Riêng đối với công tác giảm nghèo, chúng ta đã có những bước chuyển căn bản về nhận thức và hành động, từ cách tiếp cận đơn chiều chuẩn nghèo dựa trên thu nhập là chính chuyển sang đa ch
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐẶNG THỊ LINH
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG
TỪ THỰC TIỄN HUYỆN ĐAN PHƢỢNG, THÀNH PHỐ HÀ HỘI HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
HÀ NỘI, 2019
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐẶNG THỊ LINH
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG
TỪ THỰC TIỄN HUYỆN ĐAN PHƢỢNG, THÀNH PHỐ HÀ HỘI HIỆN NAY
Ngành: Chính sách công
Mã số: 8 34 04 02
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN NGỌC TOÀN
HÀ NỘI, 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Đề tài
do cá nhân tôi nghiên cứu; các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và có nguồn trích dẫn; bố cục, phông chữ của luận văn đúng với quy
định và đề tài chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Hà Nội, ngày tháng năm 2019
HỌC VIÊN
Đặng Thị Linh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc Học viện Khoa học xã hội, khoa Chính sách công, các giảng viên đã trực tiếp giảng dạy, hướng dẫn, quan tâm và tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành khóa học
Thực hiện đề tài “Thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững từ thực tiễn huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội hiện nay” tôi xin được bày tỏ lòng
biết ơn chân thành đến TS Nguyễn Ngọc Toàn - người hướng dẫn khoa học
đã tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu, viết luận văn
Tôi cũng xin cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp đã động viên, giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi để hoàn thành đề tài này
Mặc dù bản thân đã hết sức cố gắng, song luận văn không tránh khỏi những thiếu sót, kính mong nhận được sự chỉ dẫn, đóng góp thêm của các thầy, cô giáo và các bạn đồng nghiệp
HỌC VIÊN
Đặng Thị Linh
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 : MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG 9
1.1 Một số khái niệm cơ bản 9
1.2 Chính sách giảm nghèo bền vững 17
Tiểu kết chương 28
Chương 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG TẠI HUYỆN ĐAN PHƯỢNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 30
2.1 Điều kiện kinh tế - xã hội của Đan Phượng, Hà Nội 30
2.2 Thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững ở huyện Đan Phượng thành phố Hà Nội 32
2.3 Đánh giá việc thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững của huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội 55
Tiểu kết chương 64
Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG TẠI HUYỆN ĐAN PHƯỢNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 67
3.1 Phương hướng cơ bản nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững tại huyện Đan Phượng 67
3.2 Một số giải pháp tăng cường hiệu quả thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững tại huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội 69
Tiểu kết chương 74
K T LUẬN 76
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 78
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thực hiện mục tiêu giảm nghèo là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước nhằm cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của người nghèo, góp phần thu hẹp khoảng cách chênh lệch giữa nông thôn và thành thị, giữa các vùng, các nhóm dân cư, đồng thời thể hiện quyết tâm trong nỗ lực thực hiện Mục tiêu thiên niên kỷ của Liên hợp quốc Với quyết tâm và nỗ lực của cả hệ thống chính trị và người dân, Việt Nam đã hoàn thành Mục tiêu thiên niên kỷ
về xóa bỏ tình trạng nghèo cùng cực và thiếu đói vào năm 2002, sớm hơn 13 năm so với mục tiêu và sớm hơn 8 năm so với kết quả chung của toàn cầu Kết quả này đã tạo nền tảng quan trọng cho quá trình tiếp tục thực hiện mục tiêu giảm nghèo quốc gia Với thành quả 35 năm đổi mới nhiều chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo đã được thực hiện và mang lại nhiều hiệu quả
và hiệu ứng xã hội to lớn Cũng chính từ quá trình này, quan niệm về nghèo của Việt Nam dần thay đổi, chuẩn nghèo tiếp cận dần với quốc tế trong tiến trình hội nhập sâu rộng với những cam kết được mở rộng hơn, mang tính thiết thực hơn
Có thể nói, tiến trình đổi mới đất nước đã mang lại sự thay đổi to lớn trên nhiều mặt của đời sống xã hội Riêng đối với công tác giảm nghèo, chúng
ta đã có những bước chuyển căn bản về nhận thức và hành động, từ cách tiếp cận đơn chiều (chuẩn nghèo dựa trên thu nhập là chính) chuyển sang đa chiều với những tiêu chuẩn gắn liền hơn với đời sống hiện thực của người dân, đặc biệt nhấn mạnh đến tiêu chuẩn tiếp cận với các dịch vụ xã hội thiết yếu nhất (giáo dục, y tế, việc làm, v.v ) Để có được những thay đổi có tính chất đột phá trong tư duy và hành động của các cấp, các ngành và toàn xã hội thì sự đóng góp của hệ thống chương trình, đề án, chính sách xóa đói giảm nghèo là không nhỏ Với hiện thực phát triển của đất nước, hệ thống chính sách nói
Trang 7chung, chính sách giảm nghèo nói riêng luôn có sự cập nhật, thay đổi, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập quốc tế với chủ trương tiếp cận nhanh chóng kịp thời với những thay đổi của thế giới
Mặc dù trong tiến trình đổi mới đất nước 35 năm qua chúng ta đã có đầy đủ các chủ trương, chính sách phục vụ công tác xóa đói giảm nghèo Từ các chủ trương ấy, hàng loạt các chương trình trọng điểm như Chương trình
135, chương trình xây dựng các Quỹ hỗ trợ người nghèo, Quỹ việc làm quốc gia, đặc biệt Chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo qua các giai đoạn
từ 2001 đến 2020 , v.v nhưng hiệu quả của các chính sách, chương trình này mang lại chưa đáp ứng được kỳ vọng của Đảng, Nhà nước và toàn xã hội Số lượng các hộ nghèo cần được hỗ trợ cũng như số lượng hộ tái nghèo có xu hướng tăng trong thời gian vừa qua bất chấp những nỗ lực của các cấp, các ngành có liên quan Tại sao có hiện tượng như vậy và vấn đề thực hiện chính sách giảm nghèo của chúng ta đang vướng mắc ở những khâu nào? Hạn chế khi chúng ta thực hiện chính sách này từ cơ sở là gì? Cách gỡ của các cấp, các ngành ra sao? Đó là hàng loạt vấn đề đặt ra đòi hỏi chúng ta có những lời giải đáp thật sự minh bạch để thúc đẩy chính sách giảm nghèo phát huy hiệu quả một cách bền vững Quốc hội cũng đã nhận định, trong đời sống xã hội
“khoảng cách giàu nghèo có xu hướng gia tăng; vẫn còn tồn tại tình trạng trông chờ, ỷ lại vào chính sách hỗ trợ của Nhà nước; việc lồng ghép chính sách, cân đối nguồn lực và công tác quản lý, điều hành thực hiện chính sách giảm nghèo còn hạn chế” Sự phát triển kinh tế xã hội gắn với quá trình hội nhập đã đặt ra câu hỏi đối với công tác giảm nghèo, đã thật sự bền vững hay chưa?
Với tư cách là thành phố đi đầu cả nước trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội từ phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh, quốc phòng đến việc chăm lo đảm bảo an sinh xã hội cho người dân, trong đó có công tác
Trang 8xóa đói giảm nghèo, trong những năm qua Hà Nội đã có những nỗ lực đáng ghi nhận trong công tác giảm nghèo bền vững Theo con số thống kê của Sở Lao động, thương binh và xã hội, tính đến hết năm 2018, tổng số hộ nghèo của Hà Nội chỉ dừng lại ở con số 23.289 hộ, tỉ lệ 1,16%, tổng số hộ cận nghèo
là 40.727 hộ, tỉ lệ 2,03% [29] Con số này thể hiện một cách sinh động nhất những cố gắng của Hà Nội trong công tác phát triển kinh tế - xã hội nói chung, công tác giảm nghèo bền vững nói riêng
Đối với huyện Đan Phượng, trong quá trình hơn 10 được sát nhập về
Hà Nội, với những sự đầu tư của thành phố, sự quan tâm và phấn đấu phát triển của lãnh đạo và nhân dân huyện, Đan Phượng đã vươn lên thành một trong những đơn vị hành chính dẫn đầu về các thành tựu phát triển, đặc biệt trong quá trình xây dựng nông thôn mới và xóa đói giảm nghèo Ngay từ năm
2015, huyện đã về đích trong công tác xây dựng nông thôn theo các tiêu chuẩn mới, thúc đẩy sản xuất và đảm bảo đời sống mọi mặt của người dân Tuy nhiên, như đánh giá của huyện, công tác xóa đói giảm nghèo tuy đạt được những thành tựu đáng ghi nhận nhưng nhiều mục tiêu đặt ra chưa hoàn thành Vấn đề thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững trên địa bàn huyện còn thụ động, áp dụng máy móc từ các chính sách khung của trung ương cũng như của Hà Nội mà chưa có sự biến đổi sáng tạo cho phù hợp với thực tế của địa phương Bên cạnh đó, đội ngũ cán bộ thực hiện chính sách từ cơ sở (thôn,
xã, thị trấn) chưa được đào tạo bài bản, công việc kiêm nhiệm nên hiệu quả chưa cao Sự chồng chéo về chính sách, sự phối hợp giữa các bộ phận chưa thực sự chặt chẽ, v.v là những yếu tố góp phần làm hạn chế chính sách giảm nghèo bền vững được thực hiện ở địa phương
Với việc coi những thành công của Đan Phượng trong công tác giảm nghèo là một trường hợp điển hình nhưng còn tồn tại những vấn đề cần phải
có sự chung tay giải quyết của các cấp, các ngành, sự đồng tâm hiệp lực của
Trang 9các tầng lớp nhân dân, chúng tôi lựa chọn đề tài “Thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững từ thực tiễn huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội hiện nay”
làm luận văn thạc sĩ chuyên ngành Chính sách công của mình với mong muốn làm rõ hơn nữa thực trạng của việc thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững trên địa bàn huyện Đan Phượng để từ đó giải đáp những vấn đề thực tiễn xã hội đang đặt ra cho công tác giảm nghèo ở Đan Phượng nói riêng, thành phố
Hà Nội nói chung
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trong những năm qua, có khá nhiều công trình đề cập tới giảm nghèo bền vững trên cơ sở cách tiếp cận đa chiều về nghèo khổ Tiêu biểu có thể kể đến công trình của nhóm tác giả Nguyễn Thu Hà, Nguyễn Việt Nga, Nguyễn
Thanh Phương và Nguyễn Văn Thục (2015) Báo cáo tổng quan các nghiên cứu về giảm nghèo ở Việt Nam MOLISA, IRISH AID,UNDP, Hà Nội Đây là
một trong những báo cáo quan trọng tổng quan hơn 70 công trình nghiên cứu trước đó về vấn đề xóa đói giảm nghèo Điều đặc biệt của công trình này ở chỗ trên cơ sở tổng quan các công trình theo nhóm như những thành tựu trong giảm nghèo, so sánh kết quả giảm nghèo với mục tiêu chính sách, các tồn tại trong lĩnh vực giảm nghèo, vấn đề huy động và phân bổ nguồn lực cho công tác giảm nghèo, các mô hình giảm nghèo, các thách thức trong lĩnh vực giảm nghèo, các khuyến nghị trong công tác giảm nghèo, v.v các tác giả đã đưa ra một số ý kiến về việc thay đổi chính sách và những nội dung cần điều chỉnh trong các giai đoạn phát triển tiếp theo của chương trình giảm nghèo quốc gia Đây có thể coi là một trong những cơ sở tổng kết nghiên cứu căn bản, góp phần xây dựng Chương trình mục tiêu quốc gia Giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016 -2020
Tiếp tục hướng nghiên cứu này, tác giả Nguyễn Thắng và các cộng sự
(2018) đã cho ra đời một bản báo cáo với chủ đề Báo cáo nghèo đa chiều ở
Trang 10Việt Nam: Giảm nghèo ở tất cả các chiều cạnh để đảm bảo cuộc sống chất lượng cho mọi người Đây là một bản tổng hợp nghiên cứu về các vấn đề
giảm nghèo tập trung trong giai đoạn 2016 - 2018 thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016 - 2020 Nội dung báo cáo tập trung vào các vấn đề như: bức tranh tổng thể về nghèo đa chiều ở Việt Nam theo các nhóm dân cư, thước đo đánh giá nghèo đa chiều, động thái nghèo, sự chênh lệch mức sống giữa người Kinh và các dân tộc thiểu số, tình trạng nghèo trong nhóm người yếu thế trong xã hội, v.v Trên cơ sở đó, các tác giả đánh giá trực tiếp vào các chương trình, dự án giảm nghèo cũng như đưa ra các kiến nghị, giải pháp nhằm bổ sung và phát triển các chính sách giảm nghèo bền vững hiện có cũng như cơ sở cho việc thực hiện các chính sách này trong các giai đoạn tiếp theo
Trong nghiên cứu các vấn đề cụ thể, tác giả Đặng Nguyên Anh (2015)
trong công trình Nghèo đa chiều ở Việt Nam: một số vấn đề chính sách và thực tiễn đã đánh giá cách tiếp cận và đo lường đối tượng nghèo theo phương
thức truyền thống dựa trên thu nhập Ông cho rằng cần có cách tiếp cận chuẩn nghèo một cách đa dạng hơn, thực chất hơn để đảm bảo quyền được tiếp cận các dịch vụ xã hội cần thiết Có như vậy chúng ta mới có cơ sở để thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững Nhìn chung, trên cơ sở cách tiếp cận lý thuyết hợp lý, có sức thuyết phục, công trình này có thể được coi là một điển hình về lý luận, cách thức tiếp cận nghèo đa chiều, tạo dựng nền tảng nhận thức và hành động cho tiến trình giảm nghèo bền vững
Cùng quan điểm với tác giả Đặng Nguyên Anh, tác giả Nguyễn Văn
Tuân trong công trình Bảo hiểm y tế cho người nghèo ở Việt Nam đăng trên
Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, số 4(101), 2016 đã tiếp cận ở một góc độ nhỏ hơn, cụ thể hơn của vấn đề nghèo và giảm nghèo đa chiều Trên cơ sở chỉ
ra thực trạng của vấn đề hỗ trợ bảo hiểm y tế cho các đối tượng của chính
Trang 11sách giảm nghèo bền vững, tác giả đã đưa ra một số hạn chế trong công tác này và đề xuất một số giải pháp cụ thể nhằm phát huy hơn hiệu quả của chính sách Trong số những nội dung của bài viết, tác giả nhấn mạnh để thực hiện thành công chiến lược phát triển toàn diện, tạo ra những bước nhảy vọt về sự tăng trưởng kinh tế, phải thực hiện tốt chính sách bảo hiểm y tế cho người nghèo Bời đây chính là vũ khí hữu hiệu để tấn công vào đói nghèo, thể hiện truyền thống nhân văn, nhân ái “lá lành đùm lá rách” của dân tộc, xây dựng một xã hội bình đẳng, bác ái
Tác giả Lê Quốc Lý (2012) với công trình Chính sách xoá đói giảm nghèo thực trạng và giải pháp khẳng định chính sách xóa đói, giảm nghèo đã
được Đảng và Nhà nước hết sức quan tâm và được xây dựng thành chương trình mục tiêu quốc gia Qua đó, nhận thức về vai trò quan trọng của xóa đói, giảm nghèo đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội đã được thay đổi căn bản ở các cấp, các ngành, nhờ vậy, chính sách xóa đói, giảm nghèo đã đạt được những thành tựu hết sức ấn tượng, đặc biệt là trong giai đoạn 2001-
2010, như: chính sách xóa đói, giảm nghèo góp phần làm tăng trưởng kinh tế,
ổn định xã hội, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, làm thay đổi mức sống của người nghèo, làm tăng lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước Tuy nhiên, như tác giả đã chỉ rõ, chính sách xóa đói, giảm nghèo vẫn còn bộc
lộ những hạn chế nhất định như: thành tựu chưa thực sự bền vững, chính sách còn chồng chéo, thiếu thống nhất và đồng bộ, chủ yếu thiên về lượng, chưa chú trọng đến chất lượng giảm nghèo, còn mang tính ngắn hạn Đó chính là những hạn chế, những bất cập mà nếu tập trung giải quyết tốt sẽ trở thành những định hướng, mục tiêu, cơ chế, chính sách và giải pháp để xóa đói giảm nghèo cho giai đoạn tiếp theo
Nhìn chung, các nghiên cứu nêu trên chỉ tập trung cho các vấn đề giảm nghèo ở tầm vĩ mô, tức đề cập đến việc thực hiện chính sách giảm nghèo hoặc
ở mức độ cấp quốc gia, tỉnh và thành phố hoặc ở mức độ các nhóm dân cư
Trang 12trọng tâm như nhóm yếu thế, dân tộc thiểu số, v.v mà ít công trình đề cập trực tiếp tới công tác giảm nghèo ở cấp huyện Đối với Hà Nội, với tư cách là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của cả nước, vấn đề xóa đói giảm nghèo cũng được đặt ra để nghiên cứu Tuy nhiên, như trên đã nói, vấn đề thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững cho các huyện ngoại thành, đặc biệt khi Hà Nội mở rộng địa giới hành chính cho đến nay ít được chú ý Đây chính là lĩnh vực mà luận văn sẽ đi sâu tìm hiểu với mục đích làm rõ những vấn đề còn tồn tại trong thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững tại huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội hiện nay
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện được mục đích trên, Đề tài có các nhiệm vụ sau:
- Thứ nhất, nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về việc thực hiện
chính sách giảm nghèo bền vững ở Việt Nam
- Thứ hai, nghiên cứu và đánh giá thực trạng việc thực hiện chính sách
giảm nghèo bền vững huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội
- Thứ ba, đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả của việc
thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững tại địa phương này
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng
Luận văn nghiên cứu việc thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững tại huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội
Trang 13Luận văn sử dụng cách tiếp cận theo hệ thống, đa ngành, liên ngành về khoa học xã hội, tiếp cận dựa trên phương pháp nghiên cứu quy phạm về chu trình thực hiện và đánh giá chính sách công
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Với định hướng nghiên cứu đã trình bày ở trên, đề tài sử dụng một số phương pháp sau:
- Phương pháp thu thập dữ liệu: dùng để rà soát văn bản chính sách
về công tác xóa đói giảm nghèo tại Việt Nam chủ yếu trong giai đoạn
2016 - 2019;
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: trên cơ sở số liệu và dữ liệu thu thập được, luận văn tiến hành phân tích và tổng hợp theo định hướng nghiên cứu đã đề ra nhằm giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
- Phương pháp so sánh, đối chiếu: thực hiện việc so sánh chính sách, kết quả thực hiện xóa đói giảm nghèo ở huyện Đan Phượng qua các thời kỳ để
có cái nhìn bao quát nhất về thực trạng thực hiện chính sách giảm nghèo trên địa bàn nghiên cứu
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn được triển khai với 3 chương
Trang 14Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG
1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1 Chính sách công
Đứng trên các cách tiếp cận khác nhau bàn về chính sách công, có rất nhiều quan niệm khác nhau bàn về nội dung này Trên thế giới, các chuyên gia nghiên cứu nổi tiếng về khoa học chính sách đưa ra định nghĩa mà cho đến nay chưa thực sự có một sự thống nhất Clarke E Cochran cho rằng về cơ bản “cụm từ chính sách công luôn chỉ những hành động của chính phủ và những ý định để thực hiện những hành động đó”, với ông, “Chính sách công
là kết quả đấu tranh của một chính phủ về việc ai giành được cái gì”[32, tr.20] Thomas Dye quan niệm “Chính sách công là bất cứ điều gì chính phủ làm hoặc không làm”[35, tr.10] Trong khi đó, Charles L Cochran và Eioise
F Malone cùng cho rằng “Chính sách công bao gồm các quyết định chính trị
để thực hiện các chương trình sao cho đạt được các mục tiêu xã hội [36, tr.21] Bám sát hơn với thực tế đời sống xã hội, B.Guy Peters quan niệm “nói một cách đơn giản, chính sách công là tổng hợp những hành động của chính phủ, gồm cả những hành động trực tiếp hoặc thông qua các cơ quan, gây ảnh hưởng lên cuộc sống của người dân”[37, tr.45] Với Thomas A.Birkland
“chính sách là một lời tuyên bố của chính phủ - dù ở cấp độ nào - ở những gì
mà chính sách có xu hướng thực hiện về một vấn đề công Chúng ta cũng có thể định nghĩa chính sách công là những gì mà chính phủ lựa chọn không thực hiện, việc thiếu một lời tuyên bố dứt khoát về chính sách có thể là bằng chứng của một chính sách ngầm [38, tr.10-11]
Trang 15Quan niệm về chính sách và chính sách công ở Việt Nam cũng khá đa dạng và cơ bản cũng chưa có sự thống nhất Với quan niệm cho rằng chính sách là những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ Chính sách được thực hiện trong một thời gian nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể nào
đó Bản chất, nội dung và phương hướng của chính sách tùy thuộc vào tính chất của đường lối, nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa [8, tr.475], các nhà
biên soạn Từ điển Bách khoa Việt Nam coi mục đích của chính sách công là
thúc đẩy xã hội phát triển theo định hướng chứ không đơn giản chỉ dừng lại ở việc giải quyết vấn đề công Nói cách khác, chính sách công là công cụ để thực hiện mục tiêu chính trị của nhà nước
Các nhà nghiên cứu chính sách ở Việt Nam cũng đưa ra một số định nghĩa về chính sách công: Tác giả Nguyễn Đăng Thành trong công trình
Đánh giá chính sách công ở Việt Nam: vấn đề và giải pháp đã đưa ra định
nghĩa về chính sách công Ông quan niệm “Chính sách công là một công cụ quan trọng của quản lý nhà nước Thông qua việc ban hành và thực hiện các chính sách, những mục tiêu của Nhà nước được hiện thực hóa” [40] Tác giả Văn Tất Thu, trong công trình Bản chất, vai trò của chính sách công đăng trên Tạp chí Tổ chức nhà nước, quan niệm “CSC là chính sách của nhà nước, là kết quả cụ thể hóa chủ trương, đường lối của đảng cầm quyền thành các quyết định, tập hợp các quyết định chính trị có liên quan với nhau, với mục tiêu, giải pháp, công cụ cụ thể nhằm giải quyết các vấn đề thuộc chức năng, nhiệm vụ của nhà nước, duy trì sự tồn tại và phát triển của nhà nước, phát triển kinh tế -
xã hội và phục vụ người dân”[41] tác giả Lê Chi Mai trong công trình Chính sách công đã cho rằng chính sách công “là thuật ngữ dùng để chỉ một chuỗi
các quyết định hoạt động của nhà nước nhằm giải quyết một vấn đề chung đang đặt ra trong đời sống kinh tế - xã hội theo mục tiêu xác định”[20]
Trang 16Với những định nghĩa trong và ngoài nước như đã nêu ở trên, chúng ta
có thể thấy chính sách công có các thuộc tính căn bản như: tính nhà nước, tính công cộng, tính hành động thực tiễn, tính hệ thống, tính kế thừa lịch sử và gắn với một quốc gia cụ thể với các điều kiện chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội nhất định Từ các cách tiếp cận khác nhau chúng ta có định nghĩa về chính sách công khác nhau Tuy nhiên, về cơ bản có thể hiểu về cơ bản chính sách công là những quy định về ứng xử của Nhà nước với những hiện tượng nảy sinh trong đời sống cộng đồng, được thể hiện dưới những hình thức khác nhau một cách ổn định nhằm đạt được mục tiêu định hướng Nói cách khác,
chính sách công là một tập hợp các quyết định liên quan với nhau do Nhà nước ban hành, bao gồm các mục tiêu và giải pháp để giải quyết một vấn đề công nhằm đạt được các mục tiêu phát triển
1.1.2 Thực hiện chính sách
Việc tổ chức thực hiện chính sách (Policy Implementation) là quá trình biến các chính sách thành những kết quả, trên thực tế là các hoạt động có tổ chức trong bộ máy nhà nước, nhằm hiện thực hóa những mục tiêu mà chính
sách đã đề ra Nói cách khác, thực hiện chính sách công là quá trình đưa chính sách công vào thực tiễn đời sống xã hội thông qua việc ban hành các văn bản, chương trình, dự án thực hiện chính sách công và tổ chức thực hiện chúng nhằm hiện thực hóa mục tiêu chính sách công [23, tr.97]
Trong mối quan hệ giữa chính sách công và thực hiện chính sách, nhiều người cho rằng chính sách công hiểu một cách đơn giản là những chủ trương, chế độ mà Nhà nước ban hành, điều đó đúng nhưng chưa đủ Nếu không có việc thực hiện chính sách để đạt được những kết quả nhất định thì những chủ trương, chế độ chỉ là những khẩu hiệu Công tác tổ chức thực hiện chính sách nếu không được tiến hành tốt, dễ dẫn đến sự thiếu tin tưởng, thậm chí sự chống đối của nhân dân đối với Nhà nước Điều này hoàn toàn bất lợi về
Trang 17mặt chính trị và xã hội, gây ra những khó khăn cho Nhà nước trong công tác quản lý
Có những vấn đề trong giai đoạn hoạch định chính sách chưa phát sinh, bộc lộ hoặc đã phát sinh nhưng các nhà hoạch định chưa nhận thấy, đến giai đoạn tổ chức thực hiện mới phát hiện Quá trình thực hiện chính sách với những hành động thực tiễn sẽ góp phần điều chỉnh, bổ sung và hoàn thiện chính sách phù hợp với thực tiễn, đáp ứng yêu cầu của cuộc sống Việc phân tích, đánh giá một chính sách (mức độ tốt, xấu) chỉ có thể đầy đủ, có sức thuyết phục là sau khi thực hiện chính sách Qua tổ chức thực hiện, cơ quan chức năng mới có thể biết chính sách đó được xã hội và đại đa số nhân dân chấp nhận hay không, đi vào cuộc sống hay không
Việc đưa chính sách công vào thực tiễn không đơn giản, nhanh chóng
Đó là quá trình phức tạp, đầy biến động, chịu tác động của một loạt các yếu
tố, thúc đẩy hoặc cản trở công việc thực hiện
Quy trình của việc thực hiện chính sách bao gồm:
1 Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách công
Tổ chức thực hiện chính sách công là quá trình phức tạp, diễn ra trong một thời gian dài, vì thế chúng cần được lập kế hoạch, lên chương trình để các
cơ quan nhà nước triển khai thực hiện một cách chủ động Kế hoạch triển khai thực hiện chính sách công được xây dựng trước khi đưa chính sách vào cuộc sống Các cơ quan triển khai thực hiện chính sách từ trung ương đến địa phương đều phải xây dựng kế hoạch, chương trình thực hiện Kế hoạch triển khai thực hiện chính sách bao gồm những nội dung cơ bản sau:
- Kế hoạch tổ chức, điều hành
- Kế hoạch dự kiến các nguồn lực
- Kế hoạch thời gian triển khai thực hiện
- Kế hoạch kiểm tra, đôn đốc thực hiện chính sách công
Trang 182 Phổ biến, tuyên truyền chính sách công
Để tham gia quá trình phổ biến, tuyên truyền chính sách công là sự tham gia của các nhân tố, yếu tố cấu thành gồm:
- Chủ thể phổ biến, tuyên truyền chính sách công
- Đối tượng phổ biến, tuyên truyền chính sách công
- Phương tiện và cách thức tuyên truyền
3 Phân công, phối hợp thực hiện chính sách công
- Phân công, phối hợp các cơ quan, chính quyền điều hành
- Phân công, phối hợp các đối tượng thực hiện
6 Đôn đốc thực hiện chính sách công
- Đôn đốc thực hiện chính sách công là hoạt động của cơ quan, cán bộ, công chức có thẩm quyền thực hiện thông qua các công cụ hữu ích nhằm làm cho các chủ thể thực thi nêu cao ý thức trách nhiệm trong thực hiện các biện pháp theo định hướng chính sách Trên thực tế, khi triển khai thực hiện chính sách, không phải bộ phận nào cũng làm tốt, làm nhanh như nhau, vì thế cần
có hoạt động đôn đốc để vừa thúc đẩy các chủ thể nỗ lực nhiều hơn để hoàn thành nhiệm vụ, vừa phòng, chống những hành vi vi phạm quy định trong thực hiện chính sách công
7 Tổng kết thực thi chính sách công
Tổ chức thực thi chính sách công được tiến hành liên tục trong thời gian duy trì chính sách Trong quá trình đó người ta có thể đánh giá từng phần
Trang 19hay toàn bộ kết quả thực thi chính sách, trong đó đánh giá toàn bộ được thực hiện sau khi kết thúc chính sách Đánh giá tổng kết trong bước tổ chức thực thi chính sách được hiểu là quá trình xem xét, kết luận về chỉ đạo - điều hành
và chấp hành chính sách của các đối tượng thực thi chính sách
1.1.3 Khái niệm nghèo và giảm nghèo
Liên hợp quốc (UN) định nghĩa: “Nghèo là thiếu năng lực tối thiểu để tham gia hiệu quả vào các hoạt động xã hội Nghèo có nghĩa là không có đủ
ăn, đủ mặc, không được đi học, không được khám chữa bệnh, không có đất đai để trồng trọt hoặc không có nghề nghiệp để nuôi sống bản thân, không được tiếp cận tín dụng Nghèo cũng có nghĩa là không an toàn, không có quyền, và bị loại trừ, dễ bị bạo hành, phải sống trong các điều kiện rủi ro, không tiếp cận được nước sạch và công trình vệ sinh”[8]
Trong nhiều năm qua, khái niệm nghèo được chúng ta quan niệm, đánh giá và xem xét thông qua thu nhập Chuẩn nghèo được xây dựng căn cứ vào những chi phí nhằm duy trì nhu cầu tối thiểu và vấn đề xác định hộ nghèo hay không phụ thuộc vào mức thu nhập dưới chuẩn đã được xác định đó Tuy nhiên, chuẩn nghèo hiện nay của Việt Nam được đánh giá là thấp so với thế giới Trên thực tế, nhiều hộ dân thoát nghèo nhưng mức thu nhập vẫn nằm cận chuẩn nghèo, do đó số lượng hộ cận nghèo vẫn rất lớn, tỷ lệ tái nghèo còn cao, hàng năm cứ 3 hộ thoát nghèo thì lại có 1 hộ trong số đó tái nghèo Xét
về bản chất, đói nghèo đồng nghĩa với việc bị khước từ các quyền cơ bản của con người, bị đẩy sang lề xã hội chứ không chỉ là vấn đề thu nhập thấp Có nhiều nhu cầu tối thiểu không thể đáp ứng bằng tiền Nhiều trường hợp không nghèo về thu nhập nhưng lại khó tiếp cận được các dịch vụ cơ bản như y tế, giáo dục, thông tin Mặc dù một số hộ không có tên trong danh sách hộ nghèo nhưng lại thiếu thốn các dịch vụ y tế, nước sạch, ở vùng sâu vùng xa học sinh
Trang 20phải học trong những cơ sở tồi tàn, thiếu những trang bị tối thiểu đảm bảo cho việc dạy và học Do đó, nếu chỉ dùng thước đo duy nhất dựa trên thu nhập hay chi tiêu sẽ dẫn đến tình trạng bỏ sót đối tượng nghèo, dẫn đến sự thiếu công bằng, hiệu quả và bền vững trong thực thi các chính sách giảm nghèo
Nhận thức rõ những khiếm khuyến trong xây dựng chuẩn nghèo đơn chiều, ngày ngày 15 tháng 9 năm 2015 Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết
định số 1614/QĐ-TTg phê duyệt Đề án tổng thể “Chuyển đổi phương án tiếp cận đo lường nghèo từ đơn chiều sang đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016 - 2020”, trong đó xác định rõ các nội dung theo hướng tiếp cận
đa chiều, bao gồm:
Thứ nhất là, xây dựng các tiêu chí đo lường nghèo giai đoạn
2016 - 2020
a) Các tiêu chí về thu nhập
- Chuẩn mực sống tối thiểu về thu nhập là mức thu nhập đảm bảo chi trả được những nhu cầu tối thiểu nhất mà mỗi người cần phải có để sinh sống, bao gồm nhu cầu về tiêu dùng lương thực, thực phẩm và tiêu dùng phi lương thực, thực phẩm phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước trong từng thời kỳ
- Chuẩn nghèo về thu nhập là mức thu nhập mà nếu hộ gia đình có thu nhập dưới mức đó sẽ được coi là hộ nghèo về thu nhập Chuẩn nghèo về thu nhập dùng để xác định quy mô nghèo về thu nhập của Quốc gia, xác định đối tượng thụ hưởng chính sách hỗ trợ (gọi là chuẩn nghèo chính sách)
- Chuẩn mức sống trung bình về thu nhập: là mức thu nhập mà ở mức
đó người dân đã đạt được mức sống trung bình của xã hội, bao gồm nhu cầu
về tiêu dùng lương thực, thực phẩm và tiêu dùng phi lương thực, thực phẩm, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước trong từng thời kỳ
b) Mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản
Trang 21- Các dịch vụ xã hội cơ bản bao gồm 5 dịch vụ: tiếp cận về y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch và vệ sinh, tiếp cận thông tin;
- Các chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt gồm 10 chỉ số: (1) trình độ giáo dục của người lớn; (2) tình trạng đi học của trẻ em; (3) tiếp cận các dịch vụ y tế; (4) bảo hiểm y tế; (5) chất lượng nhà ở; (6) diện tích nhà ở bình quân đầu người; (7) nguồn nước sinh hoạt; (8) loại hố xí/nhà tiêu; (9) sử dụng dịch vụ viễn thông; (10) tài sản phục vụ tiếp cận thông tin
- Ngưỡng thiếu hụt đa chiều: là mức độ thiếu hụt mà nếu hộ gia đình thiếu nhiều hơn mức độ này thì bị coi là thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội
cơ bản, từ 1/3 tổng điểm thiếu hụt trở lên
Thứ hai là, xây dựng chuẩn nghèo giai đoạn 2016 - 2020
Xây dựng chuẩn nghèo giai đoạn 2016 - 2020 theo hướng: sử dụng kết hợp cả chuẩn nghèo về thu nhập và mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản; xây dựng mức sống tối thiểu để từng bước bảo đảm an sinh xã hội cho mọi người dân, trước mắt áp dụng chuẩn nghèo chính sách để phân loại đối tượng hộ nghèo, phù hợp với khả năng cân đối ngân sách, cụ thể như sau:
- Hộ nghèo, là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ chuẩn nghèo chính sách trở xuống; hoặc có thu nhập bình quân đầu người/tháng cao hơn chuẩn nghèo chính sách nhưng thấp hơn chuẩn mức sống tối thiểu và thiếu hụt
từ 1/3 tổng số điểm thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên
- Hộ cận nghèo: là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng cao hơn chuẩn nghèo chính sách nhưng thấp hơn chuẩn mức sống tối thiểu, và thiếu hụt dưới 1/3 tổng số điểm thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản
- Hộ chưa tiếp cận đầy đủ các dịch vụ xã hội cơ bản: là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng cao hơn chuẩn mức sống tối thiểu và thiếu hụt từ 1/3 tổng điểm thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên
Trang 22- Hộ có mức sống dưới trung bình: là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ dưới chuẩn mức sống trung bình và cao hơn chuẩn mức sống tối thiểu
Đây được coi là tư tưởng chỉ đạo căn bản cho công tác xây dựng và thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016 - 2020 và các giai đoạn tiếp theo
Với cách tiếp cận như vậy, khi bàn đến vấn đề giảm nghèo chúng ta có thể hiểu đó là cách thức vận dụng các nguồn lực xã hội, dưới sự điều tiết và quản lý của Nhà nước để triển khai thực hiện các dự án, chương trình với mục đích tác động đến những đối tượng người nghèo, hộ nghèo, xã nghèo nhằm giúp họ nâng cao chất lượng cuộc sống, cải thiện khó khăn, tạo cơ hội tăng thu nhập, tiếp cận các dịch vụ và ưu đãi xã hội để duy trì các nhu cầu cơ bản của con người, tạo tiền đề cho sự phát triển toàn diện của họ Và khi bàn đến vấn đề giảm nghèo bền vững, chúng ta hiểu đó chính là sự hỗ trợ phát triển cơ
sở hạ tầng xã hội, hỗ trợ đào tạo và các điều kiện tiếp cận cơ hội phát triển kinh tế - xã hội để người nghèo có thể tự vươn lên thoát nghèo, làm giàu bằng chính khả năng của mình
1.2 Chính sách giảm nghèo bền vững
1.2.1 Khái niệm chính sách giảm nghèo bền vững
Chính sách giảm nghèo bền vững là những quyết định, quy định của nhà nước nhằm cụ thể hóa các chương trình, dự án cùng với nguồn lực, vật lực, các thể thức, quy trình hay cơ chế thực hiện nhằm tác động đến các đối tượng cụ thể như người nghèo, hộ nghèo hay xã nghèo với mục đích cuối cùng là xóa đói giảm nghèo theo hướng bền vững, tức là làm cho người nghèo thoát nghèo bằng chính năng lực của mình Chính sách giảm nghèo bền vững được phân loại dựa trên các tiêu chí khác nhau Dựa trên phạm vi ảnh hưởng
Trang 23của chính sách, chính sách giảm nghèo bền vững được phân thành chính sách tác động gián tiếp và chính sách tác động trực tiếp đến xóa đói giảm nghèo
Căn cứ vào bản chất đa chiều của đói nghèo, chính sách giảm nghèo được phân thành:
- Nhóm chính sách nhằm tăng thu nhập cho người nghèo
- Nhóm chính sách nhằm tăng cường các khả năng tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản cho người nghèo
- Nhóm chính sách giảm thiểu rủi ro và nguy cơ dễ bị tổn thương
- Nhóm chính sách tăng cường tiếng nói cho người nghèo
Căn cứ vào 3 trụ cột tấn công đói nghèo của Ngân hàng thế giới, các chính sách giảm nghèo bền vững được phân loại thành:
- Chính sách tạo cơ hội cho người nghèo
- Nhóm chính sách trao quyền cho người nghèo
- Nhóm chính sách an sinh xã hội
Mục tiêu chủ đạo của chính sách giảm nghèo bền vững là hỗ trợ và giúp đỡ người nghèo thoát nghèo cả dưới góc độ nghèo về vật chất, xã hội và tinh thần Các chính sách này đều hướng tới mục tiêu nâng cao phúc lợi cho người nghèo, tăng cường các khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản cho người nghèo để từ đó nâng cao đời sống và tiếng nói cho người nghèo Mỗi chính sách cụ thể sẽ hướng vào những mục tiêu cụ thể và rõ ràng
Xóa đói giảm nghèo là một trong 8 trụ cột của Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ đã được 198 quốc gia phê chuẩn và là một trong 10 vấn đề của phát triển xã hội đã được Hội nghị thượng đỉnh về phát triển xã hội tại Copenhagen, Đan Mạch thông qua tháng 5 năm 1995 Điều này cho thấy xóa đói giảm nghèo là một trong những vấn đề xã hội được các quốc gia đặt lên hàng đầu, đặt vào vị trí ưu tiên cần được giải quyết trong phát triển xã hội và
là một trong những chính sách quan trọng trong hệ thống an sinh xã hội ở các
Trang 24quốc gia trên thế giới Muốn nâng cao phúc lợi cho công dân, trước hết phải đưa người dân thoát khỏi đói nghèo Một khi xã hội còn bộ phận người nghèo đói thì không thể nói xã hội đã tạo đầy đủ phúc lợi cho mọi người Chính vì vậy, chính sách giảm nghèo bền vững tạo cơ hội tối thiểu nhất cho bộ phận người dân yếu thế thoát khỏi nghèo đói kinh niên, có cơ hội về thu nhập, cơ hội tiêu dùng với tư cách là những công dân bình đẳng trong một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
Thực hiện mục tiêu giảm nghèo là một chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước ta nhằm cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của người nghèo, góp phần thu hẹp khoảng cách chênh lệch về mức sống giữa nông thôn và thành thị, giữa các vùng, các dân tộc và các nhóm dân cư; đồng thời thể hiện quyết tâm trong việc thực hiện Mục tiêu thiên niên kỷ của Liên hợp quốc mà Việt Nam đã cam kết Việc tập trung thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và các chương trình giảm nghèo đã tạo điều kiện để người nghèo tiếp cận tốt hơn các dịch vụ xã hội cơ bản; cơ sở hạ tầng của các huyện, xã nghèo được tăng cường; đời sống người nghèo được cải thiện rõ rệt, tỷ lệ hộ nghèo
cả nước đã giảm từ 22% năm 2005 xuống còn 9,45% năm 2010 Thành tựu giảm nghèo của nước ta thời gian qua được cộng đồng quốc tế ghi nhận và đánh giá cao
Có thể nói, về cơ bản chính sách giảm nghèo bền vững là một trọng tâm của Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội qua các thời kỳ, đặc biệt là giai
đoạn 2016 - 2020 Đây là chính sách hướng tới việc cải thiện và từng bước nâng cao điều kiện sống của người nghèo, trước hết là ở khu vực miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số; tạo sự chuyển biến mạnh mẽ, toàn diện ở các vùng nghèo; thu hẹp khoảng cách chênh lệch giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng, các dân tộc và các nhóm dân cư Với những nội dung tổng
quát như vậy, Đảng và Nhà nước xác định đối tượng của chính sách giảm
Trang 25nghèo bền vững là người nghèo, hộ nghèo trên phạm vi cả nước trong đó ưu tiên người nghèo là người dân tộc thiểu số, người cao tuổi, người khuyết tật, phụ nữ và trẻ em Bên cạnh đó, địa bàn thực hiện chính sách giảm nghèo được xác định bao gồm:
a) Huyện nghèo
b) Xã nghèo (xã đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc và miền núi;
xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển và hải đảo; xã biên giới và xã
an toàn khu)
c) Thôn, bản đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc và miền núi Việc xác định phạm vi, đối tượng và địa bàn thực hiện chính sách cũng gắn liền với những nội dung, yêu cầu cụ thể của chính sách, bao gồm:
- Thu nhập bình quân đầu người của các hộ nghèo tăng lên 3,5 lần; tỷ lệ
hộ nghèo cả nước giảm 2%/năm, riêng các huyện, xã nghèo giảm 4%/năm theo chuẩn nghèo từng giai đoạn;
- Điều kiện sống của người nghèo được cải thiện rõ rệt, trước hết là về
y tế, giáo dục, văn hóa, nước sinh hoạt, nhà ở; người nghèo tiếp cận ngày càng thuận lợi hơn các dịch vụ xã hội cơ bản;
- Cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội ở các huyện nghèo; xã nghèo, thôn, bản đặc biệt khó khăn được tập trung đầu tư đồng bộ theo tiêu chí nông thôn mới, trước hết là hạ tầng thiết yếu như: giao thông, điện, nước sinh hoạt [42]
1.2.2 Một số yếu tố ảnh hưởng tới chính sách giảm nghèo bền vững
Ở Việt Nam, với hoạt động quản lý, điều hành của Chính phủ trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thì chính sách công là công cụ tiền đề, không thể thay thế và chi phối các công cụ quản lý khác như pháp luật, kế hoạch, phân cấp - phân quyền… Điều đó giải thích vì sao trong những năm gần đây Đảng và Nhà nước ta luôn đặc biệt quan tâm tới việc nâng cao vai trò của chính sách công như là một công cụ hữu hiệu nhằm nâng cao hiệu
Trang 26quả quản lý nhà nước nói riêng và đẩy mạnh chất lượng của sự nghiệp đổi mới nói chung
Khi Việt Nam chuyển sang phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, đòi hỏi ban hành các chính sách để tạo ra những nhân tố, môi trường cho sự chuyển đổi trở thành cấp bách Vì vậy, trong một thời gian khá dài, Nhà nước tập trung cao vào việc xây dựng và ban hành các thể chế, nhằm tạo các hành lang pháp lý cho mọi lĩnh vực kinh tế, xã hội Việc ban hành hàng loạt văn bản pháp luật trong không ít trường hợp dẫn đến tình trạng chồng chéo, trùng lắp, thậm chí mâu thuẫn nhau giữa các quy định pháp lý, mà cuối cùng là sự chi phối của chúng đối với các hoạt động kinh tế - xã hội theo các chiều khác nhau, khiến cho những hoạt động này không đạt được mục tiêu mong muốn Nói cách khác, hàng loạt chính sách được ban hành, có hiệu lực thi hành, song việc chính sách đó có hiệu lực thực
tế như thế nào và đáp ứng mục tiêu đặt ra đến đâu thì dường như không được quan tâm Đôi khi chính sách được ban hành chẳng những không giải quyết được vấn đề đặt ra, mà còn gây ra những hiệu ứng phụ làm phức tạp thêm vấn
đề Việc xây dựng chính sách (thông qua việc soạn thảo và ban hành hàng loạt văn bản pháp luật) và việc tổ chức triển khai các chính sách đó trên thực tế đã tiêu tốn tiền của của nhân dân và sức lực của không ít người, song nhiều khi các chính sách này không đem lại lợi ích tương xứng với chi phí đã bỏ ra Việc tổ chức thực hiện chính sách công cũng đạt được những yêu cầu cơ bản như: kịp thời, đồng bộ, hiệu quả trong phạm vi cả nước cũng như từng địa phương, ngành Một số địa phương đã chủ động, linh hoạt và sáng tạo trong triển khai thực hiện chính sách cho phù hợp với đặc điểm của mình, có tính đến đặc điểm của đối tượng thụ hưởng chính sách Công tác tổng kết thực tiễn thi hành chính sách cũng đã bắt đầu được chú ý hơn; một số chính sách được
sơ kết, tổng kết khá công phu, có quy trình khoa học và có giá trị tham khảo lớn Nhìn tổng thể, việc thực hiện chính sách đã đi vào nề nếp, nghiêm minh
Trang 27với không ít kinh nghiệm bổ ích đã được đúc rút từ thực tiễn Tuy nhiên, việc thực hiện chính sách công ở Việt Nam trong thực tiễn còn nhiều vấn đề phải
đề cập, có những yếu tố tác động đến việc thực hiện chính sách công trong thực tiễn
Với bản thân chính sách giảm nghèo bền vững, với tư cách là một loại hình chính sách phục vụ tiến trình phát triển đất nước, cũng không nằm ngoài những vấn đề chung như đã nêu Tiến hành nghiên cứu, phân tích, đánh giá về các yếu tố ảnh hưởng tới việc thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững ở Việt Nam hiện nay, chúng tôi nhận thấy rằng bên cạnh những yếu tố tích cực, còn tồn tại không ít những khó khăn, vướng mắc làm ảnh hưởng tới hiệu quả
và chất lượng của việc đưa chính sách này vào thực tiễn cuộc sống Có thể tổng hợp lại như sau:
Các yếu tố chủ quan
Thứ nhất, trong thực tiễn xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện
chính sách giảm nghèo bền vững, các địa phương, ban ngành chưa thực sự có
sự quan tâm đầy đủ đến công tác này Xét trên khía cạnh chính sách, một số quy định, văn bản hướng dẫn thưc hiện từ Trung ương ban hành còn chậm, chưa mang tính cập nhật nên khi triển khai ở địa phương gây ra những sự lúng túng nhất định Đến lượt mình, các địa phương chưa bám sát thực tế, còn máy móc, cứng nhắc trong việc thực hiện các chủ trương, đường lối của trung ương Do ít chú trọng đến thực tiễn của địa phương khi triển khai chính sách
vô hình chung đã khiến cho chính sách và thực tế có “độ vênh” nhất định, các đối tượng chịu sự tác động của chính sách không có định hướng, hướng dẫn
để xử lý vấn đề của mình
Có thể ví dụ như: Quy định về đối tượng, địa bàn đầu tư: Nghị quyết số 76/2014/QH13 về đẩy mạnh mục tiêu giảm nghèo bền vững đến năm 2020 được ban hành ngày 24/06/2014; Quyết định số 50/2016/QĐ-TTg của Thủ
Trang 28tướng Chính phủ về tiêu chí xác định thôn đặc biệt khó khăn, xã thuộc vùng dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2016 - 2020 ban hành ngày 03/11/2019 thì đến ngày 28/4/2017 mới có Quyết định số 582/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt danh sách thôn đặc biệt khó khăn, xã khu vực III, khu vực II, khu vực I thuộc vùng dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2016 - 2020; hay như đến ngày 20/6/2017, Thủ tướng Chính phủ mới có Quyết định
số 900/QĐ-TTg phê duyệt danh sách xã đặc biệt khó khăn, xã biên giới, xã an toàn khu vào diện đầu tư của Chương trình 135 giai đoạn 2017 - 2020
Hướng dẫn thực hiện các dự án thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016 - 2020 theo Quyết định số 1722/QĐ-TTg ngày 02/9/2016 của Thủ tướng Chính phủ: Ngày 15/02/2017, Bộ Tài chính mới có Thông tư số 15/2017/TTLT-BTC quy định quản lý và sử dụng kinh phí sự nghiệp thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia Giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016 - 2020; ngày 10/5/2017 Ủy ban Dân tộc mới ban hành Thông tư số 01/2017/TT-UBDT quy định chi tiết thực hiện Dự án 2, Chương trình 135 thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016 - 2020
Hay như một số chính sách đối với đối tượng hộ nghèo thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản (theo kết quả tổng điều tra hộ nghèo, hộ cận nghèo) chưa được áp dụng như đối với hộ nghèo thu nhập, ít nhiều có tác động đến tâm lý của người nghèo cũng như cán bộ làm công tác giảm nghèo, ảnh hưởng đến việc thực hiện mục tiêu giảm nghèo nói chung trên địa bàn
Thứ hai, vấn đề xây dựng chính sách còn nhiều bất cập, nhiều chính
sách cụ thể với mục đích giảm nghèo bền vững trên từng lĩnh vực, đặc biệt các nội dung như giáo dục và thông tin còn có biểu hiện xa với thực tế, gây khó khăn khi tổ chức thực hiện và không được dư luận thật sự đồng tình Đặc biệt, những căn bệnh chủ quan, duy ý chí, chạy theo thành tích, thích “đánh
Trang 29bóng hình ảnh”, lợi ích cục bộ của từng bộ, ngành hoặc lợi ích của một số nhóm trong xã hội vẫn tồn tại dai dẳng đã gây những hậu quả không nhỏ cho
xã hội, cho từng ngành và địa phương từ hoạt động hoạch định cho tới tổ chức thực hiện chính sách này trong thực tiễn
Thứ ba, thiếu sự phối hợp giữa các bộ, ngành, địa phương trong một hệ
thống thống nhất để triển khai thực hiện chính sách một cách đồng bộ từ khâu triển khai đến khâu kiểm tra, đánh giá, chịu trách nhiệm giám sát thực hiện dẫn đến hiệu quả công việc không cao Nói cách khác, trong khi các chiến lược hay chính sách giảm nghèo đều thể hiện sự liệt kê mục tiêu, quan điểm định hướng, yêu cầu mà thiếu hẳn những kế hoạch hành động cụ thể hay các biện pháp hữu hiệu cần phải có
Thứ tư, chúng ta chưa xây dựng được kênh kết nối liên thông chính
sách cần thiết giữa nhà nước và xã hội trong việc xây dựng, ban hành và thực hiện các chính sách trong tổng thể chiến lược giảm nghèo bền vững nhằm đảm bảo lợi ích của các bên tham gia Bên cạnh đó, xuất hiện nhiều biểu hiện tiêu cực trong quá trình xây dựng và thực hiện chính sách dưới tác động của
cơ chế xin - cho, lợi ích nhóm làm ảnh hưởng đến tính công bằng của chính sách, gây ra những tổn hại nhất định cho xã hội mà chưa có phương hướng và biện pháp xử lý thực sự có hiệu quả Vấn đề ở đây bộc lộ ra cho chúng ta thấy vai trò của các cơ quan thẩm định, phê duyệt chính sách chưa được phát huy nên đã tạo những kẽ hở đáng kể cho việc ra đời một số chính sách có chất lượng chưa cao, thậm chí xã hội không đồng tình
Thứ năm, trong lĩnh vực tổ chức thực hiện chính sách giảm nghèo bền
vững đã bộc lộ những hạn chế, bất cập chủ yếu về tính kịp thời, tính đồng bộ
và nhất quán trong tổ chức thực hiện Ngoài ra, hoạt động tuyên truyền, phổ biến, thuyết phục, vận động nhằm định hướng dư luận trong quá trình thực hiện chính sách chậm được đổi mới về hình thức, phương pháp, nội dung,
Trang 30nhiều khi chỉ là hình thức, làm cho có … nên kém hiệu quả Công tác hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra chưa kịp thời, thường xuyên và thiếu thực chất Việc
xử lý khiếu nại, tố cáo các vi phạm pháp luật trong quá trình thực hiện còn chậm, nhiều trường hợp thiếu công bằng, nghiêm minh đã ảnh hưởng xấu đến thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững hiện nay Công tác tổng kết thực tiễn, rút kinh nghiệm cho xây dựng và thực hiện chính sách chưa được coi trọng, chưa làm thường xuyên, kịp thời Trong một thời gian dài, hoạt động này chưa thật sự được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền quan tâm, coi trọng do sự bất cập trong tư duy làm chính sách Điều này không chỉ đúng với quy trình chính sách của chính quyền địa phương mà còn của Chính phủ, các
Trang 31phương chưa đủ mạnh và đời sống của người dân còn khó khăn nên việc góp vốn bằng tiền là một điều không dễ
Vấn đề huy động vốn từ nguồn lực bên ngoài để thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững cũng chưa thật sự tốt Do điều kiện tự nhiên của từng địa phương kèm theo chính sách ưu đãi dành cho nguồn vốn chưa rõ ràng đã làm cho nguồn lực xã hội hóa cho công tác giảm nghèo bền vững kém Chính
vì nguồn lực hạn chế nên không đáp ứng được yêu cầu của các chương trình,
dự án trong thực tế Việc tập trung, lồng ghép vốn của các chương trình chưa tốt nên hạng mục thực hiện thường nhỏ, manh mún Bên cạnh đó, sự phân bổ nguồn vốn không đúng tiến độ và không phù hợp với yêu cầu của địa phương Vốn chậm và sự thụ động trong khâu lồng ghép vốn để điều phối giữa các chương trình ở địa phương làm cho nhiều công trình rơi vào tình trạng chờ đợi Vì vậy, vấn đền đặt ra chính là cần làm tốt công tác kế hoạch, giám sát, kiểm tra thực hiện quản lý tài chính đối với các chương trình xóa đói giảm nghèo của chính phủ để nguồn lực được cung cấp đúng tiến độ, phù hợp với nhu cầu địa phương
Thứ hai, vấn đề phân cấp quản lý và trình độ nguồn nhân lực làm công
tác giảm nghèo còn nhiều hạn chế
Trong quá trình thực hiện chính sách, ở nhiều địa phương xuất hiện tình trạng chồng chéo, lúng túng trong triển khai các mục tiêu của chính sách giảm nghèo bền vững Cụ thể, xét trên phương diện phân cấp quản lý, kinh phí của các chương trình giảm nghèo do cấp tỉnh và huyện kiểm soát, trong khi trách nhiệm thực hiện nằm ở cấp xã nên dẫn đến sự bị động của chính quyền cấp xã trong khâu thực hiện Mặc dù trong quá trình lập kế hoạch, cấp xã có sự thảo luận của người dân địa phương nhưng kế hoạch cuối cùng do Ủy ban nhân dân huyện và tỉnh phê duyệt nên chính quyền xã càng lúng túng trong việc xây dựng kế hoạch dài hạn Các xã lập kế hoạch giảm nghèo khi nhận được
Trang 32tiêu chí phân bổ của huyện nhưng thông tin không đầy đủ về nguồn lực phân
bổ, dẫn đến các xã gặp khó khăn trong việc tích cực triển khai chương trình
Ngoài ra, do việc phân cấp quản lý, đặc biệt trong lĩnh vực tài chính theo hướng từ trên xuống và phần lớn phụ thuộc vào việc ban hành các văn bản hướng dẫn kịp thời và rõ ràng từ cấp trên, trong khi việc ban hành các văn bản hướng dẫn này thường chậm, thiếu rõ ràng, do vậy đã làm mất thời gian cho địa phương trong công tác chỉ đạo thực tế Một thực tế không thể phủ nhận rằng cấp xã, thôn đã tham gia trong công tác lập dự toán, phân bổ, hạch toán, quyết toán; tuy nhiên, việc phân cấp này cơ bản vẫn còn mang tính hình thức Một mặt do cấp trên chưa thực sự tin tưởng vào năng lực của cán bộ cấp
cơ sở, do ràng buộc của quy định pháp lý nhưng mặt khác, cũng do trình độ chuyên môn của cán bộ - đặc biệt là cán bộ xã, thôn, bản chưa đáp ứng được nhu cầu Như vậy, muốn thực hiện tốt sự phân cấp thì bên cạnh cơ chế hành chính, cần đẩy mạnh nâng cao năng lực của cán bộ cấp cơ sở và tập huấn cho người dân kỹ năng chuyên môn trong phối hợp xây dựng kế hoạch, thực hiện
và giám sát các chính sách giảm nghèo bền vững có liên quan
Thứ ba, nhận thức của người dân (đặc biệt là nhóm hộ nghèo) về chính
sách giảm nghèo bền vững
Cùng với trình độ dân trí thấp, đồng thời do một số chính sách, dự án giảm nghèo chưa thực sự khuyến khích người dân tự lực vươn lên dẫn đến một bộ phận người dân chưa nhận thức đúng về vấn đề giảm nghèo, có tâm lý không muốn thoát nghèo, trông chờ, ỷ lại để được hưởng lợi từ các chính sách
hỗ trợ của Nhà nước; nhiều hộ nghèo sau khi nhận được hỗ trợ thì không lo làm ăn phát triển kinh tế dẫn đến không thoát nghèo hoặc đã thoát nghèo nhưng lại tái nghèo Do vậy cần phải điều chỉnh các chính sách giảm nghèo sao cho phù hợp nhằm tạo động lực thúc đẩy, giúp người dân tự vươn lên thoát nghèo bằng chính sức lao động của mình
Trang 33Để tạo động lực giúp người dân phấn đấu vươn lên thoát nghèo cũng như để chương trình giảm nghèo nói chung, các chính sách hỗ trợ giảm nghèo nói riêng thực sự phát huy hiệu quả, cần phải có những giải pháp đồng bộ, mà trước hết là sự vào cuộc tích cực hơn nữa của cấp ủy, chính quyền, Mặt trận
tổ quốc, các tổ chức đoàn thể và toàn xã hội đối với công tác giảm nghèo Đặc biệt, cần tập trung đẩy mạnh tuyên truyền sâu rộng các chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước về giảm nghèo nhằm thay đổi nhận thức, nếp nghĩ, khơi dậy ý chí chủ động vươn lên của người nghèo; giới thiệu các mô hình kinh tế có hiệu quả, đem lại thu nhập cao, những tấm gương vượt khó vươn lên làm giàu chính đáng bằng nhiều hình thức, từ đó tạo sức lan tỏa mạnh mẽ cộng đồng xã hội
Có thể thấy, việc thành công của chính sách công nói chung, chính sách giảm nghèo bền vững nói riêng phụ thuộc rất nhiều yếu tố, trong đó quan trọng nhất chính là yếu tố phối hợp một cách có hệ thống, nhịp nhàng nhằm phát huy hết sức mạnh của các yếu tố, bộ phận, đối tượng tác động và liên quan Hoạt động phân công, phối hợp diễn ra theo tiến trình thực hiện chính sách một cách chủ động, sáng tạo để luôn duy trì chính sách được ổn định, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả chính sách Việc phân công, phối hợp này phải đảm bảo phát huy được tính năng động, sáng tạo của các yếu tố cấu thành và các xu hướng tác động có lợi cho việc thực hiện chính sách
Tiểu kết chương
Xóa đói giảm nghèo là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước nhằm đảm bảo sự công bằng, bình đẳng cho mọi tầng lớp nhân dân Chủ trương ấy được cụ thể hóa bằng các chính sách, chương trình và dự án có hiệu quả trong những năm gần đây, đặc biệt là chủ trương thay đổi cách tiếp cận chuẩn nghèo cho đến Chương trình mục tiêu quốc gia Giảm nghèo bền vững qua các giai đoạn với những kết quả đáng ghi nhận
Trang 34Thực hiện chính sách này chính là việc chính sách vào đời sống thực tiễn nhằm cải biến thực tiễn theo mục tiêu của chính sách Quá trình thực hiện diễn ra trong các bước gồm: xây dựng kế hoạch; tuyên truyền, phổ biến chính sách; phân công, phối hợp thực hiện chính sách; điều chỉnh chính sách; duy trì chính sách; thanh tra, kiểm tra, giám sát; tổng kết, đánh giá, rút kinh nghiệm Mỗi bước có một vai trò khác nhau tạo thành một mắt xích của quá trình thực hiện chính sách Bên cạnh đó, việc thực hiện chính sách đòi hỏi phải tuân thủ những điều kiện đặc thù của địa phương (ở đây cụ thể là trường hợp của huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội) để từ đó cho phép địa phương có sự năng động, sáng tạo phù hợp với đời sống sinh hoạt, với tập quán văn hóa lâu đời cũng như điều kiện tự nhiên đặc thù của vùng
Những kết quả nghiên cứu ở chương 1, chương xây dựng khung phân tích lý thuyết cho các nội dung có liên quan ở phần sau của luận văn chắc chắn còn nhiều vấn đề phải bổ sung Tuy nhiên, với mục đích và nhiệm vụ của đề tài đã đặt ra, những vấn đề lý luận ở đây sẽ giúp chúng tôi có điều kiện
đi sâu phân tích thực trạng và chỉ ra những hạn chế cơ bản trong tiến trình triển khai chính sách giảm nghèo bền vững tại huyện Đan Phượng, thành phố
Hà Nội
Trang 35Chương 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO
BỀN VỮNG TẠI HUYỆN ĐAN PHƯỢNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
2.1 Điều kiện kinh tế - xã hội của Đan Phượng, Hà Nội
Huyện Đan Phượng nằm ở phía tây Hà Nội với Phía Đông giáp quận Bắc Từ Liêm, phía Nam giáp huyện Hoài Đức, phía Tây giáp huyện Phúc Thọ, phía Bắc giáp xã Phương Đình, có diện tích 77,35 km2, dân số là 162.900 người Huyện Đan Phương trước đây thuộc tỉnh Hà Tây, sau ngày 29 tháng 5 năm 2008, theo Nghị quyết 15-NQ/QH của Quốc hội về điều chỉnh địa giới thành phố Hà Nội, huyện Đan Phượng được sát nhập trực thuộc thành phố Hà Nội
Cơ cấu kinh tế của huyện Đan Phượng với Công nghiệp - Xây dựng chiếm tỷ trọng 49,51%, Thương mại - Dịch vụ (39,51 %), Nông nghiệp - Thuỷ sản (10,98%), xu hướng trong những năm tới cơ cấu ngành nông nghiệp
sẽ tiếp tục giảm Năm 2017, tổng giá trị sản xuất đạt 10.479 tỷ đồng Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn 261,5 tỷ đồng Thu nhập bình quân đầu người đạt 38 triệu đồng/người/năm Tỷ lệ hộ nghèo giảm xuống còn: 2,4% Duy trì, nâng cao chất lượng các tiêu chí đạt chuẩn nông thôn mới ở 15 xã; 36.314 hộ được công nhận danh hiệu “Gia đình văn hóa”
Giá trị nông nghiệp và thủy sản toàn huyện trong năm 2017 ước đạt
927 tỷ đồng, vượt kế hoạch đề ra và tăng 0,76% so với cùng kỳ năm 2016 Đây là thành quả thu về từ việc người dân chuyển đổi cơ cấu cây trồng theo hướng sản xuất hàng hóa tập trung và ứng dụng công nghệ cao Từ năm 2010 đến 2017 hơn 1.000 ha đất trồng lúa đã được chuyển đổi sang trồng hoa, rau màu, cây ăn quả và chăn nuôi tập trung có giá trị kinh tế cao hơn [16]
Trang 36Theo số liệu khảo sát năm 2017 ngân hàng Đan Phượng đã cho 970 lượt hộ nghèo và cận nghèo vay với tổng số tiền là hơn 19 tỷ đồng để làm ăn, phát triển kinh tế, nhằm giảm tỷ lệ hộ nghèo trên địa bàn Năm 2017 tỷ lệ hộ nghèo đã giảm mạnh xuống chỉ còn 1,5%
Đan Phượng là huyện có tỷ lệ nhà văn hoá, thôn cụm dân cư đứng đầu các huyện ngoại thành Công tác Giáo dục - Đào tạo phát triển toàn diện, thực chất, cơ sở vật chất trường học được tăng cường đầu tư, chất lượng giáo dục được nâng cao, đạt được nhiều thành tích quan trọng Công tác đảm bảo an sinh xã hội, đền ơn đáp nghĩa, lao động việc làm, bảo trợ xã hội thực hiện tốt
Cụ thể, đã hỗ trợ xây dựng, nâng cấp gần 400 nhà tình nghĩa, nhà ở xuống cấp hư hỏng nặng cho gia đình chính sách người có công và hộ nghèo 100% hộ chính sách, người có công có mức sống cao hơn mức sống trung bình của địa phương
Huyện Đan Phượng đã thực hiện công tác tuyên truyền, tư vấn học nghề, đặc biệt tuyên truyền chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn theo Đề án 1956 Đồng thời, tổ chức khảo sát nắm bắt nhu cầu học nghề của người lao động, đặc thù của từng địa phương, điều tra cung - cầu lao động của các doanh nghiệp, các ngành kinh tế trên địa bàn, từ đó xây dựng kế hoạch, triển khai đào tạo nghề sát với nhu cầu thực tiễn, phù hợp với thực tế, năng lực và đem lại lợi ích thiết thực cho người lao động
Song song với việc tổ chức mở lớp, đào tạo nghề cho lao động, huyện Đan Phượng cũng chú trọng tới việc phát triển đội ngũ giáo viên dạy nghề, tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy nghề đối với cơ sở dạy nghề công lập nhằm đạt chất lượng, hiệu quả cao nhất trong công tác đào tạo nghề Đưa ra nhiều cơ chế, chính sách khuyến khích, kêu gọi các công ty, doanh nghiệp vào đầu tư xây dựng, phát triển trên địa bàn, coi đây là một
Trang 37trong những giải pháp quan trọng trong công tác hỗ trợ đào tạo nghề cho lao động nông thôn, nhất là đối với lao động thuộc diện hộ nghèo, cận nghèo
Thời gian qua, chương trình cho vay vốn từ Quỹ quốc gia giải quyết việc làm (QGGQVL) được ủy thác từ Ngân hàng Chính sách xã hội Thành phố Hà Nội đã giúp cho nhiều hộ nghèo, hộ cận nghèo và gia đình ở các địa bàn ngoại thành Hà Nội như Đan Phượng vươn lên thoát nghèo Hàng năm, các cấp Hội đã nhận ủy thác, quản lý và điều hành trên 3.200 tỷ đồng từ các ngân hàng và từ nguồn Quỹ vì phụ nữ nghèo, Quỹ hỗ trợ của các tổ chức quốc
tế cho gần 24.000 lượt phụ nữ vay 100% hộ nghèo do phụ nữ làm chủ được Hội giúp đỡ các điều kiện phát triển kinh tế, thoát nghèo, nâng cao mức sống, đồng thời vận động phụ nữ dồn điền đổi thửa, chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi, phát triển nhiều loại hình dịch vụ mới
2.2 Thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững ở huyện Đan Phƣợng thành phố Hà Nội
2.2.1 Vấn đề quán triệt quan điểm, định hướng chung về chính sách giảm nghèo bền vững
Thực hiện chủ trương của thành phố Hà Nội về công tác xóa đói giảm nghèo theo định hướng của Chương trình mục tiêu quốc gia Giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016 - 2020 huyện Đan Phượng trong những năm qua đã tiến hành chuyển dịch cơ cấu phát triển theo hướng tăng cường các thế mạnh vốn
có của huyện, phát triển những ngành dịch vụ mới, phát triển nông nghiệp theo hướng hiện đại, tìm kiếm những bước đột phát trong phát triển để nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân Cụ thể: cơ cấu kinh tế của huyện Đan Phượng với Công nghiệp - Xây dựng chiếm tỷ trọng 49,51%, Thương mại - Dịch vụ (39,51 %), Nông nghiệp - Thuỷ sản (10,98%), xu hướng trong những năm tới cơ cấu ngành nông nghiệp sẽ tiếp tục giảm Năm
2018, tổng giá trị sản xuất đạt 10.479 tỷ đồng Thu ngân sách nhà nước trên
Trang 38địa bàn 261,5 tỷ đồng Thu nhập bình quân đầu người đạt 38 triệu đồng/người/năm Tỷ lệ hộ nghèo giảm xuống còn: 1,5% Duy trì, nâng cao chất lượng các tiêu chí đạt chuẩn nông thôn mới ở 15 xã; 36.314 hộ được công nhận danh hiệu “Gia đình văn hóa”
Trong sản xuất nông nghiệp, tổng diện tích gieo trồng năm 2016 là 6.767,4 ha bằng 92% so với năm 2015 Đẩy mạnh công tác chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi, đến nay toàn huyện đã chuyển đổi thêm được 177,62 ha sang trồng hoa, rau, cây ăn quả và chăn nuôi tập trung Tăng cường công tác khuyến nông, chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất Tích cực triển khai các mô hình trồng khoai tây tăng vụ, diện tích ha tại xã Đồng Tháp;
mô hình trồng hoa ly chất lượng cao, hoa đào giống mới tại xã Liên Hà, Phương Đình, Thọ An, Đan Phượng; nuôi gà thả vườn theo hướng an sinh học quy mô 10.000 m2
tại xã Trung Châu và xã Đồng Tháp Tổ chức 33 lớp huấn kỹ thuật cho 1.782 người nông dân…
Giá trị nông nghiệp và thủy sản toàn huyện trong năm 2018 đạt 927 tỷ đồng, vượt kế hoạch đề ra và tăng 0,76% so với cùng kỳ năm 2017 Đây là thành quả thu về từ việc người dân chuyển đổi cơ cấu cây trồng theo hướng sản xuất hàng hóa tập trung và ứng dụng công nghệ cao Từ năm 2010 đến
2017 hơn 1.000 ha đất trồng lúa đã được chuyển đổi sang trồng hoa, rau màu, cây ăn quả và chăn nuôi tập trung có giá trị kinh tế cao hơn [16]
Tính đến nay, huyện Đan Phượng đã chuyển đổi 1.220,9 ha, trong đó
có 452,3 ha trồng hoa, 171 ha trồng rau, 202,4 ha trồng cây ăn quả Hầu hết các diện tích chuyển đổi đều cho thu nhập ổn định, đạt từ 230 triệu đến 370 triệu đồng/năm, tăng từ ba đến bảy lần so với trồng lúa Những hộ trồng hoa
ly cho thu nhập bình quân gần một tỷ đồng/ha/vụ, do người dân biết áp dụng khoa học kỹ thuật như lợp màng - lưới, xử lý đất, hệ thống tưới phun tự động, kho lạnh bảo quản giống, sơ chế hoa thương phẩm
Trang 39Đan Phượng là một trong 4 huyện được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới của thành phố Hà Nội (gồm Đan Phượng, Hoài Đức, Thanh Trì và Đông Anh) Huyện Đan Phượng xác định nhiệm vụ trọng tâm, coi ứng dụng khoa khoa học kỹ thuật là động lực thúc đẩy nền kinh tế phát triển, góp phần tăng năng suất lao động, chất lượng sản phẩm, nâng cao thu nhập của nông dân Thành tựu nổi bật là đã thu hút được vốn đầu từ các doanh nghiệp và một bộ phận không nhỏ các hộ gia đình tham gia sản xuất, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng ứng dụng tiến bộ KHCN để nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm đầu ra để hướng tới phát triển bền vững
Sự phát triển kinh tế - xã hội và chuyển dịch cơ cấu sản xuất đã khiến cho Đan Phượng có những bước chuyển mình mạnh mẽ Bằng chứng rõ ràng nhất cho những phát triển đáng ghi nhận chính và việc được công nhận đoạt chuẩn nông thôn mới ngay từ năm 2015 Những thành tựu này không những góp phần đưa Đan Phượng trở thành địa phương điển hình cho Hà Nội và cả nước mà quan trọng hơn, đây chính là cơ sở giúp Đan Phượng giải quyết tốt công tác xóa đói giảm nghèo theo hướng bền vững Nói cách khác, cách làm của Đan Phượng chính là sự cụ thể hóa những chủ trương, đường lối lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp từ trung ương đến Hà Nội
Với chủ trương đi đầu trong công tác xóa đói giảm nghèo, ngay từ năm
2016, thành phố Hà Nội đã xây dựng chuẩn nghèo làm cơ sở để giải quyết các
vấn đề có liên quan Thành phố Hà Nội xác định “Các tiêu chí về thu nhập và mức độ thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản để xác định hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có mức sống trung bình của thành phố Hà Nội giai đoạn 2016-2020”
Các tiêu chí bao gồm:
1 Các tiêu chí về thu nhập
a) Chuẩn nghèo: 1.100.000 đồng/người/tháng ở khu vực nông thôn và 1.400.000 đồng/người/tháng ở khu vực thành thị
Trang 40b) Chuẩn cận nghèo: 1.500.000 đồng/người/tháng ở khu vực nông thôn
và 1.950.000 đồng/người/tháng ở khu vực thành thị
2 Tiêu chí mức độ thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản
a) Các dịch vụ xã hội cơ bản (05 dịch vụ): y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch và vệ sinh, thông tin
b) Các chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản (10 chỉ số): tiếp cận các dịch vụ y tế; bảo hiểm y tế; trình độ giáo dục của người lớn; tình trạng đi học của trẻ em; chất lượng nhà ở; diện tích nhà ở bình quân đầu người; nguồn nước sinh hoạt; hố xí hợp vệ sinh; sử dụng dịch vụ viễn thông; tài sản phục vụ tiếp cận thông tin
Chuẩn hộ nghèo bao gồm:
1 Hộ nghèo
1.1 Khu vực nông thôn là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau:
a) Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 1.100.000 đồng trở xuống b) Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 1.100.000 đồng đến 1.500.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt các dịch
vụ xã hội cơ bản trở lên
1.2 Khu vực thành thị là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau:
a) Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 1.400.000 đồng trở xuống
b) Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 1.400.000 đồng đến 1.950.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt các dịch
vụ xã hội cơ bản trở lên
2 Hộ cận nghèo
2.1 Khu vực nông thôn là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 1.100.000 đồng đến 1.500.000 đồng và thiếu hụt dưới 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản