Nên cần phải có phương pháp và phương tiện dạy học phù hợp khi dạy bài Axit sunfuric – Muối sunfat để học sinh tiếp thu một cách hiệu quả và nâng cao được các năng lực nhận thức và tư du
Trang 1SỞ GD & ĐT NGHỆ AN TRƯỜNG THPT NGHI LỘC 2
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Tên đề tài:
Dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh qua bài Axit
sunfuric – Muối sunfat (hóa học lớp 10 – chương trình cơ bản).
GIÁO VIÊN : NGUYỄN THỊ HOÀI
TỔ : HÓA HỌC TRƯỜNG THPT NGHI LỘC 2
Trang 2Năm học 2015 - 2016
Mục lục
Trang
A Đặt vấn đề ……….3
I Lý do chọn đề tài……… 3
II Phương pháp nghiên cứu……… 4
III Cấu trúc đề tài ……… 4
B Giải quyết vấn đề………5
I Đánh giá thực trạng vấn đề……… 5
II Nội dung đề tài……… 12
Phần một : phương pháp dạy học bài axit sunfuric- muối sunfat………12
I Cơ sở lý luận………12
1 Năng lực và phát triển năng lực học sinh trong môn hóa học……….12
2 Phương pháp dạy học theo hướng phát triển năng lực trong môn hóa học…20 II Phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh qua bài dạy Axit sunfuric – Muối sunfat……….24
1 Những năng lực cần phát triển cho học sinh qua việc dạy bài Axit sunfuric – Muối sunfat………24
2 Phương pháp dạy bài axit sunfuric - muối sunfat theo định hướng phát triển năng lực……… 29
Phần 2: Giáo án thể nghiệm bài axit sunfuric- muối sunfat theo định hướng phát triển năng lực học sinh………41
Bài 33.Axit sunfuric – Muối sunfat (tiết 1)………41
Bài 33.Axit sunfuric – Muối sunfat (tiết 2)……… 47
Trang 3C Kết luận………57Tài liệu tham khảo……… 61Phụ lục………62
A ĐẶT VẤN ĐỀ
I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1 Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện
giáo dục và đào tạo nêu rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học
theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực…”.
Như vậy, nội dung trọng tâm của việc đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục phổ thông là sự phát triển năng lực của người học đáp ứng yêu cầu giáo dục và đào tạo con người trong bối cảnh khoa học và công nghệ phát triển với tốc độ chưa từng có
và nền kinh tế tri thức đóng vai trò ngày càng quan trọng đối với mỗi quốc gia Bởivậy, dạy học theo hướng phát triển năng lực là phương pháp dạy học đang được đặt
ra trong nhà trường hiện nay Nó là hạt nhân của việc đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực
2 Hóa học là một bộ môn khoa học thực nghiệm nên có điều kiện thuận lợi để
triển khai đổi mới dạy học và đánh giá theo định hướng phát triển năng lực của họcsinh Những tri thức học sinh lĩnh hội được rất quan trọng, giúp HS có nhận thức khoa học về thế giới vật chất, góp phần phát triển năng lực nhận thức và năng lực hành động, hình thành nhân cách phẩm chất của người lao động mới năng động, sáng tạo Nên việc đổi mới phương pháp dạy học hóa học là một việc làm cấp bách
và cần có sự quan tâm đúng mức đối với mỗi giáo viên dạy bộ môn này Tuy nhiên,tình trạng sử dụng phương pháp dạy học hóa hiện nay còn một số hạn chế Khi dạyhọc sinh phần lý thuyết nhiều khi giáo viên chỉ truyền đạt lại cho học sinh nội dungtheo hướng một chiều, học sinh đón nhận kiến thức một cách thụ động Do đó, học
Trang 4sinh không phát huy được các năng lực của mình như tư duy sáng tạo…khi vận dụng các kiến thức đó trong bài tập, cũng như trong đời sống thực tiễn Điều đó, làm cho các em cảm thấy học bộ môn này rất khó, không có lòng hăng say nghiên cứu khoa học.
3 Trong chương trình hóa học phổ thông, tôi nhận thấy bài Axit sunfuric – Muối
sunfat có nội dung khá phong phú và có nhiều dạng bài tập ở phần này được ra
trong thi cử Nên cần phải có phương pháp và phương tiện dạy học phù hợp khi
dạy bài Axit sunfuric – Muối sunfat để học sinh tiếp thu một cách hiệu quả và nâng
cao được các năng lực nhận thức và tư duy của mình
Bản thân tôi, trong quá trình dạy học đã tìm tòi, suy nghĩ để hình thành phương
pháp dạy bài Axit sunfuric – Muối sunfat và đã đạt được hiệu quả đáng kể Nhằm góp phần dạy học có hiệu quả phần Axit sunfuric – Muối sunfat trong chương trình
hóa học THPT, tôi xin trình bày đề tài “Dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh qua bài Axit sunfuric – Muối sunfat (hóa học lớp 10 – chương trình cơ bản)” Đề tài có tính mới mẻ về khoa học, trình bày có hệ thống, dễ áp
dụng trong quá trình dạy học, kiểm tra đánh giá và thi cử hiện nay
II PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đề tài kết hợp nhiều phương pháp:
- Phương pháp phân tích tổng hợp
- Phương pháp so sánh đối chiếu
- Phương pháp thống kê
III CẤU TRÚC CỦA ĐỀ TÀI
Ngoài phần đặt vấn đề, phần kết luận, phần giải quyết vấn đề có các nộidung sau:
Trang 5- Đánh giá thực trạng của việc dạy bài Axit sunfuric – Muối sunfat trong chương
trình hóa học 10 THPT hiện nay
- Nội dung chính của đề tài
- Kết luận
B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ
1 Người dạy
Qua tìm hiểu, phân tích, đánh giá những bài soạn giảng bài Axit sunfuric – Muối
sunfat cùng với việc dự giờ một số tiết dạy ở trường tôi và một số trường THPT
khác, bản thân tôi đã rút ra được những ưu điểm và hạn chế trong những bài soạn
giảng bài Axit sunfuric – Muối sunfat ở nhà trường phổ thông hiện nay.
Axit sunfuric được xem là “máu”của nghành công nghiệp, là hóa chất hàng đầu được dùng trong nhiều nghành sản xuất Như vậy, đối với bài dạy Axit sunfuric –
Muối sunfat ở chương trình giáo dục phổ thông (chương trình dạy học - hóa học
10) có một tầm quan trọng Tuy nhiên, qua bài dạy trên lớp, giáo viên không phảichỉ cần truyền thụ cho học sinh hệ thống kiến thức về axit sunfuric như tính chấtvật lý, tính chất hóa học hay ứng dụng, sản xuất axit sunfuric … đã được quy địnhtrong chương trình dạy học , mà giáo viên cần phải thực hiện mục tiêu phát triểntoàn diện các phẩm chất nhân cách cho học sinh, chú trọng năng lực vận dụng trithức đó của học sinh trong những tình huống thực tiễn nhằm chuẩn bị cho họcsinh năng lực giải quyết các tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp Để đạtđược điều đó thì giáo viên cần phải lựa chọn phương pháp và phương tiện dạy họcnhư thế nào cho phù hợp không phải là vấn đề đơn giản Nếu người giáo viênkhông có kỹ năng và phương pháp giảng dạy tốt sẽ khiến cho giờ dạy trở nên nhàmchán, không tạo được hứng thú cho người học, và các em cũng không phát triểnđược các năng lực tư duy sáng tạo…giải quyết các tình huống thực tiễn
Trang 6Hầu hết các bài soạn giảng Axit sunfuric – Muối sunfat các giáo viên truyền thụ
cho học sinh một hệ thống tri thức khoa học và hệ thống về axit sunfuric – muốisunfat Tuy nhiên, các bài soạn giảng giáo viên chỉ quan tâm đến việc phải truyềnđạt cho hết kiến thức đã quy định trong chương trình và SGK.Nội dung dạy họcthiết kế chủ yếu theo logic nội dung kiến thức, chú trọng trước hết đến hệ thốngkiến thức lí thuyết Các bài dạy học trên lớp, đa số giáo viên thuyết trình, giảnggiải, tuy giáo viên có sử dụng phương pháp phát vấn nhưng mới chỉ dừng lại phátvấn tái hiện Các câu hỏi GV đưa ra chỉ mới yêu cầu học sinh chép (đọc) nguyên si
từ SGK, chưa bắt buộc học sinh phải gia công thêm hay cần phải tư duy, suy luận
như ‘Dựa vào SGK nêu tính chất vật lý của axit sunfuric’, ‘nêu quá trình sản xuất
và ứng dụng axit sunfuric’, ‘muối sunfat là gì? Có những loại muối sunfat nào?’…
Đặc biệt, khi dạy phần tính chất hóa học của axit sunfuric (phần trọng tâm của bàihọc), tôi nhận thấy hai điều:
+ Thứ nhất, tính chất đặc biệt của axit sunfuric đặc - kiến thức mới đối với học
sinh - có nhiều giáo viên chỉ thuyết trình thông báo cho học sinh biết ‘axit
sunfuric đặc thể hiện tính chất đặc biệt là tính oxi hóa mạnh khi tác dụng các kim loại, phi kim và nhiều hợp chất’, sau đó giáo viên lấy các ví dụ, dẫn chứng chứng
minh Hoặc có một số giáo viên dẵn dắt học sinh nghiên cứu tính oxi hóa mạnh củaaxit sunfuric đặc bằng cách cho học sinh xác định số oxi hóa của lưu huỳnh trong
H2SO4, dựa vào sự thay đổi số oxi hóa của lưu huỳnh ( 6
S(H2SO4) S2, 0
S, 4
S) rồiđưa ra kết luận Đối với phương pháp này tôi thấy cũng chưa hợp lí, bởi nếu đưa ranguyên nhân như thế làm cho axit sufuric đặc có tính oxi hóa mạnh thì lại làm cho
học sinh trở nên thắc mắc vậy thì tại sao S trong H 2 SO 4 loãng cũng có số oxi hóa +
6 mà không có tính chất đặc biệt đó ?…Điều đó khiển cho học sinh sẽ không chắc
chắn về kiến thức tính chất hóa học của axit sunfuric loãng và đặc Còn giả sứ họcsinh đặt vấn đề băn khoăn đó với giáo viên, thì lúc này giáo viên không có cáchnào khác phải giải thích cụ thể cho các em Thế nhưng, giải thích điều đó có liênquan đến những kiến thức mà các em chưa được học nên sẽ gặp nhiều khó khăn,
Trang 7càng làm cho học sinh cảm thấy phức tạp, khó hiểu - đặc biệt đối với học sinh ban
Fe2O3 …thì học sinh không biết làm thế nào Hay nói cách khác, học sinh khônghiểu rõ tính chất hóa học của axit sunfuric đặc: ngoài thể hiện tính oxi hóa mạnhkhi tác dụng với những chất có tính khử, nó còn thể hiện tính axit khi tác dụngnhững chất không có tính khử
Đối với môn hóa học là một bộ môn lý thuyết và thực nghiệm, nên việc sửdụng phương pháp trực quan như thí nghiệm…trong các giờ học nói chung (đặc
biệt khi dạy bài mới) và trong bài Axit sunfuric – Muối sunfat nói riêng là rất cần
thiết Trên thực tế, giáo viên sử dụng phương pháp này trong giảng dạy còn rất ít
và hạn chế Giáo viên chú trọng định hướng nội dung, chưa quan tâm đến hìnhthành các năng lực cho người học, làm cho người h ọ c mang tính thụ động, hạnchế khả năng sáng tạo và năng động Điều này đòi hỏi một hướng dạy hiệu quả,hợp lý ở một mức độ cao hơn
2 Người học
Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi đã tiến hành khảo sát ở khối lớp 10: lớp10C1, 10C2 ở Trường THPT Nghi Lộc 2 trong năm học 2013- 2014; lớp 10A1 và10A5 ở Trường THPT Nghi Lộc 5 năm học 2014- 2015 (nhằm bổ sung kết quảkhảo sát hàng năm) Việc khảo sát tại những thời điểm khác nhau, với các đối
Trang 8tượng học sinh khác nhau tạo ra kết quả khảo sát khách quan và toàn diện hơn Từnhững kết quả thu được qua các nguồn khác nhau, tôi đã xác định được những mặttích cực cũng như những mặt hạn chế và yếu kém còn tồn tại trong quá trình dạy
học bài Axit sunfuric – Muối sunfat theo phương pháp truyền thống (chưa thực hiện hướng dạy học theo định hướng phát triển năng lực).
* Kết quả khảo sát
Qua việc theo dõi sự tiếp thu kiến thức của học sinh qua việc trả lời các câuhỏi trên lớp và tinh thần, thái độ trong học tập kết hợp phát phiếu điều tra và chohọc sinh kiểm tra đánh giá chất lượng ở lớp 10C1 và 10C4 của Trường THPT NghiLộc 2 năm học 2013- 2014, tôi đã tổng hợp được kết quả như sau:
Số học sinh không nắm vững kiến thức bài
học (đặc biệt về tính chất hóa học axit
sunfuric đặc)
Số học sinh không phân biệt được rõ ràng
tính chất giữa axit sunfuric đặc và axit
sunfuric loãng
Số học sinh không biết vận dụng kiến thức
lý thuyết vào bài tập và trong thực tiễn cuộc
sống
Số học sinh không có tính chủ động học tập 21/37 56% 22/38 57%
Số học sinh không có hứng thú với việc học,
nghiên cứu bài
Số học sinh không có kĩ năng phần mềm:
thuyết trình, làm việc nhóm, phát hiện, xử lý
thông tin…
Đối với lớp 10A1 và 10A5 ở Trường THPT Nghi Lộc 5 năm học 2014- 2015,tôi đã tổng hợp được kết quả như sau
Trang 9Kết quả tổng hợp 10A1 % 10A5 %
Số học sinh không nắm vững kiến thức bài
học (đặc biệt về tính chất hóa học axit
sunfuric đặc)
Số học sinh không phân biệt được rõ ràng
tính chất giữa axit sunfuric đặc và axit
sunfuric loãng
Số học sinh không biết vận dụng kiến thức
lý thuyết vào bài tập và trong thực tiễn cuộc
sống
Số học sinh không có tính chủ động học tập 23/40 57% 27/36 75%
Số học sinh không có hứng thú với việc học,
nghiên cứu bài
Số học sinh không có kĩ năng phần mềm:
thuyết trình, làm việc nhóm, phát hiện, xử lý
thông tin…
* Phân tích kết quả khảo sát
Qua việc kết quả khảo sát, tôi rút ra một số nhận xét sau:
Thứ nhất, đa số học sinh nắm được về tính chất vật lý của axit, tính chất hóahọc axit sunfuric loãng, và muối sunfat Phần lớn học sinh không nắm được tínhchất hóa học của axit sunfuric đặc (phần trọng tâm), học sinh chỉ mới có thể viếtđược các phương trình phản ứng hóa học của axit sunfuric đặc khi tác dụng vớikim loại hay phi kim tương tự như GV đã dạy, nhưng khi lấy ví dụ axit sunfuricđặc tác dụng với các hợp chất (như FeO, Fe2O3 …) thì học sinh không biết phảnứng xảy ra như thế nào Với các lí do: + Học sinh chưa xác định được hợp chất đó
có thể thể hiện tính khử hay không + Học sinh không định hướng được axitsunfuric sẽ thể hiện tính chất gì khi tác dụng với các chất có tính khử, hay khi tác
Trang 10dụng với những chất không có tính khử + Học sinh chưa có sự tư duy, suy luận tạosản phẩm của phản ứng oxi hóa khử
Và rất ít học sinh biết phát hiện và giải quyết những vấn đề thực tiễn từ bài học Thứ hai, qua kết quả khảo sát còn cho thấy tình hình dạy học và tiếp thu bài
Axit sunfuric – Muối sunfat của học sinh trong nhà trường THPT hiện nay vẫn còn
nhiều vấn đề đáng bàn xuất phát từ nguyên nhân chủ quan và khách quan về phíangười dạy và người học Nhiệm vụ của chúng ta là tìm ra một hướng đi tích cực vàphù hợp để phát huy được năng lực của người học
3 Tài liệu tham khảo
Axit sunfuric – Muối sunfat là một bài quan trọng đối với chương trình hóa
học phổ thông nói chung và đối với chương trình hóa học lớp 10 nói riêng nên có
rất nhiều tài liệu tham khảo viết về nội dung này
Có nhiều tài liệu soạn giảng bài Axit sunfuric – Muối sunfat theo hướng cho học
sinh tìm hiểu, nghiên cứu bài chủ yếu dựa trên SGK, việc sử dụng phương pháptrực quan như hình ảnh, thí nghiệm …còn rất ít, nếu có thì mới chỉ là sử dụng thínghiệm minh họa Với phương pháp này, chưa phát huy được tính tích cực chủđộng của học sinh để các em tự tìm ra kiến thức mới dưới sự hướng dẫn của giáoviên
Một số tài liệu cũng có một vài phần biên soạn theo phương pháp dạy học tích cực(có sử dụng các phương tiện trực quan như thí nghiệm…) Tuy nhiên việc sử dụngthí nghiệm ở mỗi tiết dạy học được viết trong các tài liệu đó, tôi thấy chưa phùhợp Vì hạn chế về thời gian, do đó việc sử dụng thí nghiệm trong mỗi giờ học cầnphải lựa chọn, nên chọn làm một số thí nghiệm phục vụ trọng tâm bài như thínghiệm nghiên cứu về tính chất đặc biệt của axit sunfuric đặc , còn các thínghiệm minh họa như thí nghiệm chứng minh tính chất của axit sunfuric loãngkhông cần thiết Bởi việc sử dụng nhiều thí nghiệm trong một tiết học vừa làm mấtnhiều thời gian (dẫn đến phần trọng tâm của bài cần nhiều thời gian hơn lại không
Trang 11có đủ để nghiên cứu), vừa làm loãng sự chú ý của học sinh, không gây được sựchú ý, hứng thú, tập trung cao khi làm thí nghiệm nghiên cứu (là phần quan trọng).
Về nội dung của bài học, phần lớn các tài liệu cũng soạn giảng theo nội dung SGK Các bài soạn cũng chỉ cho học sinh nghiên cứu, tìm hiểu tính oxi hóa mạnhcủa axit sunfuric đặc như biên soạn trong chương trình SGK, chưa khắc sâu thêmtính chất của axit sunfuric đặc để học sinh hiểu rõ ngoài tính oxi hóa mạnh nó cònthể hiện tính axit như axit sunfuric loãng khi gặp những chất không có tính khử
Và các câu hỏi được sử dụng để hình thành phát triển năng lực học sinh như nănglực vận dụng kiến thức vào thực tiễn…còn rất ít
Những định hướng tiếp cận trong sách hướng dẫn giảng dạy và tài liệu thamkhảo hiện nay là những cách hiểu, những hướng khai thác được hầu hết giáo viên
áp dụng để thiết kế bài giảng cho mình Tuy nhiên, cả người dạy và người học đềuđang gặp khó khăn trong việc hình thành các năng lực cho người học Khi thựchiện đề tài này, tôi đã tiếp nhận những ý kiến quý báu từ các bài viết trong sách
hướng dẫn giảng dạy và các tài liệu tham khảo Những ý kiến, bài viết đó là những
gợi mở có giá trị để bản thân tôi thực hiện được đề tài này
4 Thi cử
Có rất nhiều dạng bài tập về axit sunfuric được ra trong các kỳ thi tốt nghiệp
và đại học Bài dạy Axit sunfuric – Muối sunfat có một tầm quan trọng, cung cấp
cho học sinh những cơ sở lý thuyết vững chắc để vận dụng khi làm bài tập, vàthông qua bài học các em được phát triển những năng lực nhận thức, rèn luyện ócthông minh, trí sáng tạo Do đó, việc dạy học bài này theo hướng phát triển nănglực là một việc làm vô cùng cần thiết với cả người dạy và người học
Trang 12II NỘI DUNG CỦA ĐỀ TÀI
PHẦN MỘT PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC BÀI “AXIT SUNFURIC – MUỐI SUNFAT” THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH
I Cơ sở lý luận
1 Năng lực và phát triển năng lực học sinh trong môn hóa học
1.1 Khái niệm năng lực
Khái niệm năng lực được hiểu như sau:
Là sự kết hợp một cách linh hoạt và có tổ chức các kiến thức, kỹ năng và thái độ, tình cảm, giá trị, động cơ cá nhân, nhằm đáp ứng hiệu quả một yêu cầu phức hợp của hoạt động trong bối cảnh nhất định.
Là khả năng làm chủ và vận dụng hợp lý các kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng, thái độ và hứng thú để hành động một cách có hiệu quả trong các tình huống đa dạng của cuộc sống.
(Theo Québec- Ministere, 2004)
Như vậy, theo khái niệm này ta hiểu rằng giữa năng lực với kiến thức kỹnăng có sự khác biệt: kiến thức kỹ năng là cơ sở, nguồn lực để hình thành và pháttriển năng lực; kiến thức và kỹ năng chỉ chuyển hóa thành năng lực khi chúng kếthợp với nhau và với các yếu tố khác để giải quyết hiệu quả một nhiệm vụ, một vấn
đề trong một hoàn cảnh, tình huống nhất định, đặc biệt là tình huống thực tiễn
1.2 Phân biệt năng lực chung và năng lực chuyên biệt trong môn Hóa học
Trang 13Phân loại năng lực là một vấn đề hết sức phức tạp Kết quả phân loại phụthuộc vào quan điểm và tiêu chí phân loại Nhìn vào chương trình thiết kế theo
hướng tiếp cận năng lực của các nước có thể thấy hai loại năng lực chính là năng
lực chung (general competence) và năng lực cụ thể chuyên biệt (specific
competence)
Năng lực chung là năng lực cơ bản, thiết yếu ai cũng cần có để sống và làmviệc bình thường trong xã hội Năng lực này được hình thành và phát triển quanhiều môn học Theo quan niệm của EU, mỗi năng lực chung cần: Góp phần tạonên kết quả có giá trị cho xã hội và cộng đồng; giúp cho các cá nhân đáp ứng đượcnhững câu hỏi của một bối cảnh rộng lớn và phức tạp; chúng có thể không quantrọng với các chuyên gia nhưng lại rất quan trọng với tất cả mọi người
Năng lực cụ thể chuyên biệt là năng lực riêng được hình thành và phát triển
do một lĩnh vực/môn học nào đó Vì thế, trong chương trình giáo dục Québecngười ta gọi là năng lực môn học cụ thể (Subject- specific competence) để phânbiệt với năng lực xuyên chương trình- năng lực chung
Tuy nhiên, trong thực tế có một số năng lực chung và năng lực chuyên biệt
có quan hệ chặt chẽ, khó phân biệt một cách rạch ròi
1.3 Phát triển các năng lực chung
1.3.1 Năng lực tự học
a) Xác định nhiệm vụ học tập có tính đến kết quả học tập trước đây và định hướngphấn đấu tiếp; mục tiêu học được đặt ra chi tiết, cụ thể, đặc biệt tập trung cơ bảnhơn những khía cạnh còn yếu kém
b) Đánh giá và điều chỉnh được kế hoạch học tập; hình thành cách học tập riêngcủa bản thân; tìm được nguồn tài liệu phù hợp với các mục đích, nhiệm vụ học tậpkhác nhau; thành thạo sử dụng thư viện, chọn các tài liệu và làm thư mục phù hợpvới từng chủ đề học tập của các bài tập khác nhau; ghi chép thông tin đọc được
Trang 14bằng các hình thức phù hợp, thuận lợi cho việc ghi nhớ, sử dụng, bổ sung khi cầnthiết; tự đặt được vấn đề học tập
c) Tự nhận ra và điều chỉnh những sai sót, hạn chế của bản thân trong quá trình họctập; suy ngẫm cách học của mình, đúc kết kinh nghiệm để có thể chia sẻ, vận dụngvào các tình huống khác; trên cơ sở các thông tin phản hồi biết vạch kế hoạch điềuchỉnh cách học để cơ bản chất lượng học tập
1.3.2 Năng lực giải quyết vấn đề
a) Phân tích được tình huống trong học tập, trong cuộc sống; phát hiện và nêu đượctình huống có vấn đề trong học tập, trong cuộc sống
b) Thu thập và làm rõ các thông tin có liên quan đến vấn đề; đề xuất và phân tíchđược một số giải pháp giải quyết vấn đề; lựa chọn được giải pháp phù hợp nhất c) Thực hiện và đánh giá giải pháp giải quyết vấn đề; suy ngẫm về cách thức vàtiến trình giải quyết vấn đề để điều chỉnh và vận dụng trong bối cảnh mới
1.3.3 Năng lực sáng tạo
a) Đặt câu hỏi có giá trị để làm rõ các tình huống và những ý tưởng trừu tượng; xácđịnh và làm rõ thông tin, ý tưởng mới và phức tạp từ các nguồn thông tin khácnhau; phân tích các nguồn thông tin độc lập để thấy được khuynh hướng và độ tincậy của ý tưởng mới
b) Xem xét sự vật với những góc nhìn khác nhau; hình thành và kết nối các ýtưởng; nghiên cứu để thay đổi giải pháp trước sự thay đổi của bối cảnh; đánh giárủi ro và có dự phòng
c) Lập luận về quá trình suy nghĩ, nhận ra yếu tố sáng tạo trong các quan điểm tráichiều; phát hiện được các điểm hạn chế trong quan điểm của mình; áp dụng điều
đã biết trong hoàn cảnh mới
d) Say mê; nêu được nhiều ý tưởng mới trong học tập và cuộc sống; không sợ sai;suy nghĩ không theo lối mòn; tạo ra yếu tố mới dựa trên những ý tưởng khác nhau
Trang 151.3.4 Năng lực tự quản lý
a) Đánh giá được ảnh hưởng của các yếu tố tác động đến hành động, việc làm củamình, trong học tập và trong cuộc sống hàng ngày; làm chủ được cảm xúc của bảnthân trong học tập và cuộc sống
b) Bước đầu biết làm việc độc lập theo thời gian biểu; nhận ra được những tìnhhuống an toàn hay không an toàn trong học tập và trong cuộc sống hàng ngày c) Nhận ra và tự điều chỉnh được một số hạn chế của bản thân trong học tập, laođộng và sinh hoạt, ở nhà, ở trường
d) Diễn tả được một số biểu hiện bất thường trong cơ thể; thực hiện được một sốhành động vệ sinh và chăm sóc sức khoẻ bản thân; nhận ra được và không tiếp cậnvới những yếu tố ảnh hưởng xấu tới sức khoẻ, tinh thần trong trong gia đình và ởtrường
1.3.5 Năng lực giao tiếp
a) Xác định được mục đích giao tiếp phù hợp với đối tượng, bối cảnh giao tiếp; dựkiến được thuận lợi, khó khăn để đạt được mục đích trong giao tiếp
b) Chủ động trong giao tiếp; tôn trọng, lắng nghe có phản ứng tích cực trong giaotiếp
c) Lựa chọn nội dung, ngôn ngữ phù hợp với ngữ cảnh và đối tượng giao tiếp; biếtkiềm chế; tự tin khi nói trước đông người
1.3.6 Năng lực hợp tác
a) Chủ động đề xuất mục đích hợp tác để giải quyết một vấn đề do bản thân vànhững người khác đề xuất; lựa chọn hình thức làm việc nhóm với quy mô phù hợpvới yêu cầu và nhiệm vụ
b) Tự nhận trách nhiệm và vai trò của mình trong hoạt động chung của nhóm; phântích được các công việc cần thực hiện để hoàn thành nhiệm vụ đáp ứng được mục
Trang 16đích chung, đánh giá khả năng của mình có thể đóng góp thúc đẩy hoạt động củanhóm.
c) Phân tích được khả năng của từng thành viên để tham gia đề xuất phương ánphân công công việc; dự kiến phương án phân công, tổ chức hoạt động hợp tác.d) Theo dõi tiến độ hoàn thành công việc của từng thành viên và cả nhóm để điềuhoà hoạt động phối hợp; khiêm tốn tiếp thu sự góp ý và nhiệt tình chia sẻ, hỗ trợcác thành viên khác
e) Căn cứ vào mục đích hoạt động của nhóm để tổng kết kết quả đạt được; đánhgiá mức độ đạt mục đích của cá nhân và của nhóm và rút kinh nghiệm cho bản thân
và góp ý cho từng người trong nhóm
1.3.7 Năng lực sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông
a) Lựa chọn và sử dụng hiệu quả các thiết bị ICT để hoàn thành nhiệm cụ thể; hiểuđược các thành phần của hệ thống mạng để kết nối, điều khiển và khai thác cácdịch vụ trên mạng; tổ chức và lưu trữ dữ liệu an toàn và bảo mật trên các bộ nhớkhác nhau và với những định dạng khác nhau
b) Xác định được thông tin cần thiết và xây dựng được tiêu chí lựa chọn; sử dụng
kỹ thuật để tìm kiếm, tổ chức, lưu trữ để hỗ trợ nghiên cứu kiến thức mới; đánh giáđược độ tin cậy của các thông tin, dữ liệu đã tìm được; xử lý thông tin hỗ trợ giảiquyết vấn đề; sử dụng ICT để hỗ trợ quá trình tư duy, hình thành ý tưởng mới cũngnhư lập kế hoạch giải quyết vấn đề; sử dụng công cụ ICT để chia sẻ, trao đổi thôngtin và hợp tác với người khác một cách an toàn, hiệu quả
Trang 17đúng các dạng văn bản với cấu trúc hợp lý, lôgíc, thuật ngữ đa dạng, đúng chính tả,đúng cấu trúc câu, rõ ý
b) Sử dụng hợp lý từ vựng và mẫu câu trong hai lĩnh vực khẩu ngữ và bút ngữ; có
từ vựng dùng cho các kỹ năng đối thoại và độc thoại; phát triển kĩ năng phân tíchcủa mình; làm quen với các cấu trúc ngôn ngữ khác nhau thông qua các cụm từ cónghĩa trong các bối cảnh tự nhiên trên cơ sở hệ thống ngữ pháp
c) Đạt năng lực bậc 3 về 1 ngoại ngữ
1.3.9 Năng lực tính toán
a) Vận dụng thành thạo các phép tính trong học tập và cuộc sống; sử dụng hiệuquả các kiến thức, kĩ năng về đo lường, ước tính trong các tình huống ở nhà trườngcũng như trong cuộc sống
b) Sử dụng hiệu quả các thuật ngữ, kí hiệu toán học, tính chất các số và tính chấtcủa các hình trong hình học; sử dụng được thống kê toán để giải quyết vấn đề nảysinh trong bối cảnh thực; hình dung và vẽ được hình dạng các đối tượng trong môitrường xung quanh, hiểu tính chất cơ bản của chúng
c) Mô hình hoá toán học được một số vấn đề thường gặp; vận dụng được các bàitoán tối ưu trong học tập và trong cuộc sống; sử dụng được một số yếu tố của lôgichình thức trong học tập và trong cuộc sống
d) Sử dụng hiệu quả máy tính cầm tay với chức năng tính toán tương đối phức tạp;
sử dụng được một số phần mềm tính toán và thống kê trong học tập và trong cuộcsống…
1.4 Phát triển năng lực học sinh trong môn Hóa học
1.4.1 Năng lực sử dụng ngôn ngữ hóa học
Năng lực sử dụng biểu tượng hóa học
Trang 18a) Nghe và hiểu được nội dung các thuật ngữ hóa học, danh pháp hóa học và cácbiểu tượng hóa học (Kí hiệu, hình vẽ, mô hình cấu trúc phân tử các chất, liên kếthóa học…)
b) Viết và biểu diễn đúng công thức hóa học của các hợp chất vô cơ và hữu cơ, cácdạng công thức (CTPT, CT CT, CT lập thể…), đồng đẳng, đồng phân…
c) Hiểu và rút ra được các quy tắc đọc tên và đọc đúng tên theo các danh phápkhác nhau đối với các hợp chất hữu cơ
d) Trình bày được các thuật ngữ hóa học, danh pháp hóa học và hiểu được ý nghĩacủa chúng
e) Vận dụng ngôn ngữ hóa học trong các tình huống mới
1.4.2 Năng lực thực hành hóa học bao gồm:
- Hiểu và thực hiện đúng nội quy, quy tắc an toàn PTN
- Nhận dạng và lựa chọn được dụng cụ và hóa chất để làm TN
- Hiểu được tác dụng và cấu tạo của các dụng cụ và hóa chất cần thiết để làm TN
- Lựa chọn các dụng cụ và hóa chất cần thiết chuẩn bị cho các TN
- Lắp các bộ dụng cụ cần thiết cho từng TN, hiểu được tác dụng của từng bộ phận,biết phân tích sự đúng sai trong cách lắp
- Tiến hành độc lập một số TN hóa học đơn giản
- Tiến hành có sự hỗ trợ của giáo viên một số thí nghiệm hóa học phức tạp
- Biết cách quan sát, nhận ra được các hiện tượng TN Mô tả chính xác các hiệntượng thí nghiệm Giải thích một cách khoa học các hiện tượng thí nghiệm đã xảy
ra, viết được các PTHH và rút ra những kết luận cần thiết
1.4.3 Năng lực tính toán
Trang 19a) Vận dụng được thành thạo phương pháp bảo toàn ( bảo toàn khối lượng, bảotoàn điện tích, bảo toàn electron trong việc tính toán giải các bài toán hóa học b) Xác định mối tương quan giữa các chất hóa học tham gia vào phản ứng với cácthuật toán để giải được với các dạng bài toán hóa học đơn giản.
c) Sử dụng được thành thạo phương pháp đại số trong toán học và mối liên hệ vớicác kiến thức hóa học để giải các bài toán hóa học
d) Sử dụng hiệu quả các thuật toán để biện luận và tính toán các dạng bài toán hóahọc và áp dụng trong các tình huống thực tiễn
1.4.4 Năng lực giải quyết vấn đề thông qua môn hóa học
a) Phân tích được tình huống trong học tập, trong cuộc sống; phát hiện và nêuđược tình huống có vấn đề trong học tập, trong cuộc sống
b) Thu thập và làm rõ các thông tin có liên quan đến vấn đề phát hiện trong cácchủ đề hóa học
c) Đề xuất được giả thuyết khoa học khác nhau
- Lập được kế hoạch để giải quyết vấn đề đặt ra trên cơ sở biết kết hợp các thaotác tư duy và các PP phán đoán, tự phân tích, tự giải quyết đúng với những vấn đềmới
- Thực hiện kế hoạch độc lập sáng tạo hoặc hợp tác trong nhóm
d) Thực hiện và đánh giá giải pháp giải quyết vấn đề; suy ngẫm về cách thức vàtiến trình giải quyết vấn đề để điều chỉnh và vận dụng trong tình huống mới
1.4.5 Năng lực vận dụng kiến thức hoá học vào cuộc sống
a) Có năng lực hệ thống hóa kiến thức, phân loại kiến thức hóa học, hiểu rõ đặcđiểm, nội dung, thuộc tính của loại kiến thức hóa học đó Khi vận dụng kiến thứcchính là việc lựa chọn kiến thức một cách phù hợp với mỗi hiện tượng, tình huống
cụ thể xảy ra trong cuộc sống, tự nhiên và xã hội
Trang 20b) Định hướng được các kiến thức hóa học một cách tổng hợp và khi vận dụngkiến thức hóa học có ý thức rõ ràng về loại kiến thức hóa học đó được ứng dụngtrong các lĩnh vực gì, ngành nghề gì, trong cuộc sống, tự nhiên và xã hội.
c) Phát hiện và hiểu rõ được các ứng dụng của hóa học trong các vấn đề thựcphẩm, sinh hoạt, y học, sức khỏe, KH thường thức, sản xuất công nghiệp, nôngnghiệp và môi trường
d) Tìm mối liên hệ và giải thích được các hiện tượng trong tự nhiên và các ứngdụng của hóa học trong cuộc sống và trong các lĩnh vực đã nêu trên dựa vào cáckiến thức hóa học và các kiến thức liên môn khác
e) Chủ động sáng tạo lựa chọn phương pháp, cách thức giải quyết vấn đề Có nănglực hiểu biết và tham gia thảo luận về các vấn đề hóa học liên quan đến cuộc sốngthực tiễn và bước đầu biết tham gia NCKH để giải quyết các vấn đề đó
Những năng lực này thực sự cần thiết và bổ ích đối với học sinh không chỉtrong việc học bộ môn hóa học mà còn cả trong đời sống Vậy cần dạy học sinhnhư thế nào để phát huy được những năng lực đó chính là điều mà người viết muốnhướng tới
2 Phương pháp dạy học theo hướng phát triển năng lực trong môn hóa học 2.1 Quan điểm, tư tưởng cơ bản dạy học trong các bài lên lớp (tiết học) môn hóa học theo định hướng phát triển năng lực
Quan điểm dạy học theo định hướng phát triển năng lực - đó là đặt ngườihọc vào vị trí trung tâm của quá trình dạy học, xem cá nhân người học, với nhữngphẩm chất và năng lực riêng của mỗi người, vừa là chủ thể vừa là mục đích cuốicùng của quá trình đó, phấn đấu cá thể hóa quá trình học tập, để cho tiềm năng củamỗi cá nhân được phát triển tối ưu
Điều đó có nghĩa là trong quá trình dạy học hóa học phải để cho học sinh tựgiác, tích cực, tự lực lĩnh hội kiến thức, kĩ xảo dưới sự chỉ đạo của giáo viên vàtrên cơ sở đó phát triển những năng lực nhận thức và hình thành thế giới quan khoa
Trang 21học Như vậy, thông qua các bài lên lớp về hóa học, các em được phát triển nănglực nhận thức, rèn luyện óc thông minh, trí sáng tạo, hứng thú học tập môn hóahọc…Nói cách khác, trong các tiết học hóa học thể hiện ba nhiệm vụ cơ bản củaquá trình dạy học (trí dục – phát triển – giáo dục).
2.2 Xác định các phương pháp, kỹ thuật dạy học để phát triển năng lực học sinh trong giờ dạy hóa học
Các phương pháp dạy học tích cực nói chung như phương pháp dạy họcđàm thoại phát hiện, PPDH phát hiện và giải quyết vấn đề, PPDH theo hợpđồng , theo góc, dạy học tích hợp, dạy học hợp tác theo nhóm …đều là nhữngPPDH góp phần hướng tới hình thành và phát triển những năng lực chung cốtlõi và chuyên biệt cho HS, dưới đây trình bày một số PPDH đặc trưng cho mônhóa học :
a) Sử dụng thí nghiệm và các phương tiện trực quan khác trong dạy học hoá học.
Sử dụng phương tiện trực quan trong dạy học là một trong những cáchtích cực hóa hoạt động dạy và học Trong đó TN là một trong các phương tiệntrực quan quan trọng với môn hóa học (môn khoa học thực nghiệm) Tuy nhiên,cần sử dụng thí nghiệm như thế nào cho phù hợp trong từng tiết học để nâng caohiệu quả
a.1) Sử dụng thí nghiệm trong dạy học hóa học
a.1.1 Các phương pháp sử dụng TN khi nghiên cứu bài mới
*) Tiến trình dạy học khi sử dụng thí nghiệm
GV có thể sử dụng TN trong các bài nghiên cứu tài liệu mới theo 3 cách:
+) Phương pháp nghiên cứu: Tiến trình dạy học:
- Nêu vấn đề nghiên cứu
- Nêu các giả thuyết, đề xuất cách giải quyết (làm TN)
- Tiến hành TN (hoặc xem video TN, TN mô phỏng, TN ảo, tranh vẽ mô tả TN)
Trang 22- Phân tích và giải thích hiện tượng từ đó xác nhận giả thuyết đúng
- Kết luận và vận dụng
+) Phương pháp đặt và giải quyết vấn đề: Tiến trình dạy học:
- Nêu vấn đề
- Tạo mâu thuẫn nhận thức (có thể bằng TN)
- Đề xuất hướng giải quyết, thực hiện kế hoạch giải quyết (có thể bằng TN)
- Phân tích để rút ra kết luận
- Vận dụng
+ ) Phương pháp kiểm chứng: Tiến trình dạy học
- Nêu vấn đề nghiên cứu
- Cho HS dự đoán kiến thức mới, hiện tượng TN
- Làm TN, nêu hiện tượng, so sánh với dự đoán ban đầu từ đó xác định dự đoán có đúng không
- Kết luận
- Vận dụng
*) Phân tích cách lựa chọn phương pháp sử dụng TN
- Với phương pháp nghiên cứu cần đưa ra được các giả thuyết Nghĩa là
kiến thức cần lĩnh hội đối với HS là kiến thức mới, HS chưa được học líthuyết chung về chúng để có thể suy diễn, dự đoán được Tuy nhiên từ nhữngkiến thức cơ sở có thể đưa ra các giả thuyết khác nhau, với HS khả năng xảy racác giả thuyết đó ngang nhau không thể lập luận loại trừ được; HS sẽ quan sát(hoặc tiến hành TN), phân tích các hiện tượng từ đó xác nhận được giả thuyếtđúng
- Với phương pháp đặt và giải quyết vấn đề cần tạo được mâu thuẫn nhận
thức Nghĩa là GV phải tạo ra được mâu thuẫn nhận thức giữa kiến thức đã cócủa học HS với kiến thức cần lĩnh hội bằng TN và cũng thông qua TN mà phântích các hiện tượng từ đó rút ra kiến thức mới, giải quyết mâu thuẫn nhận thức lúc
Trang 23- Với phương pháp kiểm chứng HS cần dự đoán được hiện tượng TN trên cơ
sở những kiến thức đã có Thường kiến thức cần lĩnh hội là sự vận dụng có líthuyết chung vào các trường hợp cụ thể (những trường hợp theo đúng lí thuyếtchung, không đặc biệt) hoặc các tính chất của chất mới tương tự chất đã học
*) Các bước lựa chọn phương pháp sử dụng TN
Bước 1: Xác định mục tiêu dạy học và nội dung TN được sử dụng
Bước 2: Xác định được các kiến thức, kĩ năng liên quan mà HS đã có.
Bước 3: Lựa chọn phương pháp sử dụng TN phù hợp
a.1.2 Sử dụng thí nghiệm hóa học trong bài luyện tập, ôn tập
Sử dụng thí nghiệm biểu diễn trong giờ luyện tập, ôn tập không phải lặp lạithí nghiệm đã biểu diễn mà có thể dùng các thí nghiệm mới, có những dấuhiệu chung của thí nghiệm đã làm nhưng có những dấu hiệu của kiến thức mớinhằm chỉnh lí, củng cố, khắc sâu kiến thức, tránh sự khái quát hóa, suy diễn thiếuchính xác ở học sinh
a.1.3 Sử dụng TN trong giờ thực hành
Thí nghiệm thực hành là hình thức thí nghiệm do học sinh tự làm khi hoànthiện kiến thức nhằm minh họa, ôn tập, củng cố, vận dụng kiến thức đã học vàrèn luyện kỹ năng, kĩ xảo hóa học Đây là dạng thí nghiệm mà học sinh tập triểnkhai nghiên cứu các quá trình hóa học như: nghiên cứu tính chất các chất, điềuchế các chất, nhận biết các chất, giải bài tập thực nghiệm Đây là phương pháphọc tập đặc thù của hóa học có tác dụng giáo dục, rèn luyện học sinh một cáchtoàn diện và có ý nghĩa to lớn trong việc thực hiện nhiệm vụ trí dục, đức dục,phát triển học sinh
a.2) Sử dụng các phương tiện dạy học khác như tranh ảnh sơ đồ, biểu
bảng, trong dạy học hóa học
Các bài dạy hóa học có sử dụng phương tiện dạy học đều được coi là giờ họctích cực nhưng nếu giáo viên dùng phương tiện dạy học là nguồn kiến thức để
Trang 24học sinh tìm kiếm, phát hiện, kiến tạo kiến thức mới sẽ là các giờ học cótính tích cực cao hơn nhiều Hoạt động của giáo viên bao gồm:
- Nêu mục đích và phương pháp quan sát phương tiện trực quan
- Trưng bày phương tiện trực quan và nêu yêu cầu quan sát
- Nêu yêu cầu nhận xét, kết luận và giải
thích Hoạt động tương ứng của học sinh
gồm:
- Nắm được mục đích nghiên cứu qua phương tiện trực quan
- Quan sát phương tiện trực quan, tìm ra những kiến thức cần tiếp thu
- Rút ra nhận xét, kết luận về những kiến thức cần lĩnh hội qua các phươngtiện trực quan đó
b) Tăng cường xây dựng và sử dụng bài tập hóa học theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh
• Sử dụng bài tập thực nghiệm trong dạy học để rèn các kiến thức kĩ năngTHTN góp phần phát triển năng lực thực hành hóa học cho HS
• Tăng cường các dạng bài tập có sử dụng sơ đồ, hình vẽ
• Sử dụng bài tập hóa học xây dựng tình huống có vấn đề, dạy học sinh giải quyết vấn đề, tổ chức cho học sinh tìm tòi, giải quyết vấn đề
• Tăng cường xây dựng và sử dụng các bài tập giải quyết vấn đề, các bài tậpgắn với bối cảnh, tình huống thực tiễn góp phần phát triển năng lực GQVĐ ,năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn, năng lực xử lý thông tin
II Phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh qua bài dạy Axit sunfuric – Muối sunfat
1 Những năng lực cần phát triển cho học sinh qua việc dạy bài Axit sunfuric – Muối sunfat
1.1 Năng lực sử dụng ngôn ngữ hóa học
Trang 25Qua bài học “Axit sunfuric – Muối sunfat”, học sinh sẽ nghe và hiểu được
nội dung các thuật ngữ hóa học, danh pháp hóa học và các biểu tượng hóa họcnhư “axit sunfuric”, “muối sunfat”, hay công thức phân tử, công thức cấu tạo củaaxit sunfuric – muối sunfat, hay các phương trình hóa học của axit sunfuric – muốisunfat
Học sinh có thể viết được công thức phân tử, công thức cấu tạo của axitsunfuric, viết được công thức phân tử của các muối sunfat
Ngoài ra, các em có thể trình bày được các thuật ngữ hóa học, danh pháphóa học, đọc và hiểu được ý nghĩa của chúng, có thể vận dụng ngôn ngữ hóa họctrong các tình huống mới… như các em có thể nêu được các hiện tượng thínghiệm, trình bày cách giải thích từ đó rút ra kết luận (ví dụ phần nghiên cứu tínhchất đặc biệt của axit sunfuric đặc…); hay sử dụng các phương trình hóa học củaaxit sunfuric – muối sunfat trong bài tập…
1.2 Năng lực thực hành hóa học
Khi nghiên cứu tính chất vật lý của axit sunfuric, học sinh nhờ sự quan sát
lọ đựng axit sunfuric (có thể kết hợp lời nói GV hướng dẫn các em quan sát), từ đócác em rút ra tính chất vật lý của nó Hay qua quan sát biểu diễn cách pha loãngaxit sunfuric đặc của GV hoặc hình ảnh thí nghiệm, học sinh có thể mô tả và rút rakết luận cách pha loãng axit sunfuric
Nghiên cứu tính oxi hóa của axit sunfuric đặc, học sinh quan sát thí nghiệmaxit sunfuric đặc tác dụng với đồng, các em nhận ra được hiện tượng và mô tả
chính xác hiện tượng (tạo dung dịch màu xanh, có khí thoát ra làm mất màu dd
KMnO 4), từ đó các em rút ra kết luận axit sunfuric đặc tác dụng được với đồng và
có thể viết được phương trình phản ứng (từ hiện tượng thí nghiệm suy ra các sản
phẩm tạo thành: dd màu xanh dd CuSO 4 , khí thoát ra mùi xốc, làm mất màu dung dịch KMnO 4 khí SO 2)
Khi học sinh quan sát thí nghiệm axit sunfuric đặc với đường saccarozơ(nghiên cứu tính háo nước của axit sunfuric đặc ), học sinh có thể mô tả thí nghiệm
Trang 26(đường từ màu trắng chuyển thành đen, dâng lên và bị tràn ra khỏi cốc) Qua hiện tượng, học sinh có thể xử lý thông tin, giải thích và rút ra kết luận: sản phẩm có
đặc hút nước biến đường thành cacbon Hiện tượng có sủi bọt, cacbon trào ra ngoài cốc có khí bay lên nên làm sủi bọt điều đó chứng tỏ một phần cacbon tác dụng với axit sunfuric đặc tạo ra khí CO 2 , và khí SO 2
Khi tìm hiểu cách nhận biết ion sunfat (SO42-), học sinh qua quan sát thí
nghiệm ( Nhỏ từ từ dung dịch BaCl 2 lần lượt vào 2 ống nghiệm đựng dung dịch
Na 2 SO 4 và dung dịch H 2 SO 4 loãng ), học sinh có thể mô tả thí nghiệm quan sát
được thấy xuất hiện kết tủa trắng kết tủa BaSO 4, học sinh có thể viết PTPƯ, và
rút ra được kết luận: muốn nhận biết ion sunfat (SO 4 2- ), dùng thuốc thử dung dịch chứa ion Ba 2+ như BaCl 2 …, hiện tượng xuất hiện kết tủa trắng không tan trong axit mạnh.
……
Thí nghiệm hóa học giúp hình thành cho học sinh kĩ năng tư duy thí nghiệm, kĩ
năng quan sát, và kĩ năng dùng lí thuyết để đi sâu giải thích bản chất của hiệntượng quan sát được
1.3 Năng lực giải quyết vấn đề
Học sinh có thể phát hiện và giải quyết được các tình huống có vấn đề xảy ra
trong học tập như: qua thí nghiệm , học sinh thấy axit sunfuric đặc có thể tác dụng
được với đồng (kim loại đứng sau Hiđro), khí tạo ra không phải là H 2 mà là SO 2
(mẫu thuẫn với kiến thức đã được học là axit chỉ tác dụng với kim loại đứng trước
H trong dãy hoạt động hóa học và giải phóng khí H2) Trong đầu các em sẽ đặt ra
vấn đề là nguyên nhân sự không phù hợp với điều đã biết về tác dụng của axit với
kim loại là ở đâu? Axit sunfuric đặc nóng còn có những tính chất của axit không hay có thêm những tính chất gì mới? Từ đó các em từng bước giải quyết vấn đề
(dưới sự hướng dẫn của GV) rồi đưa ra kết luận : qua quan sát thí nghiệm học sinh
có thể viết được phương trình phản ứng :
Cu 0 + 2H2SO4 đặc (( 2
Cu SO 4 + SO2+ 2H 2 O
Trang 27Ch.khử ch.oxi hóa (dd màu xanh) (khí mùi xốc,làm mất màu dd thuốc tím)
Học sinh suy ra tính chất H 2 SO 4 đặc là chất oxi hóa mạnh (do tác nhân oxi hóa
Cùng với sự hướng dẫn giáo viên, kết hợp các thao tác tư duy, PP phán đoán, phân tích, học sinh có thể tìm hướng giải quyết vấn đề, rồi đưa ra kết luận:
Công thức phân tử đường saccarozơ C 12 H 22 O 11 (có 22 nguyên tử H, và 11 nguyên
tử O xem như có 11 phân tử H 2 O), khi cho H 2 SO 4 đặc vào thì H 2 SO 4 đặc sẽ lấy phần
H và O của phân tử đường saccarozơ để tách ra 11 phân tử H 2 O đồng thời tạo ra
12 nguyên tử C (có màu đen) hiện tượng đường hóa đen.
Cacbon được tạo thành thì một phần C tác dụng với H 2 SO 4 đặc tạo ra hai khí SO 2 và
CO 2 , hai khí này đẩy khối cacbon trồi lên trên.
Từ đó các em rút ra kết luận: H 2 SO 4 đặc có thể lấy nước trong hợp chất gluxit (hay các hợp chất hữu cơ)… H 2 SO 4 đặc hấp thụ mạnh nước.
Học sinh có thể giải quyết các vấn đề xảy ra trong thực tiễn như:
Vì sao không nên đổ nước vào axit sunfuric đậm đặc mà chỉ có thể đổ axit sunfuric đậm đặc vào nước?
Khi axit sunfuric gặp nước thì lập tức sẽ có phản ứng hóa học xảy ra, đồng thời sẽ tỏa ra một nhiệt lượng lớn Axit sunfuric đặc giống như dầu và nặng hơn
Trang 28trong nước Nếu bạn cho nước vào axit, nước sẽ nổi trên bề mặt axit Khi xảy ra phản ứng hóa học, nước sôi mãnh liệt và bắn tung tóe gây nguy hiểm.
Trái lại khi bạn cho axit sunfuric vào nước thì tình hình sẽ khác: axit
sunfuric đặc nặng hơn nước, nếu cho từ từ axit vào nước, nó sẽ chìm xuống đáy nước, sau đó phân bố đều trong toàn bộ dung dịch Như vậy khi có phản ứng xảy
ra, nhiệt lượng sinh ra được phân bố đều trong dung dịch, nhiệt độ sẽ tăng từ từ không làm cho nước sôi lên một cách quá nhanh
Một chú ý thêm là khi pha loãng axit sunfuric bạn luôn luôn nhớ là “ phải đổ từ từ
” axit vào nước và không nên pha trong các bình thủy tinh Bởi vì thủy tinh sẽ dễ
vở khi tăng nhiệt độ khi pha
Tại sao cần cẩn thận khi tiếp xúc với axit sunfuric?
Axit sunfuric đặc hấp thụ nước rất mạnh nên nếu không cẩn thận để axit tiếp xúcvới da thì sẽ bị bỏng rất nặng
…
Học sinh có thể vận dụng kiến thức để giải quyết các vấn đề xảy ra trong thực tiễn
Qua bài học “Axit sunfuric – Muối sunfat”, học sinh phát triển được năng
lực giải quyết vấn đề trong học tập cũng như trong cuộc sống: giúp học sinh pháttriển khả năng phân tích, phát hiện và nêu được các tình huống xảy ra, đồng thờikhả năng giải quyết vấn đề xảy ra
1.4 Năng lực vận dụng kiến thức hóa học vào cuộc sống
Dựa vào các kiến thức đã được học, học sinh có thể tìm mối liên hệ và giảithích được các ứng dụng của hóa học trong cuộc sống, hay trong các lĩnh vực khác(công nghiệp, môi trường…) dựa vào kiến thức của bài học như biết cách pha
loãng axit sunfuric, đó là cần phải cho từ từ axit vào nước đồng thời dùng đũa thủy
tinh khuấy nhẹ mà không được làm ngược lại…Khi tiếp xúc với axit sunfuric biết
cần phải thận trọng Hay khi vận chuyển axit sunfuric đặc thì người ta thường dùngcác thùng sắt Dùng axit sunfuric đặc có thể làm khô một số khí ẩm (phải là khíkhông tác dụng được axit sunfuric đặc như CO …)
Trang 29Học sinh biết được axit sunfuric được sản xuất trong công nghiệp như thế nào
(bằng phương pháp tiếp xúc, gồm 3 công đoạn chính…), học sinh hiểu được trong công nghiệp tại sao người ta không sản xuất H2SO4 từ nguyên liệu là H2S hay tạisao lại dùng H2SO4 98% để hấp thụ SO3 mà không dùng H2O? (1 Không sản xuất
SO 2 từ nguyên liệu là H 2 S vì trong tự nhiên H 2 S không phổ biến 2 Sử dụng
H 2 SO 4đặc để hấp thụ SO 3 mà không sử dụng nước Vì khi sử dụng nước hấp thụ SO 3
sẽ tạo thành dung dịch axit sunfuric Chính dung dịch axit này sẽ ăn mòn đường
H 2 SO 4 dạng hạt li ti (sương), dạng này sẽ theo ống thải khí ra ngoài không khí Kết quả là làm ô nhiễm môi trường, gây ra các trận mưa axit và đặc biệt là thất thoát một lượng rất lớn axit sunfuric Trong khi đó, dùng H 2 SO 4 98% để hấp thụ SO 3
được oleum Khi vận chuyển oleum sẽ thuận tiện, dễ dàng và an toàn hơn so với vận chuyển dung dịch axit sunfuric Vì axit sunfuric đặc nguội làm thụ động hoá sắt kim loại)
Học sinh biết được các ứng dụng của axit sunfuric trong thực tế, là hóa chất hàngđầu được dùng trong nhiều nghành sản xuất (trong sản xuất thuốc trừ sâu, phânbón, chất giặt rửa tổng hợp, chất dẻo…)
1.5 Năng lực tính toán
Vận dụng được thành thạo phương pháp bảo toàn (bảo toàn khối lượng, bảotoàn điện tích, bảo toàn electron trong việc tính toán giải các dạng bài tập axitsunfuric
Xác định mối tương quan giữa các chất hóa học tham gia vào phản ứng với cácthuật toán để giải được với các dạng bài toán hóa học đơn giản về axit sunfuric
Sử dụng được thành thạo phương pháp đại số trong toán học và mối liên hệvới các kiến thức hóa học để giải các bài toán hóa học về axit sunfuric
2 Phương pháp dạy bài axit sunfuric - muối sunfat theo định hướng phát
triển năng lực
Trang 30Để phát huy được năng lực của người học, khi dạy bài axit sunfuric - muối
sunfat , người dạy cần vận dụng tổng hợp, phù hợp và có các phương pháp, kĩ thuật
dạy học đặc biệt là các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực Trong phạm vi sángkiến kinh nghiệm này, tôi xin trình bày những phương pháp, biện pháp cụ thể vàxem đó là những yêu cầu có tính nguyên tắc Tuy nhiên, tùy từng đối tượng họcsinh cụ thể, giáo viên cần hết sức linh hoạt trong việc lựa chọn các phương pháp,
biện pháp thích hợp trong dạy bài axit sunfuric - muối sunfat để đạt được kết quả
tốt nhất
2.1 Phương pháp phát hiện - giải quyết vấn đề
Theo phương pháp đặt và giải quyết vấn đề, GV đặt ra cho HS một bàitoán nhận thức, HS tiếp nhận mâu thuẫn nhận thức đó và biến thành mâu thuẫnnội tại của bản thân, có nhu cầu muốn giải quyết mâu thẫn đó, tạo động cơ suynghĩ, học tập Dưới sự hướng dẫn của GV, HS tham gia tích cực vào quá trìnhgiải quyết vấn đề (bằng cách trả lời các câu hỏi của GV), qua đó rút ra kiếnthức cần lĩnh hội Như vậy, HS giống như tự mình tìm ra kiến thức mới cho bảnthân, đồng thời dần hình thành kĩ năng nhận ra vấn đề và phương pháp suynghĩ, thực hiện giải quyết vấn đề, đây là một trong những kĩ năng rất quantrọng không chỉ trong học tập ở phổ thông mà trong cả quá trình học tập,trong cuộc sống cũng như trong các hoạt động nghề nghiệp sau này Quá trìnhtạo ra mâu thuẫn nhận thức cũng giúp cho HS thấy được rằng, phép suy diễnhoặc suy lí không phải luôn luôn đúng, khi nghiên cứu một đối tượng cụthể cần nghiên cứu chúng trong mối liên hệ qua lại với các thành phần khác
* ) Sử dụng thí nghiệm theo phương pháp đặt và giải quyết vấn đề khi nghiên cứu tính chất hóa học của axit H 2 SO 4 đặc
1 GV cho tái hiện kiến thức cũ có liên quan: chúng ta đã biết axit tác dụng với kim
loại (đứng trước H trong dãy hoạt động) tạo thành muối và khí H2
Vậy axit H2SO4 đặc nóng với kim loại đồng (Cu đứng sau H trong dãy hoạt động) hay không?
Trang 312 Làm xuất hiện mâu thuẫn: GV làm thí nghiệm biểu diễn về tác dụng của axit
sunfuric đặc nóng với Cu
HS quan sát rút ra nhận xét : có phản ứng hóa học xảy ra Khí tạo ra không phải là
H2 mà là SO2
3 Phát biểu vấn đề: H2SO4 đặc nóng có tác dụng cả với kim loại Cu nhưng khí tạo
ra không phải là H2 mà là SO2 Nguyên nhân sự không phù hợp với điều đã biết về tác dụng của axit với kim loại là ở đâu? Axit sunfuric đặc nóng còn có những tính chất của axit không hay có thêm những tính chất gì mới?
Giải quyết vấn đề: Học sinh từng bước giải quyết vấn đề dựa vào các câu hỏi gợi ý
của giáo viên (- Dự đoán sản phẩm tạo thành? Viết và cân bằng PTPƯ?
- Xác định số oxi hoá của S trong các phản ứng đó? Vai trò của axit sunfuric?
- Rút ra kết luận về tính chất hoá học của dung dịch axit sunfuric đặc nóng? )
Từ hiện tượng thí nghiệm, học sinh có thể suy ra sản phẩm tạo thành: khí không màu, mùi xốc, làm mất màu dd thuốc tím khí SO2 Dung dịch màu xanh là màu của dung dịch CuSO4 Từ đó học sinh viết PTPƯ:
*) Tạo ra tình huống có vấn đề (tình huống vận dụng) khi dạy về tính chất vật
lý của axit sunfuric
Vì sao không nên đổ nước vào axit sunfuric đậm đặc mà chỉ có thể đổ axit
sunfuric đậm đặc vào nước?
Khi axit sunfuric gặp nước thì lập tức sẽ có phản ứng hóa học xảy ra, đồng thời sẽ tỏa ra một nhiệt lượng lớn Axit sunfuric đặc giống như dầu và nặng hơn trong nước Nếu bạn cho nước vào axit, nước sẽ nổi trên bề mặt axit Khi xảy ra phản ứng hóa học, nước sôi mãnh liệt và bắn tung tóe gây nguy hiểm
Trái lại khi bạn cho axit sunfuric vào nước thì tình hình sẽ khác: axit
sunfuric đặc nặng hơn nước, nếu cho từ từ axit vào nước, nó sẽ chìm xuống đáy
Trang 32nước, sau đó phân bố đều trong toàn bộ dung dịch Như vậy khi có phản ứng xảy
ra, nhiệt lượng sinh ra được phân bố đều trong dung dịch, nhiệt độ sẽ tăng từ từ không làm cho nước sôi lên một cách quá nhanh
Một chú ý thêm là khi pha loãng axit sunfuric bạn luôn luôn nhớ là “ phải đổ
từ từ ” axit vào nước và không nên pha trong các bình thủy tinh Bởi vì thủy tinh sẽ
dễ vở khi tăng nhiệt độ khi pha
2.2 Phương pháp nghiên cứu
Theo phương pháp nghiên cứu thì TN hóa học được dùng là nguồn kiến thức
để HS nghiên cứu tìm tòi, là phương tiện xác định tính đúng đắn của các giảthuyết khoa học đưa ra Sử dụng TN theo phương pháp này không những dạy
HS cách tư duy độc lập, sáng tạo và có kĩ năng nghiên cứu tìm tòi mà còn giúp
HS nắm kiến thức vững chắc, sâu sắc và phong phú cả về lí thuyết lẫn thực tế
*) Tiến hành sự nghiên cứu tính chất vật lý của axit sunfuric
Khi dạy phần tính chất vật lý của axit sunfuric, GV có thể dùng thí nghiệm vàkết hợp lời nói hướng dẫn học sinh quan sát, học sinh nhờ sự quan sát rút ra đượckiến thức về những tính chất có thể tri giác trực tiếp được của đối tượng quan sát
GV giới thiệu cho học sinh một bình đựng axit sunfuric, yêu cầu học sinh
quan sát và từ đó cho biết một số tính chất vật lý của axit sunfuric?.
HS có thể rút ra một số tính chất vật lý qua quan sát: là chất lỏng sánh như dầu,không màu, không bay hơi
GV: Bây giờ chúng ta xem axit sunfuric tan trong nước thế nào? Các em chú ý kĩ
cách pha hòa axit sunfuric vào nước?
GV làm thí nghiệm pha hòa axit sunfuric vào nước
Hỏi:
+ Nhận xét độ tan của axit sunfuric trong nước?
+ Nhận xét nhiệt độ của ống nghiệm; từ đó rút ra kết luận phản ứng trên là phản ứng tỏa nhiệt hay thu nhiệt?