1. Trang chủ
  2. » Tất cả

HK Tố tụng dân sự

10 5 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 32,15 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hoạt động chứng minh có đươc thực hiện tốt trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự hay không phụ thuộc một phần rất lớn vào việc cung cấp chứng cứ của các đương sự, cá nhân, tổ chức nắ

Trang 1

MỤC LỤC

A ĐẶT VẤN ĐỀ 2

B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 2

I Quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về chứng cứ trong tố tụng dân sự2

1 Quy định về định nghĩa chứng cứ và nguồn chứng cứ 2

2 Quy định về thu thập chứng cứ 3

3 Quy định về đánh giá và sử dụng chứng cứ 3

II Thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về chứng

cứ trong tố tụng dân sự và kiến nghị 4

1 Thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về chứng cứ trong Tố tụng dân sự 4

2 Một số kiến nghị hoàn thiện các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành

về chứng cứ trong Tố tụng dân sự 7

C KẾT THÚC VẤN ĐỀ 9

D DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 10

Trang 2

A ĐẶT VẤN ĐỀ

Chứng minh là hoạt động tố tụng cơ bản được thực hiện suốt trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự kể từ khi Tòa án thụ lý vụ việc dân sự cho đến khi được Tòa án ra phán quyết giải quyết vụ việc dân sự Hoạt động chứng minh có đươc thực hiện tốt trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự hay không phụ thuộc một phần rất lớn vào việc cung cấp chứng cứ của các đương sự, cá nhân, tổ chức nắm giữ chứng cứ cũng như sự đánh giá chứng cứ của Thẩm phán phụ trách việc giải quyết vụ việc dân sự, do đó việc cung cấp chứng cứ trong Tố tụng dân sự (TTDS) là hoạt động tố tụng có vai trò lớn trong việc giải quyết vụ việc dân sự Với mong muốn được góp phần hoàn thiện pháp luật về TTDS Việt

Nam và nâng cao hiệu quả thi hành trên thực tiễn, sinh viên xin chọn đề tài số 04: “Chứng

cứ trong tố tụng dân sư” để nghiên cứu trong bài học kỳ này.

B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

I Quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về chứng cứ trong tố tụng dân sự

1 Quy định về định nghĩa chứng cứ và nguồn chứng cứ

Theo quy định tại Điều 81 BLTTDS chứng cứ được định nghĩa như sau: “Chứng cứ

trong vụ việc dân sự là những gì có thật được đương sự và cá nhân, cơ quan, tổ chức khác giao nộp cho Tòa án hoặc do Tòa án thu thập được theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định mà Tòa án dùng làm căn cứ để xác định yêu cầu hay sự phản đối của đương sự là

có căn cứ và hợp pháp hay không cũng như những tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ việc dân sự.”

Chứng cứ có thể là những tin tức, dấu vết liên quan đến các tình tiết, sự kiện của vụ

án dân sự được Tòa án sử dụng làm căn cứ để giải quyết các vụ việc dân sự Song để mọi người có thể nhận thức được thì chúng phải được ghi lại, phản ánh lại dưới những hình thức cụ thể như bản hợp đồng, bản di chúc, băng ghi hình… Để giải quyết được vụ viêc dân sự, Tòa án phải căn cứ vào những “tin tức”, “dấu vết” về các tình tiết, sự kiện của vụ việc dân sự được phản ánh trong các phương tiện đó nên nó mới là chứng cứ Như vậy, tại điều 81BLTTDS định nghĩa về chứng cứa đã đặt cơ sở quan trọng trong việc xây dựng và

hoàn thiện lý luận chứng cứ Tuy nhiên, “chứng cứ trong vụ việc dân sự là những gì có

thật” chưa phản ánh đúng bản chất của chứng cứ nên chăng luật cần quy định rõ hơn, cụ

thể hơn về khái niệm chứng cứ để có thể phản ánh một cách đầy đủ nhất bản chất của chứng cứ và tránh được những sai lầm khi áp dụng

Theo Điều 82 BLTTDS thì nguồn của chứng cứ bao gồm: “Các tài liệu đọc được,

nghe được, nhìn được; Các vật chứng; Lời khai của đương sự; Lời khai của người làm

Trang 3

chứng; Kết luận giám định; Biên bản ghi kết quả thẩm định tại chỗ; Tập quán; Kết quả định giá tài sản, thẩm định giá tài sản; Các nguồn khác mà pháp luật có quy định.” Tòa án

chỉ thu thập chứng cứ qua các nguồn chứng cứ do pháp luật quy định Bất kỳ loại chứng cứ nào cũng nằm trong một loại nguồn chứng cứ nhất định Ví dụ, bản di chúc do đương sự cung cấp cho Tòa án là nguồn nhưng bản di chúc đó làm giả, gian dối thì không được coi là nguồn chứng cứ Theo Điều 82 BLTTDS và Mục II Nghị quyết số 04/2005 hướng dẫn thi hành một số quy định của BLTTDS về chứng minh và chứng cứ có các nguồn chứng cứ cụ thể như sau: Các tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được; Các vật chứng; Lời khai của đương sự; Lời khai của người làm chứng; Kết quả giám định; Biên bản ghi kết quả thẩm định tại chỗ; Tập quán; Kết quả định giá tài sản;

2 Quy định về thu thập chứng cứ

Thu thập chứng cứ là việc phát hiện tìm ra các chứng cứ, tập hợp đưa vào hồ sơ vụ việc để nghiên cứu, đánh giá và sử dụng để giải quyết vụ việc dân sự Việc thu thập chứng

cứ có ý nghĩa quan trọng đối với cả việc chứng minh của đương sự và việc giải quyết vụ việc dân sự của Tòa án Bởi, đương sự chỉ có thể chứng minh được quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi có chứng cứ, Tòa án chỉ có thể giải quyết đúng được vụ việc dân sự khi

có đầy đủ chứng cứ đê làm rõ vấn đề của vụ việc dân sự Thu thập chứng cứ là việc phát hiện tìm ra các chứng cứ, tập hợp đưa vào hồ sơ vụ việc dân sự để nghiên cứu, đánh giá và

sử dụng giải quyết vụ việc dân sự Trong tố tụng dân sự, đương sự có nghĩa vụ chứng minh chủ yếu nên đương sự, người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương

sự phải tiến hành thu thập chứng cứ để cung cấp cho tòa án Và để đảm bảo việc giải quyết đúng, chính xác, tòa án có thề tiến hành thu thập chứng cứ trong trường hợp pháp luật có quy định

Khoản 2 Điều 85 Bộ luật tố tụng dân sự 2011 quy định: “Trong trường hợp đương

sự không thể tự mình thu thập được chứng cứ và có yêu cầu thì Thẩm phán có thể tiến hành một hoặc một số biện pháp sau đây để thu thập chứng cứ:

a, Lấy lời khai của đương sự, người làm chứng; b, Trưng cầu giám định; c, Quyết định định giá tài sản; d, Xem xét, thẩm định tại chỗ; đ, Ủy thác thu thập chứng cứ; e, Yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được hoặc hiện vật khác liên quan đến việc giải quyết vụ việc dân sự”

Nội dung bên trên đã nêu rõ điều kiện cũng như biện pháp thu thập chứng cứ mà Tòa án được tiến hành Tùy từng trường hợp cụ thể, thẩm phán có thể áp dụng một hoặc nhiều biện pháp đó để thu thập chứng cứ Trong trường hợp phải thu thập chứng cứ ở ngoài địa hạt của tòa án thì phải ủy thác thu thập chứng cứ Ủy thác thu thập chứng cứ là việc tòa án thụ lý giải quyết vụ việc dân sự giao cho tòa án khác thu thập chứng cứ Việc

ủy thác thu thập chứng cứ được thực hiện theo Điều 93 Bộ luật tố tụng dân sự:

Trang 4

3 Quy định về đánh giá và sử dụng chứng cứ

Đánh giá chứng cứ là nhận định giá trị chứng minh của chứng cứ Việc đánh giá chứng cứ được thực hiện theo quy định tại Điều 96 BLTTDS

“1 Việc đánh giá chứng cứ phải khách quan, toàn diện, đầy đủ và chính xác.

2 Tòa án phải đánh giá từng chứng cứ, sự liên quan giữa các chứng cứ và khẳng định giá trị pháp lý của từng chứng cứ.”

Đánh giá chứng cứ phải khách quan, toàn diện, đầy đủ và chính xác thì Tòa án phải đánh giá từng chứng cứ và mối liên quan giữa các chứng cứ Đối với các đương sự, người đại diện đương sự và người bảo vệ quyền và lợi ích hợpp háp của đương sự có quyền phát biểu ý kiến về đánh giá chứng cứ của mình và đề xuất hướng giải quyết vụ việc Tuy nhiên, việc đánh giá chứng cứ của các đương sự không có tính bắt buộc mà chỉ có giá trị để Tòa

án tham khảo Thông qua kết quả đánh giá chứng cứ của đương sự sẽ giúp cho Tòa án làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ việc Việc đánh giá chứng cứ chủ yếu được thực hiện tại phiên tòa và trong phòng nghị án Khi đáng giá chứng cứ phải tuân thủ những nguyên tắc sau: 1 Việc đánh giá chứng cứ phải khách quan 2 Việc đánh giá chứng cứ phải toàn diện

và đẩy đủ 3 đánh giá chứng cứ phải chính xác, 4 Đánh giá chứng cứ phải dựa trên cơ sở pháp luật Mọi chứng cứ được công bố và sử dụng công khai như nhau được quy định tại Điều 97 BLTTDS 2011

II Thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về chứng cứ trong tố tụng dân sự và kiến nghị

1 Thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về chứng cứ trong Tố tụng dân sự

Năm 2013, toàn ngành Tòa án nhân dân đã giải quyết được 364.819 vụ án các loại trong tổng số 395.415 vụ án đã thụ lý (đạt tỷ lệ 92,3%); số vụ án còn lại hầu hết là mới thụ lý

và còn trong thời hạn giải quyết theo quy định của pháp luật So với năm 2012, số vụ án đã thụ lý tăng 34.474 vụ; đã giải quyết tăng 31.951 vụ Trong năm qua, mặc dù số lượng các loại vụ án tăng gần 35.000 vụ so với cùng kỳ năm trước, tính chất các vụ án ngày càng phức tạp, phát sinh một số hành vi phạm tội và tranh chấp mới, nhưng với việc chủ động nắm bắt tình hình, đề ra nhiều giải pháp hữu hiệu và tổ chức thực hiện quyết liệt trong toàn ngành Kết quả công tác giải quyết, xét xử các loại vụ án trong thời gian qua tiếp tục có sự chuyển biến tích cực Đã khắc phục cơ bản tình trạng để các vụ án quá thời hạn giải quyết theo quy định của pháp luật (số vụ án quá thời hạn do lỗi chủ quan của Tòa án chỉ còn 410 vụ, bằng 0,1%, giảm 50% so với năm 2012) Số lượng các vụ án thuộc thẩm quyền của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao giải quyết đã đảm bảo thời gian đúng quy định của pháp luật

Trang 5

Tòa án nhân dân tối cao và các Tòa án nhân dân cấp tỉnh đã giải quyết được 7.438/11.756 đơn (vụ) đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm, bằng 63,3%, tăng hơn cùng kỳ năm trước 5,3%, vượt 3,3% so với yêu cầu Nghị quyết số 37 đề ra Trong đó, trả lời đơn cho các đương sự là không có căn cứ kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm 6.669 vụ, kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm 769 vụ Số đơn còn lại đều còn trong thời hạn kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm và đang được tiếp tục xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật; đã khắc phục có hiệu quả cao việc trả lời không có căn cứ kháng nghị nhưng sau đó Chánh án Tòa án nhân dân tối cao lại kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm (chỉ có 08 trường hợp (bằng 0,1%), giảm hơn cùng kỳ năm trước 10 vụ)

Qua số liệu các vụ việc dân sự được giải quyết nêu trên cho thấy Tòa án nhân dân các cấp đã có rất nhiều cố gắng trong việc giải quyết các vụ việc dân sự Nhìn chung, các

vụ việc dân sự đã được giải quyết cơ bản đúng với pháp luật Trong quá trình giải quyết, cùng với việc hướng dẫn các đương sự thực hiện đúng nghĩa vụ về cung cấp tài liệu, chứng

cứ liên quan đến vụ án, các Tòa án còn tích cực tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ, trưng cầu giám định, ủy thác điều tra… trong những trường hợpc ấn thiết hoặc theo yêu cầu của đương sự để củng cố, bổ sung chứng cứ nhằm giải quyết các vụ án đúng pháp luật

Năm 2013, trong việc giải quyết xét xử các vụ án dân sự, nhiều Tòa án địa phương

đã quan tâm khắc phục có hiệu quả việc để các vụ án dân sự quá thời hạn giải quyết theo quy định của pháp luật Một số Tòa án đã giải quyết trên 90% số vụ việc dân sự đã thụ lý như: Tòa án nhân dân các tỉnh Bắc Ninh, Hưng Yên, Nam Định, Quảng Nam, Quảng Trị, Tòa án nhân dận huyện Vụ Bàn tỉnh Nam Định… Trong quá trình giải quyết cá vụ án các Tòa án đã tích cực hòa giải, hướng dẫn các đương sự thực hiện nghĩa vụ cung cấp chứng

cư, tài liệu cho Tòa án; đồng thời chủ động xác minh thu thập chứng cứ trong những trường hợp cần thiết theo quy định của pháp luật về tố tụng; tăng cường phối hợp với cơ quan hữu quan để giải quyết vụ án Vì vậy, về cơ bản việc giải quyết đảm bảo đúng pháp luật và tỷ lệ hòa giải thành đạt 51,3% tổng số vụ đã giải quyết tăng hơn cùng kỳ năm trước 3,7%

Theo quy định tại Chương VII của BLTTDS (các điều từ 79 đến Điều 98), thì về cơ bản việc thu thập chứng cứ và chứng minh thuộc về đương sự, Tòa án chỉ thực hiện việc thu thập chứng cứ khi đương sự không thể tự mình thu thập và khi có yêu cầu của đương

sự, điều này là hoàn toàn phù hợp với nguyên tắc bình đẳng và quyền tự định đoạt của đương sự trong TTDS Những quy định của BLTTDS về chứng cứ và chứng minh góp phần quan trọng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự Tuy nhiên, thực tiễn hơn

10 năm thi hành BLTTDS cho thấy, đa số các bản án hủy, sửa do là sai sót trong việc thu thập, xác minh chứng cứ; thực tiễn giải quyết tranh chấp dân sự cũng cho thấy không phải lúc nào đương sự cũng có thể tự thu thập được chứng cứ để chúng minh bảo vệ quyền và

Trang 6

lợi ích hợp pháp của mình Sau đây là một số thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về chứng cứ trong TTDS

Thứ nhất, về trách nhiệm cung cấp chứng cứ cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền Tại Điều 7 BLTTDS quy định cá nhân, cơ quan, tổ chức trong phạm vi nhiệm vụ,

quyền hạn của mình có trách nhiệm cung cấp đầy đủ cho đương sự, Tòa án chứng cứ trong

vụ án mà cá nhân, cơ quan, tổ chức đó đang lưu giữ, quản lý khi có yêu cầu của đương sự, Tòa án Như vậy, BLTTDS không quy định cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính trung thực, đầy đủ, chính xác của chứng cứ Vì vậy, một trong những vướng mắc diễn ra khá phổ biến trong thời gian vừa qua khi thực hiện các quy định của BLTTDS liên quan đến việc tiếp cận chứng cứ của đương sự chính

là ở chỗ các chứng cứ, tài liệu nằm trong sự kiểm soát của các cá nhân, cơ quan, tổ chức khác mà họ lại không cung cấp cho đương sự, Tòa án Trên thực tế, thời gian tiến hành giải quyết một vụ án dân sự là rất ngắm (thông thường từ 2 đến 4 tháng) nếu như cá nhân, cơ quan, tổ chức này cố tình kéo dài, không cung cấp chứng cứ cho đương sự thì sẽ làm cho việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trước Tòa án khó khăn hơn rất nhiều

Cá biệt có trường hợp khi Tòa án yêu cầu cung cấp chứng cứ thì các cá nhân, cơ quan, tổ chức này chỉ cung cấp một cách nhỏ giọt hoặc đối lập nhau làm ảnh hưởng lớn tới việc giải

quyết vụ việc dân sự của Tòa án Khoản 1 Điều 94 BLTTDS không quy định quyền của

đương sự yêu cầu Tòa án buộc đương sự phía đối lập cung cấp chứng cứ Thực tế, nhiều vụ việc dân sự chứng cứ không phải do cá nhân, cơ quan, tổ chức khác giữ mà do chính đương sự bên kia giữ Vấn đề đặt ra là phải có cơ sở để xác định chứng cứ đang do phía đương sự bên kia giữ, đương sự đó cố tình không cung cấp chứng cứ cho Tòa án nhưng đương sự bên này không có căn cứ nào để yêu cầu Tòa án buộc đương sự phía bên kia cung cấp chứng cứ

Thứ hai, về thời gian giao nộp chứng cứ BLTTDS 2011 quy định đương sự có

nghĩa vụ giao nộp chứng cứ và hậu quả của việc không giao nộp hoặc giao nộp không đầy

đủ, tuy nhiên, Điều 84 BLTTDS không quy định về thời hạn đương sự phải xuất trình chứng cứ; việc giao nộp chứng cứ có thể thực hiện bất cứ giai đoạn nào của quá trình tố tụng Việc BLTTDS không quy định về thời hạn giao nộp chứng cứ của các đương sự là không đảm bảo sự chặt chẽ của các quy định về nghĩa vụ chứng minh của đương sự Do

đó, có nhiều đương sự sau khi khởi kiện đã khong tự giác thu thập chứng cứ để giao nộp cho Tòa án hoặc cố tình trì hoãn việc giao nộp chứng cứ làm kéo dài thời hạn giải quyết vụ việc dân sự Thậm chí đương sự có chứng cứ nhưng chờ đến xét xuwe phúc thẩm mới chịu nộp dẫn đến hậu quả việc cấp phúc thẩm hủy hoặc sửa bản án sơ thẩm Việc này không những kéo dài thời gian giải quyết vụ việc dân sự mà còn ảnh hưởng lớn đến thi đua của các thẩm phán gây bức xúc cho các thẩm phán

Trang 7

Thứ ba, về việc tiếp cận chứng cứ của đương sự Theo quy định tại điểm d Khoản

2 Điều 58 BLTTDS thì các đương sự có quyền “được biết và ghi chép, sao chụp tài liệu,

chứng cứ do các đương sự khác xuất trình hoặc do Tòa án thu thập” Tuy nhiên, trên thưc

tế đương sự rất khó có thể được thực hiện quyền này, thông thường chỉ sau khi thụ lý vụ việc Tòa án mới thông báo các tài liệu chứng cứ cho bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan biết (Điều 174 BLTTDS) Còn trong quá trình giải quyết vụ án dân sự khi các bên xuất trình chứng cứ mới hay những chứng cứ do Tòa án thu thập được thì các

bên đương sự chỉ có quyền “được biết” thông qua hoạt động sao chụp tài liệu, chứng cứ ở

Tòa án Nhưng chính quyền được biết này cũng chỉ được quy định rất chung chung, không quy định cụ thể ai là người phải thông báo cho đương sự biết Mặt khác, nếu có yêu cầu

sao chụp thì đương sự phải có đơn yêu cầu và “ghi cụ thể những tài liệu, chứng cứ mà

mình cần chép, sao chụp” Khi đương sự đã không biết những chứng cứ, tài liệu do bên kia

cung cấp thì làm sao biết được mình cần sao chụp những gì? Đây là một quy định không thực tế Đặt ra trong hoàn cảnh cụ thể tại Việt Nam khi mà trình độ hiểu biết còn thấp, việc hiểu biết về luật TTDS còn hạn chế nên không thể nào biết cũng như thực hiện được quyền này của mình Cá biệt trong nhiều trường hợp chứng cứ được cung cấp tại cấp phúc thẩm, các bên đương sự còn lại không thể có thời gian thu thập những chứng cứ để phản bác lai lập luận dựa trên chứng cứ mới của bên kia gây bất lợi cho họ

Trên thực tế, có thể thấy hoạt động chứng minh chỉ cho thấy rõ là đúng, là có thật bằng lý lẽ hoặc bằng chứng cứ đây là công việc chủ yếu của đương sự Tuy nhiên, việc có công nhận là đúng, là có thật hay không lại thuộc về Tòa án Hiện nay, các Tòa án vẫn thường có quan niệm rằng nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh thuộc về phía đương sự, Tòa án dường như đứng ngoài cuộc và ngược lại Vì vậy, không nêu cao được vai trò của đương sự và Tòa án

Thứ tư, Bộ luật TTDS chưa có quy định cụ thể những trường hợp được coi là

“đương sự không thể tự mình thu thập được chứng cứ” BLTTDS có quy định trường

hợp đương sự không tự mình thu thập được chứng cứ thì có quyền yêu cầu Tòa án hỗ trợ thu thập chứng cứ, tuy nhiên lại không quy định rõ thế nào là không thể tự mình thu thập được Điều này khiến cho các Thẩm phán nhiều khi không xác định được rõ những trường hợp nào cần phải hỗ trợ và những trường hợp nào chưa đủ điều kiện Các bên đương sự rất

có thể lợi dụng quy định này để ỷ lại vào Tòa án, làm đơn yêu cầu Tòa án thu thập chứng

cứ khi chưa sử dụng hết khả năng của mình để tìm kiếm chứng cứ Nếu trường hợp nào cũng như vậy nó sẽ khiến cho các quy định của BLTTDS chỉ khác với quy định của PLTTGQCVADS ở lá đơn yêu cầu, Thẩm phán vẫn mất nhiều công sức và thời gian để giải quyết vụ việc Từ đó, dẫn đến tình trạng các vụ án bị tồn đọng vẫn không được cải thiện

Trang 8

2 Một số kiến nghị hoàn thiện các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về

chứng cứ trong Tố tụng dân sự.

Thứ nhất, bổ sung quy định về thời hạn cung cấp chứng cứ Quy đinh này một

mặt bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự, nhưng nếu tại phiên tòa đương sự mới đưa ra những chứng cứ quan trọng thì việc chấp nhận chứng cứ mới này chỉ

có lợi cho một bên đương sự và bất lợi cho đương sự phía bên kia Phía đướng sự bên kia

sẽ không có thời gian để tìm hiểu, chuẩn bị những chứng cứ, lý lẽ để bảo vệ cho mình Bởi

lẽ, về logic, người ta chỉ có thể đối đáp lại những gì mà mình biết, tranh tụng chỉ có hiệu quả nếu mỗi đương sự có được những hiểu biết đầy đủ và toàn diện các yêu cầu và lý lẽ chống lại mình Ngoài ra, thực tế đã chứng minh, quy định này là một trong những nguyên nhân dẫn đến kéo dài thời gian giải quyết vụ án

Khoản 4 Điều 96 BLTTDS 2015 quy định: “Thời hạn giao nộp tài liệu, chứng cứ do

Thẩm phán được phân công giải quyết vụ việc ấn định nhưng không được vượt quá thời hạn chuẩn bị xét xử theo thủ tục sơ thẩm, thời hạn chuẩn bị giải quyết việc dân sự theo quy định của Bộ luật này.” Như vậy, BLTTDS 2015 đã ấn định thời hạn cung cấp chứng cứ

của các đương sự khi tham gia tố tụng, tại PTSTDS, đương sự không có quyền cung cấp

chứng cứ mơi, trừ trường hợp bất khả kháng Việc giới hạn thời gian cung cấp chứng cứ

của đương sự sẽ buộc đương sự phải có trách nhiệm hơn nữa trong việc thu thập, cung cấp chứng cứ và chứng minh cho yêu cầu của mình đồng thời đảm bảo cho việc giải quyết vụ

án nhanh gọn, hạn chế nguy cơ kéo dài quá trình tố tụng

Thứ hai, cần quy định tạo điều kiện để đương sự có thể tiếp cận, nghiên cứ và đánh giá chứng cứ.

- Về việc thông báo cho các đương sự khác về việc cung cấp chứng cứ mới của đương sự Trong quá trình giải quyết các vụ án dân sự, để bảo vệ cho quyền và lợi ích của

mình các bên đương sự có quyền và nghĩa vụ cung cấp các chứng cứ ở bất kỳ giai đoạn tố tụng nào Quy định này đảm bảo cho sự thật khách quan của vụ án sẽ được xác định nhưng đôi khi cũng đem lại sự bất lợi cho phía đương sự bên kia Bởi lẽ, BLTTDS hiện hành không có quy định về khi môt bên đương sự xuất trình thêm chứng cứ mới sẽ phải thông báo cho đương sự khác Điều này ít nhiều sẽ làm ảnh hưởng đến quyền, nghĩa vụ bình đẳng của các bên trong việc cung cấp chứng cứ và chứng minh Bởi khi một bên đương sự sử dụng một chứng cứ nào đó để xây dựng lập luận pháp lý cho mình thì để công bằng, phía bên kia cũng phải có quyền tiếp cận chứng cứ đó Các đướng sự phải có quyền được biết

về những vấn đề mà người khác có yêu cầu đối với mình về quyền và nghĩa vụ dân sựu, có quyền được biết đầy đủ và toàn diện các chứng cứ và lý lẽ chống lại họ Có như vậy việc tranh luận tại phiên tòa sau này mới có hiệu quả Tuy nhiên, khi một bên đương sự xuất trình chứng cứ muộn mà phía bên kia lại không biết được, tức là họ đã mất đi cơ hội chuẩn

Trang 9

mới đưa ra mà họ không được biết để chuẩn bị dẫn đến bị thua kiện Điều này ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích chính đáng của các bên Để khắc phục tình trạng này,

BLTTDS cần sửa đổi theo hướng: “Khi giao nộp chứng cứ cho Tòa, thì đồng thời mỗi bên

phải có thông báo cho bên kia biết về việc nộp chứng cứ đó; nếu bên giao nộp chứng cứ

mà không thông báo cho bên kia hoặc thông báo không đầy đủ thì phải chịu trách nhiệm trước pháp luật, trừ trường hợp có trở ngại khách quan mà không thể thông báo chứng cứ đúng thời hạn Việc thông báo chứng cứ được thực hiện bằng cách thức gửi bưu điện, gửi trực tiếp, email, fax…” Quy định này nếu được áp dụng trong thực tế sẽ giải quyết được

tình trạng các đương sự hoặc luật sư của họ cố tình lợi dụng quy định này để đưa ra chứng

cứ muôn nhằm đặt phía đương sự bên kia vào thế bị động

- Bô luật TTDS cần có quy định về chế tài áp dụng đối với cá nhân, cơ quan, tổ chức không cung cấp tài liệu, chứng cứ khi đương sự yêu cầu Khoản 3 Điều 106 BLTTDS 2015

quy định: “Cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý, lưu giữ tài liệu, chứng cứ có trách

nhiệm cung cấp đầy đủ tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án trong thời hạn 15 ngày,

kể từ ngày nhận được yêu cầu; hết thời hạn này mà không cung cấp đầy đủ tài liệu, chứng

cứ theo yêu cầu của Tòa án thì cơ quan, tổ chức, cá nhân được yêu cầu phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do Cơ quan, tổ chức, cá nhân không thực hiện yêu cầu của Tòa án

mà không có lý do chính đáng thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm có thể bị xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật Việc xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân không phải là lý do miễn nghĩa vụ cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án.” Như vậy, BLTTDS 2015 đã quy định chế tài đối với cá nhân, cơ quan, tổ chức

không cung cấp chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án mà không có lý do chính đáng có thể bị

xử phạt hành chinsg hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật

Thứ ba, bổ sung quy định về những trường hợp Tòa án tiến hành thu thập chứng

cứ Hiện nay, pháp luật chưa có quy định cụ thể khi nào đương sự được coi là: “không thể

thu thập được chứng cứ” để yêu cầu Tòa án thu thập nên đã khiến nhiều trường hợp các Thẩm phán lung túng khi có đơn yêu cầu thu thập chứng cứ của đương sự Để tránh tình trạng các đương sự không chịu đi thu thập chứng cứ, ỷ lại vào Tòa án hoặc trường hợp đương sự đã cố gắng nhưng không tìm được chứng cứ mà Tòa án lại cho rằng chưa đủ điều kiện để Tòa án hõ trợ thì pháp luật cần có những hướng dẫn cụ thể về vấn đề này Chính vì vậy, PLTTDS cần có quy định về những trường hợp nào được coi là “đương sự không thể

tự mình thu thập được chứng cứ”

C KẾT THÚC VẤN ĐỀ

Qua nghiên cứu đề tài “Chứng cứ trong tố tụng dân sự” cho thấy, chúng cứ là cái có

thật, theo một trình tự nhất định do luật định Tòa án dùng làm căn cứ để giải quyết vụ việc

Trang 10

dân sự Chứng cứl à phương tiện để người tham gia tố tụng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình; là căn cứ để Tòa án có thể tái hiện lại đúng các tình tiết và sư thật của vụ việc dân sự, xác định được quyền và nghĩa vụ của các bên đương sự Trong những năm gần đây, các vụ việc dân sự có chiều hướng ngày càng tăng và chiếm tỷ lệ rất lớn trong tổng số các loại vụ việc mà Tòa án nhân dân các cấp phải giải quyết Do tác động của nhiều nguyên nhân trong điều kiện nền kinh tế thị trường nên các tranh chấp dân sự luôn là những trach chấp gay gắt và kéo dài, nhiều vu việc Tòa án phải tốn rất nhiều công sức để thu thập chứng cứ, đánh giá chứng cứ mới giải quyết đúng vụ việc

D DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Luật Tố tụng dân sự 2004 sửa đổi bổ sung 2011

2 Luật Tố tụng dân sự 2011

3 Báo cáo của chánh án Tòa án nhân dân tối cao về công tác của các Tòa án tại kỳ họp thứ VI Quốc Hội khóa XIII (Bản tóm tắt) ngày 25 tháng 10 năm 2013

Ngày đăng: 29/10/2019, 15:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w