1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Ôn tập Triết học

26 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 1,79 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong thể thống nhất đó tạo thành những cấu trúc, những hệ thống và là một hệ thống mở bởi những mối liên hệ, tác động qua lại, ràng buộc và phụ thuộc, qui định, chuyển hoá cho nhau, v.v

Trang 1

I Phần thứ nhất

1 Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức 1

2 Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến 2

3 Quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập 3

4 Quy luật phủ định của phủ định 4

5 Quy luật QHSX phù hợp với trình độ phát triển của LLSX 5 6 Biện chứng của CSHT và KTTT 6 7 Hình thái KT-XH và quá trình lịch sử-tự nhiên của sự PT các hình thái KTXH 8 8 Quan điểm của CNDVLS về con người và bản chất con người 9

II Phần thứ hai 1 Hai điều kiện của sản xuất hàng hóa 11

2 Hai thuộc tính của hàng hóa và nguồn gốc của chúng 11

3 Lượng giá trị của hàng hóa 12

4 Qui luật giá trị 12

5 Các phương pháp sản xuất giá trị thặng dư 12

6 Bản chất của tiền công và các hình thức tiền công cơ bản 13 7 Tích lũy tư bản, tích tụ tư bản và tập trung tư bản 13

8 Chủ nghĩa tư bản độc quyền 13

1 Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức

Để phân tích được mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức thì trước tiên ta phải hiểu và phát biểu được khái niệm về vật chất và ý thức

• Vật chất: Theo LêNin: Vật chất là 1 phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh lại và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác

• Ý thức : Là một dạng vật chất đặc biệt có tổ chức cao là bộ óc con người Bộ óc người là cơ quan vật chất của ý thức còn ý thức là chức năng của bộ óc con người vì vậy không thể tách rời ý thức ra khỏi

bộ óc

- Nguồn gốc tự nhiên: Óc người là cơ quan vật chất của ý thức là kết quả quá trình tiến hóa lâu dài của vật chất Sự tiến hóa của các hình thức phản ánh phụ thuộc vào những cấp độ phát triển khác nhau của vật chất Phản ánh tâm lý ở động vật cấp cao và sự chuyển hóa của phản ánh tâm lý thành phản ánh ý thức của con người

- Nguồn gốc xã hội : ý thức hình thành thông qua quá trình lao động, ngôn ngữ và những quan hệ xã hội của loài người

• Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức:

- Vật chất và ý thức quan hệ qua lại và chuyển hóa lẫn nhau : Vật chất có trước ý thức có sau, vật chất quyết định ý thức, vật chất là nguồn gốc, là tiền đề cho sự ra đời, tồn tại và phát triển của ý thức Hay nói cách khác vật chất thế nào thì ý thức như thế ấy, vật chất thay đổi đến đâu thì ý thức thay đổi đến đó

- Ý thức là do vật chất sinh ra nhưng 1 khi ý thức ra đời nó có tác dụng tích cực trở lại với vật chất sinh

ra nó theo 2 trường hợp:

+ Nếu ý thức tiến bộ: phản ánh phù hợp với thực tế thì có tác dụng thúc đẩy xã hội phát triển

+ Nếu ý thức lạc hậu: phản ánh không phù hợp với quy luật khách quan thì có td kìm hãm xh phát triển

- Ý thức thuần túy: ý thức này dù tiến bộ hay lạc hậu thì bản thân chúng cũng không làm thay đổi điều kiện hiện thực mà ý thức đó phải thông qua hành động thực tiễn của con người thì mới trở thành hiện thực

Trang 2

• Ý nghĩa phương pháp luận:

- Nếu thừa nhận vật chất có trước ý thức có sau, vật chất quyết định ý thức thì trong hành động nhận thức cũng như hành động thực tiễn của con người phải luôn luôn xuất phát từ thực tế khách quan tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan

- Ý thức có tác động tích cực trở lại vật chất sinh ra nó cho nên ta phải biết phát huy tính năng động sáng tạo của ý thức, phát huy vai trò nhân tố chủ quan của con người

- Cần chống bệnh chủ quan duy ý chí, bệnh bảo thủ, trì trệ, ỷ lại, ngồi chờ

• Vận dụng ý nghĩa pp luận của mối qh vc – ý thức vào cuộc sống nói chung, vào đời sống sinh viên nói riêng Khái niệm VC, YT, mối quan hệ VC-YT Ý nghĩa PPL của mối quan hệ này và vận dụng

2 Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến

a Khái niệm mối liên hệ và mối liên hệ phổ biến

- Đối lập phép biện chứng, quan điểm siêu hình coi sự tồn tại của các sự vật và hiện tượng trong thế giới

là những cái tách rời nhau, giữa chúng không có sự liên hệ tác động qua lại, không có sự chuyển hóa lẫn nhau và nếu có chỉ là sự liên hệ mang tính chất ngẫu nhiên, gián tiếp, v.v

- Ngược lại, phép biện chứng duy vật cho rằng, trong sự tồn tại của các sự vật và hiện tượng của thế giới không phải là sự tồn tại tách rời và cô lập lẫn nhau, mà chúng có những mối liên hệ, tác động qua lại lẫn nhau, ràng buộc và phụ thuộc, qui định lẫn nhau, chuyển hoá cho nhau v.v…

- Khái niệm mối liên hệ dùng để chỉ sự quy định, sự tác động và chuyển hóa giữa các sự vật, hiện tượng, hay giữa các mặt, các yêu tố của mỗi sự vật, hiện tượng trong thế giới Những hình thức riêng biệt, cụ thể của mối liên hệ là đối tượng nghiên cứu của từng ngành khoa học cụ thể

- Khái niệm mối liên hệ phổ biến dùng để chỉ những mối liên hệ ở nhiều sự vật, hiện tượng của thế giới Đây chính là đối tượng nghiên phép biện chứng duy vật là những mối liên hệ chung, phổ biến nhất của thế giới Vì vậy, Ăngghen viết: “Phép biện chứng là khoa học về mối liên hệ phổ biến”

b Tính chất của mối liên hệ

- Tính khách quan của mối liên hệ, tức là cái vốn có của các sự vật hiện tượng độc lập và ko phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người; con người có thể nhận thức và vận dụng trong hoạt động thực tiễn

- Tính phổ biến của mối liên hệ, tức là trong sự tồn tại của các sự vật và hiện tượng của thế giới không phải là sự tồn tại tách rời và cô lập lẫn nhau, mà chúng là một thể thống nhất Trong thể thống nhất đó tạo thành những cấu trúc, những hệ thống và là một hệ thống mở bởi những mối liên hệ, tác động qua lại, ràng buộc và phụ thuộc, qui định, chuyển hoá cho nhau, v.v…

- Tính đa dạng phong phú của mối liên hệ, tức là các sự vật, hiện tượng hay quá trình khác nhau đều có những mối liên hệ cụ thể khác nhau gắn liền với những điều kiện lịch sử nhất định

c Ý nghĩa phương pháp luận

- Xuất phát từ tính khách quan và phổ biến của mối liên hệ đã cho chúng ta thấy trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn cần phải có quan điểm toàn diện

- Quan điểm toàn diện đòi hỏi chúng ta khi phân tích về sự vật phải đặt nó trong mối quan hệ với sự vật khác Đồng thời phải nghiên cứu tất cả những mặt, những yếu tố, những mối liên hệ vốn có của nó Qua

đó để xác định được mối liên hệ bên trong, bản chất, v.v để từ đó có thể nắm được bản chất, qui luật của sự vật và hiện tượng

- Xuất phát từ tính đa dạng, phong phú của mối liên hệ đã cho chúng ta thấy trong hoạt động nhận thức

và hoạt động thực tiễn cần phải có quan điểm lịch sử cụ thể

- Quan điểm lịch sử cụ thể đòi hỏi khi nghiên cứu sự vật phải thấy sự tồn tại vận động và phát triển của bản thân các sự vật và hiện tượng là một quá trình có tính giai đoạn, tính lịch sử cụ thể Cho nên khi phân tích tính toàn diện về các mối liên hệ của sự vật phải đặt nó trong mối quan hệ cụ thể, với những điều kiện lịch sử cụ thể của các mối quan hệ đó

Trang 3

3 Quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập

Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập là quy luật cơ bản và quan trọng nhất - hạt nhân của phép biện chứng duy vật Quy luật này vạch ra nguồn gốc, động lực của sự vận động, phát triển

a) Khái niệm mâu thuẫn: mâu thuẫn là sự thống nhất và sự đấu tranh giữa các mặt đối lập Như vậy

mỗi một mâu thuẫn cũng phải bao gồm hai mặt đối lập, hai mặt này vừa thống nhất với nhau đồng thời hai mặt đó đấu tranh qua lại với nhau

- Khái niệm mặt đối lập: Mặt đối lập là những mặt, những thuộc tính, những tính quy định có khuynh

hướng trái ngược nhau tồn tại một cách khách quan và phổ biến trong hiện thực (Trong một nguyên tử

có điện tích âm >< điện tích dương; Trong cơ thể sống có quá trình đồng hóa >< dị hóa )

b) Các tính chất chung của mâu thuẫn

- Tính khách quan: mâu thuẫn là nguồn gốc vận động của mọi dạng vật chất.Vật chất tồn tại khách quan nên mâu thuẫn cung tồn tại khách quan

- Tính phổ biến biểu hiện: Trong bất kể sự vật hiện tượng nào, ở bất cứđịa điểm nào, ở bất cứ thời gian cũng tồn tại các mặt đối lập

- Tính đa dạng phong phú: Thế giới vật chất có vô vàn các dạng khác nhau chúng có một không gian khác nhau, thời gian khác nhau, mối liên hệ khác nhau cho nên chúng có những mâu thuẫn khác nhau, không có một dạng mâu thuãn nào chùng khít lên dạng mâu thuẫn nào Có mâu thuẫn trong tự nhiên, có mâu thuẫn trong xã hội, có mâu thuẫn trong tư duy

c) Quá trinh vận động của mâu thuẫn

- Sự phát triển của sự vật, hiện tượng gắn liền với quá trình hình thành, phát triển và giải quyết mâu thuẫn Trong sự tác động qua lại của các mặt đối lập thì đấu tranh của các mặt đối lập quy định sự thay đổi của các mặt đang tác động và làm cho mâu thuẫn phát triển

- Khi hai mặt đối lập xung đột gay gắt đã đủ điều kiện, chúng sẽ chuyển hóa lẫn nhau, mâu thuẫn được giải quyết Nhờ đó mà thể thống nhất cũ được thay thế bằng thể thống nhất mới; sự vật cũ mất đi sự vật mới ra đời thay thế Khiến cho sự vật hiện tượng luôn vận động phát triển

- Như vậy có thể nói sự liên hệ tác động và chuyển hóa giữa hai mặt đối lập là nguồn gốc, động lực của

sự vận động và phát triển trong thế giới Sự phát triển là một cuộc đấu tranh giữa các mặt đối lập

d) Ý nghĩa phương pháp luận

- Vì mâu thuẫn là nguồn gốc, động lực của sự vận động, phát triển của sự vật và là khách quan trong bản thân sự vật nên cần phải phát hiện ra mâuthuẫn của sự vật bằng cách phân tích sự vật tìm ra những mặt, những khuynh hướng trái ngược nhau và mối liên hệ, tác động lẫn nhau giữa chúng

- Phải biết phân tích cụ thể một mâu thuẫn cụ thể, biết phân loại mâu thuẫn và tìm cách giải quyết cụ thể đối với từng mâu thuẫn

- Phải nắm vững nguyên tắc giải quyết mâu thuẫn

- Phù hợp với từng loạimâu thuẫn, trình độ phát triển của mâu thuẫn Không được điều hòa mâu thuẫn Phải tìm ra phương thức, phương tiện và lực lượng để giải quyết mâu thuẫn khi điều kiện đã chín muồi

• Phát triển là một cuộc đấu tranh giữa các mặt đối lập

Phát triển là gì? Theo quan điểm biện chứng, sự phát triển là kết quả của quá trình thay đổi dần dần về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất, là quá trình diễn ra theo đường xoáy ốc và hết mỗi chu kỳ sự vật lặp lại dường như sự vật ban đầu nhưng ở cấp độ cao hơn Mặt đối lập?

Sự hình thành và phát triển của mâu thuẫn diễn ra như thế nào? Kết quả của việc giải quyết mâu thuẫn?

Trang 4

4 Quy luật phủ định của phủ định

Quy luật phủ định của phủ định là quy luật về khuynh hướng cơ bản, phổ biến của mọi vận động, phát triển diễn ra trong các lĩnh vực tự nhiên, xã hội và tư duy: đó là khuynh hướng vận động, phát triển của

sự vật, hiện tượng thông qua những lần phủ định biện chứng, tạo thành hình thức mang tính chu kỳ "phủ định của phủ định"

a) Khái niệm phủ định, phủ định biện chứng

- Sự vật, hiện tượng sinh ra, tồn tại, phát triển rồi mất đi, được thay thế bằng sự vật, hiện tượng khác; thay thế hình thái tồn tại này bằng hình thái tồn tại khác của cùng một sự vật, hiện tượng trong quá trình

vận động, phát triển của nó Sự thay thế đó gọi là sự phủ định

- Những sự phủ định tạo ra điều kiện, tiền đề cho quá trình phát triển của sự vật, hiện tượng được gọi là

sự phủ định biện chứng

- Phủ định biện chứng có tính khách quan vì nguyên nhân của sự phủ định nằm trong chính bản thân sự vật, hiện tượng; nó là kết quả của quá trình đấu tranh giải quyết mâu thuẫn tất yếu, bên trong bản thân sự vật, hiện tượng; tạo khả năng ra đời của cái mới thay thế cái cũ, nhờ đó tạo nên xu hướng phát triển của

chính bản thân nó Vì thế, phủ định biện chứng cũng chính là sự tự thân phủ định

- Phủ định biện chứng có tính kế thừa: kế thừa những nhân tố hợp quy luật và loại bỏ nhân tố trái quy luật Phủ định biện chứng không phải là sự phủ định sạch trơn cái cũ, mà trái lại trên cơ sở những hạt nhân hợp lý của cái cũ để phát triển thành cái mới, tạo nên tính liên tục của sự phát triển Đó là sự phủ định mà trong đó cái mới hình thành và phát triển tự thân, thông qua quá trình lọc bỏ mặt tiêu cực, lỗi thời, giữ lại những nội dung tích cực

b) Phủ định của phủ định

- Trong sự vận động vĩnh viễn của thế giới vật chất, phủ định biện chứng là một quá trình vô tận, tạo nên khuynh hướng phát triển của sự vật, hiện tượng từ trình độ thấp đến trình độ cao hơn, diễn ra có tính chất chu kỳ theo hình thức "xoáy ốc"

- Trong chuỗi phủ định tạo nên quá trình phát triển của sự vật, hiện tuợng, mỗi lần phủ định biện chứng đều tạo ra những điều kiện, tiền đề cho sự phát triển tiếp theo của nó Trải qua nhiều lẩn phủ định, tức

"phủ định cùa phủ định" sẽ tất yếu dẫn tới kết quả là sự vận động theo chiều hướng đi lên của sự vật, hiện tượng

c) Ý nghĩa phương pháp luận

- Nghiên cứu quy luật phủ định có thể rút ra ý nghĩa phương pháp luận sau: Trong hoạt động lý luận cũng như trong hoạt động thực tiễn phải nhận thức đúng cái mới, cái mới nhất định sẽ chiến thắng cái cũ, cái tiến bộ nhất định chiến thắng cái lạc hậu Phải biết phát hiện cái mới, quý trọng cái mới, tin tưởng vào tương lai phát triển của cái mới, dù cho quá trình đó diễn ra đầy quanh co, phức tạp

- Cái mới ra đời phủ định cái cũ, nhưng chỉ phủ định cái lạc hậu, đồng thời kế thừa những giá trị, tinh hoa của cái cũ Do đó, phải chống thái độ hư vô chủ nghĩa, phủ định sạch trơn quá khứ, nhưng cũng phải khắc phục thái độ bảo thủ, bám giữ cái lỗi thời cản trở sự phát triển của lịch sử

Trang 5

5 Quy luật QHSX phù hợp với trình độ phát triển của LLSX

I Biện chứng giữa lực lượng sản xuất (PTSX) và quan hệ sản xuất (QHSX)

1.khái niệm phương thức sản xuất, lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất

• PTSX : là cách thức con người tiến hành sản xuất vật chất ở từng giai đoạn lịch sử nhất định của xã hội loài người Mỗi xã hội được đặc tưng bằng một PTSX nhất định

- PTSX đóng vai trò quyết định đối với tất cả các mặt của đời sống xã hội : Kinh tế, chính trị, văn hóa và

xã hội Sự thay thế kế tiếp nhau của các PTSX trong lịch sử quyết định sự phát triển của xã hội loài ngưòi

- LLSX bao gồm : Con người (CN) và tư liệu sản xuất (TLSX)

- TLSX : bao gồm :

+ Đối tượng lao động : một bộ phận của giới tự nhiên được đưa vào sản xuất

+ Tư liệu lao động : Công cụ lao động và kho tàng bến bãi, giao thông vận tải

+ Trong TLLĐ, công cụ lao động không ngừng đựoc cải tiến, cho nên nó là yếu tố động nhất, cách mạng nhất Chính sự cải tiến và hòan thiện không ngừng công cụ lao động đã làm biến đổi toàn bộ tư liệu sản xuất Xét đến cùng, đó là nguyên nhân sâu xa của mọi biến đổi xã hội

- Con người: là yếu tố có vai trò quan trọng nhất, quyết định nhất Tư liệu lao động chỉ trở thành lực lượng tích cực cải biến đối tượng lao động, khi chúng được kết hợp với lao động sống, đó chính là con người, với những kỹ năng, kỷ xảo, với trí tuệ và kinh nghiệm của mình Hàm lượng trí tuệ trong điều kiện của khoa học công nghệ hiện nay đã làm cho con người trở thành nguồn lực đặc biệt của sản xuất,

là nguồn lực cơ bản, nguồn lực vô tận

• QHSX: là mối quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất vật chất Thể hiện qua 3 mặt : Quan hệ giữa ngưòi với người đối với việc sở hữu về TLSX, quan hệ giữa người với người đối với việc tổ chức quản lý, quan hệ giữa người với người đối với việc phân phối sản phẩm

 Ba mặt nói trên có quan hệ hữu cơ với nhau, trong đó quan hệ thứ nhất có ý nghĩa quyết định đối với tất cả những quan hệ khác Bản chất của bất kỳ quan hệ sản xuất nào cũng đều phụ thuộc vào vấn đề những TLSX chủ yếu trong xã hội được giải quyết như thế nào

Có 2 hình thức sở hữu cơ bản về tư liệu sản xuất: Sở hữu tư nhân và sở hữu xã hội

II Quy luật về sự phù hợp của QHSX với trình độ của LLSX:

- LLSX và QHSX là hai mặt của PTSX, có mối liên hệ biện chứng lẫn nhau hình thành nên quy luật về

sự phù hợp giữa QHSX với tính chất và trình độ của LLSX Quy luật nàu vạch rõ tính chất phụ thuộc khách quan của QHSX vào sự phát triển của LLSX Đến lượt mình, QHSX tác động trở lại đối với LLSX Khuynh hướng chung của SX là không nhừng phát triển Sự phát triển đó xét đến cùng là bắt nguồn từ

sự biến đổi và phát triển của LLSX, trước hết là CCLĐ

- Trình độ của LLSX là trình độ phát triển của CCLĐ, của ký thuật, trình độ kinh nghiệm, kỹ năng của người lao động, quy mô sản xuất, trình độ phân công lao động… Trình độ của LLSX gắn với tính chất của LLSX Tính chất của LLSX : Khi SX còn trình độ thấp kém thì LLSX có tính chất cá nhân, khi SX đạt tới trình độ cơ khí hiện đại, phân công lao động xã hội phát triển thì LLSX có tính xã hội hóa Trong quá trình sản xuất, để lao động bớt nặng nhọc và đạt hiệu quả cao hơn, con người luôn luôn tìm cách cải thiện, hoàn thiện công cụ lao động và chế tạo ra những công cụ lao động mới, tinh xảo hơn, đồng thời

Trang 6

kinh nghiệm sản xuất, thói quen lao động, kỹ năng sản xuất, kiến thức khoa học của con người cũng tiến

bộ theo

- Như vậy, sự thay đổi của xã hội bao giờ cũng bắt đầu bằng sự thay đổi LLSX Cùng với sự phát triển của LLSX, QHSX cũng hình thành và biến đổi cho phù hợp với tính chất và trình độ của LLSX Sự phù hợp đólà động lực làm cho LLSX phát trỉen mạnh mẽ

- QHSX phải tạo được điều kiện sử dụng và kết hợp tối ưu giữa TLSX và người lao động Mở ra điều kiện thích hợp cho việc kích thích vật chất, tinh thần đối với người lao động Nhưng LLSX luôn luôn phát triển còn QHSX có xu hướng tương đối ổn định Khi LLSX phát triển lên một trình độ mới, QHSX không còn phù hợp nữa, trở thành chướng ngại đối với sự phát triển của nó sẽ nảy sinh mâu thuẫn gay gắt giữa hai mặt của PTSX

- Sự phát triển khách đó tất yếu dẫn đến việc xóa bỏ QHSX cũ, thay thế bằng một QHSX mới phù hợp với tính chất và trình độ mới của LLSX, mở đường cho LLSX phát triển Việc xóa bỏ QHSX cũ, thay thế bằng QHSX mới cũng có nghĩa là sự diệt vong của một PTSX lỗi thời và sự ra đời của PTSX mới Trong xã hội có giai cấp đối kháng, mâu thuẫn giữa LLSX mới và QHSX lỗi thời là cơ sở khách quan của cuộc đấu tranh giai cấp, đồng thời là tiền đề tất yếu của các cuộc cách mạng xã hội

- Đây là quy luật phổ biến tác động trong toàn bộ tiến trình lịch sử nhân loại “Quy luật QHSX phù hợp với trình độ PT của LLSX” QHSX phù hợp với trình độ của LLSX lại trở thành động lực cơ bản thúc đẩy mở đường cho LLSX phát triển QHSX không phù hợp với trình độ của LLSX sẽ kìm hãm sự phát triển của LLSX Song tác động kìm hãm đó cũng chỉ có tính chất tạm thời, theo tính tất yếu khách quan, cuối cùng QH cũng se phải thay đổi cho phù hợp với tính chất và trình độ của LLSX

- Sở dĩ QHSX có tác động trở lại mạnh mẽ với LLSX là vì nó qui định: Mục đích của SX, hệ thống quản

lý của SX và quản lý xã hội, Phương thức phân phối và phần của cải ít hay nhiều mà người lao động được hưởng Từ đó, nó sẽ tạo ra những điều kiện để kích thích việc cải tiến lao động và kỹ thuật sản xuất, thúc đẩy LLSX phát triển

- Thực tiễn đã cho thấy LLSX chỉ có thể phát triển khi có một QHSX hợp lý, đồng bộ, phù hợp với nó QHSX lạc hậu hoặc tiên tiến hơn một cách giả tạo cũnhg sẽ kìm hãm sự phát triển của LLSX Quy luật

về sự phù hợp của QHSX với tính chất và trình độ của LLSX là quy luật chung nhất của sự phát triển

XH Sự tác động cảu quy luật này đã đưa xã hội loài ngưòi trải qua các PTSX khác nhau Tuy nhiên không phải bất cứ nước nào cũng nhất thiết phải tuần tự trải qua các PTSX, một số nước có thể bỏ qua hợc một số các PTSX để tiến lên PTSX mới cao hơn

6 Biện chứng của Cơ Sở Hạ Tầng và Kiến Trúc Thượng Tầng

b Khái niệm kiến trúc thượng tầng: dùng để chỉ toàn bộ hệ thống kết cấu các hình thái ý thức xã hội

cùng với các thiết chế chính trị-xã hội tương ứng, được hình thành trên một cơ sở hạ tầng nhất định

- Kiến trúc thượng tầng của mỗi xã hội là một kết cấu phức tạp Từ giác độ chung nhất có thể thấy kiến

trúc thượng tầng của một xã hội bao gồm: hệ thống các hình thái ý thức xã hội (hình thái ý thức chính trị, pháp quyền, tôn giáo ) và các thiết chế chính trị xã hội tương ứng của chúng (nhà nước, đảng, giáo hội )

Trang 7

c) Quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng

- CSHT quyết định KTTT (CSHT nào thì KTT nấy):

+ Trật tự kinh tế xét đến cùng quy định trật tự chính trị, mâu thuẫn trong kinh tế gây ra mâu thuẫn trong chính trị Giai cấp nào thống trị trong kinh tế thì giai cấp đó thống trị trong chính trị

+ Tất cả các yếu tố của KTTT dều trực tiếp hay gián tiếp phụ thuộc vào CSHT và do CSHT quy định + CSHT thay đổi hay mất đi thì sớm hay muộn KTTT cũng phải thay đổi hay mất đi để cho một KTTT mới ra đời, tuy nhiên đây là một quá trình phức tạp

- Sự tác động của KTTT đến CSHT: Do KTTT và mỗi yếu tố của nó có tính độc lập tương đối và vai trò khác nhau nên chúng tác động đến CSHT theo những cách những xu hướng khác nhau

+ Chức năng chính của KTTT là xây dựng, củng cố, bảo vệ CSHT đã sinh ra nó, chống lại mọi nguy cơ làm suy yếu hay phá hoại chế độ kinh tế hiện hành

+ KTTT tác động mạnh mẽ đến kinh tế - xã hội, nhưng nó không thể làm thay đổi xu hướng phát triển khách quan của đời sống kinh tế - xã hội Sự tác động của nó chủ yếu diễn ra theo 2 hướng:

- Nếu phù hợp với CSHT, với các quy luật kinh tế thì KTTT thúc đẩy sự tăng trưởng, đảm bảo sự phát triển bền vững cho CSHT

- Nếu không phù hợp với CSHT, với các quy luật kinh tế thì KTTT kìm hãm sự tăng trưởng, gây bát ổn cho đời sống xã hội

• Đảng ta đã vận dụng mối quan hệ biện chứng này như thế nào vào vào quá trình xây dựng CNXH ở nước ta hiện nay

Đảng ta đã vận dụng mối quan hệ biện chứng này trong quá trình xây dựng CHXH ở nước ta hiện nay Nước ta đã trải qua các hình thái kinh tế - xã hội khác nhau: từ xã hội cộng sản nguyên thủy tiến lên xã hội chiếm hữu nô lệ, đến xã hội phong kiến rồi tiến hóa lên CNXH bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa và đỉnh cao nhất trong quá trình tiến hóa này là chủ nghĩa cộng sản

Nước ta đang trong giai đoạn xây dựng CNXH theo hướng xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Do đó mối quan hệ biện chứng giữa CSHT và KTTT là 1 quá trình đấu tranh lâu dài giữa cái mới và cái cũ CNXH đang trong quá trình xây dựng nên là cái mới còn rất non yếu, muốn xóa

bỏ hết tàng dư của xã hội cũ - đại diện cho cái cũ rất khó bởi nó đã tồn tại lâu dài

Tuy nhiên con đường đi lên CNXH ở nước ta diễn ra theo các quy luật khách quan của thời đại chứ không phải do ý muốn chủ quan của con người quyết định nên nó là cái mới nhưng hợp quy luật nên ngày càng phát triển và ngược lại cái cũ không hợp quy luật sẽ ngày càng yếu đi

Đảng ta đã ra sức xây dựng CNXH trong đó phát triển lực lượng sản xuất hiện đại gắn liền với xây dựng quan hệ sản xuất mới phù hợp trên cả 3 mặt: sở hữu, quản lý và phân phối Quá trình xây dựng này đòi hỏi chúng ta phải xây dựng các quan điểm về chính trị, pháp quyền, triết học, đạo đức, tôn giáo ,các thể chế xã hội tương ứng như Nhà nước, đảng phái, giáo hội cho phù hợp với sự phát triển của phương thức sản xuất mà Đảng đã đề ra để góp phần xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh

Cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng là hai phương diện cơ bản của đời sống xã hội đó là phương diện kinh tế và phương diện chính trị - xã hội, chúng có quan hệ thống nhất biện chứng với nhau, tác động lẫn nhau trong đó cơ sở hạ tầng đóng vai trò quyết định đối với kiến trúc thượng tầng; kiến trúc thượng tầng

có sự tác động trở lại cơ sở hạ tầng đã sản sinh ra nó

Trang 8

7 HÌNH THÁI KINH TẾ XÃ HỘI VÀ QUÁ TRÌNH LỊCH SỬ TỰ NHIÊN CỦA SỰ PHÁT TRIỂN CÁC HÌNH THÁI KINH TẾ XẪ HỘI

a) Phạm trù hình thái KT-XH: là một phạm trù của chủ nghĩa duy vật lịch sử dùng để chỉ xã hội ở từng

giai đoạn lịch sử nhất định, với một kiểu quan hệ sản xuất đặc biệt cho xã hội đó phù hợp với một trình

độ nhất định của LLSX và với một kiến trúc thượng tần tương ứng được xây dựng trên những quan hệ

sx ấy

b) Quá trình lịch sử - tự nhiên của sự phát triển các hình thái kinh tế - xã hội

- Một là, sự vận động và phát triển của xã hội không tuân theo ý chí chủ quan của con người mà tuân theo các quy luật khách quan, đó là các quy luật của chính bản thân cấu trúc hình thái kinh tế -

xã hội, là hệ thống các quy luật xã hội thuộc các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, khoa học, mà trước hết và cơ bản nhất là quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và quy luật kiến trúc thưọng tầng phù hợp với cơ sở hạ tầng

- Hai là, nguồn gốc của mọi sự vận động, phát triển của xã hội, của lịch sử nhân loại, của mọi lĩnh vực

kinh tế, chính trị, văn hóa, của xã hội, suy đến cùng đều có nguyên nhân trực tiếp hay gián tiếp từ sự

phát triển của lực lượng sản xuất của xã hội đó V.I.Lênin từng nhấn mạnh một phương pháp luận quan

trọng khi nghiên cứu về xã hội là: "Chỉ cố đem quy những quan hệ xã hội vào những quan hệ sản xuất,

và đem quy những quan hệ sản xuất vào trình độ của những lực lượng sản xuất thì người ta mới có được một cơ sở vững chắc để quan niệm sự phát triển của những hình thái xã hội là một quá trình lịch sử - tự nhiên"

- Ba là, quá trình phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội, tức là quá trình thay thế lẫn nhau của các

hình thái kinh tế - xã hội trong lịch sử nhân loại và sự phát triển của lịch sử xã hội loài người có thể đo

sự tác động của nhiều nhân tố chủ quan, nhưng nhân tố giữ vai trò quyết định chính là sự tác động của

các quy luật khách quan Dưới sự tác động của quy luật khách quan mà lịch sử nhân loại, xét trong tính

chất toàn bộ của nó là quá trình thay thế tuần tự của các hình thái kinh tế - xã hội: nguyên thủy, nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa và tương lai nhất định thuộc về hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa

- Như vậy, lịch sử nhân loại nói chung, lịch sử phát triển của mỗi cộng đồng người nói riêng vừa tuân theo tính tất yếu của các quy luật xã hội, vừa chịu sự tác động đa dạng của các nhân tố khác nhau, trong

đó có cả nhân tố hoạt động chủ quan của con người Từ đó lịch sử phát triển của xã hội được biểu hiện

ra là lịch sử thống nhất trong tính đa dạng và đa dạng trong tính thống nhất của nó

• Giá trị khoa học của lý luận hình thái kinh tế - xã hội

- Trước C.Mác, chủ nghĩa duy tâm giữ vai trò thống trị trong khoa học xã hội Với sự ra đời của chủ nghĩa duy vật lịch sử, trong đó hạt nhân của nó là lý luận hình thái kinh tế - xã hội đã cung cấp một phương pháp luận thực sự khoa học trong nghiên cứu về lĩnh vực xã hội

- Thứ nhất, theo lý luận hình thái kinh tế - xã hội, sản xuất vật chất chính là cơ sở của đời sống xã hội, phương thức sản xuất quyết định trình độ phát triển của nền sản xuất và do đó cũng là nhân tố quyết định trình độ phát triển của đời sống xã hội và lịch sử nói chung Vì vậy, không thể xuất phát từ ý thức, tư tưởng hoặc từ ý chí chủ quan của con người để giải thích các hiện tượng trong đời sống xã hội, mà phải xuất phát từ bản thân thực trạng phát triển của nền sản xuất xã hội, đặc biệt là từ trình độ phát triển của phương thức sản xuất của xã hội với cốt lõi của nó là trình độ phát triển của lực lượng sản xuất hiện thực

- Thứ hai, theo lý luận hình thái kinh tế - xã hội, xã hội không phải là sự kết hợp một cách ngẫu nhiên, máy móc giữa các cá nhân, mà là một cơ thể sống động Các phương diện của đời sống xã hội tồn tại trong một hệ thống cấu trúc thống nhất chặt chẽ, tác động qua lại lẫn nhau, trong đó quan hệ sản xuất đóng vai trò là quan hệ cơ bản nhất, quyết định các quan hệ xã hội khác, là tiêu chuẩn khách quan để phân biệt các chế độ xã hội khác nhau

Trang 9

- Thứ ba, theo lý luận hình thái kinh tế - xã hội, sự vận động, phát triển của xã hội là một quá trình lịch

sử - tự nhiên, tức là quá trình diễn ra theo các quy luật khách quan chứ không phải theo ý muốn chủ quan,

do vậy muốn nhận thức và giải quyết đúng đắn, có hiệu quá những vấn đề của đời sống xã hội thì phải

đi sâu nghiên cứu-các quy luật vận động, phát triển của xã hội V.I.Lênin từng nhấn mạnh rằng: "Xã hội

là một cơ thể sống đang phát triển không ngừng (chứ không phải là một cái gì được kết thành một cách máy móc và do đó, cho phép có thể tùy ý phối hợp các yếu tố xã hội như thế nào cũng được), một cơ thể

mà muốn nghiên cứu nó thì cần phải phân tích một cách khách quan những quan hệ sản xuất cấu thành một hình thái xã hội nhất định, và cẩn phải nghiên cứu những quy luật vận hành và phát triển của hình thái xã hội đó"'

- Những giá trị khoa học trên đây của lý luận hình thái kinh tế - xã hội là những giá trị về mặt phương pháp luận chung nhất của việc nghiên cứu về xã hội và lịch sử nhân loại, lịch sử các cộng đồng người,

nó không thể thay thế cho những phương pháp đặc thù trong các quá trình nghiên cứu về từng lĩnh vực

cụ thể của xã hội V.LLênin từng dạy rằng: lý luận đó "không bao giờ có tham vọng giải thích tất cả, mà chỉ có ý muốn vạch ra một phương pháp " duy nhất khoa học" để giải thích lịch sử"

8 Quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử về con người và bản chất của con người

con người và bản chất của con người

a Khái niệm con người

- Con người là một thực thể tự nhiên mang đặc tính xã hội; có sự thống nhất biện chững giữa hai phương diện tự nhiên và xã hội

• Nguồn gốc tự nhiên và nguồn gốc xã hội của con người

- Tiền đề vật chất đầu tiên quy định sự hình thành, tồn tại và phát triển của con người là giới tự nhiên, do

đó trước hết con người có bản tính tự nhiên Nghiên cứu, khám phá khoa học về cấu tạo tự nhiên và nguồn gốc tựnhiên của con người là cơ sở khoa học để con người hiểu biết về chính bản thân mình, tiến đến làm chủ bản thân trong mọi hành vi hoạt động sáng tạo ra lịch sử

• Bản tính tự nhiên của con người thể hiện trên hai giác độ sau đây:

- Thứ nhất, con người là kết quả tiến hóa và phát triển lâu dài của giới tự nhiên, cơ sở khoa học của kết luận này đã được chứng minh bằng sự phát triển của chủ nghĩa duy vật và khoa học tự nhiên, đặc biệt là học thuyết của Đácuyn về sự tiến hóa của các loài

- Thứ hai, con người là bộ phận của giới tự nhiên do đó những biến đổi của giới tự nhiên và tác động của quy luật tự nhiên trực tiếp hoặc gián tiếp thường xuyên quy định sự tồn tại của con người và xã hội loài người, nó là môi trường trao đổi vật chất giữa con người với giới tự nhiên; ngược lại, sự biến đổi và hoạt động của con người luôn tác động trở lại môi trường tự nhiên và làm biến đổi môi trường tự nhiên

- Tuy nhiên, con người cũng không đồng nhất với các tồn tại khác của giới tự nhiên, nó có đặc tính xã hội Bản tính xã hội của con người là bản tính đặc thù của nó trong quan hệ với các tồn tại khác của giới

tự nhiên

• Bản tính xã hội của con người thể hiện ở các mặt sau:

- Một là, nguồn gốc hình thành con người không chỉ là quá trình tiến hóa của giới tự nhiên mà trước hết

và cơ bản nhất là nhân tố lao động Chính nhờ lao động mà con người có khả năng vượt qua loài động vật để tiến hóa và phát triển thành người

- Hai là, sự tồn tại và phát triển của con người luôn bị chi phối bởi các nhân tố xã hội và các quy luật xã hội Xã hội biến đổi thì mỗi con người cũng biến đổi và ngược lại, sự phát triển của mỗi cá nhân lại trở thành tiền đề cho sự phát triển xã hội

Trang 10

Hai phương diện tự nhiên và xã hội của con người tồn tại trong tính thống nhất của nó, quy định lẫn nhau, tác động lẫn nhau, làm biến đổi lẫn nhau, nhờ đó tạo nên khả năng hoạt động sáng tạo của con người trong quá trình làm ra lịch sử của chính mình Vì vậy, để lý giải bản tính sáng tạo của con người cần kết hợp chặt chẽ cả hai phương diện tự nhiên và xã hội nhằm tránh rơi vào phiến diện, không triệt

để, dẫn đến những sai lầm trong nhận thức và hoạt động thực tiễn

b Bản chất của con người

- Theo C.Mác, “Bản chất con người không phải là một cái trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa những quan hệ xã hội

- Trong lịch sử tư tưởng nhân loại đã có nhiều quan điểm khác nhau và bản chất, “bản tính người” của con người song về cơ bản những quan niệm đó đều mang tính phiến diện, trừu tượng và duy tâm thần bí, tuyệt đối hóa phương diện tự nhiên của con người, xem nhẹ việc lý giải con người từ phương diện lịch

sử xã hội

- Quan điểm của C.Mác đã khắc phục được hạn chế của quan điểm duy vật siêu hình về con người, trong khi thừa nhận bản tính tự nhiên của con người còn lý giải con người từ giác độ các quan hệ lịch sử xã hội, từ đó phát hiện ra bản tính xã hội của nó, hơn nữa chính bản tính xã hội của con người là phương diện bản chất nhất của con người, là cái phân biệt con người với các tồn tại khác của giới tự nhiên

- Không có con người phi lịch sử mà trái lại luôn gắn với điều kiện hoàn cảnh lịch sử nhất định Con người là sản phẩm của lịch sử, lịch sử sáng tạo ra con người trong chừng mực nào thì con người lại sáng tạo ra lịch sử trong chừng mực đó Đây là biện chứng của mối quan hệ giữa con người – chủ thể của lịch

sử với chính lịch sử do nó tạo ra và đồng thời lại bị quy định bởi chính lịch sử đó

- Với tư cách là thực thể xã hội, con người trong hoạt động thực tiễn tác động vào giới tự nhiên, cải biến giới tự nhiên theo nhu cầu của mình thì đồng thời con người cũng sáng tạo ra lịch sử của chính nó, thực hiện sự phát triển của lịch sử đó

c.Ý nghĩa phương pháp luận:

Từ quan niệm khoa học của chủ nghĩa Mác-Lênin về con người, có thể rút ra ý nghĩa phương pháp luận quan trọng sau đây:

- Một là, để lý giải một cách khoa học những vấn đề về con người phải căn cứ cả vào phương diện tự nhiên và phương diện xã hội, trong đó vấn đề có tính quyết định là phương diện bản tính xã hội của nó,

từ những quan hệkinh tế xã hội của nó

- Hai là, động lực cơ bản của tiến bộ và phát triển của xã hội là năng lực sáng tạo lịch sử của con người,

vì vậy phát huy năng lực sáng tạo của mỗi con người là phát huy nguồn động lực quan trọng thúc đẩy sự tiến bộ và phát triển của xã hội

- Ba là, sự nghiệp giải phóng con người, nhằm phát huy khả năng sáng tạo lịch sử của nó phải hướng vào việc giải phóng những quan hệ kinh tế xã hội Trên cơ sở đó có thể khẳng định giá trị căn bản nhất của cách mạng xã hội chủ nghĩa là ở mục tiêu xóa bỏ triệt để các quan hệ kinh tế xã hội áp bức, bóc lột nhằm giải phóng con người, phát huy cao nhất năng lực sáng tạo của con người, đưa con người tới sự phát triển

tự do và toàn diện

Trang 11

II Phần thứ hai

1 Hai điều kiện của sản xuất hàng hóa

- Sản xuất tự cấp tự túc là kiểu tổ chức kinh tế mà sản xuất do lao động tạo ra nhằm để thỏa mản nhu cầu trực tiếp của người sản xuất (mô hình kt tự nhiên)

- Sản xuất hàng hoá là kiếu tổ chức kinh tế mà ở đó sản phẩm sản xuất ra mà là để trao đổi mua bản trên thị trường (mô hình kt hàng hóa)

a Phân công lao động xã hội :

+ Phân công lao động xã hội là sự chuyên môn hoá sản xuất, phân chia lao động xã hội thành các ngành, các lĩnh vực sản xuất khác nhau

+ Phân công lao động xã hội làm cho việc trao đổi sản phẩm trở thành tất yếu: bởi vì mỗi ngành mỗi người chỉ sản xuất một vài thứ, trong khi đó nhu cầu cuộc sống lại đòi hỏi có nhiều loại khác nhau Vì vậy họ cần trao đổi với nhau

+ Như vậy: phân công lao động là tiền đề là cơ sở của sản xuất hàng hoá Nhưng để SXHH ra đời chỉ có phân công lao động xã hội thôi thì chưa đủ mà cần phải có điều kiện nữa(điều kiện đủ) điều kiện thứ hai

b Sự tách biệt tương đối về mặt kinh tế giữa những người sản xuất

+ Có nghĩa là những người sản xuất trở thành chủ thể sản xuất, độc lập nhất định sản phẩm làm ra thuộc quyền sở hữu của họ Vì vậy, người này muốn tiêu dùng sản phẩm lao động của người khác phải thông qua trao đổi mua bán hàng hoá

+ Sự tách biệt này là do chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất quy định Vì chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất làm cho tư liệu sản xuất thuộc sở hữu cá nhân, sản phẩm làm ra thuộc quyền sở hữu của họ Vậy người này muốn tiêu dùng sản phẩm lao động của người khác cần phải thông qua trao đổi mua bản hàng hóa + Trong điều kiện của nền sản xuất hiện đại, sự tách biệt này còn do các hình thức sở hữu khác nhau về

tư liệu sản xuất và sự tách rời quyền sở hữu và quyền sử dụng đối với tư liệu sản xuất quy định

=> Vậy điều kiện thứ hai cùng có thể hiểu là: Có chế độ tư hữu và sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất

2 Hai thuộc tính của hàng hóa và nguồn gốc của chúng

a Giá trị sử dụng là công dụng của hàng hoá để thoả mãn nhu cầu nào đó của con người

- Vật phẩm nào cũng có một số công dụng nhất định Công dụng của vật phẩm do thuộc tính tự nhiên của vật chất quyết định Khoa học kỹ thuật càng phát triển, người ta càng phát hiện thêm những thuộc tính mới của sản phẩm và lợi dụng chúng để tạo ra những giá trị sử dụng mới Giá trị sử dụng chỉ thể hiện ở việc sử dụng hay tiêu dùng Nó là nội dung vc của của cải Giá trị sử dụng là phạm trù vĩnh viễn

- Giá trị sử dụng nói ở đây với tư cách là thuộc tính của hàng hoá, nó không phải là giá trị sử dụng cho bản thân người sản xuất hàng hoá, mà là giá trị sử dụng cho người khác, cho xã hội thông qua trao đổi –

mua bán Trong kinh tế hàng hoá, giá trị sử dụng là vật mang giá trị trao đổi

b Giá trị

- Giá trị trao đổi của một hàng hóa là khả năng trao đổi của nó, thể hiện qua tỷ lệ trao đổi giữa hàng hóa

đó với một hàng hóa khác (Ví dụ: Giá trị trao đổi của vải so với gạo là: 1 m vải 10 kg gạo.)

- Giá trị: là lao động xã hội của người sản xuất hàng hóa kết tinh trong trong hàng hóa

- Giá trị là cơ sở, là nội dung bên trong của giá trị trao đổi, còn giá trị trao đổi là hình thức biểu hiện bên ngoài của giá trị

- Giá trị trao đổi hay giá trị chỉ được xét đến trong điều kiện kinh tế hàng hóa, do vậy nó được xem là một phạm trù lịch sử

Trang 12

3 Lượng giá trị của hàng hóa

- Giá trị hàng hóa được xét cả về mặt chất và mặt lượng:

- Chất giá trị hàng hóa là lao động trừu tượng của người sản xuất hàng hóa kết tinh trong hàng hóa Vậy, lượng giá trị của hàng hóa là lượng lao động hao phí để sản xuất ra hàng hóa đó quyểt định

- Thời gian lao động cá biệt quyết định lượng giá trị cả biệt của hàng hóa mà từng người sản xuất ra

- Thời gian lao động xã hội cần thiết là thời gian cần thiết để sản xuất ra một hàng hóa trong điều kiện bình thường của xã hội, tức là với một trình độ kỹ thuật trung bình, trình độ khéo léo trung bình và cường

độ lao động trung bình so với hoàn cảnh xã hội nhất định

4 Quy luật giá trị

- Quy luật giá trị là quy luật kinh tế cơ bản của sản xuất và trao đổi hàng hoá ở đâu có sản xuất và trao đổi hàng hoá thì ở đó có sự tồn tại và phát huy tác dụng của quy luật giá trị

- Trong trao đổi phải tuân theo nguyên tắc ngang giá, nghĩa là phải đảm bảo bù đắp được chi phí chí người sản xuất và đảm bảo có lãi để tái sản xuất mở rộng

• Tác động của quy luật giá trị

a Điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hóa

Là sự phân phối lại các yếu tố tư liệu sản xuất và sức lao động từ ngành sản xuất này sang ngành sản xuất khác theo hướng từ nơi có lãi ít hoặc không lãi sang nơi lãi nhiều thông qua biến động

b Kích thích cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất, tăng năng suất lao động, thúc đẩy lực lượng

sản xuất xã hội phát triển

Người sản xuất, kinh doanh muốn thu nhiều lợi nhuận phải tìm cách cải tiến kĩ thuật, tăng năng suất lao động, nâng cao tay ngề của người lao động, hợp lí hóa sản xuất, thực hành tiết kiệm…làm cho giá trị hàng hóa cá biệt của họ thấp hơn giá trị xã hội của hàng hóa

c Thực hiện sự lựa chọn tự nhiên và Phân hóa giàu – nghèo giữa những người sản xuất hàng hóa

- Những người có điều kiện sản xuất thuận lợi , có trình độ, kiến thức cao, trang bị kĩ thuật tốt nên có hao phí lao động cá biệt thấp hơn hao phí lao động xã hội cần thiết Nhờ đó giàu lên nhanh chóng, có điều kiện mua sắm thêm tư liệu sản xuất, đổi mới kĩ thuật, mở rộng sản xuất kinh doanh

- Những người không có điều kiện thuận lợi làm ăn kém cỏi gặp rủi ro trong kinh doanh nên bị thua lỗ dẫn tới phá sản trở thành nghèo khó

5 Phương pháp giá trị thặng dư tuyệt đối

- Là giá trị thặng dư được tạo ra do kéo dài thời gian lao động vượt quá thời gian lao động tất yếu, trong khi năng xuất lao động xã hội, giá trị sức lao động và thời gian lao động tấy yếu không thay đổi

- Ngày lao động kéo dài trong khi thời gian lao động không đổi, do đó thời gian lao động thặng dư tăng lên sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối là cơ sở chung của chế độ TBCN Phương pháp này được áp dụng phổ biến ở giai đoạn đầu của TBCN khi lao động còn ở trình độ thủ công và năng suất lao động còn thấp

- Giá trị thặng dư tương đối: được thực hiện do rút ngắn thời gian lao động tất yếu bằng cách nâng cao năng suất lao động trong ngành sản xuất ra tư liệu sinh hoạt để hạ thấp giá trị sức lao động, nhờ đó tăng thời gian lao động thặng dư lên ngay trong điều kiện độ dài ngày lao động, cường độ lao động vẫn như

- Giá trị thặng dư siêu ngạch là phần giá trị thặng dư thu được do áp dụng công nghệ mới sớm hơn các

xí nghiệp khác làm cho giá trị cá biệt của hàng hóa thấp hơn giá trị thị trường của nó

Trang 13

6 Bản chất của tiền công và các hình thức tiền công cơ bản Tiền công trong chủ nghĩa tư bản a) Bản chất kinh tế của tiền công Cái mà nhà tư bản mua của công nhân không phải là lao động mà là

sức lao động Do đó, tiền công không phải là giá trị hay giá cả của lao động mà chỉ là giá trị hay giá cả

của hàng hóa sức lao động Tiền công che đậy bản chất bóc lột cuả CNTB

b) Hình thức tiền công cơ bản

- Tiền công tính theo thời gian là hình thức tiền công tình theo thời gian lao động của công nhân dài hay ngắn (giờ, ngày, tuần, tháng) Tức là muốn đánh giá chính xác mức tiền công ko chỉ căn cứ vào tiền công ngày mà phải căn cứ vào độ dài của ngày lao động và cường độ lao động.Giá cả của 1 hàng hóa lao động

là thước đo chính xác mức tiền công tính theo thời gian

- Tiền công tính theo sản phẩm là hình thức tiền công tính theo số lượng sản phẩm đã làm ra, hoặc số lượng công việc đã hoàn thành trong một thời gian nhất định Mỗi sản phẩm được trả công theo một đơn giá nhất định gọi là đơn giá tiền công Thực chất thì tiền công tính theo sản phẩm là biến tướng của tiền công tính theo thời gian nhưng nó lại tạo động lực mạnh mẽ, kích thích người lao động tích cực lao động, tạo thuận lợi cho nhà tư bản trong việc quản lý, giảm sát lao động của công nhân

c) Tiền công danh nghĩa và tiền công thực tế:

- Tiền công danh nghĩa là số tiền mà người công nhân nhận được do bán sức lao động của mình cho nhà

tư bản

- Tiền công thực tế là tiền công được biểu hiện bằng số lượng hàng hóa tư liệu tiêu dùng và dịch vụ mà người công nhân mua được bằng tiền công danh nghĩa của mình

7 Tích lũy tư bản, tích tụ tư bản và tập trung tư bản

- Tích lũy tư bản là là sự chuyển hóa một phần giá trị thặng dư trở thành tư bản hay sử dụng giá trị thặng

dư làm tư bản, hay là quá trình tue bản hóa giá trị thặng dư Tái sản xuất ra tư bản với quy mô ngày càng

mở rộng

- Tích tụ tư bản là sự tăng thêm quy mô của tư bản cá biệt bằng cách tư bản hóa giá trị thặng dư trong một xí nghiệp nào đó, nó là kết quả trực tiếp của tích lũy tư bản Tích lũy tư bản xét về mặt làm tăng thêm quy mô của tư bản cả biệt là tích tụ tư bản

- Tập trung tư bản là sự tăng thêm quy mô của tư bản cá biệt bằng cách hợp nhất những tư bản cá biệt có sẵn trong xã hội thành một tư bản cá biệt khác lớn hơn Cạnh tranh và tín dụng là những đòn bẩy mạnh nhất thúc đẩy tập trung tư bản Do cạnh tranh mà dẫn tới sự liên kết tự nguyện hay sáp nhập các tư bản

cá biệt Tín dụng tư bản chủ nghĩa là phương tiện để tập trung các khoản tiền nhàn rỗi trong xã hội vào tay các nhà tư bản

- Tích tụ và tập trung tư bản có điểm giống nhau là chúng đều làm tăng quy mô của tư bản cá biệt

8 Chủ nghĩa tư bản độc quyền

a) Sự chuyển biến từ chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh thành chủ nghĩa tư bản độc quyền

- Tự do cạnh tranh sinh ra tích tụ và tập trung sản xuất, tích tụ và tập trung sản xuất phát triển đến một mức độ nào đó sẽ dẫn đến độc quyền

- Chủ nghĩa tư bản độc quyền xuất hiện vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX do những nguyên nhân chủ yếu sau:

- Sự phát triển của lực lượng sản xuất dưới tác động của tiến bộ khoa học kỹ thuật đẩy nhanh quá trình tích tụ và tập trung sản xuất, hình thành các xí nghiệp có quy mô lớn

- Vào 30 năm cuối của thế kỷ XIX, những thành tựu khoa học kỹ thuật mới xuất hiện như lò luyện kim mới Betsơme, Máctanh, Tômát đã tạo ra sản lượng lớn gang thép với chất lượng cao; phát hiện ra hoá chất mới như axít sunphuaric (H2SO4), thuốc nhuộm ; máy móc mới ra đời: động cơ điêzen, máy phát điện, máy tiện, máy phay ; phát triển những phương tiện vận tải mới: xe hơi, tàu thuỷ, xe điện, máy bay và đặc biệt là đường sắt

Ngày đăng: 12/11/2019, 09:17

w