kết quả người dân biết về chính sách về danh hiệu vinh dự

Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng (Khảo sát 50 người) 38 Bảng 2.2 Đánh giá ý kiến phản hồi của người dân về các hình thức tuyên

truyền về chính sách về danh hiệu vinh dự Nhà nước 39 Bảng 2.3 Kết quả đánh giá của người dân về việc thực hiện chính sách danh

hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” của cán bộ thực hiện chính sách (Khảo sát 50 người) 42 Bảng 2.4 Đánh giá về thực hiện các giải pháp nhằm làm tốt chính sách về

danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng 45 Bảng 3.1: Thống kê một số trường hợp tồn đọng, đề nghị thu hồi danh hiệu

vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng theo công văn của Ủy ban nhân dân một số tỉnh trong đó có tỉnh Quảng Nam 61

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Từng thời kỳ, từng giai đoạn cách mạng, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành rất nhiều chính sách khen thưởng trong đó có các chính sách khen thưởng người có công với cách mạng như Bằng Có công với nước, Huân chương Kháng chiến, Huy chương Kháng chiến chống pháp và chống Mỹ… đặc biệt là chính sách khen thưởng đối với những phụ nữ Việt Nam có nhiều cống hiến, hi sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế Chính sách khen thưởng danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà

mẹ Việt Nam anh hùng đã được thực hiện từ năm 1994 thế kỷ XX cho đến nay và sẽ còn tiếp tục thực hiện ở những năm tiếp theo, thể hiện đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” tốt đẹp của dân tộc, của Nhà nước và cộng đồng xã hội, nhằm ghi nhận, tôn vinh những bà mẹ bản thân là liệt sỹ, có chồng, con là liệt

sỹ đã hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc và thực hiện nghĩa vụ quốc tế Năm 1993, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Pháp lệnh danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng và Chính phủ ban hành Nghị định số 176-CP ngày 20 tháng 10 năm 1994, trên cơ sở đề nghị của Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch nước Lê Đức Anh đã ký quyết định tặng và truy tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng đợt đầu tiên cho 19.879 bà mẹ trong cả nước, trong đó có các Bà mẹ tiêu biểu: Mẹ Nguyễn Thị Thứ ở Điện Thắng, Điện Bàn, Quảng Nam có 9 con, 1 rể, 2 cháu ngoại là liệt sĩ; mẹ Phạm Thị Ngư ở Hàm Hiệp, Hàm Thuận, Bình Thuận có 8 con là liệt sĩ, bản thân

mẹ là Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân; mẹ Trần Thị Mít ở Hải Phú, Hải Lăng, Quảng Trị có 9 con là liệt sĩ; Mẹ Nguyễn Thị Rành, ở Phước Hiệp,

Củ Chi, TP Hồ Chí Minh có 8 con là liệt sĩ, bản thân mẹ là Anh hùng Lực

Trang 8

Quảng Trị có 8 con thì 5 con là liệt sĩ (3 người con khác là: Đại tướng Đoàn Khuê, Trung tướng Đoàn Chương và Đại tá Đoàn Thúy Qua các phương tiện thông tin đại chúng và qua dư luận, nhân dân và cộng đồng xã hội rất hoan nghênh chính sách này của Nhà nước, từ đó đã dấy lên phong trào thi đua xây dựng “Nhà tình nghĩa”, nhận phụng dưỡng Bà mẹ Việt Nam anh hùng đối với với các bà mẹ còn sống, neo đơn [2]

Tiếp tục thực hiện chính sách về danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng, năm 2013, Ủy ban Thường vụ Quốc hội tiếp tục ban hành Pháp lệnh về danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 56/2013/NĐ-CP ngày 22 tháng 5 năm

2013 hướng dẫn thực hiện Pháp lệnh; Bộ Nội vụ, Bộ Quốc phòng, và Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã ban hành Thông tư liên tịch số 03/2014/TTLT-BNV-BLĐTBXH-BQP ngày 10 tháng 10 năm 2014 giữa Bộ Nội vụ, Bộ Quốc phòng, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ngày 10 tháng 10 năm 2014 hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 56/2013/NĐ-CP của Chính phủ Trên cơ sở tổng hợp các báo cáo của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương về tình hình thực hiện Pháp lệnh danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng, tính đến ngày 22 tháng 02 năm 2018, sau hơn 04 năm triển khai thực hiện Pháp lệnh danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng năm 2013, cả nước đã có 81.687 Bà mẹ được phong tặng và truy tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng (trong đó phong tặng 11.895 Bà mẹ, truy tặng 69.792 Bà mẹ) [2] Nhìn chung, các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đã cơ bản hoàn thành chính sách này

Tuy nhiên, qua văn bản của Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương báo cáo tình hình, kết quả thực hiện chính sách về những trường hợp tồn đọng cuối năm 2018, cả nước hiện còn khoảng 4.500 trường

Trang 9

hợp chưa được làm thủ tục đề nghị phong tặng, truy tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng Các trường hợp này hầu hết là vướng mắc trong quy định về đối tượng, thủ tục hồ sơ, các địa phương gặp nhiều khó khăn trong thực hiện Nhiều thân dân của các bà mẹ đang làm thủ tục đề nghị phong tặng, truy tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng hoặc đã hoàn thất thủ tục đã lâu nhưng đến nay vẫn chưa có kết quả, tỏ ra rất bức xúc Họ đã viết đơn thư hoặc trực tiếp đến các cơ quan có trách nhiệm thực hiện chính sách này để yêu câu cầ trả lời, làm rõ hoặc đề nghị đề nghị Đoàn Đại biểu Quốc hội địa phương mình gửi câu hỏi chất vấn Chính phủ, thành viên của Chính phủ trong các phiên chất vấn tại kỳ họp Quốc hội hoặc làm đơn thư gửi trực thiếp Thủ tướng Chính phủ yêu cầu trả lời [3, 31]

Trong những năm qua, tỉnh Quảng Nam đã thực hiện chính sách trên hết sức nghiêm túc Ngoài những chính sách về danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà

mẹ Việt Nam anh hùng theo quy định của Trung ương, tỉnh đã huy động từ tỉnh đến xã và các tổ chức, cá nhân tham gia tích cực vào việc thực hiện chính sách người có công bằng những việc làm cụ thể như: Tham gia huy động, đóng góp quỹ đền ơn đáp nghĩa; xây nhà tình nghĩa, nhà Đại đoàn kết, các hoạt động tri ân, công tác phối hợp giữa Hội Cựu chiến binh và Đoàn Thanh niên dâng hương tại các nghĩa trang; thường xuyên chăm sóc, phụng dưỡng các Bà mẹ Việt Nam anh hùng…Đây là những việc làm rất thiết thực, cụ thể,

đã tác động một cách tích cực đến các đối tượng chính sách, đến các bà mẹ Việt Nam anh hùng, nhằm giúp cho các đối tượng này ổn định cuộc sống và tạo niềm tin của các đối tượng chính sách đối với Đảng và Nhà nước, góp phần giáo dục lịch sử, phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc

Bên cạnh những kết quả đạt được trong việc thực hiện chính sách người

có công nói chung và chính sách về danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt

Trang 10

hạn chế như đội ngũ cán bộ công chức được đảm nhiệm công tác lao động thương binh xã hội, công tác thi đua khen thưởng ở cơ sở không ổn định, còn trẻ chưa hiểu biết nhiều về chính sách, kiến thức về văn hóa lịch sử còn hạn chế nên việc tham mưu tổ chức thực hiện chưa đáp ứng được yêu cầu công tác Thêm vào đó, điều kiện đường sá, hạ tầng thông tin còn hạn chế nên việc phổ biến, tuyên truyền, triển khai đến từng đối tượng chính sách còn mức độ Bên cạnh đó, một số văn bản hướng dẫn còn chậm, thiếu đồng bộ và chưa rõ ràng Thủ tục hành chính trong việc xét đề nghị phong tặng, truy tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng còn nhiều bước và gây khó khăn cho các đối tượng khi kê khai, lập hồ sơ từ khâu xác nhận con nuôi, đối tượng là thân nhân của liệt sỹ, người được ủy quyền làm thủ tục cho các bà mẹ… Công tác giám sát thiếu chặt chẽ trong quá trình xét duyệt, thẩm định nên việc xác định đối tượng được hưởng chính sách còn chưa đúng đối tượng, chưa đúng tiêu chuẩn theo quy định, việc chi trả chế độ chưa được giám sát chặt chẽ….Những tồn tại, bất cập trên đây đã làm cho chính sách danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” tác động đến các đối tượng được hưởng thụ không được như định hướng chỉ đạo ban đầu của Đảng và Nhà nước, chưa đáp ứng được nguyện vọng, mong muốn của nhân dân

Từ thực tiễn đó, tác giả chọn đề tài “Thực hiện chính sách về danh hiệu

vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng tại tỉnh Quảng Nam hiện nay,

làm đề tài luận văn Hy vọng rằng, đề tài sẽ góp phần tuyên tuyền về thực hiện chính sách về danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng ở tỉnh Quảng Nam nói riêng và trong toàn quốc noi chung trong giai đoạn hiện nay đến được mọi thành phần, tầng lớp trong xã hội nhằm chung tay cùng Nhà nước thực hiện tốt việc chăm sóc, phụng dưỡng những Bà mẹ Việt Nam anh hùng còn sống, quan tâm đến thân nhân của các bà mẹ đã từ trần, các chế

độ đãi ngộ đối với thân nhân của bà mẹ, giáo dục truyền thống yêu nước, tự

Trang 11

tôn dân tộc, thể hiện đạo lý “Uống nước Nhớ nguồn”, “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây” của dân tộc Việt Nam

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Chính sách về danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng là một chính sách lớn của Đảng và Nhà nước ta Chính vì vậy, đã có nhiều công trình nghiên cứu, tài liệu, bài viết viết về vấn đề chính sách khen thưởng, chính sách về danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng, trong

đó có ít nhiều đã đề cập đến công tác này ở góc độ lý luận, chính sách, thực tiễn

Trong thời gian qua, với góc độ người làm công tác quản lý Nhà nước về công tác thi đua khen thưởng, học viên đã được tiếp cận những các chính sách của Nhà nước về danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng, được tiếp cận nghiên cứu của các Giáo sư, Phó Giáo sư, luận án của các tiến sỹ, luận văn của các thạc sỹ về lĩnh vực thi đua khen thưởng, về chính sách công

và thực thi chính sách công Trong các nghiên cứu về công tác khen thưởng đó, cũng đã ít nhiều đã đề cập đến công tác khen thưởng danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng Cụ thể:

PGS.TS Trương Quốc Bảo (2010), Sách Vận dụng tư tưởng Hồ Chí

minh về thi đua yêu nước trong xây dựng và hoàn thiện pháp luật thi đua, khen thưởng Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội [14]

Trong nghiên cứu tác giả đã đề cập đến vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh

đề xây dựng các chính sách khen thưởng nói chung và các chính sách đãi ngộ khen thưởng người có công với cách mạng nói riêng trong đó có chính sách đối với Bà mẹ Việt Nam anh hùng

Ths Nguyễn Hữu Đoạt (2010) Luận văn thạc sĩ“Hoàn thiện văn bản quy

phạm pháp luật đối với công tác thi đua, khen thưởng ở Việt Nam hiện nay”.

Trang 12

khen thưởng ở nước ta hiện nay Tác giả kiến nghị các cơ quan xây dựng chính sách thông qua các văn bản pháp luật cần nghiên cứu nhiều hơn về thực tiễn; nhất là những chính sách đãi ngộ người có công với cách mạng để thật sự chế độ đãi ngộ đó đem đến cho người có công với cách mạng những ấm áp; làm vơi đi những mất mát của họ đã cống hiến cho đất nước trong sự nghiệp đấu tranh thống nhất và bảo vệ Tổ quốc

Ths Trần Thị Hà (2010), Đề tài độc lập cấp Nhà nước: “Cơ sở lý luận

và thực tiễn đổi mới thi đua, khen thưởng trong giai đoạn hiện nay" [18]

Trong nghiên cứu này, tác giả đã trình bày những thành tựu trong việc xây dựng và tổ chức thực hiện các chính sách về thi đua khen thưởng trong đó có liên quan đến chính sách khen tưởng người cố công với cách mạng, chính

sách về danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng Tác giả cũng

đã nêu lên những bất cập còn tồn tại trong một số chính sách thi đua khen thưởng trong đó có chính sách ưu đãi người có công với cách mạng ở nước ta hiện nay Nghiên cứu cũng đánh giá những hạn chế trong việc thực hiện chính sách thi đua khen thưởng; đặc biệt là tổ chức thực hiện chính sách ưu đãi người có công với cách mạng còn nhiều thủ tục hành chính rườm rà, chưa cụ thể, rõ ràng; biện pháp tổ chức, tuyên truyền pháp luật về thi đua khen thưởng

Tác giả Nguyễn Văn Hồi (2013) trong báo cáo tham luận tại Hội nghị triển khai Đề án 32 của Chính phủ đã nêu rõ sự quan tâm của Đảng và Nhà nước

ta đến vấn đề an sinh xã hội trong đó có chính sách đối với người có công với cách mạng: “Ðảng và Nhà nước ta luôn chú trọng, quan tâm đến việc xây dựng và tổ chức thực hiện các chính sách an sinh xã hội, coi đây vừa là mục tiêu, vừa là động lực để phát triển bền vững, ổn định chính trị - xã hội, thể hiện bản chất tốt đẹp của Nhà nước ta Hệ thống pháp luật và chính sách an sinh xã hội ngày càng được bổ sung và hoàn thiện Đối tượng thụ hưởng

Trang 13

chính sách ngày càng mở rộng, mức trợ giúp xã hội được nâng lên theo điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước Nguồn lực đầu tư phát triển các lĩnh vực xã hội ngày càng được tăng cường Ðời sống vật chất và tinh thần của người có công, người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số và các đối tượng cần trợ giúp

xã hội được cải thiện, góp phần củng cố lòng tin của nhân dân và ổn định chính trị - xã hội Bên cạnh đó cần quan tâm đến các đối tượng đặc biệt như người có công với cách mạng…” [21]

Ths Dương Thị Thanh (2007): “Đổi mới quản lý nhà nước về công tác thi

đua, khen thưởng ở địa phương”; [26] Trong luận văn thạc sĩ, tác giả đã nêu những nguyên nhân của những bất cập trong việc thực hiện chính sách thi đua khen thưởng; trong đó có chính sách khen thưởng người có công cách mạng, người tham gia kháng chiến, chính sach khen thưởng và đãi ngộ đối với Bà mẹ Việt Nam anh hùng tại tỉnh Ninh Bình Tác giả cho rằng cần phải đổi mới trong việc xây dựng chính sách khen thưởng, chính sách ưu đãi người có công với cách mạng trong đó có danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng Trong tổ chức thực hiện chính sách này phải hết công tâm; phải có sự giám sát chặt chẽ của cơ quan Nhà nước, của Mặt trận và các đoàn thể chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội và người dân để đảm bảo chính sách được thực hiện minh bạch, đúng đối tượng được thụ hưởng và đúng chế độ mà Nhà nước đã quy định Tuy nhiên, tất cả các công trình nghiên cứu trên đều chưa nghiên cứu đi sâu vào nội dung thực thi chính sách danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng ở một địa phương, tìm ra những vướng mắc, bất cập trong tổ chức thực hiện, đề ra những giải pháp khắc phục để giải quyết những trường tồn đọng Đây là một khoảng trống cần thiết phải được nghiên cứu, phân tích,

đề ra giải pháp giải quyết triệt để những vướng mắc, tồn tại nhằm nâng cao hiệu quả trong thực hiện chính sách danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt

Trang 14

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở lý luận về thực hiện chính sách danh hiệu vinh dự Nhà nước

Bà mẹ Việt Nam anh hùng và đánh giá thực trạng thực hiện chính sách về

danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng tại tỉnh Quảng Nam

để đề xuất một số giải pháp hoàn thiện thực hiện chính sách về danh hiệu vinh

dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng tại tỉnh Quảng Nam trong những năm tới

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Xây dựng cơ sở lý luận về thực hiện chính sách về danh hiệu vinh dự

Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng;

- Đánh giá thực trạng thực hiện chính sách về danh hiệu vinh dự Nhà

nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng ở tỉnh Quảng Nam hiện nay;

- Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện thực hiện chính sách về danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng tại tỉnh Quảng Nam hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

- Giải pháp thực hiện chính sách về danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ

Việt Nam anh hùng

- Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách về danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng tại tỉnh Quảng Nam hiện nay

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về thời gian: Trong giai đoạn 2015 - 2019

- Về không gian: Nghiên cứu việc thực hiện chính sách về danh hiệu vinh

dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng trên địa bàn tỉnh Quảng Nam

Trang 15

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

Dựa trên quan điểm chỉ đạo của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về chính sách người có công đặc biệt là chính sách về danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng như Pháp lệnh về danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng năm 1993 và năm 2012, Nghị định 176-

CP ngày 20 tháng 10 năm 1994 và Nghị định số 56/2013/NĐ-CP ngày 22 tháng 5 năm 2013 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Pháp lệnh danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng, Thông tư liên tịch số 03/2014/TTLT-BNV-BQP-BLĐTBXH ngày 10 tháng 10 năm

2014 giữa Bộ Nội vụ, Bộ Quốc phòng và Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội quy định, hướng dẫn tổ chức thực hiện Các nghị định hướng quy định về chế độ ưu đãi người có công trong đó có Bà mẹ Việt Nam anh hùng như Nghị định số 31/2013/NĐ-CP ngày 09 tháng 4 năm 2013, Nghị định số 20/2015/NĐ-CP ngày 14 tháng 02 năm 2015 của Chính phủ, Nghị định số 99/2018/NĐ-CP ngày 12 tháng 7 năm 2018 của Chính phủ

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Trong luận văn, tác giả sử dụng một số phương pháp nghiên cứu khoa học như sau:

- Phương pháp phân tích, tổng hợp, đánh giá chính sách

Trên cơ sở tổ chức thực hiện chính sách về danh hiệu vinh dự Nhà nước

Bà mẹ Việt Nam anh hùng trên địa bàn tỉnh Quảng Nam, tác giả tiến hành phân tích các bước trong quá trình tổ chức thực hiện chính sách, từ đó tiến hành tổng hợp và đánh giá việc tổ chức thực hiện chính sách về danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng ở tỉnh Quảng Nam

Trang 16

- Phương pháp thu thập thông tin

Tiến hành thu thập và kế thừa thông tin từ các nguồn có sẵn liên quan đến đề tài nghiên cứu của cá nhân bao gồm các văn kiện, tài liệu, nghị quyết,

đề án, kế hoạch của Đảng, chính sách của Nhà nước ở Trung ương và địa phương đặc biệt là của tỉnh Quảng Nam, các công trình nghiên cứu của các giáo sư, tiến sỹ, luận văn của các thạc sỹ, các báo cáo tổng kết, số liệu thống kê…của các cơ quan liên quan trực tiếp đến việc thực hiện chính sách về danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng, đơn thư của công dân

- Phương pháp điều tra bảng hỏi

Nhằm đánh giá khách quan, trung thực việc thực hiện chính sách về danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng trên địa bàn tỉnh Quảng Nam Luận văn có sử dụng phương pháp khảo sát điều tra: xây dựng bảng hỏi phỏng vấn thu thập thông tin lấy ý kiến của một số cán bộ, công chức cấp huyện, cấp xã, người dân ở tỉnh Quảng Nam về thực hiện chính sách

về danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng ở các xã, phường, thị trấn, huyện, thành phố trên địa bàn tỉnh Quảng Nam; các văn bản triển khai danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng của tỉnh Quảng Nam, công văn thống kê tồn đọng các trường hợp đề nghị phong tặng, truy tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng của một số tỉnh, đơn thư đề nghị của công dân

dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng

Trang 17

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1 Ý nghĩa lý luận

Luận văn hệ thống hóa cơ sở lý luận về thực hiện chính sách về danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng từ chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước trong thời gian qua

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Luận văn phản ánh được thực trạng và đề xuất được một số giải pháp thực hiện chính sách về danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng tại tỉnh Quảng Nam nhằm giải quyết dứt điểm 240 trường hợp còn tồn đọng và những trường hợp tiếp theo

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn

Trang 18

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH VỀ

DANH HIỆU VINH DỰ NHÀ NƯỚC BÀ MẸ VIỆT NAM ANH HÙNG

1.1 Cơ sở lý luận chính sách danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng

Trong những năm qua, Ban Chấp hành Trung ương khóa XI (Hội nghị Trung ương lần thứ 5) đã ban hành Nghị quyết số 15-NQ/TW ngày 01 tháng 6 năm 2012 một số vấn đề về chính sách xã hội giai đoạn 2012 – 2020; Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng (khoá IX) ban hành Chỉ thị số 35-CT/TW, ngày 21/5/2004 “Về việc tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, phát hiện, bồi dưỡng, tổng kết và nhân điển hình tiên tiến”; Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị số 39-CT/TW ngày 21 tháng 5 năm 2004 “Về việc tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, phát hiện, bồi dưỡng, tổng kết và nhân điển hình tiên tiến”, khen thưởng người có công cách mạng

Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Pháp lệnh danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng ngày 29 tháng 8 năm 1994 và Pháp lệnh

số 05/2012/UBTVQH13 ngày 20 tháng 10 năm 2012, Về sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh quy định danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng

Thực hiện Pháp lệnh về danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” năm1993 và năm 2012, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 176-NĐ/CP ngày 23 tháng 10 năm 1994 và số Nghị định số 56/2013/NĐ-CP ngày

22 tháng 5 năm 2013 của Chính phủ, Nghị định số 31/2013/NĐ-CP ngày 09 tháng 4 năm 2013, Nghị định số 20/2015/NĐ-CP ngày 14 tháng 02 năm 2015 của Chính phủ quy định mức trợ cấp, phụ cấp ưu đãi đối với người có công cách mạng trong đó có Bà mẹ Việt Nam anh hùng, Thông tư liên tịch số

Trang 19

Nội vụ, Bộ Quốc phòng và Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội quy định, hướng dẫn thực hiện Nghị định số 56/2013/NĐ-CP ngày 22 tháng 5 năm

2013 của Chính phủ Điều đó đã chứng tỏ Đảng, Nhà nước ta rất quan tâm đến chính sách ngưới có công, chính sách đối với Bà mẹ Việt Nam anh hùng, những người đã có nhiều cống hiến, hy sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và thực hiện nghĩa vụ quốc tế Chính sách này không chỉ thực hiện trong một giai đoạn mà còn tiếp tục thực hiện lâu dài nhằm tôn vinh, giáo dục truyền thống lịch sử cho các thế hệ con cháu mai sau, làm giàu

giá trị truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc

1.2 Một số khái niệm cơ bản

1.2.1 Khái niệm chính sách công

Hiện nay, có rất nhiều định nghĩa khác nhau của các học giả trong và ngoài nước về chính sách công Theo tác giả Thomas Dye (1972): Chính sách công là bất kỳ những gì nhà nước lựa chọn làm hay không làm Tác giả William Jenkins (1978) lại cho rằng: Chính sách công là tập hợp các quyết định liên quan với nhau do một hoặc một nhóm nhà hoạt động chính trị ban hành, liên quan tới lựa chọn các mục tiêu và các phương tiện để đạt mục tiêu trong một tình huống xác định thuộc phạm vi thẩm quyền

Tác giả Nguyễn Khắc Bình cho rằng: Chính sách công là hoạt động mà Chính phủ chọn thực hiện hoặc không thực hiện để điều hòa các xung đột trong

xã hội nhằm thúc đẩy xã hội phát triển theo định hướng nhất định [15]

- PGS.TS Đỗ Phú Hải định nghĩa về chính sách công ở Việt Nam như sau:

“Chính sách công là một tập hợp các quyết định có liên quan để lựa chọn mục tiêu

và những giải pháp, công cụ chính sách nhằm giải quyết các vấn đề chính sách theo mục tiêu tổng thể đã xác định của đảng chính trị cầm quyền” [19]

- PGS.TS Nguyễn Hữu Hải khái niệm: “Chính sách công là kết quả ý

Trang 20

liên quan với nhau, bao hàm trong đó định hướng mục tiêu và cách thức giải quyết những vấn đề công trong xã hội” [20]

- PGS.TS Lê Chi Mai khái niệm chính sách công theo một số nội dung sau đây:

+ Chủ thể ban hành chính sách công mang phạm vi rộng (ngành, lĩnh vực, toàn quốc) là nhà nước do các cơ quan trong bộ máy nhà nước ban hành

và cơ quan Nhà nước và cũng có có thể trở thành chủ thể ban hành các “chính sách tư” khi ban hành các chính sách điều tiết hoạt động trong phạm vi tổ chức mình, đoàn thể hay cơ quan riêng biệt đó (phạm vi hẹp, nội bộ) Do đó, các cơ quan trong bộ máy nhà nước vừa là chủ thể ban hành chính sách công cũng vừa là chủ thể ban hành chính sách tư Sự khác biệt là ở chỗ các chính sách tư do các cơ quan nhà nước ban hành là những chính sách nhằm giải quyết những vấn đề thuộc về nội bộ cơ quan đó, không có hiệu lực thi hành bên ngoài cơ quan cả về mặt vị trí địa lý cũng như chức năng, nội quy, quy chế hoạt động của cơ quan đó Chính sách do nhà nước ban hành gọi là chính sách công và có thể coi là chính sách nhà nước

+ Các quyết định này là những quyết định hành động bao gồm cả những hoạt động thực tiễn Nó không chỉ thể hiện dự định của nhà hoạch định chính sách mà còn bao gồm những hành động thực hiện các dự định theo ý chí của chủ thể ban hành

+ Chính sách công trước hết thể hiện dự định của đảng chính trị, các nhà hoạch định chính sách nhằm làm thay đổi hoặc duy trì một hiện trạng nào

đó Nó phải bao gồm các hành động thực hiện dự định mục tiêu và mang lại kết quả trong thực tế Nếu có ban hành mà không thực thi thì những định hướng đó không được coi là chính sách hoặc thất bại chính sách [22]

Trong nghiên cứu này, học viên sử dụng khái niệm của tác giả Nguyễn Khắc Bình

Trang 21

1.2.2 Khái niệm thực hiện chính sách công

Như chúng ta đã biết, thực hiện chính sách công là một giai đoạn của chu trình chính sách công Thực hiện chính sách có vai trò quan trọng và quyết định cho chính sách công trở thành hiện thực trong đời sống sau khi được Nhà nước ban hành Có nhiều định nghĩa về thực hiện chính sách công Tác giả Nguyễn Khắc Bình cho rằng:

“Thực hiện chính sách công là quá trình vận động, thực hiện ý chí của

nhà nước trong chính sách thành hiện thực thông qua các cơ chế quản lý, các giải pháp với các đối tượng nhằm đạt mục tiêu đã xác định để thúc đẩy xã hội phát triển theo định hướng” [16]

Trong nghiên cứu đề tài này, luận văn sử dụng khái niệm của tác giả

Nguyễn Khắc Bình để thực hiện các nội dung nghiên cứu của đề tài

1.2.3 Khái niệm danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng

Tại Điều 1 Pháp lệnh về danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng năm 1993 và Điều 1 Pháp lệnh về danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà

mẹ Việt Nam anh hùng năm 2012 quy định: “Danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà

mẹ Việt Nam anh hùng để tặng hoặc truy tặng những bà mẹ có nhiều cống hiến, hy sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế” [27, 30]

Khái niệm này đã được sử dụng, áp dụng trong chính sách trong quá trình tổ chức thực hiện đối với những cá nhân có đủ điều kiện, tiêu chuẩn

1.2.4 Khái niệm chính sách về danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng

Chính sách về danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng

là hệ thống những văn bản chỉ đạo, quy định của Đảng và Nhà nước để tặng,

Trang 22

truy tặng những bà mẹ đã có nhiều cống hiến, hy sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế

1.2.5 Khái niệm thực hiện chính sách về danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng

Từ định nghĩa về thực hiện chính sách công của tác giả Nguyễn Khắc Bình nêu trên, học viên có thể định nghĩa thực hiện chính sách về danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng như sau:

Thực hiện chính sách về danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng là quá trình vận động, thực hiện ý chí của Nhà nước trong chính sách về danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng thành hiện thực thông qua các cơ chế quản lý, các giải pháp đối với các đối tượng nhằm đạt mục tiêu đã xác định để thúc đẩy xã hội phát triển theo định hướng, đảm

bảo công bằng và hài hòa lợi ích giữa các đối tượng trong xã hội”

1.3 Nội dung chính sách về danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng

Tại Khoản 1, Điều 59, Hiến pháp 2013 quy định: “Nhà nước, xã hội tôn vinh, khen thưởng, thực hiện chính sách ưu đãi đối với người có công với nước”, khẳng định quan điểm chỉ đạo của nhà nước quan tâm đến những người có công với cách mạng, người tham gia kháng chiến 03 thời kỳ, Bà mẹ

Việt Nam anh hùng, thương binh, liệt sỹ, bệnh binh [23]

Chính sách về danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng

là một chính sách thể hiện bản chất ưu việt của chế độ, xã hội ở nước ta Từ đường lối của Đảng, Nhà nước ta đã ban hành hệ thống chính sách ưu đãi người có công với cách mạng nói chung và Chính sách về danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng nói riêng như Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng số 26/2005/PL-UBTVQH11 ngày 29 tháng 6 năm 2005; Pháp lệnh số 04/2012/UBTVQH13 ngày 16 tháng 7 năm 2012 sửa đổi, bổ

Trang 23

sung một số điều của Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng; Pháp lệnh quy định danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng ngày 29 tháng 8 năm 1994; Pháp lệnh số 05/2012/UBTVQH13 ngày 20 tháng 10 năm

2012 sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh quy định danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng Các chính sách đó được tổ chức thực hiện rất tốt trong nhiểu năm qua và đã đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận

Nội dung của chính sách về danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng được thể hiện trong các Pháp lệnh quy định danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” năm 1993; Nghị định số 176-CP ngày

20 tháng 10 năm 1994 quy định thi hành Pháp lệnh danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng năm1994; Pháp lệnh danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” sửa đổi và bổ sung năm 2012, Nghị định

số 56/2013/NĐ-CP ngày 22 tháng 5 năm 2013 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Pháp lệnh danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng năm 2012; Thông tư liên tịch số 03/2014/TTLT-BNV-BQP-BLĐTBXH ngày

10 tháng 10 năm 2014 giữa Bộ Nội vụ, Bộ Quốc phòng và Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội; Nghị định số 31/2013 NĐ-CP ngày 09 tháng 4 năm

2013 quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành một số điều của pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng; Nghị định số 20/2015 NĐ-CP ngày 14 tháng

02 năm 2015 quy định về mức trợ cấp, phụ cấp ưu đãi đối với người có công với cách mạng Cụ thể là:

Những trường hợp được Chủ tịch nước tặng hoặc truy tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng được hưởng chế độ ưu đãi theo quy định của Nhà nước, như sau:

Đối với Bà mẹ được phong tặng (còn sống).

Thứ nhất, Khoản 1, Điều 3, Nghị định 56/2013/NĐ-CP quy định như sau:

Trang 24

1 Bà mẹ được tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng được tặng Bằng, Huy hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng, được hưởng chế

độ ưu đãi theo quy định của pháp luật về thi đua, khen thưởng và pháp luật về

ưu đãi người có công với cách mạng

2 Bà mẹ được truy tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng thì thân nhân thờ cúng bà mẹ được nhận Bằng, Huy hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng, được hưởng các chế độ theo quy định của pháp luật về thi đua, khen thưởng và pháp luật về ưu đãi người có công với cách mạng [9]

Thứ hai, ngoài Khoản 1, Điều 23 Nghị định 31/2013/NĐ-CP quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành một số điều của pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng và Nghị định số 20/2015/NĐ-CP về mức trợ cấp, phụ cấp ưu đãi đối với người có công với cách mạng thì Bà mẹ được phong tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng được hưởng trợ cấp một lần bằng 20 lần mức chuẩn [10, 11]

Tại Khoản 1, Điều 1, Nghị định số 20/2015/NĐ-CP về mức trợ cấp,

phụ cấp ưu đãi đối với người có công với cách mạng quy định: “Mức chuẩn

để xác định các mức trợ cấp, phụ cấp ưu đãi đối với người có công với cách mạng theo quy định tại Nghị định này là 1.318.000 đồng.” [11]

Như vậy, số tiền mà bà mẹ được phong tặng danh hiệu bà mẹ Việt Nam anh hùng được hưởng một lần là: 1.318.000 x 20 = 26.360.000 đ

Thứ ba, được hưởng phụ cấp hàng tháng từ ngày Chủ tịch nước ký quyết định phong tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng

* Trường hợp Mẹ có 1 Liệt sĩ được hưởng tổng số tiền 3.741.000 đồng, gồm:

– Trợ cấp : 1.318.000 đồng

– Phụ cấp: 1.105.000 đồng

Trang 25

– Trợ cấp người phục vụ Bà mẹ Việt Nam anh hùng sống ở gia đình: 1.318.000 đồng.

* Trường hợp Mẹ có 2 liệt sĩ được hưởng tổng số tiền 5.059.000 đồng, gồm:

Đối với Bà mẹ được truy tặng (đã từ trần).

Thứ nhất, căn cứ khoản 2, điều 3 Nghị định 56/2013/NĐ-CP quy định

như sau: “Bà mẹ được truy tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt

Nam anh hùng thì thân nhân thờ cúng bà mẹ được nhận Bằng, Huy hiệu Bà

mẹ Việt Nam anh hùng, được hưởng các chế độ theo quy định của pháp luật về thi đua, khen thưởng và pháp luật về ưu đãi người có công với cách mạng.” [9]

Thứ hai, khoản 4, điều 23 Nghị định 31/2013 NĐ-CP quy định: “Khi

Bà mẹ Việt Nam anh hùng chết, người tổ chức mai táng được nhận mai táng

Trang 26

phí; đại diện thân nhân được hưởng trợ cấp một lần bằng ba tháng trợ cấp, phụ cấp ưu đãi.” [10].

Như vậy, tổng cộng thân nhân thờ cúng Bà mẹ được hưởng là: 3 x

“Đối với bà mẹ được truy tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt

Nam anh hùng thì khoản tiền một lần và hiện vật khen thưởng được trao cho người chồng; nếu người chồng đã từ trần thì trao cho con hoặc vợ liệt sĩ thường xuyên giữ trách nhiệm thờ cúng bà mẹ; trường hợp bà mẹ không còn chồng, con thì trao cho người thân gần nhất chịu trách nhiệm thờ cúng, chăm sóc phần mộ của bà mẹ, theo đề nghị bằng văn bản của chính quyền cấp xã nơi bà mẹ cư trú khi còn sống.”.[7]

Tuy nhiên, chế độ về danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng và người có công cách mạng lại được điều chỉnh lại mới nhất tại Nghị định số 99/2018/NĐ-CP ngày 12 tháng 7 năm 2018 của Chính phủ về trợ cấp

là hàng tháng 1.270.000 đồng cũng gây dư luận trong quần chúng nhân dân

do chi trả chậm đối với những trường hợp đang hướng theo Nghị định số 20/2015/NĐ-CP [9]

1.4 Nội dung thực hiện chính sách về danh hiệu vinh dự Nhà nước

Bà mẹ Việt Nam anh hùng

1.4.1 Ý nghĩa của việc tổ chức thực hiện chính sách về danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng

Tổ chức thực hiện chính sách về danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng là công tác rất quan trọng Thực hiện chính sách này không chỉ giúp ổn định đời sống của đối tượng đặc biệt này mà còn góp phần

Trang 27

vào sự ổn định đời sống của các đối tượng người có công với cách mạng, giáo dục truyền thống lịch sử, lòng yêu nước cho các thế hệ mai sau

1.4.2 Nội dung quy trình thực hiện chính sách về danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng

1.4.2.1 Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách về danh hiệu

vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng

Trong quy trình thực hiện chính sách về danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà

mẹ Việt Nam anh hùng, trước hết phải tiến hành xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện một cách chi tiết Kế hoạch phải rõ ràng với các nội dung cụ thể như sau:

- Kế hoạch tổ chức điều hành:

Đề xuất cơ quan chủ trì thực hiện; phân công cụ thể về nhiệm vụ, trách nhiệm cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị Ở cấp cơ sở phải phân công cụ thể nhiệm vụ của từng cán bộ, công chức trong thực hiện chính sách danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng Trong phân công tổ chức điều hành chú ý không để việc chồng chéo nhiệm vụ giữa cơ quan này với cơ quan khác hoặc các cá nhân với nhau

- Kế hoạch cung cấp các nguồn lực:

Dự kiến về cơ sở vật chất, các công cụ, phương tiện kỹ thuật phục vụ tổ chức thực hiện, đảm bảo cung cấp đủ nguồn lực tài chính, con người nhằm đảm bảo việc triển khai thực hiện chính sách danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà

mẹ Việt Nam anh hùng diễn ra được thuận lợi; đạt hiệu quả cao nhất

- Kế hoạch thời gian thực hiện:

Dự trù thời gian thực hiện từng nhiệm vụ để đạt được từng mục tiêu trên

cơ sở của từng giải pháp chính sách như thời gian của các bước thực hiện chính sách danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng từ phổ

Trang 28

biến, tuyên truyền chính sách, quá trình thực hiện đến tổng kết đánh giá và rút kinh nghiệm thực hiện chính sách

- Kế hoạch kiểm tra, đôn đốc thực hiện chính sách:

Dự kiến về tiến độ hình thức, phương pháp kiểm tra, giám sát tổ chức thực hiện chính sách về quy định nội dung, quy chế về tổ chức điều hành, về trách nhiệm, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan nhà nước; sự phối hợp với

tổ chức Đảng ở cơ sở, phân công công chức tham gia kiểm tra thực hiện chính sách danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng

1.4.2.2 Phổ biển, tuyên truyền chính sách về danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng

Tuyên truyền, phổ biến chính sách về danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà

mẹ Việt Nam anh hùng là nhiệm vụ quan trọng trong quá trình thực hiện chính sách của các cơ quan Nhà nước Phổ biến, tuyên truyền làm cho các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội và các đối tượng chính sách và mọi người dân nhận biết về mục đích, yêu cầu, đầy đủ, chính xác của chính sách để các bên

có liên quan tự giác tham gia thực hiện Đồng thời giúp cho cán bộ, công chức có trách nhiệm tổ chức thực hiện chính sách; tăng cường sự giám sát của

cơ quan, tổ chức và người dân thực hiện đúng các quy định của chính sách danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” Bên cạnh đó, công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng cũng làm cho mọi đối tượng trong xã hội tích cực tham gia, tìm kiếm, đề xuất các giải pháp phù hợp trong việc thực hiện chính sách đãi ngộ trên

Công tác phổ biến, tuyên truyền danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng được thể hiện nhiều hình thức như thông qua báo chí, phát thanh, truyền hình, tổ chức hội nghị của các đoàn thể Phổ biến, tuyên truyền

là một khâu rất quan trọng trong việc tổ chức thực hiện chính sách Phổ biến,

Trang 29

tuyên truyền chính sách danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” phải kịp thời và hiệu quả làm đối tượng chính sách có điều kiện tiếp cận, kê khai, thụ hưởng chính sách theo đúng các quy định trong chính sách danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng

1.4.2.3 Phân công, phối hợp thực hiện chính sách danh hiệu vinh dự

Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng

Để thực hiện chính sách về danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng đúng các quy định đã được ban hành và hiệu quả tốt, phải phân công, phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan nhà nước các cấp, các tổ chức chính trị xã hội, tổ chức xã hội ở các cấp và các cá nhân tham gia

Sự phân công phải đảm bảo tính cụ thể, rõ ràng, chặt chẽ, khoa học và hợp lý, xác định rõ nhiệm vụ, trách nhiệm, vai trò của cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia Nếu làm tốt việc phân công phối hợp thực hiện thì quá trình thực hiện chính sách sẽ diễn ra thuận lợi và đạt hiệu quả cao

Do đó để việc tổ chức thực hiện chính sách về danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng có hiệu quả, cần phải có thống nhất cao về nhận thức, về quan điểm để thực hiện từng bước mục tiêu và các giải pháp của chính sách

Sự phân công phối hợp tốt từ tuyên truyền, vận động, đến việc cung ứng nguồn lực tài chính và cơ sở vật chất đảm bảo điều kiện tốt nhất trong việc thực hiện chính sách về danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng tại tỉnh Quảng Nam

1.4.2.4 Duy trì chính sách về danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng

Duy trì chính sách về danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng là bước bảo đảm cho chính sách tồn tại, thực hiện liên tục và phát huy

Trang 30

chính sách phải thường xuyên chỉ đạo, giám sát các cơ quan, tổ chức, cá nhân được giao nhiệm vụ thực hiện các quy định trong chính sách; nhất là những chế độ đãi ngộ được thụ hưởng của đối tượng trong chính sách đã được quy định Cơ quan nhà nước chủ trì thực hiện chính sách danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng là Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Nam, Sở Lao động, Thương binh và Xã hội tỉnh và Ban Thi đua – Khen thưởng tỉnh phải luôn đảm bảo các điều kiện về tài chính, cơ sở vật chất để cho việc thực hiện chính sách được diễn ra liên tục Trong quá trình thực hiện chính sách danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng có thể có những thay đổi trong đời sống xã hội nhưng phải đảm bảo các quy định đãi ngộ cho các đối tượng chính sách được thụ hưởng đúng quy định của Nhà nước trong chính sách đã ban hành, tuyệt đối tránh sự bất công bằng giữa các đối tượng được thụ hưởng

1.4.2.5 Điều chỉnh, bổ sung giải pháp thực hiện chính sách về danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng

Trong quá trỉnh thực hiện chính sách về danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà

mẹ Việt Nam anh hùng có thể gặp phải những khó khăn do môi trường thực

tế biến động (đặc điểm vùng miền địa phương, tổ chức bộ máy, đội ngũ công chức thay đổi) Ủy ban nhân dân tỉnh, Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh, Ban Thi đua – Khen thưởng tỉnh chủ trì thực hiện phải sử dụng các công

cụ quản lý nhà nước khác để làm cho các giải pháp thực hiện chính sách này phù hợp với thực tiễn của từng địa phương và từng giai đoạn và góp phần tạo môi trường thuận lợi cho công tác thực hiện chính sách về danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng đạt hiệu quả Để đảm bảo thực hiện đúng các quy định trong chính sách, nhất là đối tượng thụ hưởng và những vật chất và tinh thần đối tượng được thụ hưởng được hưởng trong chính sách, cơ quan chủ trì thực hiện chính sách có thể phải phối hợp với các cơ quan nhà

Trang 31

nước khác (Công an tỉnh, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh, Sở Tư pháp tỉnh), chính quyền địa phương các cấp để tìm các biện pháp thích hợp kể cả biện pháp hành chính để thực hiện chính sách này

1.4.2.6 Theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện chính sách về danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng

Thông qua việc kiểm tra, theo dõi, đôn đốc thực hiện chính sách về danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng, cơ quan nhà nước chủ trì thực hiện chính sách có thể kịp thời bổ sung, hoàn thiện các giải pháp chính sách; vừa chấn chỉnh công tác tổ chức thực hiện chính sách giúp cho việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực hiện mục tiêu chính sách về danh hiệu vinh

dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng Cơ quan nhà nước chủ trì thực hiện chính sách cần phối hợp với các tổ chức chính trị xã hội và người dân thường xuyên kiểm tra, đôn đốc, theo dõi việc thực hiện chính sách về danh hiệu vinh

dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng Thông qua công tác kiểm tra, theo dõi, có thể phát hiện những vi phạm, sai sót và kịp thời xử lý nghiêm khắc và chấn chỉnh kịp thời những lệch lạc trong quá trình thực hiện chính sách này (có nhiều trường hợp phải thu hồi do man khai hồ sơ đề nghị phong tặng, truy tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng hoặc do cố tình chi trả chậm để gây khó khăn, sách nhiễu của công chức thực thi công vụ) Do

đó, công tác kiểm tra thực hiện chính sách trên cần được tiến hành đúng kế hoạch, bảo đảm các yêu cầu, các nguyên tắc kiểm tra, đánh giá kết luận các vi phạm sai sót phải chính xác và khách quan, xem xét xử lý nghiêm khắc, chấn chỉnh ngay Kiểm tra thực hiện chính sách về danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà

mẹ Việt Nam anh hùng nhằm đánh giá những điểm mạnh, điểm yếu trong việc tổ chức thực hiện chính sách, để phát hiện những hạn chế, sai sót trong việc lập kế hoạch tổ chức thực hiện chính sách để kịp thời điều chỉnh, phối hợp một cách nhịp nhàng, độc lập giữa các cơ quan, giữa các đối tượng thực

Trang 32

pháp chính sách, kịp thời khuyến khích những tích cực trong tổ chức thực hiện chính sách về danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng 1.4.2.7 Đánh giá, tổng kết, rút kinh nghiệm tổ chức thực hiện chính sách

về danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng

Tùy theo từng thời điểm và tình hình địa phương, công tác tổng kết, đánh giá rút kinh nghiệm thực hiện chính sách danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng được tổ chức hàng năm hay 06 tháng một lần Tổng kết, đánh giá thực hiện chính sách cần đi sâu vào công tác chỉ đạo điều hành về thực hiện chính sách về danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng Tổng kết, đánh giá thực hiện chính sách về danh hiệu vinh dự Nhà nước

Bà mẹ Việt Nam anh hùng cần được thực hiện đánh giá về nhiều nội dung như: Việc xây dựng kế hoạch thực hiện chính sách; công tác chỉ đạo điều hành; công tác tuyên truyền, phổ biến; công tác phối hợp tổ chức thực hiện; biểu dương khen thưởng những đơn vị, cá nhân làm tốt Bên cạnh đó cần nêu

ra tồn tại, hạn chế; những phát sinh mới trong thực tiễn cần được bổ sung đảm bảo chính sách phù hợp với thực tiễn, kiến nghị với cấp có thẩm quyền nhằm

bổ sung, điều chỉnh chính sách trên nhằm nâng cao hiệu quả của chính sách đem lại sự hài lòng của các đối tượng thụ hưởng, của cả cộng đồng xã hội và các tầng lớp nhân dân

1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến tổ chức thực hiện hiện chính sách về danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng

- Nhận thức của xã hội và người dân:

Cần tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ của người dân, doanh nghiệp vì đây là yếu tố có vai trò đặc biệt quan trọng, quyết định sự thành bại của chính sách về danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng Đây là vấn

đề lớn, cần sự đóng góp của người dân, người dân vừa là đối tượng trực tiếp tham gia thực hiện chính sách, vừa trực tiếp thụ hưởng những lợi ích từ chính sách Nếu chính sách về danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh

Trang 33

hùng đáp ứng nhu cầu thực tế của xã hội về mục tiêu và biện pháp thừa hành thì nó sẽ nhanh chóng đi vào lòng dân, được nhân dân và xã hội ủng hộ trong việc thực hiện Nếu các giải pháp chính sách về danh hiệu vinh dự Nhà nước

Bà mẹ Việt Nam anh hùng không thiết thực với đời sống nhân dân, không phù hợp với điều kiện và trình độ hiện có của nhân dân, của xã hội thì trong quá trình thực hiện sẽ gặp nhiều vướng mắc, khó thực hiện hoặc xảy ra những kiếu kiện, khiếu nại, khiếu nại vượt cấp….hoặc bị kẻ xấu lợi dụng khai man

hồ sơ để hưởng thụ chính sách của Nhà nước gây bất bình trong xã hội, nghiêm trọng hơn có thể là chúng kích động nói xấu chế độ, gây mất ổn định

an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội

- Năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức thực thi chính sách về danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng:

Thực hiện chính sách về danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng là trách nhiệm của Nhà nước và toàn xã hội, thể hiện trong việc Nhà nước tổ chức nghiên cứu, hoạch định, ban hành hệ thống chính sách, chế độ

và tổ chức thực hiện (pháp lệnh, nghị định, thông tư) Trong quá trình thực hiện chính sách về danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng, đội ngũ cán bộ, công chức được giao nhiệm vụ thực hiện phải có đạo đức, tư cách tốt để thực hiện công minh, đúng những quy định của nhà nước đối với các đối tượng được ưu đãi này Bên cạnh đó, họ phải có lòng nhân ái, tuyệt đối không được gây phiền hà trong quá trình thực hiện chính sách này để thể hiện đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, tỏ lòng biết ơn những người đã hy hinh xương máu của bản thân, của gia đình, người thân vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc và thực hiện nghĩa vụ quốc tế, nêu cao ngọn cờ chính nghĩa độc lập, tự do

- Thực hiện đầy đủ các bước trong chu trình thực hiện chính sách công: Chính sách này nhằm nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người

Trang 34

của Đảng, Nhà nước và nhân dân đối với sự hy sinh, cống hiến của họ cho đất nước Việc tổ chức thực hiện chính sách về danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà

mẹ Việt Nam anh hùng phải nghiêm túc; các giải pháp phải thích hợp với Quảng Nam, với từng địa phương và trong các giai đoạn khác nhau và phải đảm bảo chắc chắn và ổn định Trong quá trình thực hiện, đội ngũ cán bộ được giao thừa hành công vụ đặc biệt là công chức ngành Lao động – Thương binh và Xã hội, ngành Thi đua - Khen thưởng tỉnh Quảng Nam phải thực hiện đúng và đầy đủ các bước trong chu trình thực hiện chính sách Quá trình thực hiện chính sách, sớm phát hiện những bất cập để kiến nghị với cơ quan có thẩm quyền để bổ sung, sửa đổi kịp thời những điểm bất hợp lý, góp phần từng bước cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của những người có công với cách mạng, đặc biệt là đối với Bà mẹ Việt Nam anh hùng và thân nhân của họ

- Sự phối hợp của các cấp, các ngành, các tổ chức xã hội, doanh nghiệp

và cá nhân tại tỉnh Quảng Nam và các tỉnh trong ncar nước trong quá trình thực hiện chính sách về danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng:

Các cơ quan chức năng ngành Lao động – Thương binh và Xã hội, ngành Thi đua - Khen thưởng từ trung ương đến địa phương cần phối hợp chặt chẽ

và phối kết hợp với các tổ chức, ngành có liên quan như tài chính, tư pháp, thanh tra, công an, với tổ chức như Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Hội Cựu chiến binh, Hội Nông dân, Hội Liên hiệp Phụ nữ, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh các cấp, về việc chỉ đạo điều hành triển khai thực hiện đặc biệt là đối với những địa phương có khó khăn, kinh tế kém phát triển, đường

sá, hạ tầng thông tin yếu kém (huyện Bắc Trà My, Nam Trà My, Tây Giang, Tiên Phước …tỉnh Quảng Nam) Nhà nước luôn đảm bảo nguồn tài chính và

cơ sở vật chất để thực hiện tốt chính sách trên Bên cạnh đó cần sự phối hợp

Trang 35

của nhiều ngành, tổ chức, cá nhân tham gia cùng thực hiện Sự đóng góp của các nhà hảo tâm, của doanh nghiệp cũng góp phần thực hiện thành công chính sách không chỉ về vật chất mà còn cả tinh thần đối với những bà mẹ được phong tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng, người thân của họ và chính quyền địa phương nơi bà mẹ sinh sống trong việc tri ân, giáo dục lịch sử văn hóa cách mạng, truyền thống yêu nước

- Môi trường thực hiện chính sách:

Yếu tố liên quan về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của từng địa phương cũng ảnh hưởng đến thực hiện chính sách Những địa phương có vị trí thuận lợi, điều kiện kinh tế xã hội phát triển và có điều kiện tự nhiên thuận lợi, người dân nhận thức, hiểu biết tốt về chính sách về danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng sẽ tác động, thúc đẩy việc thực hiện chính sách về danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng thuận lợi, thành công Ngược lại, những địa phương có vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên không thuận lợi, điều kiện kinh tế xã hội kém phát triển, người dân nhận thức, hiểu biết kém về chính sách về danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng sẽ kìm hãm, ngăn trở các hoạt động này, dẫn đến thực hiện chính sách về danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng kém hiệu quả Qua báo cáo, trong số 240 trường hợp của tỉnh Quảng Nam còn tồn đọng chưa giải quyết được có 56 trường hợp thuộc các huyện vùng núi đi lại khó khăn như Nam Trà My, Bắc Trà My, Tây Giang, Tiên Phước…Do đó, địa phương ổn định, kinh tế phát triển, giao thông đảm bảo thì sẽ có điều kiện thực hiện tốt và có hiệu quả chính sách về danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng hơn (huyện Thăng Bình, thành phố Tam Kỳ, Hội An )

Trang 36

Tiểu kết chương

Thực hiện chính sách về danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng là một quá trình phức tạp để thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách của Nhà nước Để thực hiện được tốt chính sách này chúng ta cần phải nắm rõ những vấn đề lý luận về thực hiện chính sách về danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng Trong luận văn này, chương 1 đã đề cập đến một số cơ sở lý luận về thực hiện chính sách chính sách về danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng Luận văn cũng phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện chính sách về danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng Đây là những luận chứng khoa học làm cơ sở cho việc đánh giá thực trạng tổ chức thực hiện chính sách về danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng ở tỉnh Quảng Nam ở chương 2

Trang 37

Chương 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH VỀ DANH HIỆU VINH DỰ NHÀ NƯỚC BÀ MẸ VIỆT NAM ANH HÙNG

TẠI TỈNH QUẢNG NAM HIỆN NAY

2.1 Khái quát đặc điểm tình hình tỉnh Quảng Nam

Theo báo cáo giới thiệu về địa phương thì Quảng Nam là một tỉnh thuộc vùng Duyên hải Nam Trung Bộ, là vùng đất giàu truyền thống văn hóa với hai di sản văn hóa thế giới là phố cổ Hội An và Thánh địa Mỹ Sơn Quảng Nam còn là vùng đất địa linh nhân kiệt, nơi sản sinh ra nhiều người con ưu tú cho đất nước, là cái nôi căn cứ địa cách mạng, làm bàn đạp tiến quân vào giải phóng Sài Gòn khi qua Đèo Hải Vân Với diện tích 10,438 km2 và dân số trung bình hơn 1.480 triệu người (2015), Quảng Nam đứng thứ 6 về diện tích, thứ 19

về dân số trong số 63 tỉnh, thành phố của Việt Nam Mật độ dân số là 142 người/km2 (đứng thứ 45/63) so với 277 người/km2 của cả nước Năm 2008, Quảng Nam là tỉnh đầu tiên của duyên hải Nam Trung Bộ có 2 thành phố trực thuộc tỉnh (Tam Kỳ, Hội An)

Quảng Nam cách thủ đô Hà Nội 820 km về phía Nam, cách thành phố Đà Nẵng 60 km về phía Nam và cách Thành phố Hồ Chí Minh 900 km về phía Bắc theo đường Quốc lộ 1A Phía Bắc giáp tỉnh Thừa Thiên - Huế và thành phố Đà Nẵng, phía Nam giáp tỉnh Quảng Ngãi và tỉnh Kon Tum, phía Tây giáp tỉnh Sekong (Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào), phía Đông giáp Biển Đông Quảng Nam có 18 đơn vị hành chính cấp huyện, gồm 2 thành phố, 1 thị xã và 15 huyện với 244 xã/xã/thị trấn: 2 thành phố: Tam Kỳ

và Hội An, huyện Điện Bàn, Duy Xuyên, Quế Sơn, Thăng Bình, Núi Thành, Hiệp Đức, Nông Sơn, Đại Lộc, Nam Giang, Tây Giang, Phú Ninh, Phước

Trang 38

Sơn, Tiên Phước, Đông Sơn, Nam Sơn Tỉnh lỵ của Quảng Nam đặt tại thành phố Tam Kỳ

Tổng diện tích đất tự nhiên của tỉnh là 10.438 km2 Địa hình thấp dần

từ Tây sang Đông và chia làm 3 vùng: vùng núi phía Tây, trung du ở giữa và đồng bằng ven biển phía Đông Quảng Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình năm trên 25oC, lượng mưa trung bình hàng năm đạt 2.000-2.500mm với hơn 70% tập trung vào 3 tháng mùa mưa (tháng 10,

11 và 12) Vu Gia Thu Bồn và Tam Kỳ là hai lưu vực sông chính

Diện tích lưu vực Vu Gia và Thu Bồn (bao gồm một phần lưu vực thuộc tỉnh Kon Tum, Quảng Ngãi, thành phố Đà Nẵng là 10,350 km², là 1 trong 10 hệ thống sông có diện tích lưu vực lớn nhất Việt Nam và lưu vực sông Tam Kỳ là 735 km² Các sông bắt nguồn từ sườn đông của dãy Trường Sơn, chảy chủ yếu theo hướng Tây-Đông và đổ ra biển Đông tại cửa Hàn (Đà Nẵng), cửa Đại (Hội An) và An Hòa (Núi Thành) Ngoài hai hệ thống sông trên, sông Trường Giang có chiều dài 47 km chảy dọc ven biển theo hướng Bắc - Nam kết nối hệ thống sông Vu Gia - Thu Bồn và Tam Kỳ Do địa hình đồi dốc và lượng mưa lớn nên mạng lưới sông ngòi của tỉnh Quảng Nam khá dày đặc Mật độ sông ngòi trung bình là 0.47 km/km² cho hệ thống Vu Gia - Thu Bồn và 0.6 km/km² cho các hệ thống sông khác

Các sông có lưu lượng dòng chảy lớn, đầy nước quanh năm Lưu lượng dòng chảy trung bình năm của sông Vu Gia (tính đến thị trấn Thạnh Mỹ với diện tích lưu vực 1,850 km²) là 127 m3/s, của sông Thu Bồn (tính đến Nông Sơn với diện tích lưu vực 3,130 km²) là 281 m3/s Chế độ dòng chảy của sông ngòi có sự phân mùa rõ rệt Dòng chảy 3 tháng mùa lũ (tháng 10, 11, 12) chiếm 65 - 70% tổng dòng chảy cả năm trong khi dòng chảy vào mùa kiệt (từ tháng 2 đến tháng 8) rất thấp Hai tháng 1 và 9 là các tháng chuyển tiếp với dòng chảy thất thường Lưu lượng cực đại của Thu Bồn tại Nông Sơn là

Trang 39

10,600 m3/s và lưu lượng tối thiểu đo được là 15.7 m3/s trong khi đó lưu lượng cực đại của Vu Gia tại Thạnh Mỹ là 4,540 m3/s và cực tiểu là 10.5 m3/s Lưu lượng lớn vào mùa mưa và thấp vào mùa khô là nguyên nhân chính gây nên lũ lụt và hạn hán trong vùng

Tài nguyên nước phong phú là tiền đề để phát triển thủy điện trên địa bàn Tính đến 2015, trên địa bàn Quảng Nam có 8 dự án thủy điện có công suất lớn (trên 100 MW) và 35 thủy điện có công suất nhỏ Nhiều nhà máy thủy điện công suất lớn như Sông Tranh 2, Đăk Mi 4, A Vương, Sông Bung

2, Sông Bung 4, Sông Kôn 2 đã và đang được xây dựng góp phần cung cấp điện cho nhu cầu ngày càng tăng của cả nước

Rừng nhiệt đới lá rộng thường xanh là kiểu sinh thái chủ đạo của Quảng Nam Quảng Nam là tỉnh giàu tiềm năng rừng, rừng trước đây là nơi thuận lợi cho thực hiện chiến tranh du kích và lập căn cứ cách mạng Hiện nay, do bị khai thác quá mức trong một thời gian dài nên diện tích rừng nguyên sinh còn ít Việc đẩy mạnh trồng rừng trong những năm gần đây đã tăng diện tích đất có rừng của Quảng Nam lên hơn 55% vào năm 2014 Đây

là một trong những địa phương có diện tích đất có rừng cao nhất cả nước Rừng đặc dụng Sông Thanh là khu bảo tồn lớn nhất tỉnh, nơi mà các động vật hoang dã khu vực Trung Trường Sơn đang được bảo tồn Nhân sâm Ngọc Linh là cây dược liệu quý phân bố chủ yếu ở độ cao trên 1,000 m của núi Ngọc Linh

Quảng Nam có đường bờ biển dài 125 km, ven biển có nhiều bãi tắm đẹp, nổi tiếng, như: Hà My (Điện Bàn), Cửa Đại (Hội An), Bình Minh (Thăng Bình), Tam Thanh (Tam Kỳ), Bãi Rạng (Núi Thành) Cù Lao Chàm là cụm đảo ven bờ với hệ sinh thái phong phú được công nhận là khu dự trữ sinh quyển của thế giới Tính đến hết năm 2010, dân số Quảng Nam là 1.435.629

Trang 40

tộc ở Quảng Nam theo cuộc tổng điều tra dân số ngày 01.04.2009, có 34 tộc người cùng sinh sống trên địa bàn Quảng Nam trong đó đông nhất là người Kinh (91,1%), người Cơ Tu (3,2%), người Xơ Đăng (2,7%), và người Gié Triêng (1,3%) 29 tộc người còn lại chỉ chiếm 0,9% dân số

Việc triển khai chính sách về danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” tại tỉnh Quảng Nam trong những năm qua cơ bản đạt được chỉ tiêu kế hoạch đề ra Nhiều bà mẹ đủ điều kiện, tiêu chuẩn được Nhà nước phong tặng, truy tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” và được nhân dân, xã hội thừa nhận, tôn vinh Tuy nhiên, hiện ở Quảng Nam còn gần 240 trường hợp tồn đọng chưa được giải quyết chủ yếu tập trung và các huyện Nam Trà My, Bắc Trà My, Tây Giang, Tiên Phước và Cù Lao Chàm Do điều kiện đi lại khó khăn, khí hậu khắc nghiệt ở các huyện này nên việc tuyên truyền, phổ biến chính sách trở nên khó khăn, người dân khó

có thể tiếp cận chính sách nên khi triển khai thì chưa đảm bảo đúng thời gian quy định Đội ngũ công chức gồm cả ngành thi đua khen thưởng, ngành lao động, thương binh và xã hội còn trẻ, luôn thay đổi hoặc thuyên chuyển công tác, ít kinh nghiệm, hiểu biết lịch sử kháng chiến, kiến thức chung về địa lý, văn hóa, kinh tế xã hội vùng miền đủ để đánh giá, hướng dẫn người dân kê khai hồ sơ đề nghị phong tặng, truy tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”

2.2 Khái quát chung về thực hiện chính sách về danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng tại tỉnh Quảng Nam

Tỉnh Quảng Nam là một trong số các tỉnh có số lượng bà mẹ được phong tặng, truy tặng nhiều nhất cả nước Theo số liệu báo cáo thống kê về việc thực hiện chế độ Bà mẹ Việt Nam anh hùng của tỉnh và của Sở Lao động

- Thương binh và Xã hội tỉnh Quảng Nam trong việc thực hiện Pháp lệnh danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng, tính đến ngày

Ngày đăng: 07/12/2019, 17:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w