Từ những số liệu thống kê trên cho thấy ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn ở nước ta có vai trò to lớn và vô cùng quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, vừa
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐINH THỊ KIM LIÊN
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ
THỨC ĂN CHĂN NUÔI TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
Hà Nội - 2019
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐINH THỊ KIM LIÊN
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ
THỨC ĂN CHĂN NUÔI TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY
Ngành: Chính sách công
Mã số: 8 34 04 02
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS KIỀU THANH NGA
Hà Nội - 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng cá nhân tôi.Các kết quả nêu trong luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác.Các số liệu và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo độ chính xác cao, trung thực và đáng tin cậy
Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa
vụ tài chính theo quy định của Học viện Khoa học xã hội
Tôi viết lời cam đoan này đề nghị Học viện Khoa học xã hội xem xét
để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Xin chân thành cảm ơn!
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Đinh Thị Kim Liên
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ THỨC ĂN CHĂN NUÔI 10
1.1 Những vấn đề lý luận về chính sách quản lý thức ăn chăn nuôi 101.2 Thực tiễn về thực hiện chính sách quản lý thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam giai đoạn trước năm 2010 19
Chương 2: TRIỂN KHAI THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ THỨC ĂN CHĂN NUÔI TẠI VIỆT NAM 23
2.1 Chính sách quản lý thức ăn chăn nuôi tại Việt Nam từ năm 2010 đến nay 232.2 Triển khai thực hiện chính sách quản lý thức ăn chăn nuôi tại Việt Nam từ năm 2010 đến nay 252.3 Đánh giá việc thực hiện chính sách quản lý thức ăn chăn nuôi tại Việt Nam từ năm 2010 đến nay 39
Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ TRONG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ THỨC ĂN CHĂN NUÔI TẠI VIỆT NAM 64
3.1 Giải pháp về hoàn thiện chính sách pháp luật 643.2 Giải pháp về đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và đạo đưc công vụ cho cán bộ công chức trong thực thi chính sách quản
lý thức ăn chăn nuôi 683.3 Giải pháp tuyên truyền nâng cao nhận thức cho cá nhân, tổ chức hoạt động trong lĩnh vực TACN 693.4 Giải pháp về đầu tư kinh phí, cơ sở vật chất, trang thiết bị cho thực hiện hoạt động quản lý nhà nước lĩnh TACN 69
KẾT LUẬN 72 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 74
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
2 KT-XH Kinh tế xã hội
3 TACN Thức ăn chăn nuôi
4 PTNT Phát triển nông thôn
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Sản lượng Sản xuất TACN công nghiệp giai đoạn 2010 - 2016 15
Bảng 1.2 Số lượng các nhà máy chế biến TACN gia súc, gia cầm giai đoạn 2010 - 2016 16
Bảng 1.3 Số lượng nhập khẩu nguyên liệu TACN giai đoạn 2011-2015 17
Bảng 2.1 Kết quả thanh kiểm tra chất lượng TACN trên địa bàn tỉnh Hưng Yên 38
Bảng 2.2 Số lượng và công suất các nhà máy TACN gia súc, gia cầm qua các năm 42
Bảng 2.3 Khối lượng các loại TACN nhập khẩu năm 2016 42
Bảng 2.4 Danh mục chất cấm trong thức ăn chăn nuôi 48
Bảng 2.5 Cơ cấu nhân lực theo hình thức lao động 61
Bảng 2.6 Nhân lực theo trình độ học vấn trong ngành sản xuất TACN ở Việt Nam 61
DANH MỤC SƠ ĐỒ Sơ đồ 2.1 Mô hình hệ thống quản lý nhà nước về thức ăn chăn nuôi công nghiệp 27
Sơ đồ 2.2 Cơ cấu tổ chức vàchức năng QLNN về TACN tại tỉnh Hưng Yên 36
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đất nước Việt Nam với hơn 90 triệu dân, có gần 60 triệu người sống ở khu vực nông thôn (chiếm gần 2/3) tổng dân số cả nước với 23,5 triệu người làm việc trong khu vực nông nghiệp (chiếm hơn 40% tổng số người trong độ tuổi lao động) Từ ngàn năm nay, cuộc sống của người nông dân Việt Nam luôn gắn liền với cây lúa và chăn nuôi gia súc, gia cầm.Các loài vật nuôinhư trâu, bò, lợn gà…đã trở nên thân thuộc, gần gũi với mỗi người dân Việt Nam
Từ những số liệu thống kê trên cho thấy ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn ở nước ta có vai trò to lớn và vô cùng quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, vừa đảm bảo an ninh lương thực, thực phẩm cho người dân, vừa góp phầnđẩy mạnh xuất khẩu ra thế giới, trong đó
có các sản phẩm chăn nuôi.Trong 10 năm qua, ngành chăn nuôi liên tục phát triển cả về quy mô và chất lượng đàn vật nuôi, thông qua đổi mới phương thức, kỹ thuật và công nghệ áp dụng vào chăn nuôi, năng suất và chất lượng sản phẩm chăn nuôi có bước tiến vượt bậc, góp phần quan trọng trong tổng giá trị sản xuất nông nghiệp Chăn nuôi luôn duy trì tăng trưởng ở mức 3-5%/năm [Báo cáo cục chăn nuôi năm 2018].Trong mỗi bữa cơm hàng ngày của người Việt Nam, không thể thiếu các loại thực phẩm đến từ ngành chăn nuôi, góp phần cung cấp giá trị dinh dưỡng thiết yếu cho người dân Việt Bên cạnh đó, ngành chăn nuôi còn mang lại hiệu quả kinh tế giúp cho người nông dân tăng thu nhập, xoá đói giảm nghèo, giải quyết nhiều công ăn việc làm cho người lao động ở nông thôn đồng thời góp phần làm giàu cho người dân Ngành chăn nuôi đang trong thời kỳ hội nhập, phát triển và phấn đấu trở thành một ngành kinh tế quan trọng trong tương lai
Cùng với sự tăng trưởng của ngành chăn nuôi, lĩnh vực sản xuất, kinh doanh thức ăn gia súc, gia cầm cũng phát triển mạnh mẽ Cơ cấu chi phí trong chăn nuôi gồm có: Con giống, thức ăn, thuốc thú y, lao động Trong đó, thức
Trang 8ăn chăn nuôi chiếm đến 70-80% tổng chi phí Nhu cầu sử dụng TACN ở Việt Nam ngày càng tăng Theo Báo cáo thực trạng sản xuất kinh doanh và công tác quản lý thức ăn chăn nuôi năm 2018 của Cục Chăn nuôi, nhu cầu sử dụng TACN ở Việt Nam năm 2016 là 20 triệu tấn, năm 2017 là 22 triệu tấn, năm
2018 lên đến 25 triệu tấn (Bao gồm thức ăn sản xuất trong nước và thức ăn nhập khẩu).Chính vì nhu cầu và chi phí cho việc sử dụng TACN lớn nên đã dẫn đến tình trạng các cơ sở sản xuất, doanh nghiệp kinh doanh cung cấp TACN trôi nổi xuất hiện ngày càng nhiều trên thị trường Hoạt động quản lý nhà nước đối với lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, sử dụng TACN trở nên vô cùng quan trọng, hoạt động này được điều chỉnh bởi các chính sách pháp luật chuyên ngành như: Nghị định số 39/2017/NĐ-CP ngày 04 tháng 4 năm 2017 của Chính phủ về quản lý thức ăn chăn nuôi, thuỷ sản; Thông tư số 20/TT-BNNPTNT ngày 10 tháng 11 năm 2017 hướng dẫn thực hiện Nghị định 39/2017/NĐ-CP ngày 04 tháng 4 năm 2017 về quản lý thức ăn chăn nuôi, thủy sản; Nghị định số 64/2018/NĐ-CP ngày 07 tháng 5 năm 2018 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giống vật nuôi, thức
ăn chăn nuôi, thuỷ sản Năm 2017, Chính phủ ban hành Nghị định 39 về quản
lý thức ăn chăn nuôi, thuỷ sản Nghị định quy định một số nội dung về hoạt động kinh doanh TACN nhằm khắc phục một số hạn chế của Nghị định số 08/2010/NĐ-CP ngày 05 tháng 02 năm 2010; Thông tư số 27/2016/TT-BNNPTNT ngày 26 tháng 7 năm 2016 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia lĩnh vực thức ăn chăn nuôi Năm 2018, Quốc hội ban hành Luật Chăn nuôi số 32/2018/QH14 ngày 19 tháng 11 năm 2018 trong đó có riêng một chương về thức ăn chăn nuôi
Theo đó, các tổ chức, cá nhân kinh doanh TACN phải đáp ứng đủ các điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị máy móc, con người Ngoài ra, các sản phẩm TACN sản xuất trong nước, TACN nhập khẩu phải được công nhận chất lượng để xác định tính hiệu quả, đảm bảo chất lượng, an toàn đối với vật
Trang 9nuôi Thức ăn chăn nuôi trước khi lưu hành trên thị trường phải làm hồ sơ đăng ký theo quy định và được công nhận bởi Cục Chăn nuôi - Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Tuy nhiên, trong những năm qua, hoạt động kinh doanh TACN vẫn còn một số vấn đề đặt ra về phương diện quản lý Tình trạng TACN nhập khẩu vi phạm chất lượng vẫn được các cơ quan chức năng phát hiện, TACN sản xuất trong nước kém chất lượng, chưa được đăng ký vẫn lưu hành trên thị trường Điều này đã ảnh hưởng lớn đến người chăn nuôi và anh hưởng trực tiếp đến các doanh nghiệp sản xuất, nhập khẩu, kinh doanh chân chính và người tiêu dùng sản phẩm chăn nuôi, quá trình thực hiện một số thủ tục hành chính liên quan đến lĩnh vực TACN còn một số vướng mắc Việc kiểm soát TACN có
“chất cấm”, thức ăn chứa kháng sinh ngoài danh mục không tốt sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ con người Cụ thể, những năm gần đây có một số cơ sở kinh doanh TACN đã sử dụng chất cấm, chất tăng trưởng, chất tạo mầu ví dụ: chất vàng ô để trộn vào thức ăn cho gà trong thời gian chăn nuôi để tạo mầu vàng bắt mắt cho da, chân gà và cả long đỏ trứng gà Chất vàng ô là một loại thuốc nhuộm diarylmethane được sử dụng trong công nghệ nhuộm vải, giấy, quét tường hoặc in ấn tạo màu mực Chất này khá độc nếu hít, nuốt hoặc ngấm qua da, nó có thể phá hủy hệ thần kinh, thận và gan, thậm chí gây ra ung thư nếu tiếp xúc trong một thời gian dài Đây là một chất được tổ chức ung thư thế giới IARC xếp vào chất gây ung thư nhóm 3 tức là có khả năng gây ung thư cao
Từ những lý do trên, tôi chọn chủ đề: “Thực hiện chính sách quản lý
thức ăn chăn nuôi tại Việt Nam hiện nay” làm đề tài tốt nghiệp thạc sỹ
chuyên ngành Chính sách công, nhằm làm rõ cơ sở lý luận về chính sách quản
lý TACN, phân tích việc thực hiện chính sách quản lý TACN ở Việt Nam và đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao việc thực hiện chính sách quản lý
TACN ở Việt Nam trong thời gian tới
Trang 102 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Ở Việt Nam cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến chủ đề TACN dưới những góc độ khác nhau, như luận văn thạc sỹ về tình hình sản xuất, kinh doanh TACN; điều kiện kinh doanh TACN theo pháp luật Việt Nam hiện nay, quản lý nhà nước về sản xuất, kinh doanh TACN; quản trị kênh phân phối thức ăn gia súc; đặc điểm kinh doanh thức ăn gia súc hay luận văn viết về dinh dưỡng vật nuôi, thức ăn… Sau đây là một số công trình tiêu biểu có liên quan đến chủ đề này:
- Cục Chăn nuôi (2017, 2018) với Báo cáo: “Tình hình quản lý và kinh
doanh thức ăn gia súc, gia cầm” Báo cáo đã tổng quan tình hình triển khai
hoạt động quản lý TACN thông qua việc thực hiện các văn bản quản lý nhà nước, công tác phổ biến chính sách pháp luật, công tác thanh kiểm tra hoạt động sản xuất, kinh doành TACN Báo cáo còn nêu lên các kết quả đạt được với những ưu, nhược điểm của TACN ở Việt Nam trong thời gian qua
- Nguyễn Tiến Dũng (2016) với bài báo “Hiệp định đối tác xuyên Thái
Bình Dương (TPP) ngành chăn nuôi Việt Nam – Thực trạng và những chuẩn
bị cần thiết” đăng trên Tạp chí Khoa học và công nghệ ngày 12/7/2016 Bài
báo đã nêu lên thực trạng của ngành chăn nuôi Việt Nam nói chung và ngành công nghiệp TACN nói riêng trong tiến trình ra nhập TTP Tác giả đã phân tích những cơ hội và thách thức đối với ngành chăn nuôi trong tiến trình gia nhập TPP
-Nguyễn Đức Hải (2017) với Bài báo “Hoàn thiện chính sách phát triển
ngành công nghiệp thức ăn chăn nuôi Việt Nam” đăng trên Tạp chí Khoa học
Đại học Quốc gia Hà Nội, ngày 15/3/2017 Bài viết đã phân tích thực trạng
chính sách pháp luật lĩnh TACN tại Việt Nam từ đó đưa ra một số kiến nghị giải pháp góp phần phát triển ngành chăn nuôi hiện nay đáp ứng yêu cầu của tình hình mới
Trang 11- Trần Quốc Hóa (2015) với đề tài “Chính sách maketing cho sản phẩm
thức ăn chăn nuôi gia súc của công ty TNHH Thái Việt Agri Group tại thị trường miền Trung” đề tài đã phân tích chính sách Marketing với mặt hàng
TACN hiện tại của Công ty TNHH Thái Việt Agri Group từ đó đề xuất chính sách Marketing cho sản phẩm TACN của Công ty TNHH Thái Việt Agri Group
- Nguyễn Vũ Ninh (2014) với đề tài “Quản lý nhà nước về sản xuất và
kinh doanh thức ăn chăn nuôi công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hưng Yên”.Đề
tài đã phân tích và đánh giá thực trạng quản lý nhà nước đối với thức ăn chăn nuôi công nghiệp tại tỉnh Hưng Yên, đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác quản lý nhà nước trong sản xuất, kinh doanh thức ăn chăn nuôi công nghiệp tại tỉnh trong những năm tiếp theo
- Nghị định 08/2010/NĐ-CP ngày 5/2/2010 và Nghị định
36/2017/NĐ-CP ngày 04/4/2017 về “Quản lý thức ăn chăn nuôi thủy sản” Nghị định đã
nêu lên những khái niệm, những nội dung quản lý nhà nước về TACN, chính sách của Nhà nước về TACN, nguyên tắc quản lý TACN chứa kháng sinh, điều kiện kinh doanh đối với các cơ sở sản xuất gia công TACN; những quy định về khảo nghiệm TACN mới; quy định đối với sản phẩm TACN được phép lưu hành tại Việt Nam; quy định về công tác kiểm tra chất lượng TACN
- Đặng Đình Quyết (2019) với đề tài “Điều kiện kinh doanh thức ăn chăn
nuôi theo pháp luật Việt Nam hiện nay” Đề tài đã phân tích và đánh giá
những quy định liên quan đến điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi tại Việt Nam thông qua các quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật như Luật, Nghị định, Thông tư liên quan đến quản lý nhà nước lĩnh vực TACN tại Việt Nam và việc thực hiện các quy định của pháp luật tại các đơn vị sản xuất, kinh doanh TACN tại Việt Nam
- Nguyễn Thị Toàn (2013) với đề tài: “Phát triển thị trường thức ăn chăn
nuôi Thành Lợi” Luận văn nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về tình hình
phát triển thị trường TACN ở Việt Nam nói chung và đánh giá thực trạng thị
Trang 12trường TACN của công ty Thành Lợi, từ đó tìm ra những giải pháp phát triển thị trường TACN trong thời gian tới
- Trương Thùy Vinh (2012) với đề tài: “Nghiên cứu phát triển thị trường
thức ăn chăn nuôi của công ty Cổ phần chăn nuôi Charoen Pokphand trên địa bàn tỉnh Bắc Giang” Đề tài đã nghiên cứu đánh giá thực trạng và phân
tích các yếu tố ảnh hưởng tới phát triển của thị trường TACN của công ty Charoen Pokphan để từ đó đưa ra giải pháp có tính khả thi để phát triển thị trường TACN của công ty trong thời gian tiếp theo
- Tuệ Văn (2015) với bài viết“Điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi”
đăng trên Cổng thông tin điện tử Chính phủ, ngày 16/12/2015, tác giả đã khái quát về các điều kiện kinh doanh mặt hàng TACN theo hướng dẫn tại các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn quản lý nhà nước lĩnh vực TACN
Qua nghiên cứu một số văn bản, bài báo và các công trình nghiên cứu có liên quan đến chủ đề TACN tác giả nhận thấy những nghiên cứu trên chủ yếu đề cập tới hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, thiên về yếu tố kỹ thuật của chuyên ngành dinh dưỡng vật nuôi, đa số tiếp cận từ góc độ kinh tế và góc độ pháp lý tại các văn bản trong quản lý TACN, chưa lý giải và phân tích một cách toàn diện và chuyên sâu những vấn đề lý luận, thực tiễn, từ đó đề xuất những phương hướng, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của chính sách quản lý TACN ở Việt Nam trong quá trình triển khai thực hiện Đặc biệt, chủ đề nghiên cứu về thực hiện chính sách quản lý nhà nước về TACN hiện nay chưa có Chính vì vậy, đây là một đề tài nghiên cứu mới, được tiếp cận ở góc độ thực thi chính sách quản lý nhà nước về lĩnh vực TACN ở Việt Nam và có ý nghĩa thiết thực cả ở góc độ lý luận và thực tiễn cần được nghiên cứu
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích:
Trên cơ sở nghiên cứu những lý luận và thực tiễn về Chính sách quản
lý thức ăn chăn nuôi, đề tài sẽ phân tích và đánh giá việc tổ chức thực thi
Trang 13Chính sách quản lý thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam, kết quả và những hạn chế của việc thực hiện chính sách này ở Việt Nam Từ đó đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả trong thực hiện chính sách lý thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam nhằm góp phần thúc đẩy phát triển ngành chăn nuôi nước ta trong thời gian tới
3.2 Nhiệm vụ:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn liên quan đến Chính sách quản
lý thức ăn chăn nuôi
- Nghiên cứu thực trạng tổ chức thực hiện Chính sách quản lý thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam
- Đánh giá kết quả, hạn chế và nguyên nhân của việc thực hiện Chính sách quản lý thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam
- Đề xuất các giải pháp hiệu quả hơn trong tổ chức thực hiện Chính sách quản lý thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: việc tổ chức thực hiện Chính sách quản lý thức
ăn chăn nuôi ở Việt Nam
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Phạm vi về không gian: Luận văn nghiên cứu cách thức tổ chức thực hiện Chính sách quản lý thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam Bên cạnh đó, Luận văn lựa chọn nghiên cứu trường hợp điển hình là tỉnh Hưng Yên nhằm làm phong phú hơn nội dung nghiên cứu.Tỉnh Hưng Yên có tới 29 nhà máy sản xuất thức ăn chăn nuôi công nghiệp, là nơi có nhiều đầu mối buôn bán thức ăn chăn nuôi lớn nhất cả nước.Trong đó có 02 nhà máy có sản lượng thức ăn chăn nuôi cung ứng ra thị trường lớn nhất cả nước là Công ty TNHH Sản xuất thức ăn chăn nuôi Cargill Việt Nam Chi nhánh Hưng Yên và Chi nhánh Công
ty Greenfeed Việt Nam Bên cạnh đó, hệ thống bộ máy quản lý nhà nước theo ngành dọc tại địa bàn tỉnh Hưng Yên là tương đối hoàn chỉnh theo qui
Trang 14định của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về việc nhiệm vụ quản lý nhà nước về chăn nuôi tại địa phương
- Phạm vi về thời gian: Đề tài chủ yếu tập trung vào việc nghiên cứu cách thức tổ chức thực hiện việc quản lý nhà nước về lĩnh vực thức ăn chăn nuôi giai đoạn từ năm 2010 đến nay, luận văn đi vào nghiên cứu cụ thể là cách thức tổ chức thực hiện các quy định của nhà nước về quản lý thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam tại nghị định số 39/2017/NĐ-CP ngày 04 tháng 4 năm
2017 Trên cơ sở nghiên cứu các quy định tại Nghị định và các văn bản hướng dẫn chuyên ngành liên quan đến cách thức tổ chức thực hiện các quy định tại Nghị định 39
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở lý luận duy vật biện chứng, luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu như: nghiên cứu tài liệu thứ cấp, phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, đánh giá… để làm rõ mục tiêu nghiên cứu
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
6.1 Ý nghĩa lý luận
Đề tài cung cấp các lý luận về thực hiện chính sách công đối với chính sách cụ thể là Quản lý thức ăn chăn nuôi tại Việt Nam, qua đó góp phần làm phong phú thêm hệ thống lý luận của khoa học chính sách công
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Qua thực tiễn nghiên cứu việc tổ chức thực thi Chính sách quản lý thức
ăn chăn nuôi tại Việt Nam, đã đánh giá được kết quả, chỉ ra được những khó khăn, hạn chế trong việc tổ chức thực hiện chính sách này Đồng thời, đề tài đưa ra một số giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả trong việc thực hiện chính sách quản lý thức ăn chăn nuôi tại Việt Nam, góp phần thúc đẩy sự phát triển của ngành công nghiệp TACN nói riêng và ngành chăn nuôi Việt Nam nói chung
Trang 157 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn được chia làm 3 chương, cụ thể như sau:
- Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về chính sách quản lý thức ăn chăn nuôi
- Chương 2: Triển khai thực hiện chính sách quản lý thức ăn chăn nuôi tại Việt Nam
- Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong thực hiện chính sách quản lý thức ăn chăn nuôi tại Việt Nam
Trang 16Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ
THỨC ĂN CHĂN NUÔI 1.1 Những vấn đề lý luận về chính sách quản lý thức ăn chăn nuôi
1.1.1 Các khái niệm về chính sách, chính sách công, thực hiện chính sách và chính sách quản lý thức ăn chăn nuôi
Theo giáo trình bài giảng Tổng quan về chính sách công của Khoa Chính sách công - Học viện Khoa học xã hội
- Chính sách: là biện pháp can thiệp của Nhà nước vào một ngành, một
lĩnh vực hay toàn bộ nền kinh tế nhằm thực hiện những mục tiêu nhất định với những công cụ và giải pháp nhất định và trong một thời hạn xác định
- Chính sách công: là những quyết định của chủ thể được trao quyền lực công nhằm giải quyết những vấn đề vì lợi ích chung của cộng đồng [19, tr7]
- Thực hiện chính sách là một khâu hợp thành của chu trình chính sách,
là toàn bộ quá trình chuyển hóa ý chí của chủ thể chính sách thành hiện thực đối với các đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu theo định hướng Tổ chức thực hiện chính sách là trung tâm kết nối các bước trong chu trình chính sách thành một
hệ thống nhất là với hoạch định chính sách Tổ chức thực hiện chính sách là bước hiện thực hóa chính sách trong đời sống xã hội [19, tr23]
- Các khái niệm về thức ăn chăn nuôi
+ Theo tổ chức Nông lương Thế giới (FAO), Thức ăn chăn nuôi là:
tất cả những gì gia súc ăn hoặc có thể ăn được mà có tác dụng tích cực đối với quá trình trao đổi chất
+ Theo Báo cáo giải trình về danh mục thức ăn chăn nuôi theo tập quán và nguyên liệu đơn tại thông tư 02/2019/TT-BNNPTNT của Cục Chăn
nuôi: “Thức ăn là sản phẩm từ động vật, thực vật, khoáng chất mà động vật
có thể ăn, tiêu hóa, hấp thu để duy trì sự sống, phát triển và tạo ra sản phẩm.” [15, tr1]
Trang 17+ Tại Nghị định số 39/2017/NĐ-CP ngày 04/4/2017 của Chính phủ
về quản lý thức ăn chăn nuôi, thủy sản, có hiệu lực ngày 20/5/2017 có định
nghĩa về thức ăn chăn nuôi như sau: “Thức ăn chăn nuôi là sản phẩm mà vật
nuôi ăn, uống ở dạng tươi sống hoặc đã qua chế biến, bảo quản, bao gồm thức ăn dinh dưỡng và thức ăn chức năng ở các dạng nguyên liệu, thức ăn đơn, thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh, thức ăn đậm đặc, thức ăn bổ sung, phụ gia thức ăn nhằm tạo ra thức ăn tự nhiên, ổn định môi trưởng nuôi và tăng hiệu quả sử dụng thức ăn” [12, tr.2]
Nghị định 39 cũng đưa ra khái niệm chi tiết về một số loại thức ăn chăn nuôi như: thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh là hỗn hợp của nhiều nguyên liệu thức ăn được phối chế theo công thức nhằm đảm bảo có đủ các chất dinh dưỡng để duy trì sự sống và khả năng sản xuất vật nuôi theo từng giai đoạn sinh trưởng hoặc chu kỳ sản xuất.Thức ăn đậm đặc là hỗn hợp các nguyên liệu thức ăn chăn nuôi có hàm lượng dinh dưỡng cao hơn nhu cầu vật nuôi và dùng để pha trộn với các nguyên liệu khác tạo thành thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh.Thức ăn bổ sung là thức ăn đơn hoặc thức ăn hỗn hợp của nhiều nguyên liệu cho thêm vào khẩu phần ăn để cân đối chất dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể vật nuôi.Thức ăn truyền thống là các sản phẩm nông nghiệp, thủy sản, công nghiệp chế biến đã được người chăn nuôi sử dụng từ trước đến nay như: thóc, gạo, cám, ngô, khoai, sắn, bã rượu, ba bia, bã sắn, bã dứa, rỉ mật đường, rơm, cỏ, tôm, cua cá và các loại khác Thức ăn chăn nuôi thương mại là sản phẩm thức ăn chăn nuôi được sản xuất nhằm mục đích trao đổi, mua bán trên thị trường Thức ăn chăn nuôi mới là thức ăn chăn nuôi đầu tiên được nhập khẩu, sản xuất tại Việt Nam có chứa hoạt chất mới chưa qua khảo nghiệm ở Việt Nam Nguyên liệu thức ăn chăn nuôi là thức ăn dùng để cung cấp một hoặc nhiều chất dinh dưỡng trong khẩu phần ăn cho vật nuôi Phụ gia thức ăn chăn nuôi là chất có hoặc không có giá trị dinh dưỡng được bổ sung vào thức
ăn chăn nuôi trong quá trình chế biến hoặc xử lý nhằm nâng cao hiệu quả sử
Trang 18dụng hoặc duy trì cải thiện đặc tính nào đó của thức ăn chăn nuôi Chất mang
là chất vật nuôi ăn được dùng để trộn với hoạt chất trong premix nhưng không ảnh hưởng tới sức khỏe vật nuôi Premix kháng sinh là hỗn hợp gồm không quá 2 loại kháng sinh được phép sử dụng trong thức ăn chăn nuôi gia súc, gia cầm nhằm mục đích kích thích sinh trưởng với tổng hàm lượng kháng sinh không lớn hơn 20% Kinh doanh thức ăn chăn nuôi bao gồm các hoạt động sản xuất, gia công, mua bán, xuất khẩu, nhập khẩu thức ăn chăn nuôi Sản xuất thức ăn chăn nuôi là việc thực hiện một phần hoặc toàn bộ các hoạt động sản xuất, chế biến, san chia, bao gói, bảo quản, vận chuyển thức ăn chăn nuôi Gia công thức ăn chăn nuôi là quá trình thực hiện một phần hoặc toàn bộ các công đoạn sản xuất thức ăn chăn nuôi để tạo ra sản phẩm theo yêu cầu của bên đặt hàng Tên thương mại của sản phẩm thức ăn chăn nuôi là tên thương phẩm của sản phẩm để phân biệt các sản phẩm thức ăn chăn nuôi trên thị trường
Từ những khái niệm trên có thể thấy rằng, thức ăn chăn nuôi là loại hàng hóa rất đặc biệt, nó có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sản phẩm chăn nuôi và tác động đến sức khỏe của con người Vì vậy, việc quản lý thức
ăn chăn nuôi đã và đang trở thành vấn đề cấp thiết của bất cứ quốc gia nào, đặc biệt với Việt Nam, quốc gia mà ngành nông nghiệp nói chung và chăn nuôi nói riêng là một trong những ngành có vai trò trủ lực trong nền kinh tế
- Các hoạt động liên quan đến quản lý thức ăn chăn nuôi bao gồm: ban hành tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến thức ăn chăn nuôi, công tác khảo nghiệm, công nhận thức ăn chăn nuôi, thu thập và
xử lý thông tin tư liệu về thức ăn chăn nuôi, nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ tiên tiến vào hoạt động trong lĩnh vực thức ăn chăn nuôi, nhập khẩu, sản xuất, gia công, phân phối, kinh doanh thức ăn chăn nuôi, thanh kiểm tra việc chấp hành quy định của nhà nước về thức ăn chăn nuôi
Vì vậy, Chính sách quản lý thức ăn chăn nuôi là quan điểm, quyết
sách, quyết định chính trị của nhà nước nhằm mục tiêu, giải pháp, công cụ để
Trang 19quản lý lĩnh vực thức ăn chăn nuôi trong điều kiện chăn nuôi Việt Nam ở mỗi giai đoạn cụ thể
Chính sách quản lý thức ăn chăn nuôi là một trong những nội dung quan trọng trong quản lý nhà nước lĩnh vực chăn nuôi, các nhà quản lý căn cứ vào tình hình sản xuất, kinh doanh, sử dụng thức ăn chăn nuôi của quốc gia và các nước trong khu vực để xây dựng chính sách quản lý thức ăn chăn nuôi cho phù hợp với tình hình thực tế của Việt Nam
Chính sách quản lý thức ăn chăn nuôi là chính sách công Chủ thể ban hành chính sách quản lý thức ăn chăn nuôi là cơ quan quản lý nhà nước cụ thể
là Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, đối tượng chính sách bao gồm các
cơ quan quản lý nhà nước về chăn nuôi, các đơn vị sản xuất, kinh doanh thức
ăn chăn nuôi và người chăn nuôi trọng phạm vi lãnh thổ Việt Nam
Thực hiện chính sách quản lý thức ăn chăn nuôi là một khâu tổng hợp của chu trình chính sách, là toàn bộ quá trình chuyển hóa ý chí của chủ thể chính sách thành hiện thực, đối với đối tượng chính sách nhằm đạt mục tiêu theo định hướng
Chính vì thực hiện chính sách quản lý thức ăn chăn nuôi là một khâu hợp thành của chu trình chính sách nên nếu không thực hiện công đoạn này thì chính sách quản lý thức ăn chăn nuôi sẽ không áp dụng vào thực tế cũng như tồn tại và phát triển được So với các chu trình chính sách, thực hiện chính sách có vị trí đặc biệt quan trọng là bước hiện thực hóa ý trí của chủ thể ban hành chính sách quản lý thức ăn chăn nuôi tại Việt Nam vào đời sống xã hội
Thực hiện chính sách quản lý thức ăn chăn nuôi tại Việt Nam là một hệ thống nhất với hoạch định, xây dựng và đánh giá chính sách quản lý thức ăn chăn nuôi tại Việt Nam
Nội dung của thực hiện chính sách quản lý thức ăn chăn nuôi được cụ thể hóa theo điều 4 nghị định 39 là: Định hướng phát triển sản xuất và sử dụng thức ăn chăn nuôi; Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản
Trang 20lý, quy trình sản xuất, tiêu chuẩn, quy chuẩn, cơ chế, chính sách khuyến khích phát triển thức ăn chăn nuôi; Quản lý khảo nghiệm và công nhận thức ăn chăn nuôi mới; Thu thập và quản lý các thông tin, tư liệu về thức ăn chăn nuôi; Tổ chức nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ tiên tiến vào các hoạt động trong lĩnh vực thức ăn chăn nuôi Đầu tư phát triển hệ thống khảo nghiệm, kiểm nghiệm đáp ứng yêu cầu sản xuất, kinh doanh và quản lý nhà nước về chất lượng thức ăn chăn nuôi; Đào tạo, bồi dưỡng và cấp chứng chỉ đào tạo nguồn nhân lực phục vụ hoạt động quản lý nhà nước về thức ăn chăn nuôi; Tuyên truyền, phổ biến kiến thức, kinh nghiệm về sản xuất, quản lý và sử dụng thức ăn chăn nuôi; Kiểm tra, thanh tra việc chấp hành quy định của Nhà nước về
thức ăn chăn nuôi; Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực thức ăn chăn nuôi [12, tr3]
1.1.2 Tác động của chính sách quản lý thức ăn chăn nuôi đối với ngành chăn nuôi
Trước thực trạng đàn gia súc, gia cầm ngày càng phát triển, giá nguyên liệu TACN trên thế giới ổn định ở mức thấp, những năm qua tình hình nhập khẩu nguyên liệu TACN vào Việt Nam tăng mạnh Cùng với đó là sản lượng TACN của các nhà máy sản xuất TACN trong nước tiếp tục tăng Cụ thể theo
số liệu thống kê của Cục Chăn nuôi trong gần 10 năm trở lại đây từ năm 2010 đến nay sản lượng thức ăn công nghiệp liên tục tăng với tốc độ 7,8%/năm
Chính sách quản lý thức ăn chăn nuôi tại Việt Nam hiện nay là hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đầy đủ và phù hợp với pháp luật, sát với tình hình thực tế và hội nhập quốc tế đáp ứng được các yêu cầu của công tác quản lý chất lượng, an toàn thực phẩm TACN Hệ thống thể chế này đang được đánh giá là chặt chẽ được nhiều tổ chức quốc tế, như: FAO, Hội đồng doanh nghiệp Asean-Hoa Kỳ… đánh giá là tiên tiến nhất trong khu vực, đã có nhiều nước như Thái Lan, Philippines, Indonesia, Malaysia, Trung Quốc… tham khảo, học tập
Trang 21Cụ thể ngày 04/4/2017, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 39/2017/NĐ-CP về quản lý TACN (Nghị định 39) đã tích hợp cơ bản các quy định của pháp luật và các thủ tục hành chính có liên quan đến quản lý TACN Khi Nghị định 39 được triển khai đầy đủ các quy định thì vấn đề quản lý chất lượng và an toàn thực phẩm của TACN sẽ được cải thiện căn bản, nhất là đối với các cơ sở sản xuất, gia công vừa và nhỏ đang tiềm ẩn nhiều nguy cơ rủi ro gây ảnh hưởng đến chất lượng, an toàn thực phẩm TACN
Chính sách quản lý TACN còn góp phần thúc đẩy quy mô đầu tư và sản lượng TACN tăng nhanh
Tốc độ tăng trưởng về quy mô và sản lượng TACN công nghiệp của Việt Nam vào loại nhanh nhất thế giới, liên tục là hai con số trong những năm qua, đưa sản lượng TACN công nghiệp quy đổi từ 400 ngàn tấn năm 1993 lên 23,15 triệu tấn năm 2016 Việt Nam trở thành nước đứng số 1 trong Asean và thứ 10 thế giới về sản lượng TACN công nghiệp
Bảng 1.1 Sản lượng Sản xuất TACN công nghiệp giai đoạn 2010 - 2016
Sản lượng (tấn)
Tỷ lệ (%)
1 2010 6.403.225 60,4 4.195.408 39,6 10.598.633
2 2015 9.507.114 60,0 6.339.747 40,0 15.846.861
3 2016 12.391.392 61,5 7.761.494 38,5 20.152.886
Nguồn: Cục Chăn nuôi Bộ Nông nghiệp và PTNT, năm 2017
Từ số liệu ở bảng trên cho thấy, sản lượng TACN giai đoạn 2010 – 2016
đã tăng lên rõ rệt, từ năm 2010 sản lượng TACN công nghiệp của các doanh nghiệp FDI chỉ đạt 6.403.225 tấn đến năm 2016 sản lượng TACN công nghiệp của các doanh nghiệp FDI đã tăng gần gấp đôi lên tới 12.391.392 (tấn) Cùng với sự tăng trưởng của các doanh nghiệp FDI, các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh TACN công nghiệp trong nước cũng có sự tăng trưởng đáng kể năm
Trang 222010 đạt 4.195.408 (tấn) đến năm 2016 đạt 7.761.494 (tấn) Mức tăng tưởng của hai đối tượng sản xuất kinh doanh TACN công nghiệp này đã góp phần đưa tổng sản lượng sản lượng TACN công nghiệp của cả nước tăng lên năm
2010 từ mức 10.598.633 (tấn) đến năm 2016 đạt mức 20.152.886 (tấn)
Số lượng nhà máy và công suất thiết kế tăng cao, vượt xa kế hoạch định hướng Tính đến thời điểm hiện nay đã có trên 300 nhà máy chế biến thức ăn chăn nuôi, thủy sản và trên 200 cơ sở chế biến thức ăn bổ sung, với công suất thiết kế đạt trên 31 triệu tấn/năm (định hướng của Chính phủ đến năm 2020 chỉ
Số lượng nhà máy
Công suất (nghìntấn)
Số lượng nhà máy
Công suất (nghìn tấn)
Nguồn: Cục Chăn nuôi Bộ Nông nghiệp và PTNT, năm 2017
Từ bảng số lượng các nhà máy chế biến TACN gia súc gia cầm gia đoạn
2010 – 2016 trên cho thấy, số lượng các nhà máy chế biến TACN gia súc gia cầm năm 2010 của các doanh nghiệp FDI là 51 nhà máy với công suất chế biến
là 7.535 nghìn tấn trong khi số doanh nghiệp chế biến TACN trong nước là 139 nhà máy nhưng công suất chế biến chỉ đạt 6.944 nghìn tấn Đến năm 2016 số lượng doanh nghiệp FDI tăng lên là 71 nhà máy, công suất đạt 15.735 nghìn tấn, doanh nghiệp trong nước cũng tăng số lượng nhà máy lên 147 nhà máy song công suất chỉ đạt, 12.465 Điều này cho thấy công suất chế biến TACN gia súc gia cầm của các doanh nghiệp FDI cao hơn so với các doanh nghiệp
Trang 23trong nước Nguyên nhân đạt được công suất cao của các doanh nghiệp FDI là
do các doanh nghiệp này đã đầu tư cơ sở vật chất tốt, dây truyền chế biến TACN hiện đại, ngược lại các doanh nghiệp trong nước với nguồn vốn hạn hẹp không có khả năng đầu tư dây truyền chế biến TACN hiện đại công suất lớn như các doanh nghiệp FDI vì vậy mặc dù với số lượng nhà máy chế biến nhiều gấp đôi doanh nghiệp FDI song công suất chế biến TACN lại thấp hơn
Ngoài ra, số lượng nhập khẩu nguyên liệu TACN cũng tăng lên nhanh chóng năm 2011 số lượng nhập khẩu nguyên liệu TACN là 8.873.229,0 (tấn) đến năm 2015 số lượng nhập khẩu nguyên liệu TACN đạt 15.439.805,2*** (tấn) Từ những số liệu ở Bảng số lượng nhập khẩu nguyên liệu TACN giai đoạn 2011 – 2015 cho thấy nhu cầu sản xuất, chế biến và tiêu thụ nguyên liệu thức ăn trong nước ngày càng tăng mạnh
Bảng 1.3 Số lượng nhập khẩu nguyên liệu TACN giai đoạn 2011-2015
Nguồn: Báo cáo của Cục Chăn nuôi về quản lý TACN năm2017
1.1.3 Quy trình thực hiện chính sách quản lý thức ăn chăn nuôi
Quy trình chính sách là công cụ quản lý phản ánh chính kiến của Nhà nước đối với các vấn đề phát sinh trong đời sống kinh tế xã hội mang tính thống nhất và ổn định [19, tr19]
Quy trình thực hiện chính sách quản lý thức ăn chăn nuôi Ở Việt Nam được thực hiện thông qua hệ thống Luật và các văn bản chính sách hướng dẫn cụ thể như: Nghị định, Thông tư về quản lý sản xuất kinh doanh TACN sau đây
Bước 1: Chính phủ ban hành các Luật để quản lý hoạt động theo từng
lĩnh vực hoạt động của Chính phủ như: Luật tổ chức Chính phủ ngày
Trang 2419/6/2015; Luật Thú y ngày 19 tháng 6 năm 2015; Luật thủy sản ngày 26/11/2003; Luật tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật ngày 29/6/2006; Luật chất lượng sản phẩm hàng hóa ngày 21/11/2007; Luật đầu tư ngày 26/11.2014 và gần đây nhất là Luật chăn nuôi ngày 19/11/2018
Các văn bản Luật ra đời nhằm nhằm thiết lập khung pháp lý tạo điều kiện phát triển từng ngành, lĩnh vực để phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội.Trong đó có ngành chăn nuôi liên quan đến vấn đề quản lý giống vật nuôi,
xử lý chất thải trong chăn nuôi, quản lý mặt hàng TACN Nhằm thúc đẩy phát triển sản xuất chăn nuôi, tạo ra nhiều việc làm, tăng thu nhập cho người dân, tạo giá trị kim ngạch xuất khẩu
Bước 2: Để hướng dẫn các văn bản Luật có liên quan đòi hỏi Chính
phủ phải ban hành các Nghị định để quy định chi tiết các điều, khoản điểm được nêu trong Luật Liên quan đến quản lý nhà nước lĩnh vực TACN nuôi có Nghị định số 08/2010/NĐ-CP ngày 05/02/2010 của Chính phủ về quản lý thức ăn chăn nuôi và Nghị định số 39/2017/NĐ-CP ngày 04/4/2017 của Chính phủ về quản lý thức ăn chăn nuôi, thủy sản Nghị định 08 năm 2010 ra đời đã quy định về sản xuất, kinh doanh; xuất khẩu, nhập khẩu; khảo nghiệm và công nhận thức ăn chăn nuôi; quản lý nhà nước; kiểm tra, thanh tra và các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực thức ăn chăn nuôi Tuy nhiên sau 7 năm đi vào thực hiện Nghị định đã bộ lộ nhiều bất cập do đó ngày 04/4/2017 Chính phủ ban hành Nghị định 39 về quản lý thức ăn chăn nuôi, thủy sản Nghị định 39 ra đời trên cơ sở kế thừa những ưu điểm của Nghị định 08 đồng thời bổ sung và khắc phục những thiếu xót của Nghị định 08 Ví dụ: các quy định về điều kiện đối với cơ sở sản xuất, gia công thức ăn chăn nuôi tại Nghị định 08/2010 chỉ quy định mang tính chung chung đến Nghị định 39/2017 những quy định đã cụ thể hơn về điều kiện nhà xưởng và một số yêu cầu liên quan đến tác động đối với môi trường Nghị định 08 chỉ quy định chung đối với cơ sở sản xuất kinh doanh TACN đến Nghị định 39 đã quy định cụ thể
Trang 25cho tường đối tượng (Ví dụ: đối với cơ sở mua bán TACN; đối với cơ sở nhập khẩu TACN) Liên quan đến lĩnh vực xử phạt các vi phạm hành chính trong lĩnh vực TACN Chính phủ đã ban hành Nghị định số 64/2018/NĐ-CP ngày 07/5/2018 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giống vật nuôi, thức ăn chăn nuôi, thủy sản
Bước 3: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã ban hành các Thông
tư để hướng dẫn Nghị định Trong đó, thông tư số 66/2011/TT-BNNPTNT ngày 10/10/2011 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định chi tiết một số điều Nghị định số 08/2010/NĐ-CP ngày 05/02/2010 của Chính phủ về quản lý thức ăn chăn nuôi;Thông tư số 20/2017/TT-BNNPTNT ngày 10/11/2017 của
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn thực hiện Nghị định số 39/2017/NĐ-CP ngày 04 tháng 4 năm 2017 của Chính phủ về quản lý thức ăn chăn nuôi, thủy sản Các Thông tư nêu trên của Bộ trưởng nhằm hướng dẫn chi tiết điều, khoản điểm trong Nghị định của Chính phủ về quản lý TACN
Quy trình ban hành và thực hiện các văn bản quản lý nêu trên là phù hợp với hệ thống văn bản quy phạm pháp luật trong từng thời kỳ và phù hợp với thực tiễn quản lý, đặc biệt việc quản lý TACN quy định tại Nghị định số
39 đang có hiệu lực thi hành có nội dung phù hợp với Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật năm 2006, Luật Chất lượng sản phẩm hàng hóa năm
2007, Luật Doanh nghiệp năm 2014, Luật Đầu tư năm 2014, phù hợp với tập quán thương mại quốc tế và các Điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết
1.2 Thực tiễn về thực hiện chính sách quản lý thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam giai đoạn trước năm 2010
Trước năm 2010 việc quản lý thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam được thực hiện theo một số văn bản sau: Nghị định số 15/1996/NĐ-CP ngày 19/3/1996
về việc quản lý thức ăn chăn nuôi; Thông tư số 15/2009/TT-BNN ngày 17/3/2009 thông tư ban hành danh mục thuốc hóa chất, kháng sinh cấm sử dụng, hạn chế sử dụng; Quyết định số 88/2008/QĐ-BNN ngày 22/8/2008
Trang 26Quyết định ban hành danh mục thức ăn chăn nuôi, nguyên liệu thức ăn chăn nuôi nhập khẩu vào Việt Nam theo mã số HS
Tình hình thực hiện chính sách quản lý TACN giai đoạn trước năm
2010 so với giai đoạn 2010 đến nay: việc quản lý TACN ở Việt Nam thực hiện theo các tiêu chí sau: quản lý điều kiện nhà xưởng; quản lý sản phẩm TACN trong nước; quản lý TACN nhập khẩu; quản lý TACN xuất khẩu; quản
lý về Khảo nghiệm TACN và vi phạm hành chính trong TACN
- Quản lý điều kiện nhà xưởng: trước năm 2010 việc quản lý điều kiện nhà xưởng có nhưng còn sơ sài, chưa có văn bản hướng dẫn Sau năm 2010 việc quản lý đối với tiêu chí này có chi tiết hơn và được thực hiện theo hướng dẫn tại Thông tư số 66/2011/TT-BNNPTNT
- Quản lý sản phẩm TACN sản xuất trong nước: trước năm 2010 phải đăng ký tiêu chuẩn chất lượng TACN (tự công bố tiêu chuẩn, sau đó đăng ký với cơ quan quản lý) Sau năm 2010 phải công bố tiêu chuẩn chất lượng; phải công bố hợp quy (với sản phẩm có QCKT); phải đăng ký vào Danh mục được phép lưu hành vớ cơ quan quản lý nhà nước
- Quản lý TACN xuất khẩu: trước năm 2010 phải xin cấp phép mới được xuất khẩu Sau năm 2010 TACN xuất khẩu chỉ cần đáp ứng theo quy định của nước nhập khẩu
- Kiểm tra chất lượng TACN: trước năm 2010 chỉ quy định về mặt nguyên tắc Sau năm 2010 quy định cụ thể, cách thức thực hiện, cơ quan thực hiện
- Quản lý về khảo nghiệm TACN: trước năm 2010 chưa có quy định Sau năm 2010 đã có quy đinh đối với TACN mới phải khảo nghiệm
- Quy định về vi phạm hành chính: chưa có quy định các hành vi vi phạm hành chính Sau năm 2010 có quy định và liệt kê cụ thể các hành vi vi phạm hành chính
Chính sách quản lý TACN giai đoạn trước năm 2010 còn nhiều bất cập
so với giai đoạn từ năm 2010 đến nay sau khi có một loạt các chính sách quản
Trang 27lý TACN nuôi mới như nghị định số 08/2010, nghị định số 39/2017 về quản
lý TACN và nghị định số 64/2018 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giống vật nuôi và TACN có hiệu lực
Nguyên nhân của những bất cập trong chính sách quản lý TACN giai đoạn trước năm 2010 là do:
Một là, trước năm 2010 ngành Chăn nuôi Việt Nam là ngành nông
nghiệp truyền thống Trình độ chăn nuôi phát triển ở mức thấp, tốc độ tăng trưởng chậm Chăn nuôi vẫn mang đặc điểm cố hữu của nền nông nghiệp truyền thống của Việt Nam
Hai là, quy mô chăn nuôi manh múm nhỏ lẻ chưa có nhiều khu chăn
nuôi tập trung, chăn nuôi công nghiệp Hộ chăn nuôi nhỏ và siêu nhỏ chiếm 65-70% đầu con Đặc điểm này là yếu tố dẫn đến hệ lụy tiêu cực của ngành chăn nuôi
Ba là, kỹ thuật chăn nuôi và chế biến TACN ở mức thấp, xuất phát từ
mô hình chăn nuôi nông hộ nên chưa tiếp cận được với kỹ thuật chăn nuôi Chăn nuôi thời điểm này chủ yếu là nhỏ lẻ, tự phát Nguồn TACN chủ yếu là thức ăn truyền thống
Bốn là, chưa chủ động sản xuất chế biến TACN công nghiệp, nguồn
TACN công nghiệp trong giai đoạn này chủ yếu là nhập khẩu
Năm là, đầu ra cho sản phẩm chăn nuôi thấp, giá thành không ổn đinh,
chi phí cho việc mua TACN cao do giá thành nhập khẩu TACN ở mức cao dẫn đến lợi nhuận từ chăn nuôi thấp
Đây là những nguyên nhân cơ bản dẫn đến ngành công nghiệp TACN chưa phát triển do đó việc quản lý nhà nước về tình hình sản xuất, kinh doanh
và nhập khẩu TACN công nghiệp chưa thực sự được chú trọng
Trang 28Tiểu kết chương
- Chương 1 tác giả đã phân tích những vấn đề lý luận và thực tiễn về chính sách quản lý TACN tại Việt Nam thông qua các văn bản quy phạm pháp luật lĩnh vực TACN cụ thể là Nghị định 39/2017/NĐ-CP ngày 04 tháng
4 năm 2017 về quản lý thức ăn chăn nuôi
- Thực hiện chính sách quản lý TACN là hoạt động nằm trong chu trình chính sách công được cơ quan quản lý nhà nước là Cục Chăn nuôi Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thực hiện nhằm mục đích định hướng phát triển sản xuất, kinh doanh và sử dụng TACN, tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, quy trình sản xuất, tiêu chuẩn, quy chuẩn, cơ chế, chính sách khuyến khích phát triển TACN, Quản lý khảo nghiệm và công nhận TACN mới, nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ tiên tiến; tuyên truyền, phổ biến kiến thức, kinh nghiệm về sản xuất, quản lý và sử dụng TACN, thanh tra việc chấp hành quy định của Nhà nước đối với các tổ chức cá nhân kinh doanh TACN
Qua nghiên cứu các cơ sở lý luận, các khái niệm liên quan đến quản lý thức
ăn chăn nuôi tại Nghị Định 39 tác giả đã phân tích quá trình tổ chức thực hiện việc quản lý thức ăn chăn nuôi tại Việt Nam trong thời gian qua
Từ những vấn đề lý luận chung tại chương 1đã giúp tác giả xây dựng được
cơ sở khoa học cho việc phân tích, đánh giá thực trạng thực hiện chính sách quản
lý thức ăn chăn nuôi ở chương 2 và đề ra các giải pháp thực hiện hiệu quả các chính sách quản lý thức ăn trong chương 3
Trang 29Chương 2 TRIỂN KHAI THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ THỨC ĂN
CHĂN NUÔI TẠI VIỆT NAM 2.1 Chính sách quản lý thức ăn chăn nuôi tại Việt Nam từ năm 2010 đến nay
2.1.1 Mục tiêu của chính sách quản lý thức ăn chăn nuôi
- Bảo đảm an ninh về thực phẩm quốc gia trong mọi tình huống, từng bước cải thiện cơ cấu và chất lượng bữa ăn, tiến tới đạt tiêu chuẩn về dinh dưỡng
- Chuyển dịch cơ cấu chăn nuôi từ chăn nuôi quảng canh quy mô nhỏ
sang chăn nuôi trang trại tập trung công nghiệp hiện đại, từng bước tiến kịp
các nước trong khu vực và đến 2020 đạt trình độ tiên tiến trên thế giới
- Bằng nhiều biện pháp phát triển mạnh ngành công nghiệp chế biến
thức ăn chăn nuôi trên cơ sở mở rộng quy mô, đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng và hạ giá thành sản phẩm, mặt khác đạt mục tiêu giải quyết việc làm nâng cao thu nhập cho người dân ở nông thôn
- Chuyển một phần diện tích đất nông nghiệp để trồng cỏ thâm canh và các loại cây nguyên liệu thức ăn chăn nuôi bằng các giống năng suất cao, giàu đạm Nâng cao năng lực chế biến nguyên liệu trong nước và tận dụng triệt để nguồn phụ phẩm nông, công nghiệp làm TACN
- Sản lượng thức ăn chăn nuôi công nghiệp: tăng bình quân 7,8%/năm, đạt khoảng 23,15 triệu tấn vào năm 2016
- Xây dựng chương trình phát triển thức ăn chăn nuôi và dinh dưỡng vật nuôi theo hướng: Sử dụng thức ăn, các chất dinh dưỡng, phụ gia và kháng sinh trong khẩu phần chăn nuôi phải đảm bảo nhu cầu sinh trưởng, phát triển, sản xuất của vật nuôi và an toàn thú y, an toàn vệ sinh thực phẩm
- Phát triển phương thức chăn nuôi theo hướng sử dụng thức ăn chăn nuôi công nghiệp và qua chế biến Nguyên liệu và thức ăn chăn nuôi phải được kiểm soát, đảm bảo chất lượng trước khi sử dụng cho vật nuôi Đối với
Trang 30thức ăn chăn nuôi công nghiệp phải có nguồn gốc nơi sản xuất, nhà cung cấp,
có nhãn mác chất lượng, có bao bì quy cách theo tiêu chuẩn của nhà sản xuất phù hợp với tiêu chuẩn được cơ quan quản lý nhà nước công nhận
2.1.2 Các nguyên tắc của quản lý nhà nước về sản xuất và kinh doanh TACN
- Xuất phát từ bản chất chế độ chính trị, từ thực tiễn xây dựng nhà nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa có thể rút ra các nguyên tắc quản lý nhà nước về TACN ở nước ta như sau:
- Nguyên tắc quản lý nhà nước về TACN luôn đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng và có sự tham gia, kiểm tra, giám sát của nhân dân
- Nguyên tắc quản lý hành chính nhà nước về TACN bằng pháp luật và tăng cường pháp chế
- Nguyên tắc kết hợp quản lý nhà nước TACN theo ngành và theo lãnh thổ
- Nguyên tắc phân định hoạt động quản lý hành chính nhà nước về thức
ăn chăn nuôi với các hoạt động sản xuất - kinh doanh của các chủ thể kinh tế Nhà nước và hoạt động sự nghiệp của các đơn vị sự nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thức ăn chăn nuôi
- Nguyên tắc công khai, minh bạch đảm bảo chính sách áp dụng được cho các đối tượng của chính sách là các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài có hoạt động liên quan đến quản lý, sản xuất, kinh doanh và sử dụng TACN trên lãnh thổ Việt Nam
2.1.3 Nội dung chính sách quản lý thức ăn chăn nuôi tại Việt Nam
Theo Điều 4 Nghị định số 39/2017/NĐ-CP ngày 04 tháng 4 năm 2017 của Chính phủ, Nội dung quản lý Nhà nước về thức ăn chăn nuôi có 10 nội dung như sau:
1 Định hướng phát triển sản xuất và sử dụng thức ăn chăn nuôi
2 Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, quy trình sản xuất, tiêu chuẩn, quy chuẩn, cơ chế, chính sách khuyến khích phát triển thức ăn chăn nuôi
Trang 313 Quản lý khảo nghiệm và công nhận thức ăn chăn nuôi mới
4 Thu thập và quản lý các thông tin, tư liệu về thức ăn chăn nuôi
5 Tổ chức nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ tiên tiến vào các hoạt động trong lĩnh vực thức ăn chăn nuôi
6 Đầu tư, phát triển hệ thống khảo nghiệm, kiểm nghiệm đáp ứng yêu cầu sản xuất, kinh doanh và quản lý nhà nước về chất lượng thức ăn chăn nuôi
7 Đào tạo, bồi dưỡng và cấp chứng chỉ tạo nguồn nhân lực phục vụ hoạt động quản lý nhà nước về thức ăn chăn nuôi
8 Tuyên truyền, phổ biến kiến thức, kinh nghiệm về sản xuất, quản lý
và sử dụng thức ăn chăn nuôi
9 Kiểm tra, thanh tra việc chấp hành quy định của Nhà nước về thức
ăn chăn nuôi
10 Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực thức ăn chăn nuôi.[12, tr3]
2.2 Triển khai thực hiện chính sách quản lý thức ăn chăn nuôi tại Việt Nam từ năm 2010 đến nay
Từ năm 2010 đến nay, việc triển khai thực hiện chính sách quản lý TACN tại Việt Nam đang được điều chỉnh bởi một loạt văn bản quy phạm pháp luật như: Nghị định số 08/2010/NĐ-CP ngày 05/02/2010 của Chính phủ
về quản lý thức ăn chăn nuôi; Nghị định số 39/2017/NĐ-CP ngày 04/4/2017 của Chính Phủ về quản lý thức ăn chăn nuôi, thủy sản; Nghị định số 64/2018/NĐ-CP ngày 07/5/2018 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giống vật nuôi, thức ăn chăn nuôi thủy sản
Ngoài ra quản lý TACN còn được thực hiện bởi một số các thông tư hướng dẫn như: Thông tư số 66/2011/TT-BNNPTNT ngày 10/11/2011 của
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định chi tiết một số điều của Nghị định số 08/2010/NĐ-CP ngày 05/02/2010 của Chính phủ về quản lý thức ăn chăn nuôi; Thông tư số 50/2014/TT-BNNPTNT ngày 24/11/2014 của
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn sửa đổi, bổ sung Thông tư số 66/2011/TT-BNNPTNT; Thông tư số 29/2015/TT-BNNPTNT ngày
Trang 3204/9/2015 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn sửa đổi, bổ sung Thông tư số 66/2011/TT-BNNPTNT; Thông tư số 57/2012/TT-BNNPTNT ngày 07/11/2012 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định việc kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm các chất cấm thuộc nhóm Beta-agonist trong chăn nuôi; Thông tư số 28/2014/TT-BNNPTNT ngày 04/9/2014 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành danh mục hóa chất, kháng sinh cấm nhập khẩu, sản xuất, kinh doanh và sử dụng trong thức ăn chăn nuôi gia súc, gia cầm tại Việt Nam; Thông tư số 01/2017/TT-BNNPTNT ngày 16/01/2017 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành Danh mục
bổ sung hóa chất, kháng sinh cấm nhập khẩu, sản xuất, kinh doanh và sử dụng trong thức ăn chăn nuôi gia súc, gia cầm tại Việt Nam; Thông tư số 06/2016/TT-BNNPTNT ngày 31/5/2016 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành Danh mục kháng sinh được phép sử dụng trong thức ăn chăn nuôi gia súc, gia cầm nhằm mục đích kích thích sinh trưởng; Thông tư số 45/2014/TT-BNNPTNT ngày 03/12/2014 của Bộ nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định việc kiểm tra cơ sở sản xuất, kinh doanh vật tư nông nghiệp và kiểm tra, chứng nhận cơ sở sản xuất, kinh doanh nông lâm thủy sản đủ điều kiện an toàn thực phẩm; Thông tư số 20/2017/TT-BNNPTNT ngày 10/11/2017 của Bộ Nông nghiệp và PTNT hướng dẫn thực hiện Nghị định 39/2017/NĐ-CP ngày 4/4/2017
Hiện nay, việc triển khai hoạt động quản lý nhà nước lĩnh vực TACN ở Việt Nam được thực hiện theo cơ cấu ngành dọc Bộ máy quản lý nhà nước đối với TACN tại Việt Nam được thực hiện theo quy định tại Quyết định số1398/QĐ-BNN-TCCB ngày 13 tháng 4 năm 2017 Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạnvà cơ cấu tổ chức của Cục Chăn nuôi Quyết định, quy định Cục Chăn nuôi là cơ quan trực thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, thực hiện chức năng tham mưu giúp Bộ trưởng quản lý nhà nước chuyên ngành và thực thi nhiệm vụ quản lý nhà nước trong lĩnh vực TACN
Trang 332.2.1 Nhiệm vụ của Cục Chăn nuôi
Tại điều 2 mục 7 Quyết định số 1398/QĐ-BNN-TCCB quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục Chăn nuôi có quy định về TACN cụ thể đối với Cục Chăn nuôi như sau:
a) Trình Bộ ban hành Danh mục về quản lý thức ăn chăn nuôi theo quy định của pháp luật;
b) Chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra, quản lý về chất lượng thức ăn chăn nuôi gia súc, gia cầm và các loại vật nuôi trên cạn theo quy định của pháp luật;
c) Quản lý và tổ chức thực hiện công tác khảo nghiệm thức ăn chăn nuôi, kiểm tra, xác nhận chất lượng thức ăn chăn nuôi, công nhận thức ăn chăn nuôi mới theo quy định của pháp luật;
d) Quản lý sản xuất, kinh doanh thức ăn chăn nuôi theo quy định của Pháp luật [9, tr3]
Sơ đồ 2.1 Mô hình hệ thống quản lý nhà nước về thức ăn chăn nuôi công nghiệp
Nguồn: Cục Chăn nuôi - Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Ghi chú: Lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp
Phụ trách về chuyên môn
BỘ NÔNG NGHIỆP
VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
Sở NN& PTNT Cục Chăn nuôi
(Phòng TĂCN)
Uỷ ban nhân dân huyện
Phòng Chăn nuôi
Phòng NN& PTNT
Các đơn vị sản xuất, kinh doanh TACN
Trang 342.2.2 Nhiệm vụ của Sở Nông nghiệp và Phát triên nông thôn
Theo hướng dẫn tại thông tư Số: 02/2011/TT-BNNPTNT ngày 21 tháng 01 năm 2011 hướng dẫn nhiệm vụ quản lý nhà nước về chăn nuôi, Điều
2, nhiệm vụ của Sở Nông nghiệp và Phát triên nông thôn về chăn nuôi, mục 4
về TACN được quy định như sau:
a) Hướng dẫn chuyên môn nghiệp vụ liên quan đến thức ăn chăn nuôi; b) Tổ chức thực hiện và chịu trách nhiệm việc chứng nhận công bố hợp quy về thức ăn chăn nuôi thuộc phạm vi quản lý của Sở;
c) Tham gia quản lý các mặt hàng thức ăn chăn nuôi trong Danh mục thức ăn chăn nuôi được phép lưu hành tại Việt Nam;
d) Tổ chức thực hiện quản lý các chất cấm sản xuất, nhập khẩu, lưu thông và sử dụng trong sản xuất, kinh doanh thức ăn chăn nuôi tại địa phương [8,tr2]
2.2.3 Hoạt động quản lý thức ăn chăn nuôi tại các Sở Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn
Hoạt động này được quy định tại Điều 3 Thông tư BNNPTNT về trách nhiệm và quyền hạn của Sở Nông nghiệp và PTNT, bao gồm các nội dung sau:
02/2011/TT-a) Tham mưu cho Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về thức ăn chăn nuôi trong phạm vi địa phương
b) Thống nhất quản lý Nhà nước về thức ăn chăn nuôi tại địa phương; c) Kiểm tra, thanh tra và xử lý các vi phạm về chất lượng thức ăn chăn nuôi,nhãn hàng hoá; các hình thức quảng cáo và sử dụng thức ăn chăn nuôi theo phạm vi quản lý của địa phương; báo cáo kết quả kiểm tra, thanh tra về Cục Chăn nuôi;
d) Thực hiện việc quản lý về thức ăn chăn nuôi theo chức năng nhiệm
vụ được giao;
Trang 35e) Kiểm tra và xác nhận chất lượng thức ăn chăn nuôi xuất, nhập khẩu khi được uỷ quyền;
f) Chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết quả kiểm tra;
g) Báo cáo tình hình sản xuất, kinh doanh thức ăn chăn nuôi trên địa bàn cho Cục Chăn nuôi định kỳ hàng quý, 6 tháng hoặc khi có yêu cầu và sau các đợt thanh, kiểm tra về thức ăn chăn nuôi.[8, tr3]
2.2.4 Nhiệm vụ của Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
- Theo hướng dẫn tại thông tư số: 02/2011/TT-BNNPTNT tại Điều 3 nhiệm vụ của Phòng Nông nghiệp và PTNT ở huyện hoặc Phòng Kinh tế ở các Quận, Thị xã, Thành phố thuộc tỉnh về chăn nuôi, mục 4 về thức ăn chăn nuôi quy định như sau:
a) Phổ biến, hướng dẫn và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, chuyên môn nghiệp vụ liên quan đến thức ăn chăn nuôi;
b) Tham gia quản lý chất lượng thức ăn chăn nuôi sản xuất, lưu thông trên địa bàn;
c) Kiểm tra điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi; việc niêm yết giá thức ăn chăn nuôi đối với tổ chức, cá nhân kinh doanh thức ăn chăn nuôi trên địa bàn;
d) Tham gia quản lý các chất cấm sử dụng trong thức ăn chăn nuôi tại các cơ sở sản xuất thức ăn chăn nuôi; các đại lý kinh doanh thức ăn chăn nuôi, thuốc thú y; các cơ sở chăn nuôi gia súc, gia cầm và các cơ sở giết mổ gia súc [8, tr3]
Cách thức tổ chức thực hiện chính sách quản lý TACN tại Việt Nam được diễn ra như sau
a) Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách
Sau khi Nghị định 39/2017/ NĐ-CP về quản lý TACN thủy sản được ban hành Cục Chăn nuôi – Bộ Nông nghiệp đã lên kế hoạch xây dựng các văn bản hướng dẫn Nghị định cụ thể là Thông tư số 20/2017/TT-BNNPTNT ngày
Trang 3610/11/2017 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn thực hiện Nghị định 39/2017/NĐ-CP ngày 4/4/2017; lên kế hoạch về thời gian triển khai thực hiện chính sách; ban hành Nghị định số 64/2018/NĐ-CP ngày 07/5/2018 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giống vật nuôi, thức ăn chăn nuôi thủy sản; Thực hiện thanh tra, kiểm tra việc thực hiện chính sách quản lý TACN; ban hành nội quy, quy chế, trách nhiệm và quyền hạn của công chức liên quan đến thực hiện chính sách quản lý TACN, có biện pháp khen thưởng và kỷ luật cá nhân, tập thể trong tổ chức thực hiện chính sách
b) Tuyên truyền phổ biến pháp luật
Đây là nội dung được cơ quan ban hành chính sách cụ thể là Cục Chăn nuôi rất chú trọng, hầu hết các văn bản mới như Nghị định và Thông tư khi có hiệu lực ban hành đều được tổ chức tập huấn cho các địa phương và doanh nghiệp: cụ thể trong năm 2017-2018, Cục Chăn nuôi đã mở 3 đợt tập huấn lớn tại 3 miền (Bắc, Trung, Nam) trên địa bàn cả nước để tiện lợi cho các địa phương tham gia là Hải Phòng, Đà Nẵng và TP Hồ Chi Minh Có trên 1.500 người đại diện cơ các cơ quan liên quan đến hoạt động quản lý chất lượng và ATTP lĩnh vực TACN tham gia, như: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, đại diện cơ quan y tế, công thương, công an, các doanh nghiệp, người sản xuất
và các đoàn thể theo chương trình phối hợp do Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khởi xướng Đây là lĩnh vực quản lý chất lượng vật tư nông nghiệp đầu tiên và cũng là duy nhất đến thời điểm hiện tại đã tập huấn nghiệp vụ quản lý chuyên ngành cho các thành viên trong Mặt trận tổ quốc Việt Nam
- Thực hiện tuyên truyền qua các kênh thông tin như: báo, đài phát thanh, truyền hình, khuyến nông bằng nhiều hình thức, thể loại như phát hành
tờ rơi (trên 10.000 bản hướng dẫn ngắn về cách thức kiểm tra nhanh các chất cấm thuộc nhóm Beta agonist bằng kit thử nhanh…), tài liệu, sách mỏng (trên 1.000 bộ sách cẩm nang về pháp luât, hỏi đáp về hoạt động thanh, kiểm tra
Trang 37liên quan đến quản lý ngành chăn nuôi mà trọng tâm là chất lượng và ATTP lĩnh vực thức ăn chăn nuôi)
- Tổ chức phát động cuộc vận động nói không với chất cấm và lạm dụng kháng sinh trong chăn nuôi Từ năm 2012 khi tình hình sử dụng chất cấm bùng phát trở lại sau vụ Melamine trong các nguyên liệu TACN có nguồn gốc từ các sản phẩm sữa, các sản phẩm cao đạm năm 2008, Cục Chăn nuôi đã chỉ đạo các địa phương phát động phong trào ký cam kết nói không với chất cấm tại các cấp xã phường, đồng thời cho mở các đường dây nóng ở các cấp quản lý để nhân dân có điều kiện tố giác, phát giác các hành vi vi phạm về sử dụng chất cấm trong chăn nuôi Những kinh nghiệm này càng phát huy hiệu quả vào thời điểm cuối năm 2015 và trong năm 2016 khi việc sử dụng chất cấm trong chăn nuôi tái bùng phát ra diện rộng Với chủ trương ban đầu phối hợp giữa cơ quan quản lý nhà nước với các tổ chức chính trị xã hội như Hội Chăn nuôi Việt Nam và một số doanh nghiệp đăng ký với Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triên nông thôn tổ chức triển khai ký cam kết không dùng chất cấm và lạm dụng kháng sinh trong chăn nuôi cho 100 nghìn hộ chăn nuôi, giết mổ của 20 tỉnh, TP trực thuộc TW, thì phong trào này đã lan rộng ra trên 53 tỉnh, TP với trên 330.000 hộ chăn nuôi, giết mổ chế biến và kinh doanh thực phẩm đã ký cam kết với các Chi cục Chăn nuôi, Thú y và các cấp xã phường
c) Phân công phối hợp thực hiện chính sách
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã thực hiện chỉ định các tổ chức xã hội tham gia hoạt động thử nghiệm và chứng nhận sự phù hợp lĩnh vực TACN Hoạt động này nhằm:
- Thực hiện tối đa chủ trương xã hội hóa các dịch vụ công giúp tăng cường nguồn lực đầu tư và giám sát của xã hội đối với hoạt động quản lý TACN, cụ thể:
Trang 38- Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã chỉ định 45 phòng thử nghiệm và 14 tổ chức chứng nhận hợp quy lĩnh vực TACN cho các đơn vị nếu có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật thì đều có thể tham gia các hoạt động dịch vụ công về quản lý TACN
Giải pháp này đã huy động được trên 2.000 kỹ thuật viên và hàng trăm
tỷ đồng trang thiết bị của các thành phần kinh tế tham gia hoạt động dịch vụ công trong quản lý TACN vừa tránh được tình trạng tiêu cực nhũng nhiễu người dân do một cơ quan, đơn vị “độc quyền” quản lý gây ra Người sản xuất, kinh doanh luôn nhận được dịch vụ tốt nhất, do các tổ chức được nhà nước chỉ định buộc phải cạnh tranh nâng cao chất lượng phục vụ (nhanh nhất,
rẻ nhất…); còn công chức thay vì phải làm trực tiếp sẽ là tăng cường kiểm tra, giám sát các tổ chức được ủy quyền, chỉ định vừa giảm áp lực công việc, vừa
có thời gian nghiên cứu hoàn thiện thể chế, chính sách phát triển ngành
d) Duy trì chính sách quản lý TACN tại Việt Nam
Đây là hoạt động đảm bảo cho chính sách quản lý TACN tồn tại được
và phát huy tác dụng trong điều kiện thực tế Hoạt động này đã được Cục Chăn nuôi – Bộ nông nghiệp và Phát triển nông thôn hết sức coi trọng Hầu hết các văn bản quản lý TACN mới khi ra đời đều được tập huấn cho các địa phương và các doanh nghiệp Cục Chăn nuôi đã thành lập bộ phận một cửa là đơn vị trực thuộc Văn phòng Cục Bộ phận này có nhiệm vụ tiếp nhận hồ sơ liên quan đến hoạt động xuất nhập khẩu mặt hàng TACN và trả lời những vướng mắc đối với các thủ tục hành chính lĩnh vực TACN
e) Điều chình chính sách quản lý TACN tại Việt Nam
Theo giáo trình bài giảng tài liệu Tổng quan chính sách công của khoa
Chính sách công – Học viện Khoa học xã hội, “Điều chỉnh chính sách được
thực hiện bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền để cho chính sách ngày càng phù hợp với yêu cầu quản lý và tình hình thực tế”[19, tr26]
Trang 39Điều chỉnh chính sách quản lý TACN tại việt Nam được thực hiện bởi
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Ví dụ: sau khi Nghị định số 39 ban hành Ngày 12/7/2017 Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có tờ trình số 5683/TTr-BNN-CN về việc đính chính Nghị định số 39 do nội dung liên quan đến điều khoản chuyển tiếp tại Khoản 5 điều 29 không đề cập tới một số khó khăn mà các doanh nghiệp TACN đang gặp phải cụ thể là: số lượng sản phẩm TACN hết hạn lưu hành thời điểm Nghị định 39 có hiệu lực là rất nhiều Do vậy, buộc các doanh nghiệp phải đăng ký lại những sản phẩm TACN hết hạn theo quy định mới tại Nghị định 39 thì sẽ gây khó khăn cho các doanh nghiệp cũng như cơ quan quản lý Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã có Tờ trình đề nghị Chính phủ cho phép đính chính nội dung Khoản 5 điều 29 quy định về điều khoản chuyển tiếp để gia hạn thời gian lưu hành thêm 18 tháng đối với sản phẩm TACN hết hiệu lực trong vòng 6 tháng kể từ ngày Nghị định 39 có hiệu lực)
h) Theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện chính sách quản lý TACN
Hoạt động thanh tra, kiểm tra viếc chấp hành pháp luật lĩnh vực TACN luôn được cơ quan ban hành chính sách như Cục Chăn nuôi, Thanh tra Bộ và các
cơ quan nông nghiệp, quản lý thị trường ở các địa phương triển khai rất tích cực, nhất là vấn đề kiểm soát chất cấm trong chăn nuôi đã huy động cả hệ thống chính trị vào cuộc đây là lĩnh vực cần có sự phối hợp tốt giữa các Bộ Nông nghiệp, Bộ công thương, Bộ y tế và công an ở cả cấp TW và các địa phương Theo đánh giá của các địa phương và các tổ chức chứng nhận sự phù hợp chất lượng sản phẩm thì hoạt động kiểm tra, thanh tra, thử nghiệm và chứng nhận sự phù hợp lĩnh vực TACN là lĩnh vực được tổ chức triển khai bài bản, tích cực và có sự phối hợp rất tốt giữa các Bộ, ngành và giữa Trung ương với các địa phương
Theo Báo cáo của Cục Chăn nuôi trong năm 2016:
- Đối với TACN sản xuất trong nước: Cục Chăn nuôi đã tổ chức thanh tra tại 87 cơ sở sản xuất kinh doanh thức ăn chăn nuôi trong nước Kết quả đã
Trang 40xử phạt hành chính 22 đơn vị vi phạm về điều kiện sản xuất và chất lượng thức ăn chăn nuôi Xử phạt vi phạm hành chính 347 triệu đồng
- Đối với TACN nhập khẩu: toàn bộ nguyên liệu và TACN nhập khẩu đều được kiểm tra chất lượng trước khi thông quan Trong năm 2016 phát hiện và xử phạt 25 lô hàng TACN nhập khẩu không đạt chất lượng với số tiền phạt là 538 triệu đồng, trong đó buộc tiêu hủy 4 lô và tái xuất 6 lô; trong 5 tháng đầu năm 2017 đã phát hiện và xử phạt 28 lô (có một số lô được chuyển sang từ năm 2016) với tổng số tiền phạt 1.006 triệu đồng, trong đó buộc tiêu hủy 7 lô, tái xuất 6 lô
- Công tác kiểm tra, thanh tra giám sát hoạt động của các đơn vị được chỉ định chứng nhận hợp quy: hàng năm, Cục Chăn nuôi Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tiến hành kiểm tra hoặc thanh tra ít nhất từ 1-2 lần; họp giao ban
6 tháng/lần và thường xuyên mở các lớp tập huấn trao đổi nghiệp vụ khi có những vấn đề phát sinh trong hoạt động chứng nhận sự phù hợp lĩnh vực TACN
- Công tác kiểm tra, thanh tra giám sát hoạt động của các phòng thử nghiệm: trong thời hạn chỉ định các phòng thử nghiệm là 3 năm, có ít nhất là một đoàn kiểm tra hoặc thanh tra của Bộ nông nghiệp hoặc đoàn liên ngành làm nhiệm vụ thanh kiểm tra Ngoài ra Bộ nông nghiệp và Phát triển nông thôn còn
tổ chức họp tổng kết hoạt động thử nghiệm với các phòng thử nghiệm và thường xuyên tổ chức các hoạt động liên phòng đối với các phép thử phức tạp, các phép thử hay có những sai khác giữa các phòng thử nghiệm
g) Đánh giá, tổng kết rút kinh nghiệm thực hiện chính sách quản lý TACN
Theo giáo trình bài giảng Tổng quan về chính sách công của Khoa Chính
sách công học viện Khoa học xã hội: “Đánh giá tổng kết trong bước tổ chức thực
hiện chính sách được hiểu là quá trình xem xét, kết luận về chỉ đạo, điều hành và chấp hành chính sách của các đối tượng thực thi chính sách” [19, tr27]
Hoạt động đánh giá tổng kết thực hiện chính sách quản lý TACN được Cục Chăn nuôi – Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thực hiện thường