1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Luận văn THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH bảo HIỂM xã hội bắt BUỘC đối với NGƯỜI LAO ĐỘNG tại DOANH NGHIỆP vừa và NHỎ ở nước TA HIỆN NAY

89 49 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 700,19 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI ĐẶNG THỊ HÀ KHUYÊN THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC ĐỐI VỚI NGƯỜI LAO ĐỘNG TẠI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ Ở NƯ

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

ĐẶNG THỊ HÀ KHUYÊN

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC ĐỐI VỚI NGƯỜI LAO ĐỘNG TẠI DOANH NGHIỆP

VỪA VÀ NHỎ Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

HÀ NỘI, 2019

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam kết bản luận văn: “Thực hiện chính sách BHXH bắt buộc đối với

người lao động tại doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nước ta hiện nay” là công trình

nghiên cứu của cá nhân tôi, không sao chép một phần hoặc toàn bộ luận văn nào khác Nếu có sai xót tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Hà Nội, ngày tháng năm 2019

Tác giả

Đặng Thị Hà Khuyên

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC TẠI CÁC DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ 9

1.1 Các khái niệm cơ bản 9

1.2 Các lý luận về chính sách bảo hiểm xã hội 16

1.3 Kinh nghiệm của địa phương thực hiện chính sách về bảo hiểm xã hội bắt buộc tại doanh nghiệp vừa và nhỏ 24

Chương 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC TẠI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI 30

2.1 Khái quát doanh nghiệp vừa và nhỏ tại thành phố Hà Nội 30

2.2 Việc tổ chức thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội tại doanh nghiệp vừa và nhỏ tại thành phố Hà Nội 32

2.3 Đánh giá kết quả thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội tại doanh nghiệp vừa và nhỏ tại thành phố Hà Nội hiện nay 42

Chương 3 ĐỊNH HƯỚNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC TẠI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI 53

3.1 Định hướng hoàn thiện chính sách bảo hiểm xã hội bắt buộc tại doanh nghiệp vừa và nhỏ 53

3.2 Các giải pháp hoàn thiện chính sách bảo hiểm xã hội tại doanh nghiệp vừa và nhỏ hiện nay 59

3.3 Kiến nghị đối với thành phố Hà Nội về thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội tại doanh nghiệp vừa và nhỏ 64

KẾT LUẬN 71

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 73

PHỤ LỤC I 75

Trang 5

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1: Bảng phân loại doanh nghiệp vừa và nhỏ 13 Bảng 2.1 Cơ cấu nhân khẩu tham gia khảo sát 33 Bảng 2.2 Thời gian hưởng chế độ ốm đau khi bản thân người lao động bị ốm 35 Bảng 2.3 Thời gian hưởng chế độ ốm đau khi con dưới 7 tuổi bị ốm 35 Bảng 2.4: Điều kiện hưởng lương hưu cơ bản 41

Trang 7

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

BHXH được coi là một trụ cột chính của hệ thống an sinh xã hội, góp phần quan trọng trong thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội với quan điểm tiếp cận BHXH là quyền an sinh xã hội mang tính phổ quát, gắn với mục tiêu mở rộng phạm vi bao phủ toàn dân theo lộ trình phù hợp Là một quốc gia có tốc độ già hóa dân số nhanh và tỷ trọng lao động phi chính thức lớn, Việt Nam sẽ gặp phải nhiều thách thức khi xây dựng

hệ thống BHXH Luật Bảo hiểm xã hội đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua và Chủ tịch nước đã ký Sắc lệnh số 13/2006/SL-CTN ngày 12/07/2006 công bố Luật Bảo hiểm xã hội có hiệu lực từ ngày 01/01/2007 Như vậy Nhà nước ta đã có khung pháp lý cao nhất để điều chỉnh mọi quan hệ trong hoạt động BHXH

Ở Việt Nam, trải qua nhiều giai đoạn cải cách chính sách BHXH, nhất là từ sau khi khi Bộ luật Lao động, Luật Bảo hiểm xã hội có hiệu lực, việc thực hiện chính sách BHXH bắt buộc đối với người lao động đã đạt được những kết quả nhất định Tuy nhiên vẫn tồn tại nhiều vấn đề cần tiếp tục được cải cách trong thời gian tới Tình trạng trốn đóng BHXH vẫn diễn ra phổ biến nhưng các giải pháp khắc phục chưa đạt hiệu quả hữu hiệu Một trong những nguyên nhân chính là sự thiếu ý thức và trách nhiệm xã hội của một số chủ doanh nghiệp, chỉ quan tâm đến lợi ích kinh tế trước mắt mà không quan tâm đến quyền lợi của người lao động Bên cạnh đó, một số chính sách mới chưa được hướng dẫn kịp thời cũng đã gây không ít lúng túng trong việc tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật về BHXH Căn cứ vào Nghị định số 39/2018/NĐ-CP của chính phủ về quy định chi tiết một số điều của Luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa Theo đó, Nghị định quy định chi tiết các tiêu chí xác định thực hiện chính sách BHXH tại doanh nghiệp vừa

và nhỏ ở nước ta hiện nay:

Cụ thể, trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ; doanh nghiệp nhỏ và vừa được phân theo quy mô bao gồm:

- Doanh nghiệp siêu nhỏ: có số lao động tham gia BHXH bình quân năm không quá 10 người và tổng doanh thu của năm không quá 10 tỷ hoặc tổng nguồn vốn không quá 3 tỷ (trước đây không phân loại dựa vào vốn)

Trang 8

2

- Doanh nghiệp nhỏ: có số lao động tham gia BHXH bình quân năm không quá 50 người và tổng doanh thu của năm không quá 100 tỷ hoặc tổng nguồn vốn không quá 50

tỷ (trước đây là 10 tỷ trở xuống)

- Doanh nghiệp vừa: có số lao động tham gia BHXH bình quân năm không quá

100 người và tổng doanh thu của năm không quá 300 tỷ hoặc tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ

Theo quy định tại Luật Bảo hiểm xã hội 2014, từ ngày 1/1/2018 trở đi, người lao động đóng BHXH bắt buộc dựa trên mức lương, phụ cấp và nhiều khoản bổ sung khác ghi trong hợp đồng lao động Với cách tính mới này, nhiều doanh nghiệp đang lo ngại sẽ gánh thêm khoản chi phí khá lớn nếu đóng BHXH cho người lao động trên mức thu nhập cộng với phụ cấp, chi phí doanh nghiệp sẽ tăng lên rất lớn, chính sách đóng BHXH bắt buộc theo luật mới ảnh hưởng lớn đến chi phí của doanh nghiệp Mặc dù đã cắt giảm

14 khoản thu nhập phải đóng BHXH nhưng đối với các nhóm doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động như thủy sản, dệt may, da giày… chắc chắn vẫn sẽ chịu tác động nhiều bởi họ chịu tác động kép vừa tăng lương tối thiểu vừa tăng mức đóng BHXH Ngoài ra, việc thay đổi cách tính BHXH còn liên quan nhiều tới thủ tục hành chính, hệ thống sổ sách, thang bảng lương cũng phải thay đổi theo Doanh nghiệp sẽ tốn rất nhiều thời gian, chi phí cho việc tính toán lại các vấn đề này, đặc biệt ở những doanh nghiệp có tới cả chục nghìn lao động Cơ quan BHXH mong các chủ doanh nghiệp nên tìm hiểu nhiều điểm mới về luật từ đó không vi phạm quyền lợi của người lao động, cố gắng đi đúng hướng theo chính sách của Đảng và Nhà nước, tình trạng chủ doanh nghiệp không tham gia đóng đầy đủ bảo hiểm cho người lao động xảy ra rất nhiều; tình trạng trốn đóng, nợ đọng BHXH cũng diễn ra rất phổ biến Tiếp đó là tình trạng các doanh nghiệp quy mô nhỏ và siêu nhỏ không tham gia BHXH, BHYT, mà nguyên nhân dẫn đến tình trạng này

là do ý thức của một số chủ sử dụng lao động chưa nghiêm túc, hoặc gặp khó khăn trong sản xuất kinh doanh; dù cơ quan BHXH đã tổ chức thanh tra, kiểm tra, xử phạt nhiều lần nhưng vẫn không có khả năng đóng Ngoài ra, một phần cũng do nhận thức của người lao động, không biết được quyền lợi chính đáng của mình

Trang 9

3

Để khắc phục thực trạng doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ “né” tham gia bảo hiểm cho người lao động, truy thu nợ đọng BHXH, BHXH tại các địa phương cần phối hợp với UBND xã, phường, thị trấn và các đơn vị liên quan triển khai đồng bộ nhiều giải pháp căn bản như tập trung tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành quy định về bảo hiểm cho người lao động đối với chủ sử dụng lao động, đặc biệt là doanh nghiệp nước ngoài, doanh nghiệp nhà nước Tổ chức thanh tra, kiểm tra, kịp thời phát hiện hành vi vi phạm và xử lý theo đúng quy định

Vậy làm thế nào để duy trì và thực hiện tốt chính sách BHXH bắt buộc đối với người lao động, tại doanh nghiệp nói chung và tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ nói riêng, để tìm hiểu sâu hơn và đưa ra giải pháp hoàn thiện về BHXH bắt buộc đối với

người lao động ở Việt Nam thì học viên đã cố gắng viết đề tài: “Thực hiện chính sách

BHXH bắt buộc tại doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nước ta hiện nay” - nghiên cứu trường

hợp tại thành phố Hà Nội

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Nghiên cứu về BHXH đã có một số đề tài, bài viết nghiên cứu được đề cập dưới

những góc độ khác nhau như:

Có một số bài viết thực hiện ở góc độ vĩ mô như:

Theo Đỗ Thị Hằng (2015), Pháp luật về hoạt động thu BHXH của tổ chức BHXH Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật học, Đại học Quốc gia Hà Nội Luận văn chủ yếu nghiên cứu các quy định pháp luật về thu BHXH, tìm hiểu thực trạng áp dụng pháp luật về thu BHXH và đưa ra kiến nghị nhằm hoàn thiện mảng pháp luật này Luận văn chỉ tiếp cận dưới góc độ pháp luật nói chung trên phạm vi cả nước, chưa nghiên cứu việc nâng cao thực hiện chế độ, chính sách dưới góc độ tổng thể và cụ thể [8]

Hay có một số bài nghiên cứu thực hiện ở các địa phương cụ thể như:

Trong bài viết của Thái Thị Thu Nguyệt (2015), Chính sách BHXH từ thực tiễn

thành phố Đà Nẵng, Luận văn thạc sĩ chính sách công, Học viện khoa học xã hội [14]

Luận văn chủ yếu nghiên cứu thực trạng chính sách BHXH ở thành phố Đà Nẵng và đề xuất các giải pháp chủ yếu hoàn thiện chính sách BHXH của thành phố Đà Nẵng sau đó Trong nội dung đề tài, tác giả đã đưa ra được những nhận xét, đánh giá thực trạng tổ

Trang 10

4

chức thực hiện, kết quả đạt được và hạn chế của chính sách BHXH trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, thông qua đó đề xuất những giải pháp và kiến nghị có thể áp dụng để khắc phục những hạn chế và hoàn thiện hơn chính sách BHXH, góp phần nâng cao đời sống cho các đối tượng chính sách trên địa bàn thành phố

Luận văn của Nguyễn Thị Huệ (2014), Quản lý kinh tế Quản lý Nhà nước về BHXH tại huyện Sóc Sơn, Thành phố Hà Nội là công trình nghiên cứu có hệ thống về quản lý nhà nước hoạt động BHXH trên địa bàn huyện Sóc Sơn, Thành phố Hà Nội Từ những tồn tại, bất cập trong công tác ban hành văn bản hướng dẫn thực hiện chính sách pháp luật về BHXH; Công tác tổ chức cán bộ; Công tác thực thi chế độ chính sách BHXH; Công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát sẽ đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý nhà nước về BHXH trên địa bàn huyện Sóc Sơn góp phần hoàn thiện quản

lý nhà nước về BHXH ở Việt Nam, góp phần an sinh xã hội, ổn định tình hình kinh tế - chính trị của đất nước [9]

Luận văn của Hồ Tấn Tiên (2017), Quản lý nhà nước về BHXH trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi, Luận văn quản lý công, Học viện Hành chính Quốc gia chủ yếu nghiên cứu thực trạng quản lý nhà nước về BHXH trên địa bàn tỉnh, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của QLNN về BHXH trên địa bàn tỉnh Luận văn tập trung nghiên cứu về quản lý nhà nước, không đi sâu nghiên cứu về thực hiện chế độ, chính sách BHXH đối với người lao động [19]

Hơn nữa, cũng có các công trình nghiên cứu đã tập trung vào đối tượng chính của bảo hiểm xã hội là người lao động như:

Bài viết của Nguyễn Hữu Dũng (2018), Chính sách BHXH đối với người lao động, Tạp chí Cộng sản Bài viết đưa ra những kết quả đạt được và chỉ ra một số những mâu thuẫn, bất cập Từ đó, tác giả cũng nêu ra một số định hướng cải cách chính sách

BHXH trong thời gian tới Phát triển hệ thống BHXH đa tầng, linh hoạt, hiện đại, bền

vững và tiếp cận chuẩn mức quốc tế, theo nguyên tắc đóng - hưởng, có sự chia sẻ, gắn kết trong tổng thể hệ thống ASXH, tiến tới thực hiện BHXH toàn dân

Có thể thấy các công trình nghiên cứu có liên quan đến chính sách BHXH được xây dựng từ cấp độ vi mô (từ các địa phương, từng đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội) đến cấp độ vĩ mô (chính sách bảo hiểm xã hội nói chung) Các công trình nghiên cứu này

Trang 11

5

đã và đang xây dựng một bức tranh tổng thể trong thực tiễn của một chính sách công trụ cột cho nền an sinh xã hội nước nhà Những phân tích, đánh giá của các tác giả là những kinh nhiệm, tài liệu quý báu cho việc đổi mới và thực hiện tốt, hoàn chỉnh các chính sách BHXH tại Việt Nam Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu này mới chỉ tập trung vào tính khái quát của các chính sách bảo hiểm xã hội đối với mọi đối tượng hay của người lao động nói chung mà chưa có sự chuyên biệt hóa đi sâu vào phân tích chính sách bảo hiểm xã hội bắt buộc đối với từng đối tượng cụ thể trong một môi trường nhất định Hơn nữa, các bài nghiên cứu cũng như các công trình đã được công bố đều dưới dạng công trình định hướng nghiên cứu từ lý luận đến thực tiễn hoặc một vài khía cạnh liên quan đến các tổ chức doanh nghiệp, chưa có công trình nghiên cứ nào thực hiện nghiên cứu về chính sách BHXH bắt buộc tại doanh nghiệp vừa và nhỏ tại thành phố Hà Nội Việc phân tích và đánh giá những kết quả đạt được và bất cập trong tổ chức xây dựng và thực thi chính sách BHXH bắt buộc tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại thành phố Hà Nội hiện nay là một vấn đề cần được quan tâm nghiên cứu, hoàn thiện để nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của các tổ chức hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn thành phố Hà Nội Điều này cho phép tác giả có cơ sở khẳng định tính cấp thiết của vấn đề này

trong đề tài luận văn Vì vậy những nội dung được đề cập trong luận văn "Thực hiện

chính sách BHXH bắt buộc đối với người lao động tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nước ta hiện nay” – nghiên cứu trường hợp tại thành phố Hà Nội mang ý nghĩa lý luận

và thực tiễn nhằm giải quyết tốt các chế độ, chính sách BHXH bắt buộc đối với người lao động ở nước ta hiện nay

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Dựa trên những mong muốn làm rõ hơn, đi sâu hơn về quá trình thực thi chính sách BHXH bắt buộc, trước hết, học viên đi sâu, làm sáng tỏ những cơ sở lý luận nhằm thực hiện chính sách BHXH bắt buộc ở Việt Nam hiện nay Đồng thời, bài viết cũng thực hiện phân tích những kết quả đạt được từ cuộc khảo sát thực địa đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn thành phố Hà Nội trong việc thực hiện chính sách BHXH bắt buộc đối với người lao động Qua đó, nhận xét, phân tích, hướng đến việc áp dụng

Trang 12

6

trên thực tiễn thực hiện chính sách BHXH bắt buộc đối với người lao động Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện chính sách BHXH bắt buộc và nâng cao hiệu quả thực hiện chế độ BHXH bắt buộc tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nước

ta hiện nay

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Trước hết, bài viết thực hiện hệ thống hóa và phân tích cơ sở lý luận lý thuyết cơ bản về thực hiện chính sách BHXH nói chung và chính sách BHXH bắt buộc nói riêng đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ Nhiệm vụ thứ hai của bài nghiên cứu là phân tích, đánh giá tình hình thực hiện chính xã BHXH bắt buộc đối với người lao động: mục tiêu, giải pháp và công cụ, vai trò của các chủ thể tham gia thực hiện chính sách; các yếu tố ảnh hưởng tới việc tổ chức chính sách BHXH bắt buộc đối với người lao động ở nước ta hiện nay Dựa trên những vấn đề lý luận và thực tiễn, bài viết đề xuất khuyến nghị các giải pháp nhằm giúp chính sách BHXH đối với người lao động tốt hơn, đảm bảo trách nhiệm của người sử dụng lao động và quyền lợi của người lao động trong thời gian tới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là việc thực hiện chính sách BHXH bắt buộc tại doanh nghiệp vừa và nhỏ tại thành phố Hà Nội

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi về không gian: Tại thành phố Hà Nội - thủ đô của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam Đây là không gian đặc trưng, phù hợp với việc đại diện cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ trên cả nước

- Phạm vi về thời gian: Các tài liệu, tài liệu nghiên cứu được thu thập từ các nguồn trong giai đoạn từ năm 2016 đến năm 2018, đặc biệt là các mẫu khảo sát lấy được từ cuộc khảo sát thực địa đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ và các cá nhân làm việc trong các doanh nghiệp và nhỏ tại thành phố Hà Nội vào tháng 7 năm 2019

- Phạm vi về nội dung nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu công tác thực thi chính sách BHXH bắt buộc của các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại thành phố Hà Nội

Trang 13

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu định tính: nghiên cứu, tra cứu tài liệu thứ cấp: số liệu thực thi đóng BHXH bắt buộc của các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại thành phố Hà Nội Phương pháp này được sử dụng nhằm mục đích thu thập các số liệu thực hiện các chính sách bảo hiểm xã hội và lý do ảnh hưởng đến việc thực hiện các chính sách bảo hiểm xã hội, Các mẫu nhỏ tập trung được sử dụng trong bài nghiên cứu này Dữ liệu được thu thập từ nhiều nguồn thông tin và được phân tích bằng cách mã hóa dữ liệu Từ đó, xây dựng nên bộ dữ liệu có liên quan đến hoạt động thực thi chính sách bảo hiểm xã hội cũng như chính sách bảo hiểm xã hội bắt buộc tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ

Phương pháp nghiên cứu định lượng: thu thập thông tin, dữ liệu, định lượng được tập hợp thông qua tổ chức điều tra xã hội học (phát phiếu điều tra) với quy mô nhỏ (tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại thành phố Hà Nội), xử lý dữ liệu có được trên phần mềm Mirosoft Excel Đây là phương pháp điều tra thực nghiệm có hệ thống về thực tế áp dụng chính sách bảo hiểm xã hội bắt buộc đối với người lao động và người sử dụng lao động tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại thành phố Hà Nội Các mẫu được lấy từ các doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn thành phố Hà Nội, từ đó phát triển và sử dụng các

lý thuyết và giả thuyết có liên quan đến hoạt động thực thi chính sách bảo hiểm xã hội bắt buộc Phương pháp nghiên cứu định lượng bằng cách lấy mẫu từ doanh nghiệp vừa

và nhỏ trên địa bàn thành phố Hà Nội được sử dụng để xác minh các giả thuyết của người nghiên cứu là đúng sự thật

Trang 14

8

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

Kết quả nghiên cứu của luận văn có giá trị tham khảo cho các cơ quan hữu quan trong quá trình hoàn thiện và thực hiện chính sách BHXH bắt buộc đối với người lao động, đặc biệt là các cơ quan BHXH, các đơn vị tham gia BHXH

Luận văn cũng có thể sử dụng như một tài liệu tham khảo trong công tác giảng dạy, nghiên cứu pháp luật, cũng như cho bất kỳ ai có quan tâm đến chính sách BHXH bắt buộc đối với người lao động

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết thúc, mục lục, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn được kết cấu gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội bắt buộc tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ

Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội bắt buộc tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại thành phố Hà Nội

Chương 3: Định hướng và các giải pháp hoàn thiện chính sách bảo hiểm xã hội bắt buộc tại doanh nghiệp vừa nhỏ tại thành phố Hà Nội

Trang 15

9

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC TẠI CÁC DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ

1.1 Các khái niệm cơ bản

1.1.1 Bảo hiểm xã hội và chính sách bảo hiểm xã hội

1.1.1.1 Khái niệm BHXH

Bảo hiểm là những quan hệ kinh tế gắn liền với quá trình hình thành, phân phối và

sử dụng các quỹ tập trung - quỹ bảo hiểm - nhằm xử lý các rủi ro, các biến cố Bảo hiểm bảo đảm cho quá trình tái sản xuất và đời sống của xã hội được diễn ra bình thường Bảo hiểm là biện pháp chia sẻ rủi ro của một người hay của số một ít người cho cả cộng đồng những người có khả năng gặp rủi ro cùng loại; bằng cách mỗi người trong cộng đồng góp một số tiền nhất định vào một quỹ chung và từ quỹ chung đó bù đắp thiệt hại cho thành viên trong cộng đồng không may bị thiệt hại do rủi ro đó gây ra Bảo hiểm có các hình thức khác nhau như: BHXH, bảo hiểm y tế, bảo hiểm kinh doanh và bảo hiểm thương mại

BHXH là một trong những hình thức của bảo hiểm BHXH là loại hình bảo hiểm

do nhà nước tổ chức và quản lý nhằm thỏa mãn các nhu cầu vật chất ổn định cuộc sống của người lao động và gia đình họ khi gặp những rủi ro làm giảm hoặc mất khả năng lao động Điều 3 Luật Bảo hiểm xã hộicủa Việt Nam 2018 cũng định nghĩa BHXH là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ BHXH Công ước Geneve 1952 của Tổ chức lao động quốc tế ILO khuyến nghị hệ thống các chế độ BHXH bao gồm: chăm sóc

y tế; trợ cấp ốm đau; trợ cấp thất nghiệp; trợ cấp tuổi già; trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp; trợ cấp gia đình; trợ cấp sinh sản; trợ cấp tàn phế; và trợ cấp cho người bị mất người nuôi dưỡng Tại Việt Nam, BHXH thực hiện chế độ như sau:

1 BHXH bắt buộc bao gồm các chế độ: ốm đau; thai sản; tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; hưu trí; tử tuất

Trang 16

10

2 BHXH tự nguyện bao gồm các chế độ: hưu trí; tử tuất

3 Bảo hiểm thất nghiệp bao gồm các chế độ: trợ cấp thất nghiệp; hỗ trợ học nghề;

hỗ trợ tìm việc làm

BHXH hoạt động dựa trên nguồn quỹ BHXH, bao gồm: người sử dụng lao động đóng góp; người lao động đóng góp một phần tiền lương của mình, thu từ các đối tượng tham gia BHXH tự nguyện; và nhà nước đóng góp và hỗ trợ

Có thể nói, BHXH là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao động khi họ bị mất hoặc giảm khoản thu nhập từ nghề nghiệp do bị mất hoặc giảm khả năng lao động hoặc mất việc làm do những rủi ro xã hội thông qua việc hình thành, sử dụng một quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia BHXH, nhằm góp phần đảm bảo an toàn đời sống của người lao động và gia đình họ, đồng thời góp phần bảo đảm an toàn xã hội

1.1.1.2 Lịch sử phát triển của BHXH

Trên thế giới, hệ thống an sinh, BHXH ra đời khá sớm Ngay từ những năm 1850,

hệ thống BHXH đầu tiên đã được thiết lập tại nước Phổ (nay là Cộng hòa Liên bang Đức), với sự tham gia của giới thợ trong bảo hiểm ốm đau, sau đó đã thu hút được mọi tầng lớp xã hội và mở rộng ra các trường hợp khác Từ kinh nghiệm của Công hòa Liên bang Đức, hoạt động BHXH đã lan dần ra châu Âu vào đầu thế kỷ XX, sau đó đến các nước Mỹ Latin rồi Mỹ, Canada vào những năm 30 của thế kỷ XX Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, BHXH tiếp tục là chính sách công bảo đảm an sinh xã hội mang tính chất cộng đồng đươc áp dụng tại các nước giành được độc lập tại châu Á, châu Phi và vùng Caribe trong nửa cuối thế kỷ XX [24]

BHXH đã và đang trở thành một chính sách quốc tế gắn với vai trò của Tổ chức Lao động quốc tế ILP của Liên Hợp Quốc Đó là một trong những quyền cơ bản nhất của con người được ghi nhận trong Tuyên ngôn nhân quyền của Liên Hợp Quốc: "Tất cả mọi người với tư cách là thành viên của xã hội có quyền hưởng BHXH, quyền đó được đặt cơ sở trên sự thỏa mãn các quyền về kinh tế - xã hội và văn hóa, nhu cầu cho nhân cách và sự tự do phát triển của con người." Tính đến nay, theo Tổ chức Lao động quốc tế ILO, có khoảng 170 quốc gia trên thế giới thực hiện chính sách BHXH, trong đó có 155

Trang 17

11

quốc gia (chiếm 95%) những chỉ có 63 quốc gia (chiếm 38,6%) thực hiện hình thức bảo hiểm hưu trí, tai nạn lao động, ốm đau, thai sản Qua đó cho thấy việc thực hiện các hình thức bảo hiểm khác nhau sẽ tùy thuộc vào điều kiện, tình hình kinh tế, chính trị, xã hội cụ thể của mỗi quốc gia Bên cạnh đó, xu hướng chung là các quốc gia ngày càng thực hiện đầy đủ hơn các hình thức bảo hiểm, coi đây là giải pháp đảm bảo tốt hơn quyền lợi, trách nhệm của người lao động nói riêng và chính sách ổn định xã hội nói chung trên cơ sở bảo đảm nguyên tắc công bằng, bình đằng, tạo điều kiện thuận lợi để mọi người dân đều

có thể tiếp cận, tham gia và hưởng lợi từ chính sách BHXH; tuân thủ nguyên tắc đóng hưởng, bảo đảm tính cân đối, bền vững giữa mức đóng góp và mức hưởng thụ; có sự chia sẻ, hỗ trợ, bổ sung cho nhau giữa các thành viên, giữa các chính sách trong hệ thống BHXH

Tại Việt Nam, Điều 7 Nghị quyết về giành chính quyền toàn quốc và thi hành 10 chính sách lớn của Việt Minh được thông qua tại kỳ họp Quốc dân Đại hội từ ngày 16 đến ngày 17 tháng 8 năm 1945 có viết: “Ban bố Luật Lao động; ngày làm 08 giờ, định lương tối thiểu, đặt xã hội bảo hiểm." Ngay sau khi giành được chính quyền, ngày 3 tháng 11 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thay mặt Chính phủ ban hành Sắc lệnh số

54-SL về ấn định các điều kiện cho công chức về hưu trí; ngày 14 tháng 6 năm 1946 ban hành Sắc lệnh số 105-SL quy định về việc cấp hưu bổng và đóng BHXH đối với công

chức Có thể nói, hai văn bản này là hai băn bản đầu tiên quy định về quyền lợi, mức

hưởng hưu trí của công chức, khẳng định nguyên tắc đóng - hưởng của BHXH, quy định trách nhiệm bảo hộ của Nhà nước đối với Quỹ BHXH

1.1.1.3 Phân loại BHXH

BHXH có mục đính đặt ra là mọi người sống trong cùng một xã hội có thể cùng san sẻ và giúp đỡ nhau nhiều hơn thông qua BHXH BHXH có hai loại: BHXH bắt buộc

và BHXH tự nguyện

BHXH bắt buộc là loại bảo hiểm mà bắt buộc những người khi tham gia lao động

và những người chủ lao động phải đóng Thường thì chủ doanh nghiệp và người lao động cùng chi trẻ cho loại bảo hiểm này với mức chia người sử dụng lao động phải đóng nhiều hơn

Trang 18

12

BHXH tự nguyện là loại bảo hiểm không bắt buộc Mọi người được lựa chọn có thể

mua hoặc không và chọn mua theo khả năng của mình, tùy vào điều kiện thu nhập của cá nhân và gia đình với các mức đóng khác nhau

1.1.1.4 Các nguyên tắc cơ bản

Chính sách BHXH dựa trên năm nguyên tắc cơ bản, bao gồm:

Nguyên tắc thứ nhất là mức hưởng BHXH được tính trên cơ sở mức đóng, thời

gian đóng BHXH và có chia sẻ giữa những người tham gia BHXH Người lao động khi

có việc làm và khỏe mạnh sẽ đóng góp một phần tiền lương, thu nhập để hỗ trợ bản thân hoặc người khác khi ốm đau, tai nạn, lúc sinh đẻ và chăm sóc con cái, lúc tuổi già để duy trì và ổn định cuộc sống của bản thân và gia đình.[25]

Nguyên tắc thứ hai là mức đóng BHXH bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp được tính

trên cơ sở tiền lương, tiền công của người lao động Mức đóng BHXH tự nguyện được tính trên cơ sở mức thu nhập do người lao động lựa chọn nhưng mức thu nhập này không thấp hơn mức lương tối thiểu chung

Nguyên tắc thứ ba là người lao động vừa có thời gian đóng BHXH bắt buộc vừa

có thời gian đóng BHXH tự nguyện được hưởng chế độ hưu trí và chế độ tử tuất trên cơ

sở thời gian đã đóng BHXH

Nguyên tắc thứ tư là quỹ BHXH được quản lý thống nhất, dân chủ, công khai,

minh bạch, được sử dụng đúng mục đích, được hạch toán độc lập theo các quỹ thành phần của BHXH bắt buộc, BHXH tự nguyện và bảo hiểm thất nghiệp

Nguyên tắc thứ năm là việc thực hiện BHXH phải đơn giản, dễ dàng, thuận tiện,

bảo đảm kịp thời và đầy đủ quyền lợi của người tham gia BHXH

1.1.2 Doanh nghiệp vừa và nhỏ và thực hiện chính sách BHXH bắt buộc trong doanh nghiệp vừa và nhỏ

 Khái niệm

Doanh nghiệp vừa và nhỏ, hay còn gọi là doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa là những doanh nghiệp có quy mô nhỏ bé về mặt vốn, lao động hay doanh thu Doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể chia thành ba loại cũng căn cứ vào quy mô đó là doanh nghiệp siêu nhỏ (micro), doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa

Trang 19

13

Theo pháp luật Việt Nam hiện nay, doanh nghiệp vừa và nhỏ là cơ sở kinh doanh

đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên), cụ thể như sau:

Bảng 1.1: Bảng phân loại doanh nghiệp vừa và nhỏ Quy mô Doanh nghiệp

siêu nhỏ Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa

Khu vực Số lao động nguồn vốn Tổng Số lao động Tổng nguồn

20 tỷ đồng trở xuống

Từ trên 10 người đến

300 người

II Công nghiệp

và xây dựng

10 người trở xuống

20 tỷ đồng trở xuống

Từ trên 10 người đến

300 người III Thương mại

và dịch vụ

10 người trở xuống

10 tỷ đồng trở xuống

Từ trên 10 người đến

Tiếp theo, doanh nghiệp vừa và nhỏ thường có quy mô vốn giới hạn và thường không tiếp cận với các nguồn vốn lớn từ các ngân hàng đầu từ Điều này gây nên những hạn chế trong việc đổi mới trang thiết bị và xúc tiến phát triển công việc cho các loại hình doanh nghiệp này

Đặc biệt, doanh nghiệp nhỏ thường có sự cạnh tranh gay gắt với các công ty tập đoàn lớn cùng làm dịch vụ với nhau Do đó, các doanh nghiệp nhỏ thường gặp thua thiệt trong việc chiếm lĩnh thị trường, đặc biệt ở khu vực nước ngoài

Trang 20

14

Ngoài ra, các doanh nghiệp vừa và nhỏ chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực thương mại, đặc biệt là các ngành nghề liên quan đến mua bán sản xuất đồ dùng, các loại dịch vụ

và phân bố hàng tiêu dùng Loại hình này ít gặp ở lĩnh vực sản xuất và chế biến

 Vai trò của doanh nghiệp vừa và nhỏ trong việc thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội bắt buộc

Do có đặc điểm đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế - xã hội, các doanh nghiệp vừa và nhỏ đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện các chính sách bảo hiểm xã hội bắt buộc Ngoài khối các doanh nghiệp nhà nước, các doanh nghiệp vừa và nhỏ là một trong những chủ thể lớn tham gia vào hoạt động này

Thực hiện an sinh xã hội nói chung và bảo hiểm xã hội bắt buộc nói riêng là một trong những nội dung cơ bản và tất yếu trong trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp Đó

là sự cam kết trong việc ứng xử hợp đạo lý và đóng góp vào sự phát triển kinh tế, đồng thời cải thiện chất lượng cuộc sống của lực lượng lao động và gia đình họ, cũng như của cộng đồng địa phương và của toàn xã hội Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đối với người lao động trong việc thực hiện bảo hiểm xã hội bắt buộc đối với người lao động mang tính chất tất yếu và thường xuyên Nó xuất phát từ chính nhu cầu tồn tại và phát triển của doanh nghiệp và được quy định bởi chính sách, pháp luật của nhà nước Đối với người lao động, doanh nghiệp quan tâm đến thực hiện bảo hiểm xã hội bắt buộc tức là họ

sẽ đảm bảo tốt hơn quyền lợi, nhân phẩm, đảm bảo việc làm và tăng thu nhập Từ đó, doanh nghiệp có được đội ngũ lao động có chất lượng hơn và gắn bó với doanh nghiệp hơn Hơn thế nữa, thực hiện BHXH bắt buộc cũng là quyền lời để đảm bảo cho chính doanh nghiệp phát triển Nhìn xa hơn, thực hiện BHXH là cách thực hiện thực hóa định hướng phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, tăng trưởng kinh tế đi liền với công bằng

xã hội Đây là cách thức để giữ vững vai trò chủ đạo của mình đối với các thành phần kinh tế

1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội bắt buộc

Cũng giống như chính sách công, các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình tổ chức thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội bắt buộc bao gồm:

Trang 21

15

Đầu tiên, mỗi vấn đề chính sách, có tác động trực tiếp đến cách giải quyết vấn đề

bằng chính sách và tổ chức thực thi chính sách phụ thuộc vào tính chất của vấn đề chính sách bảo hiểm xã hội bắt buộc Tính cấp bách của việc thực thi chính sách bảo hiểm xã hội bắt buộc có tác động rất lớn đến kết quả tổ chức thực thi chính sách Ngoài ra, đây cũng là vấn đề bức xúc cần được giải quyết ngay mới giúp cho đối tượng phát triển theo mục tiêu định hướng Tính chất của chính sách bảo hiểm xã hội là trụ cột của nền an sinh

xã hội của đất nước, do đó quá trình thực thi các chính sách bảo hiểm xã hội luôn được nhà nước và xã hội ưu tiên nguồn nhân lực, đặc biệt là chính sách bảo hiểm xã hội bắt buộc

Yếu tố thứ hai là yếu tố môi trường thực thi chính sách công luôn chứa đựng toàn

bộ các thành phần vật chất và phi vật chất tham gia thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội bắt buộc như các nhóm lợi ích có được từ chính sách bảo hiểm xã hội, các điều kiện vật chất kỹ thuật trong nền kinh tế, trật tự xã hội, quan hệ quốc tế rộng mở Môi trường thực thi chính sách bảo hiểm xã hội bắt buộc luôn chứa đựng các yếu tố liên quan đến các hoạt động kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, môi trường

Yếu tố thứ ba là quan hệ giữa các đối tượng thực thi chính sách BHXH bắt buộc có

thể hiện được sự thống nhất về lợi ích trong quá trình thực hiện mục tiêu chính sách BHXH bắt buộc Mâu thuẫn lợi ích giữa các đối tượng chính sách làm ảnh hưởng đến công tác tổ chức thực hiện và cũng dẫn đến không đồng nhất về những tiện ích giữa các

cơ quan chỉ đạo điều hành thực thi chính sách

Yếu tố thứ tư là xác định thực lực và tiềm năng mà mỗi nhóm có được trong mối

quan hệ so sánh với các nhóm đối tượng khác Tiềm lực của nhóm lợi ích được thể hiện trên tất cả các phương diện về cả quy mô và trình độ

Yếu tố thứ năm là đặc trưng của các đối tượng có được từ bản tính cố hữu hoặc do

môi trường sống tạo nên qua quá trình vận động mang tính lịch sử Các đặc tính này thường liên quan đến tính tự giác, tính kỷ luật, tính sáng tạo, lòng quyết tâm, tính truyền thống Đặc tính gắn liền với mỗi đối tượng thực thi chính sách, nên các chủ thể tổ chức điều hành cần biết cách khơi gợi hay kiềm chế nó để có được kết quả tốt nhất cho quá trình tổ chức thực hiện chính sách

Trang 22

16

Yếu tố thứ sáu là năng lực thực thi chính sách bảo hiểm xã hội bắt buộc của cán bộ,

công chức Đây là yếu tố có vai trò quyết định đến kết quả tổ chức thực thi chính sách bảo hiểm xã hội

Yếu tố thứ bảy là quy trình thực thi chính sách bảo hiểm xã hội bắt buộc được coi

là những nguyên lý khoa học được đúc kết từ thực tiễn cuộc sống vì việc tuân thủ quy trình cũng là một nguyên tắc hoạt động của các nhà quản lý

Yếu tố thứ tám là các điều kiện vật chất để thực thi chính sách bảo hiểm xã hội bắt

buộc Theo quy luật phát triển, các hoạt động kinh tế - xã hội ngày càng được tăng cường

về quy mô và trình độ để thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của đời sống xã hội

Cuối cùng, sự đồng tình và ủng hộ của người dân là yếu tố có vai trò đặc biệt quan

trọng, quyết định sự thành bại của một chính sách Mục tiêu của chính sách bảo hiểm xã hội bắt buộc là làm thay đổi trạng thái kinh tế và an sinh xã hội hiện tại theo nhu cầu của đời sống xã hội

Có thể nói, chính sách BHXH là trụ cột chính của an sinh xã hội Phát triển chính sách BHXH nói chung và chính sách BHXH bắt buộc nói riêng là tiền đề và điều kiện để thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội, đóng góp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.[25]

1.2 Các lý luận về chính sách bảo hiểm xã hội bắt buộc

1.2.1 Chính sách của Nhà nước về BHXH bắt buộc

Chính sách của Nhà nước về BHXH bắt cuộc là một trong những chính sách xã hội quan trọng của Đảng và Nhà nước Chính sách BHXH bắt buộc đã được thể chế hóa và thực hiện theo Luật BHXH là sự chia sẻ rủi ro và các nguồn quỹ nhằm bảo vệ người lao động khi họ không còn khả năng làm việc Ngoài ra, dưới góc độ pháp lý, BHXH là một loại chế độ pháp định bảo vệ người lao động, sử dụng nguồn tiền đóng góp của người lao động, người sử dụng lao động và sự tài trợ, bảo hộ của Nhà nước, nhằm trợ cấp vật chất cho người được bảo hiểm và gia đình trong trường hợp bị giảm hoặc mất thu nhập bình thường do ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thai sản, thất nghiệp, hết tuổi lao động theo quy định của pháp luật, hoặc chết

Trang 23

17

Đối tượng tham gia BHXH bắt buộc là người lao động và người sử dụng lao động Tuy nhiên, đối tượng tham gia BHXH còn tùy thuộc vào sự phát triển kinh tế – xã hội cuả mỗi nước mà đối tượng này có thể là tất cả hoặc một bộ phận những người lao động nào đó Tại Việt Nam, theo Luật Bảo hiểm xã hội 2018, đối tượng áp dụng bao gồm:

1 Người lao động tham gia BHXH bắt buộc là công dân Việt Nam, bao gồm: a) Người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ ba tháng trở lên;

b) Cán bộ, công chức, viên chức;

c) Công nhân quốc phòng, công nhân công an;

d) Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp

vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật công an nhân dân; người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân đội nhân dân, công an nhân dân;

đ) Hạ sĩ quan, binh sĩ quân đội nhân dân và hạ sĩ quan, chiến sĩ công an nhân dân phục vụ có thời hạn;

e) Người làm việc có thời hạn ở nước ngoài mà trước đó đã đóng BHXH bắt buộc

2 Người sử dụng lao động tham gia BHXH bắt buộc bao gồm cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân; tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội,

tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội khác;

cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam; doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh cá thể, tổ hợp tác, tổ chức khác và cá nhân có thuê mướn, sử dụng và trả công cho người lao động

3 Người lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp là công dân Việt Nam làm việc theo hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc mà các hợp đồng này không xác định thời hạn hoặc xác định thời hạn từ đủ mười hai tháng đến ba mươi sáu tháng với người

sử dụng lao động quy định tại khoản 4 Điều này

4 Người sử dụng lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp là người sử dụng lao động quy định tại khoản 2 Điều này có sử dụng từ mười lao động trở lên

5 Người tham gia BHXH tự nguyện là công dân Việt Nam trong độ tuổi lao động, không thuộc quy định tại khoản 1 Điều này

Trang 24

18

6 Cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến BHXH

1.2.2 Các bước thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội bắt buộc

Giai đoạn thực hiện hóa các chính sách công nói chung, chính sách BHXH bắt buộc nói riêng là giai đoạn vô cùng quan trọng, các cơ quan nhà nước, các cấp chính quyền địa phương có sự quan tâm chỉ đạo sát sao công tác tổ chức triển khai thực hiện chính sách Để tổ chức, điều hành có hiệu quả công tác thực thi chính sách BHXH bắt buộc, cán bộ, công chức nhà nước cần phải thực hiện nhiều nội dung quản lý khác nhau, nhưng cần thiết phải tuân thủ các bước tổ chức thực thi cơ bản sau:

1.2.2.1 Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách BHXH bắt buộc

Do quá trình tổ chức thực thi chính sách BHXH bắt buộc là quá trình phức tạp, diễn ra trong một thời gian dài nên việc xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách cần được thực hiện chủ động Quá trình này cần được thực hiện trước khi đưa chính sach BHXH bắt buộc vào cuộc sống Các cơ quan triển khai thực thi chính sách từ Trung ương đến địa phương đều phải xây dựng kế hoạch, chương trình thực hiện Nội dung cơ bản của bước xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách BHXH bắt buộc gồm năm nội dung như sau:

Đầu tiên, lập kế hoạch tổ chức điều hành cần đảm bảo những dự kiến về hệ thống các cơ quan chủ trì và phối hợp triển khai thực hiện chính sách (kế hoạch tổ chức, điều hành); số lượng và chất lượng nhân sự tham gia tổ chức thực thi; những dự kiến về cơ chế trách nhiệm của cán bộ quản lý và công chức thực thi; cơ chế tác động giữa các cấp thực thi chính sách

Thứ hai là xác định kế hoạch cung cấp các nguồn vật lực như dự kiến về trang thiết

bị kỹ thuật phục vụ cho tổ chức thực thi chính sách BHXH bắt buộc, cơ sở kiến trúc, quỹ BHXH

Thứ ba là xác định thời gian triển khai thực hiện thông qua dự kiến về thời gian duy trì chính sách BHXH bắt buộc; dự kiến các bước tổ chức triển khai thực hiện từ tuyên truyền chính sách BHXH bắt buộc đến tổng kết rút kinh nghiệm Mỗi bước đều có mục tiêu cần đạt được và thời gian dự kiến cho việc thực hiện mục tiêu

Trang 25

19

Thứ tư là lên kế hoạch kiểm tra thực thi chính sách là những dự kiến về tiến độ, hình thức, phương pháp kiểm tra, giám sát tổ chức thực thi chính sách BHXH bắt buộc Thứ năm là xây dựng những nội dung, quy chế dự kến trong thực thi chính sách BHXH bắt buộc bao gồm nội quy, quy chế về tổ chức, điều hành; về trách nhiệm, nghĩa

vụ và quyền hạn của cán bộ, công chức và các cơ quan BHXH bắt buộc nhà nước tham gia tổ chức điều hành chính sách BHXH bắt buộc

Việc dự kiến kế hoạch thực thi ở cấp nào do lãnh đạo cấp đó xem xét thông qua Khi quyết định đã được thông qua, kế hoạch thực thi chính sách BHXH bắt buộc mang giá trị pháp lý, được mọi người chấp nhận thực hiện Việc điều chỉnh kế hoạch thực thi chính sách BHXH bắt buộc cũng do cấp có thẩm quyền thông qua kế hoạch quyết định 1.2.2.2 Phổ biến, tuyên truyền chính sách BHXH bắt buộc

Bước tiếp theo trong các bước thực hiện chính sách BHXH bắt buộc là tiến hành triển khai tổ chức thực hiện theo kế hoạch, trong đó tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia thực hiện chính sách BHXH bắt buộc là việc đầu tiêu cần làm Phổ biến và tuyên truyền chính sách BHXH bắt buộclà một hoạt động rất quan trọng và có ý nghĩa to lớn với các cơ quan nhà nước và các đối tượng thực thi chính sách BHXH Việc này được thực hiện tốt sẽ giúp cho các đối tượng chính sách BHXH và mọi người dân tham gia thực thi hiểu rõ về mục đích, yêu cầu của chính sách BHXH; về tính đúng đắn của chính sách BHXH bắt buộc trong điều kiện hoàn cảnh nhất định; và về tính khả thi của chính sách BHXH để người dân tự giác thực hiện theo yêu cầu của nhà nước Việc làm này cũng giúp cho mỗi cán bộ, công chức có trách nhiệm tổ chức thực thu nhận thức được đầy đủ tính chất, trình độ, quy mô của chính sách BHXH với đời sống xã hội để chủ động tìm kiếm các giải pháp thích hợp ch việc thực hiện mục tiêu chính sách và triển khai thực thi có hiệu quả kế hoạch tổ chức thực hiện chính sách BHXH được giao

Phổ biến, tuyên truyền, vận động thực thi chính sách BHXH bắt buộc cần được thực hiện thường xuyên, liên tục, kể cả khi chính sách BHXH bắt buộc đang được thực thi, để moi đối tượng cần được tuyên truyền luôn củng cố lòng tin vào chính sách và tích cực thực thi chính sách

Trang 26

20

Để thực hiện phổ biến, tuyên truyền chính sách BHXH bắt buộc có thể được thực hiện bằng nhiều hình thức như gián tiếp qua các phương tiện thông tin đại chúng hay trực tiếp bằng cách tiếp xúc, trao đổi với các đối tượng tiếp nhận Hình thức phổ biến, tuyên truyền được áp dụng tùy theo yêu cầu của cơ quan quản lý, tính chất của loại chính sách BHXH bắt buộc và điều kiện cụ thể

1.2.2.3 Phân công, phối hợp thực hiện chính sách BHXH bắt buộc

Số lượng tham gia thực hiện chính sách BHXH bắt buộc bao gồm các đối tượng tác động của chính sách BHXH bắt buộc (các doanh nghiệp, nhân dân) và bộ máy tổ chức thực thi của nhà nước Do chính sách BHXH bắt buộc được thực thi trên phạm vi

cả nước nên số lượng cá nhân và tổ chức tham gia thực thi là rất lớn Thêm vào đó, các hoạt động thực hiện mục tiêu chính sách BHXH bắt buộc diễn ra hết sức phong phú, phức tạp theo không gian và thời gian Do đó, để thực thi chính sách có hiệu quả cần tiến hành phân công, phối hợp giữa các cơ quan quản lý BHXH bắt buộc, các cấp chính quyền địa phương, các doanh nghiệp và nhân dân và các quá trình ảnh hưởng đến thực hiện mục tiêu chính sách BHXH bắt buộc Hoạt động này cần được thực hiện một cách chủ động, sáng tạo để luôn duy trì chính sách BHXH bắt buộc được ổn định, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả chính sách BHXH bắt buộc

Thực hiện chính sách BHXH bắt buộc còn là duy trì chính sách, là làm cho chính sách BBHXH hiện có sống được trong môi trường thực tế và phát huy tác dụng Do đó, việc thường xuyên quan tâm tuyên truyền, vận động các đối tượng chính sách và toàn xã hội tích cực tham gia thực thi chính sách BHXH là cần thiết Thêm vào đó, việc tạo lập môi trường thuận lợi cho việc thực thi chính sách cũng rất quan trọng Khi đi vào một hoàn cảnh mới nào đó, các chính sách BHXH cần được điều chỉnh cho phù hợp với hoàn cảnh đó Các cơ quan Nhà nước có thể kết hợp sử dụng các biện pháp hành chính để duy trì chính sách BHXH Đặc biệt, cần tăng cường thực hiện dân chủ để người dân mạnh dạn tham gia BHXH và quản lý xã hội về BHXH, trong đó tự giác chấp hành chính sach BHXH và tham gia tìm kiếm, đề xuất các biện pháp thực hiện mục tiêu

Trong một hoàn cảnh nào đó, điều chỉnh chính sách BHXH bắt buộc là một hoạt động cần thiết diễn ra thường xuyên trong tiến trình tổ chức thực thi chính sách BHXH

Trang 27

21

Để cho chính sách BHXH ngày càng phù hợp với yêu cầu quản lý và tình hình thực tế

Cơ quan nhà nước các ngành các cấp chủ động điều chỉnh biện pháp, cơ chế chính sách

để thực hiện có hiệu quả chính sách, đặc biệt là không làm thay đổi mục tiêu chính sách

Cơ quan ban hành chính sách BHXH (Quốc hội hay Chính phủ) cần hoàn thành mục tiêu chính sách Nguyên tắc để điều chính sách BHXH là chỉ được điều chỉnh các biện pháp,

cơ chế thực hiện mục tiêu, hoặc bổ sung, hoàn chỉnh mục tiêu theo yêu cầu thực tế 1.2.2.4 Đôn đốc thực hiện chính sách BHXH bắt buộc

Bước tiếp theo của quá trình thực hiện chính sách BHXH bắt buộc là đôn đốc thực hiện các chính sách BHXH bắt buộc Đôn đốc thực hiện chính sách BHXH là hoạt động của các cơ quan, cán bộ, công chức có thẩm quyền thực hiện thông qua các công cụ hữu ích nhằm làm cho chủ thể thực thi nên cao ý thức trách nhiệm trong thực hiện các biện pháp theo định hướng chính sách BHXH Thực tế cho thấy khi triển khai thực hiện chính sách BHXh, không phải bộ phận nào làm cũng tốt, nhanh như nhau nên cần có hoạt động đôn đốc thực hiện để vừa thúc đẩy các chủ thể nỗ lực nhiều hơn để hoàn thành nhiệm vụ, vừa phòng, chống những hành vi vi phạm quy định trong thực hiện chính sách BHXH 1.2.2.5 Tổng kết thực chi chính sách BHXH bắt buộc

Việc đánh giá tổng kết là quá trình xem xét, kết luận về chỉ đạo - điều hành và chấp hành chính sách BHXH bắt buộc của các đối tượng thực thi chính sách Việc thực thi chính sách BHXH bắt buộc cần được đánh giá từng phần hay toàn bộ kết quả quá trình thực thi chính sách BHXH bắt buộc Việc đánh giá toàn bộ được thực hiện sau khi kết thúc một chính sách nào đó của BHXH bắt buộc

Đối tượng của bước này là các cơ quan nhà nước từ Trung ương đến cơ sở, các tổ chức chính trị, chính trị - xã hội Cơ sở để đánh giá, tổng kết công tác chỉ đạo, điều hành

là kế hoạch được giao và những nội quy, quy chế được xây dựng ở xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách Ngoài ra, còn cần có sự kết hợp sử dụng các văn bản liên tịch giữa các cơ quan nhà nước với các tổ chức xã hội và các văn bản quy phạm khác để xem xét tình hình phối hợp chỉ đạo, điều hành thực hiện chính sách BHXH bắt buộc của các tổ chức có liên quan với Nhà nước

Trang 28

22

Việc này cũng được thực hiện đối với các đối tượng tham gia thực hiện chính sách công bao gồm các đối tượng thụ hưởng lợi ích trực tiếp và gián tiếp từ chính sách, đặc biệt là các doanh nghiệp và người dân Thước đo đánh giá kết quả thực thi của các đối tương này là tinh thần hưởng ứng với mục tiêu chính sách BHXH bắt buộc và ý thức chấp hành những quy định về cơ chế, biện pháp do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành để thực hiện mục tiêu chính sách BHXH bắt buộc trong từng điều kiện về không gian và thời gian

Có thể nói, việc thực thi chính sách BHXH bắt buộc là rất quan trọng Tổ chức thực thi chính sách để thực hiện các mục tiêu chính sách BHXH bắt buộc và mục tiêu chung Một khi chính sách BHXH bắt buộc được triển khai thực hiện rộng rãi trong đời sống xã hội thì tính đúng đắn của chính sách BHXH bắt buộc được khẳng định ở mức cao hơn, được cả xã hội thừa nhận, nhất là các đối tượng hưởng thụ chính sách

Chính sách BHXH bắt buộc ở nước ta được hình thành từ năm 1995, đã và đang từng bước được điều chỉnh, sửa đổi cho phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Nhóm chính sách về BHXH tại doanh nghiệp vừa và nhỏ tập trung vào các đối tượng tham gia BHXH (người lao động và người sử dụng lao động), mức lương tham gia BHXH và chế độ chi trả BHXH

Từ đó đến nay chính sách BHXH bắt buộc tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ đã trải qua hai thời kỳ Thời kỳ từ các năm 1995 đến năm 2003, đối tượng BHXH bắt buộc chỉ bao gồm những người lao động có hợp đồng lao động làm việc trên 3 tháng, làm việc trong cơ quan, doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp ngoài quốc doanh có quy mô từ

10 lao động trở lên Các đối tượng này được mở rộng hơn từ năm 2003 đến nay, mọi lao động có hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc từ 3 tháng trở lên, không phân biệt quy

mô của doanh nghiệp đều thuộc diện điều chỉnh của Chính sách BHXH bắt buộc Đặc biệt, từ năm 2018, người sử dụng lao động ký hợp đồng lao động có thời hạn từ 1 tháng đến dưới 3 tháng phải đóng BHXH cho người lao động, không phải đóng bảo hiểm y tế

và bảo hiểm thất nghiệp [14]Có thể nói, đối tượng tham gia BHXH không ngừng tăng cao, từ hơn 2,2 triệu người tham gia BHXH vào năm 1995 đã tăng lên 10,4 triệu người

Trang 29

đầu tư nước ngoài và 19,4% doanh nghiệp nhà nước nợ, trốn đóng BHXH)

Mức lương tham gia BHXH bắt buộc của người lao động luôn gắn liền với mức lương cơ sở Mức lương căn cứ đóng BHXH tăng liên tục trong nhiều năm qua Tại khu vực doanh nghiệp, sau 10 năm (giai đoạn 2008-2017) đã điều chỉnh tiền lương tối thiểu theo 4 vùng 10 lần Cụ thể vùng 4 tăng 4 lần (từ 650.000 lên 2.580.00 đồng), vùng 1 tăng 4,7 lần (từ 800.000 lên 3.750.000 đồng) Theo quy định mới nhất năm 2018 của pháp luật Việt Nam, Tiền lương tham gia BHXH Từ ngày 01/01/2018, tiền lương tháng đóng BHXH bắt buộc là mức lương, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác theo quy định

tại Điều 4 của Thông tư số 47/2015/TT-BLĐTBXH do đơn vị quyết định

Nhóm chính sách BHXH bắt buộc còn bao gồm sự chi trả trong BHXH bắt buộc

Sự công bằng, minh bạch và chính sách BHXH luôn đi theo nguyên tắc đóng - hưởng Hiện nay, mỗi năm các cơ quan bảo hiểm xã hội giải quyết chi trả cho hàng trăm nghìn người hưởng chế độ bảo hiểm xã hội hàng tháng, hơn nửa triệu người hưởng trợ cấp BHXH một lần, hơn 5,5 triệu lượt người hưởng chế độ ốm đau, thai sản, dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ; hàng tháng thực hiện chi trả lương hưu và trợ cấp kịp thời cho hơn 2,5 triệu người, trong đó số đối tượng hưởng hưu từ ngân sách nhà nước là hơn 800 nghìn người Mức lương hưu bình quân của người hưởng lương hưu từ ngân sách nhà nước (nghỉ hưu trước năm 1995) là 2,88 triệu đồng/tháng, còn của người hưởng lương từ

quỹ bảo hiểm chi trả là 3,07 triệu đồng/tháng năm 2012

Nhìn chung, chính sách BHXH bắt buộc trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ đang từng bước được hoàn thiện Các chính sách này được đưa ra và thực hiện nhằm cân bằng quyền lợi của người lao động và người sử dụng lao động Từ đó tạo nên những điều kiện

về an sinh xã hội giúp ổn định nền kinh tế - xã hội của nước ta hiện nay

Trang 30

24

1.3 Kinh nghiệm của địa phương về thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội bắt buộc tại doanh nghiệp vừa và nhỏ

1.3.1 Kinh nghiệm của Quảng Ninh

Tỉnh Quảng Ninh có diện tích 6.102 km2, dân số là 1.415 triệu người, hơn một nửa chưa tới 30 tuổi Đặc biệt, trên địa bàn tỉnh có 15 khu công nghiệp lớn, nhỏ Hệ thống các khu công nghiệp được hình thành và phân bố đồng đều trên địa bàn qua đó thu hút tạo việc làm cho nguồn nhân lực tại chỗ Hơn nữa, Quảng Ninh còn là tỉnh phát triển mạnh ngành công nghiệp khai khoáng cũng như ngành du lịch tạo việc làm cho hàng chục ngàn lao động từ nhiều năm qua Các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong đó đóng góp

không nhỏ vào sự phát triển kinh tế - xã hội tại tỉnh này

Cùng với sự phát triển kinh tế cũng như những chính sách về an sinh xã hội và đặc biệt là công tác tổ chức thực hiện chính sách BHXH bắt buộc tại các doanh nghiệp vừa

và nhỏ, BHXH tỉnh Quảng Ninh thu được nhiều thành tựu đáng kể Theo dự thảo báo cáo tính đến ngày 30/6/2018, toàn tỉnh có 1.189.671 người tham BHYT- đạt tỷ lệ bao phủ BHYT 93,6% dân số; 224.353 người tham gia BHXH bắt buộc; 4.746 người tham gia BHXH tự nguyện; 212.183 người tham gia BH thất nghiệp; Tổng số thu BHXH, BHYT, BHTN: 2.393 tỷ đồng, tăng 70 tỷ đồng so với cùng kỳ năm 2017- đạt tỷ 46,2%

so với kế hoạch BHXH Việt Nam giao; Tổng số nợ BHXH, BHYT, BHTN 116,1 tỷ đồng (trong đó: nợ đọng 3,13 tỷ đồng; nợ kéo dài 86,98 tỷ đồng; nợ khó thu 26 tỷ đồng); Thực hiện chi BHXH, BHTN 2.786 tỷ đồng; chi Khám chữa bệnh BHYT 937,9 tỷ đồng, ước 6 tháng đầu năm số lượt người khám chữa bệnh BHYT là 1.103.573 lượt người Toàn Ngành cũng đã bàn giao được 210.548 sổ BHXH cho NLĐ (đạt 92,99% tổng số sổ phải bàn giao); Thực hiện giải quyết cho 6.728 người hưởng chế độ BHXH; giải quyết cho 122.564 lượt người hưởng chế độ ốm đau, thai sản, dưỡng sức phục hồi sức khỏe;

Tổ chức chi trả cho 2.473 người hưởng trợ cấp thất nghiệp Về công tác tiếp nhận và trả kết quả thủ tục hành chính, tiếp nhận 84.227 lượt hồ sơ, trả 84.686 lượt hồ sơ giải quyết các chế độ chính sách BHXH, BHYT, BHTN

Bên cạnh những thành tích đã đạt được, hoạt động thực hiện chính sách BHXH bắt buộc tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ tỉnh Quảng Ninh cũng có những nhược điểm và vướng mắc Mặc dù đối tượng tham gia đã được quy định rõ trong Luật BHXH và các

Trang 31

25

văn bản hướng dẫn khác, nhưng trên thực tế tính tuân thủ pháp luật về BHXH của nhiều đơn vị và người lao động trong diện bắt buộc chưa cao (chủ yếu là lao động làm việc trong khu vực ngoài nhà nước) Nguyên nhân chính là do chế tài xử lý các trường hợp vi phạm còn phức tạp và chưa đủ mạnh, việc tính lãi suất chậm nộp đối với số nợ BHXH, BHYT còn thấp gây tâm lý coi nhẹ của các đơn vị, doanh nghiệp Công tác giám định BHYT còn một số khó khăn vướng mắc ảnh hưởng đến việc cân đối quỹ như điều kiện sinh hoạt Hơn nữa, doanh nghiệp nợ BHXH đồng nghĩa với việc người lao động không được hưởng các chế độ, chính sách từ BHXH Bên cạnh đó, có một số doanh nghiệp hoạt động có lãi, nhưng cố tình chiếm dụng tiền bảo hiểm để tái đầu tư sản xuất, kinh doanh mà không phải đi vay ngân hàng Một số doanh nghiệp nợ quá hạn quy định chấp nhận trả lãi suất BHXH vì lãi suất của BHXH thấp hơn lãi suất ngân hàng Một số doanh nghiệp cố tình không tham gia BHXH, bảo hiểm y tế cho người lao động, hoặc chỉ mang tính đối phó Trong khi đó, quy định trong việc xử lý còn nhiều điều, khoản chưa phù hợp, mức xử phạt còn nhẹ, có quan BHXH lại không có thẩm quyền xử phạt mà chỉ có thể nhắc nhở nên không có tác dụng ngăn ngừa, răn đe đối với các hành vi vi phạm Luật Bảo hiểm xã hộicủa các doanh nghiệp Công tác quản lý nhà nước, chế tài và xử phạt không đủ mạnh (mức phạt tối đa không quá 30 triệu đồng) nên vẫn xảy ra tình trạng cố tình chiếm dụng tiền trích nộp BHXH [23]

Nhìn chung, việc thực hiện chính sách về BHXH bắt buộc tại doanh nghiệp vừa và nhỏ tại tỉnh Quảng Ninh có những ưu, nhược điểm nhất định Từ các ưu điểm, nhược điểm này, bài học kinh nghiệm cho việc thực thi chính sách bảo hiểm tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ trên cả nước nói chung và tại tỉnh Quảng Ninh nói riêng là cần phát huy những thế mạnh của bảo hiểm xã hội về nguồn nhân lực cũng như các chính sách bảo hiểm xã hội đối bắt buộc với người lao động Đặc biệt, cần đi sâu phát triển các nhóm lợi ích đối với người lao động tại các khu công nghiệp - nơi chiếm lượng lao động thô sơ là chủ yếu Ngoài ra, các cơ quan chức năng cần có những biện pháp xử phạt mạnh hơn đối với các doanh nghiệp không tham gia hoặc tham gia chưa đúng và đủ các chính sách bảo hiểm xã hội bắt buộc Việc thực hiện chính sách về BHXH bắt buộc ở đây đã có những phát triển theo đúng những chính sách của Nhà nước nhưng chưa đáp ứng được nhu cầu an sinh xã hội và đảm bảo quyền lợi của người lao động Đối với một

Trang 32

26

tỉnh chú trọng phát triển các khu công nghiệp và du lịch như tỉnh Quảng Ninh, đây sẽ là một thách thức lớn đối với các vấn đề an sinh xã hội

1.3.2 Kinh nghiệm của thành phố Hồ Chí Minh

Thành phố Hồ Chí Minh là thành phố trực thuộc trung ương, là đầu mối kinh tế quan trọng tại khu vực phía Nam Việt Nam Kinh tế - xã hội của thành phố Hồ Chí Minh

do đó đóng góp một phần không nhỏ vào sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Thành phố Hồ Chí Minh có một số lượng lớn các khu công nghiệp, các doanh nghiệp nước ngoài, các doanh nghiệp trong nước Trong đó, các doanh nghiệp vừa và nhỏ thực hiện những đóng góp đáng kể vào nền kinh tế - xã hội tại thành phố Hồ Chí Minh Các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại thành phố Hồ Chí Minh chiếm gần như 100% số lượng doanh nghiệp tại thành phố này Số lượng doanh nghiệp vừa và nhỏ tại thành phố này phát triển nhanh Tuy nhiên, hiệu quả thông qua lợi nhuận còn khá hạn chế Cụ thể, trong tổng số 171.655 doanh nghiệp (thời điểm 31/12/2016) thì chỉ có 64.607 doanh nghiệp có lãi, chiếm 37,81% và có 96.963 DN bị thua lỗ, chiếm 56,49%; số còn lại là các doanh

nghiệp kinh doanh hòa vốn.[9]

Đối với người sử dụng lao động - doanh nghiệp - người có vai trò quyết định trong việc tham gia BHXH bắt buộc thì thành phố Hồ Chí Minh có đến 98% doanh nghiệp tham gia BHXH bắt buộc (một công ty cổ phần và một hộ gia đình kinh doanh cá thể ở thành phố Hồ Chí Minh có dưới 100 lao động chưa đóng BHXH bắt buộc Số lượng doanh nghiệp tham gia BHXH bắt buộc ngay khi bắt đầu hoạt động ở thành phố Hồ Chí Minh chỉ có 36,7% Thành phố Hồ Chí Minh có 3,2% DN đóng theo thu nhập thực tế Các doanh nghiệp thường khó khăn trong việc đóng bảo hiểm xã hôi Có đến 7,1% các doanh nghiệp tại thành phố Hồ Chí Minh gặp các vấn đề về thủ tục hành chính, không được hướng dẫn cụ thể, chi tiết về thủ tục tham gia BHXH bắt buộc Tại thành phố Hồ Chí Minh, số lượng các doanh nghiệp nợ BHXH bắt buộc là rất lớn Tình trạng nợ BHXH kéo dài ở các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại đây đang ở mức báo động, đặc biệt là

ở các doanh nghiệp nước ngoài như các doanh nghiệp Hàn Quốc nợ BHXH hơn 41 tỷ đồng Các vụ kiện về vấn đề nợ BHXH cũng được thực hiện tại thành phố Hồ Chí Minh

như cơ quan BHXH TP.HCM đã khởi kiện doanh nghiệp giày Hàn Quốc KWang Nam

ra tòa Bằng phán quyết số 09/2008/LĐ-ST ngày 19.6.2008, Tòa án Nhân dân (TAND) quận Phú Nhuận, TP.HCM đã chấp nhận yêu cầu của BHXH TP.HCM đòi Công ty

Trang 33

27

TNHH Sản Xuất giày dép KWang Nam trả số tiền BHXH và BHYT số tiền 7.022.712.539 đồng Nếu chậm thanh toán, Công ty TNHH sản xuất giày dép KWang Nam còn phải trả lãi cho BHXH TP.HCM đối với khoản nợ chậm trả theo mức lãi suất

cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời gian chưa thi hành án Được biết tuy thua kiện, Công ty TNHH sản xuất giày dép KWang Nam không kháng cáo án

sơ thẩm vì biết trước có kháng cáo cũng chẳng làm thay đổi quyết định của án sơ thẩm

mà còn bị báo chí đưa tin, sẽ tổn hại uy tín của doanh nghiệp mà thôi Không những thế, hầu hết các doanh nghiệp chây ỳ, trốn đóng BHXH tại thành phố Hồ Chí Minh đều là những doanh nghiệp nợ lớn, thời gian kéo dài, trong đó nợ lớn nhất là Công ty cổ phần xây dựng Công nghiệp Descon với số nợ hơn 12,7 tỷ đồng, thời gian chậm đóng từ tháng 9/2016 đến nay Tất cả các doanh nghiệp này đều được BHXH thành phố Hồ Chí Minh

xử phạt vi phạm hành chính, kết luận thanh tra nhưng các doanh nghiệp này đều không khắc phục và tiếp tục nợ quỹ BHXH Việc cơ quan BHXH thành phố Hồ Chí Minh cũng như các cơ quan BHXH của các địa phương khác chuyển hồ sơ các doanh nghiệp

nợ đọng, chây ỳ chỉ là biện pháp "mạnh cuối cùng" Do các văn bản pháp luật và các chế tài xử phạt và hướng dẫn còn quá ít và chưa lịp thời [1] Cùng với nợ BHXH, nhiều doanh nghiệp đã cố tình “lách luật” để trốn đóng BHXH cho người lao động bằng cách

khai báo số lượng người lao động thấp hơn nhiều so với thực tế

Có thể nói, hoạt động thực hiện chính sách về BHXH bắt buộc tại thành phố Hồ Chí Minh đối với khu vực các doanh nghiệp vừa và nhỏ còn đang có nhiều vấn đề còn tồn đọng Các vấn đề này nguyên nhân chủ yếu bắt nguồn từ những chính sách thiếu liên kết, các chế tài xử phạt chưa đủ mạnh, nền kinh tế - xã hội còn chưa phát triển đồng bộ Cũng như hoạt động thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội tại tỉnh Quảng Ninh, hoạt động thực thi chính sách bảo hiểm xã hội bắt buộc tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại thành phố Hồ Chí Minh đã rút ra được một số bài học kinh nghiệm như: (i) tăng cường

sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp lãnh đạo trung ương đến địa phương Thực tế cần phải

có sự phối hợp chặt chẽ trong triển khai thực hiện, có kế hoạch cụ thể, đồng thời tăng cường công tác kiểm tra, giám sát gắn với việc sơ kết, tổng kết; (ii) chú trọng thực hiện công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức trong cán bộ công chức, người lao động và người sử dụng lao động về công tác bảo hiểm xã hội để họ tự quan tâm và bảo vệ quyền lợi hợp pháp, chính đáng của mình theo quy định của bảo hiểm xã hội; (iii) phát triển hệ

Trang 34

28

thống bảo hiểm xã hội đồng bộ với sự phát triển các dịch vụ xã hội, tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động tham gia và thụ hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội cũng như bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp; (iv) nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức làm công tác bảo hiểm xã hội và không ngừng đổi mới tác phong, lề lối làm việc về phong cách phục vụ, tăng cường đầu tư cơ sở vậy chất, thực hiện có hiệu quả cải cách hành chính, nhất là đơn giản hóa các thủ tục hành chính, hướng tới hiện đại hóa, chuyên nghiệp hóa Để thực hiện có hiệu quả hoạt động thực thi chính sách BHXH tại đây, thành phố Hồ Chí Minh cần có những động thái mạnh hơn để làm đầu tàu cho các

hoạt động thực thi chính sách về BHXH tại các tỉnh khu vực phía nam

Tiểu kết chương

Chính sách BHXH bắt buộc là một trong những chính sách công quan trọng của một nhà nước Chính sách BHXH bắt buộc tuy chưa có những khái niệm chính xác nhưng có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong khu vực chính sách công của một chính quyền Đây là một trong những công cụ để nhà nước thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình, thực hiện các hoạt động liên quan đến công dân và can thiệp vào hành vi xã hội trong quá trình can thiệp vào mọi hành vi xã hội trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước đó

Tuy BHXH bắt buộc là một trong những hình thức của bảo hiểm nhưng đây là một loại hình bảo hiểm đặc biệt, có tính thiết yếu trong một xã hội BHXH bắt buộc do nhà nước tổ chức và quản lý nhằm thỏa mãn các nhu cầu vật chất ổn định cuộc sống của người lạo động và gia đình họ khi gặp những rủi ro làm giảm hoặc mất khả năng lao động Dưới góc độ pháp lý, đây có thể coi là một trong những chính sách xã hội quan trọng nhằm đảm bảo sự phát triển kinh tế, an sinh xã hội và sự bền vững của quốc gia Các chính sách BHXH bắt buộc được thực hiện trong khối ngành kinh tế được thể hiện cụ thể hóa qua khối doanh nghiệp vừa và nhỏ Khối doanh nghiệp này, ở hầu hết các nước đều là khối doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng và chủ chốt của nền kinh tế

Nó không chỉ đóng góp phần lớn vào sự phát triển quốc gia, GDP của nền kinh tế mà còn giải quyết việc làm cho một số lượng lớn người lao động Các chính sách BHXH bắt buộc trong khối ngành này theo đó được đặc biệt chú trọng

Trang 35

29

Tại Việt Nam, khi xây dựng các chính sách BHXH bắt buộc, các nhà hoạch định chính sách cũng hướng mục tiêu lớn vào các doanh nghiệp vừa và nhỏ Theo quy định của pháp luật Việt Nam, tất cả các doanh nghiệp đều phải tham gia BHXH bắt buộc Đặc biệt, từ năm 2018, người sử dụng lao động ký hợp đồng lao động có thời hạn từ 1 tháng đến dưới 3 tháng phải đóng BHXH cho người lao động, không phải đóng bảo hiểm y tế

và bảo hiểm thất nghiệp Mức lương đóng BHXH phụ thuộc vào mức lương cơ sở và sự thỏa thuận giữa người sử dụng lao động và người lao động Các cơ quan BHXH nhà nước và địa phương dựa trên mức đóng BHXH mà thực hiện chi "hưởng" cho những lao động đã tham gia BHXH

Tuy đã tập trung xây dựng và phát triển mạnh mẽ các chính sách BHXH bắt buộc, nhưng quá trình này còn gặp khá nhiều vướng mắc Trước hết, việc xây dựng chính sách BHXH chưa dựa trên sự tham gia của những đối tượng tham gia BHXH như người lao động và người sử dụng lao động mà phần lớn dựa vào các cơ quan nhà nước, có nghĩa là chính sách BHXH chưa đi sát với thực tế, chế tài xử phạt còn ở mức độ hành chính Hiểu biết của người sử dụng lao động và người lao động về vấn đề này cũng bị giới hạn bởi sự truyền thông yếu kém Các vấn đề về nền kinh tế khiến cho khả năng chi trả BHXH của các doanh nghiệp còn thấp Đặc biệt, việc các doanh nghiệp chưa có ý thức tự nguyện tham gia thực hiện các chính sách BHXH còn gây nhiều khó khăn trong việc thực hiện Nhìn chung, chính sách BHXH là một chính sách công đòi hỏi việc thực hiện phải được đồng bộ hóa theo hướng đổi mới của nền kinh tế và học hỏi kinh nghiệm từ các quốc gia có nền kinh tế phát triển, và an sinh xã hội vững chắc Việc xây dựng và thực hiện các chính sách BHXH cần được thực hiện từ trung ương đến địa phương, trong đó các địa phương đóng vai trò "tế bào" cho sự phát triển của tổng thể Thủ đô Hà Nội là đầu mối của sự phát triển kinh tế - xã hội trong cả nước Các chính sách BHXH tại thành phố này được thực hiện như thế nào? Có hiệu quả ra sao? Những khó khăn và hạn chế? Định hướng phát triển như thế nào? Các câu hỏi này sẽ được người nghiên cứu thực hiện

trả lời trong chương tiếp theo của luận văn

Trang 36

30

Chương 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC TẠI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI

2.1 Khái quát doanh nghiệp vừa và nhỏ tại thành phố Hà Nội

2.1.1 Khái quát chung về thành phố Hà Nội

Thành phố Hà Nội là thủ đô của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam Thành phố Hà Nội thuộc vùng Đông Bắc Bộ của Việt Nam Thành phố này nằm giữa đồng bằng sông Hồng trù phú, nơi đây đã sớm trở thành một trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và tôn giáo ngay từ những buổi đầu lịch sử của Việt Nam

Là thành phố thủ đô và có vị trí ở khu vực trung tâm của miền Bắc, bên cạnh con sông Hồng, giao thông từ Hà Nội đến các tỉnh khác của Việt Nam cũng như nước ngoài tương đối thuận tiện

Về kinh tế - xã hội, Hà Nội giữ vị trí đầu tàu kinh tế của cả nước Năm 2018, 20 chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội của thủ đô đã đạt và vượt kế hoạch để ra Đặc biệt là lĩnh vực công nghiệp, thương mại của thủ đô Tăng trưởng kinh tế của Hà Nội năm 2018 đạt khá, cơ cấu chuyển dịch đúng hướng GRDP tăng 8,56% và duy trì năm sau tăng cao hơn năm trước (năm 2016 tăng 8,20%; năm 2017 tăng 8,48%); bình quân ba năm 2016-

2018 tăng 8,41%, cao hơn mức 7,3% của giai đoạn 2011-2015 Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng tích cực: tăng tỷ trọng các ngành dịch vụ, công nghiệp, xây dựng và giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp GRDP bình quân đầu người năm 2018 đạt 4.080 USD/người, gấp 1,12 lần năm 2015 Khách du lịch quốc tế đạt 5,74 triệu lượt, tăng 16%, về đích trước hai năm so với mục tiêu đặt ra Nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao

và liên kết sản xuất được khuyến khích phát triển An sinh xã hội được bảo đảm, tích cực

hỗ trợ nhà ở cho người có công, người nghèo và hoàn thành trước hai năm mục tiêu giảm nghèo [13]

Nhìn chung, là một thành phố có bề dày lịch sử và các điều kiện phát triển kinh tế -

xã hội, Hà Nội đã và đang phát triển mạnh mẽ trên mọi lĩnh vực, đáp ứng nhu cầu phát triển của Việt Nam nói chung và của địa phương nói riêng, xứng đáng là một trong hai trung tâm kinh tế - xã hội đặc biệt quan trọng của Việt Nam (bên cạnh thành phố Hồ Chí Minh)

Trang 37

31

2.1.2 Các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại thành phố Hà Nội

Kinh tế - xã hội của thành phố Hà Nội đang phát triển một cách nhanh chóng Trong đó, các doanh nghiệp nói chung và các doanh nghiệp vừa và nhỏ nói riêng cũng có những đóng góp không nhỏ vào sự phát triển này Theo thống kê, tính đến tháng 5/2018, trên địa bàn thành phố Hà Nội có tổng cộng 232.000 doanh nghiệp, trong đó, doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME) chiếm trên 97%, đóng góp hơn 40% GDP cho thành phố, tạo công ăn việc làm cho hơn 50% lao động [20] và đóng góp quan trọng về an sinh xã hội trên địa bàn.Bình quân 38 người dân Thủ đô/doanh nghiệp, cao gấp 3,7 lần bình quân cả nước [15] Các doanh nghiệp này hầu hết là các doanh nghiệp thương mại, còn ít tập trung vào lĩnh vực sản xuất

Đội ngũ doanh nghiệp vừa và nhỏ của thủ đô ngày càng khẳng định vai trò nòng cốt, tiên phong trong công cuộc xây dựng và phát triển thủ đô nói riêng và của Việt Nam nói chung Nhiều doanh nghiệp đã thể hiện rõ phẩm chất, bản lĩnh của doanh nhân Việt Nam hiện đại, luôn năng động, sáng tạo, chủ động hội nhập Tuy nhiên, doanh nghiệp nhỏ và vừa Hà Nội vẫn còn gặp một số khó khăn, trở ngại cản trở đến sự phát triển như: thiếu vốn và khó khăn trong việc tiếp cận các nguồn tài chính, khó khăn về mặt bằng sản xuất kinh doanh, vấn đề về nguồn lực và khả năng quản lý của chủ doanh nghiệp, vấn đề công nghệ, kỹ thuật hạn chế, vấn đề về tính liên kết, hợp tác sản xuất của các doanh nghiệp vừa và nhỏ Hà Nội còn hạn chế và một số hạn chế khác như khả năng chiếm lĩnh thị trường, danh nghiệp vừa và nhỏ còn nằm ngoài chuỗi cung cứng, chi phí sản xuất tăng cao, hiệu quả sản xuất kinh doanh thấp, hàng tồn kho lớn do sức tiêu thụ của thị trường không ổn định, về tiếp cận các chính sách, chương trình ưu đãi của Chính phủ và Thành phố [17]

Các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Hà Nội ngày càng thêm phong phú, đa dạng Theo đó, xu hướng liên doanh, liên kết - hợp tác vững mạnh nảy sinh như một nhu cầu tất yếu của xã hội hiện đại Hiệp hội doanh nghiệp nhỏ và vừa thành phố Hà Nội là tổ chức có nhiệm vụ quan trọng trong việc tập hợp, liên kết, hỗ trợ và đại diện của các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại thành phố Hiệp hội này ra đời ngày 21 tháng 12 năm 1995 theo Quyết định số 4518/QĐ-UBND của Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội, có tên là

Trang 38

32

Câu lạc bộ các doanh nghiệp vừa và nhỏ Hà Nội Ngày 15 tháng 5 năm 2000, Câu lạc bộ chính thức đổi tên thành Hiệp hội các doanh nghiệp vừa và nhỏ thành phố Hà Nội, gọi tắt

là HASMEA (Hanoi Small and Medium Enterprises Association) Ngày 11 tháng 4 năm

2016, Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội ra Quyết định số 1632/QĐ-UBND đổi tên Hiệp hội các Doanh nghiệp vừa và nhỏ thành phố Hà Nội (HASMEA) thành Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa thành phố Hà Nội, tên viết tắt là HANOISME

Có thể nói, doanh nghiệp vừa và nhỏ là một thành phần quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội của thành phố Hà Nội Do đó, các chính sách công tập trung vào nhóm doanh nghiệp này đã và đang được xây dựng và thực thi nhằm đạt hiệu quả cao trong các hoạt động quản lý đất nước của các nhà hoạch định chính sách của thủ đô

2.2 Việc tổ chức thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội bắt buộc tại doanh nghiệp vừa và nhỏ tại thành phố Hà Nội

Các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại thành phố Hà Nội cũng không chỉ giải quyết vấn

đề việc làm cho người lao động mà còn góp phần làm ổn định an sinh xã hội Việc thực hiện các chính sách công, trong đó có chính sách BHXH tại các doanh nghiệp này đã góp phần làm cho quá trình thực hiện chính sách công cũng như chính sách BHXH đạt hiệu quả cao Thêm vào đó, thành phố Hà Nội không chỉ là thủ đô của nước Cộng hòa

Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam mà còn là đầu mối kinh tế, chính trị, xã hội, là đầu não của các chính sách công nơi mà các chính sách công sẽ tiên phong gây ảnh hưởng đến sự phát triển Lựa chọn nghiên cứu việc thực thi chính sách bảo hiểm xã hội (BHXH bắt buộc) tại thành phố Hà Nội là đại diện tiêu biểu cho hoạt động thực thi một loại chính sách công đối với cả nước

Thực trạng thực hiện chính sách BHXH tại doanh nghiệp vừa và nhỏ thể hiện rõ ở các chế độ mà người lao động được hưởng Chính sách BHXH tại doanh nghiệp vừa và nhỏ tại thành phố Hà Nội bao gồm năm chế độ trong bộ Luật Bảo hiểm xã hộicủa Việt Nam bao gồm:

Một cuộc khảo sát được tiến hành với một số doanh nghiệp và người lao động trên địa bàn thành phố Hà Nội Số doanh nghiệp tham gia khảo sát: 05 doanh nghiệp, trong

đó có 4 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ; 01 doanh nghiệp

Trang 39

Bảng 2.1 Cơ cấu nhân khẩu tham gia khảo sát

Số liệu về biến nhân khẩu có ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động thực thi chính sách BHXH tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại thành phố Hà Nội Vấn đề giới tính, vị trí công tác khác nhau cho thấy khả năng thực thi chính sách BHXH khác nhau Hà Nội

là một thành phố có nền kinh tế - xã hội năng động, nhu cầu thương mại - dịch vụ tăng cao, do đó, các doanh nghiệp thương mại và dịch vụ ở thủ đô chiếm phần lớn trong tổng

số các doanh nghiệp vừa và nhỏ Số mẫu hiện có lấy 80% từ các doanh nghiệp thương mại - dịch vụ và chỉ có 20% lấy được từ các doanh nghiệp sản xuất Điều này là phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế mà có mức độ đô thị hóa gia tăng một cách nhanh chóng như Hà Nội hiện nay Vấn đề giới tính cũng ảnh hưởng phần lớn đến các chính sách BHXH Trong số mẫu khảo sát thì các lao động nữ chiếm tỷ lệ nhiều hơn (>50%) so với các lao động nam (<50%) Từ đó sẽ có những ảnh hưởng nhiều tới quỹ BHXH phải chi trả cho các lao động nữ khi họ thực hiện chế độ thai sản Các doanh nghiệp vừa và nhỏ hiện nay tại Hà Nội hầu hết là các doanh nghiệp tư nhân, nên người sử dụng lao động chính là các chủ sở hữu doanh nghiệp Đôi khi, các doanh nghiệp này còn là doanh nghiệp gia đình, các thành viên trong gia đình cùng tham gia vào quá trình sản xuất, kinh doanh Số người lao động trong các đơn vị sản xuất thường nhiều hơn so với trong các doanh nghiệp thương mại, dịch vụ do các đặc tính của một doanh nghiệp sản xuất, người

Trang 40

về BHXH từ các cơ quan BHXH và cũng chủ động tìm hiểu các chính sách để có thể nhanh chóng thực thi các chính sách này tại doanh nghiệp của mình Tuy nhiên, họ vẫn nhận thấy một vài khó khăn trong việc thực thi các chính sách BHXH bởi các văn bản pháp luật đưa ra chưa phù hợp với thực tế, chưa công khai, minh bạch, một số các cán bộ thực thi chính sách BHXH ở các cơ quan nhà nước còn có thái độ công quyền

Với người lao động, trong tổng số mẫu tham gia vào cuộc khảo sát thì số người lao động trong lĩnh vực sản xuất chiếm 57.6% và người lao động trong lĩnh vực thương mại dịch vụ là 42.3% Theo họ, các doanh nghiệp mà họ đang tham gia lao động đều đã thực hiện khá đầy đủ các chế độ, chính sách BHXH tại doanh nghiệp đó Tuy nhiên, những người lao động này hầu như đều nhận thấy mình chưa được phổ biến, tuyên truyền, hướng dẫn thực thi đầy đủ các chính sách về BHXH, đặc biệt là đối với những người lao động ở lĩnh vực sản xuất Ở các doanh nghiệp thương mại, dịch vụ, hoạt động phổ biến, tuyên truyền, hướng dẫn này hầu hết là do người lao động tự tìm hiểu, hoặc từ người sử dụng lao động Các cơ quan BHXH địa phương chưa thực sự đóng vai trò nòng cốt trong hoạt động này Số lao động ở các doanh nghiệp sản xuất đều chưa thực sự nắm rõ các quy định về chính sách BHXH đối với người lao động Ở đây, vai trò công đoàn chưa được thể hiện rõ trong việc bảo đảm quyền lợi của người lao động

Hoạt động thực thi chế độ chính sách về BHXH trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại thành phố Hà Nội được thể hiện rõ ở việc giải quyết các chế độ và nhận định của người lao động về các chế độ mà bản thân họ được hưởng

Ngày đăng: 07/12/2019, 17:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w