1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo " Nguyên tắc tranh tụng trong luật tố tụng dân sự Cộng hoà Pháp " pot

7 776 10
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 140,63 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, việc lấy lời khai của đương sự không phải là điều kiện cốt lõi, vấn đề là các bên đã được triệu tập, nghĩa là được yêu cầu tham gia một cách hợp thức để tự mình trình bày trư

Trang 1

Ths Ph¹m Nh− h−ng *

I PHẦN GIỚI THIỆU

1 Tranh tụng - nguyên tắc chung của

pháp luật

Theo nguyên tắc tố tụng, phán quyết của

toà án là kết quả của cuộc tranh luận công

khai giữa các bên tranh chấp Các đương sự

có quyền tự do tranh luận trước thẩm phán

về các yêu cầu, lí lẽ và chứng cứ chống lại

mình Về phương diện ngôn ngữ, "tụng" có

nghĩa là tranh biện công khai và tự nó đã

trực tiếp khẳng định ý nghĩa của nguyên tắc

tranh tụng Về phương diện luật pháp, tranh

tụng là một bảo đảm cơ bản cho một nền

công lí trong sạch, trung thực và công bằng

Việc tranh luận công khai giữa các đương sự

hoặc luật sư của họ, một mặt làm hiện rõ bức

tranh toàn cảnh về vụ án đối với chính bản

thân các đương sự cũng như đối với thẩm

phán, mặt khác, nó còn giúp cho các đương

sự - người đưa ra yêu cầu có được khả năng

tốt nhất để chống lại những hậu quả bất ngờ

mà vì nó các đương sự không thực hiện được

một cách đầy đủ các quyền của mình Thật

xác đáng khi người Pháp có câu thành ngữ

“từ tranh luận sẽ phát sinh ánh sáng” Do

vậy, trong tố tụng, hoạt động chứng minh vụ

án cần phải tổ chức một cách khoa học cho

phép xác định sự thật của vụ án, từ đó toà án

sẽ ra được phán quyết chính xác, bảo vệ

quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự

Cho nên, về mặt kĩ thuật, nguyên tắc tranh

tụng là giải pháp tối ưu cho yêu cầu đó và nó

được xếp vào hàng nguyên tắc chung của

luật tố tụng

Ở Pháp, nguyên tắc này thực chất đã được đề cập trong Tuyên ngôn nhân quyền

và quyền công dân năm 1789 và được hoàn thiện ngay thời kì đầu thế kỉ XIX Toà phá

án Pháp trong bản án năm 1828 đã nhấn

mạnh: “Biện hộ là một quyền tự nhiên,

không ai bị xét xử nếu không được chất vấn

và chuẩn bị cho việc tự biện hộ” Có thể nói trong hệ thống pháp luật của Pháp, tầm quan trọng của nguyên tắc này được ghi nhận chính thức tại Điều 6 Công ước châu Âu về quyền con người; tiết 6 từ Điều 14 đến Điều

17 Bộ luật tố tụng dân sự mới (BLTTDSM)

và các quy định chuyên biệt khác có liên quan, đặc biệt là án lệ

2 Điều kiện cơ bản của nguyên tắc tranh tụng

Trong tố tụng, người ta chỉ có thể tranh biện với hai điều kiện:

- Tố tụng với các phương tiện luật định + Phương tiện thực tế: Chứng cứ;

+ Phương tiện pháp lí: Các quy phạm pháp luật

- Tôn trọng nguyên tắc tranh tụng Cũng như bất kì nguyên tắc chung nào mang đặc tính hiển nhiên, điều cơ bản trong quan niệm thực tiễn là đương sự cần phải được biết và có thể biết các thông tin về vụ

án mà mục đích của nó là làm cho nguyên tắc tranh tụng được tôn trọng trên văn bản cũng như trong thực tế

* Giảng viên Trường đào tạo các chức danh tư pháp

Trang 2

Điều 14 BLTTDSM đưa ra quy định

tổng hợp: Không đương sự nào có thể bị xét

xử nếu trước đó họ không được trình bày ý

kiến hoặc không được triệu tập

Giải pháp cần thiết này là tất yếu đối với

các bên trong vụ án Tuy nhiên, việc lấy lời

khai của đương sự không phải là điều kiện

cốt lõi, vấn đề là các bên đã được triệu tập,

nghĩa là được yêu cầu tham gia một cách

hợp thức để tự mình trình bày trước thẩm

phán về các chứng cứ và lí lẽ nhằm chứng

minh cho yêu cầu của mình hoặc bác bỏ yêu

cầu của đối tụng Tính hợp thức của tố tụng

trên thực tế không phụ thuộc vào thiện ý của

một đương sự mong muốn xác định giá trị

các phương tiện thực tế và phương tiện pháp

lí mà mình đưa ra, ở đây nên biết rằng kể từ

khi mỗi đương sự được triệu tập hợp lệ, bên

vắng mặt, đặc biệt là bị đơn phải chịu bị xét

xử mà không thể trách cứ thẩm phán vì đã

không tôn trọng nguyên tắc tranh tụng

Nguyên tắc mà Điều 14 BLTTDSM đưa

ra kéo theo các hệ quả quan trọng không chỉ

liên quan đến quan hệ giữa các đương sự mà

còn liên quan đến thẩm phán mà ở đó nghĩa

vụ của thẩm phán là ra phán quyết trong

khuôn khổ quyền hạn của mình Việc không

tuân thủ nguyên tắc sẽ dẫn đến chế tài tố

tụng là huỷ bỏ phán quyết

II NỘI DUNG CỦA NGUYÊN TẮC TRANH

TỤNG

1 Tranh tụng trong quan hệ giữa các

đương sự

1.1 Nghĩa vụ thông báo cho nhau

Thực tế chứng minh rằng tranh tụng chỉ

có hiệu quả nếu mỗi đương sự có được sự

hiểu biết đầy đủ và toàn diện các yêu cầu,

chứng cứ và lí lẽ chống lại mình Về mặt

logic, người ta chỉ có thể đối đáp lại những

gì mà mình biết Do vậy, thông báo là nghĩa

vụ của mỗi đương sự nhằm giúp đối tụng chuẩn bị tổ chức việc biện hộ sau khi đã biết

rõ thực trạng vụ tranh chấp

Nội dung này không chỉ bao hàm nghĩa

vụ mang lại sự hiểu biết cho bị đơn các yêu cầu chống lại anh ta mà còn là nghĩa vụ thông báo cho các đương sự khác các tình tiết của vụ án đã đặt trước sự xem xét của thẩm phán Hơn nữa, nghĩa vụ thông tin này phải được thực hiện trong thời gian thích

hợp giúp cho đối tụng quyết định thời gian

suy nghĩ đủ để chuẩn bị cho công việc biện

hộ của mình

1.2 Thông báo yêu cầu cho người đối tụng

Trước tiên, nghĩa vụ thông báo cho người đối tụng là nhằm thông tin cho họ về việc tham gia tố tụng thông qua giấy triệu tập (triệu hoán trạng) Đây là quyền tố tụng rất quan trọng của các đương sự Do đó, bất

kì bản án nào tuyên đối với người không được triệu tập hợp lệ theo các quy thức luật định đều bị mất giá trị và bị huỷ bỏ

Ngoài ra, nếu phiên toà đã ấn định thời gian và địa điểm thì phải thông báo cho bị đơn biết để tham gia phiên toà Nghĩa vụ này cũng được áp dụng đối với yêu cầu phụ phát sinh trong quá trình giải quyết vụ án Để nguyên tắc tranh tụng được tôn trọng, Điều

68 khoản 2 BLTTDSM đòi hỏi trong trường hợp đặc biệt, các yêu cầu phụ phải được đưa

ra theo thể thức luật định như khi khởi kiện Ngược lại, nghĩa vụ thông báo yêu cầu

sẽ bị sai lạc khi luật cho phép hoặc do tính

cần thiết phải áp dụng biện pháp mà đương

sự không biết (Điều 17 BLTTDSM), trong trường hợp này thẩm phán thụ lí vụ án bằng

Trang 3

phương pháp thẩm cứu đơn giản yêu cầu các

đương sự đã được triệu tập thực hiện nghĩa

vụ thông tin Đối với các đương sự khác sẽ

có quyền kháng cáo nhằm chống lại quyết

định không phù hợp với quyền, lợi ích của

anh ta

1.3 Thông báo cho nhau về các tình tiết

của vụ án

Người ta thường quan niệm nghĩa vụ

thông báo chỉ dừng lại đối với bị đơn Nếu

như vậy sẽ là không đầy đủ Nghĩa vụ này

còn dành cho tất cả các đương sự trong vụ án

quyền được thông tin một cách đầy đủ và

chính xác các tình tiết của vụ án mà các tình

tiết đó đã được đưa ra trước sự xem xét của

thẩm phán Bản án của Toà phá án nhấn

mạnh yêu cầu này có mục đích bảo đảm tính

công khai của cuộc tranh luận và bảo vệ các

quyền của đương sự bằng cách duy trì sự

bình đẳng giữa họ

Lưu ý nêu trên gắn liền với các quy định

cụ thể: Nghĩa vụ thông báo trong giấy triệu

tập tới phiên toà phải đề cập đối tượng của

yêu cầu; các phương tiện được sử dụng phải

dựa vào các chứng cứ ban đầu mà căn cứ

vào đó yêu cầu được thiết lập (Điều 56

BLTTDSM); nghĩa vụ do mỗi đương sự thực

hiện nhằm thông báo trước ý kiến của họ cho

các đương sự khác trong vụ án; việc trao đổi

giấy tờ, tài liệu giữa các đương sự… (các

điều 132 - 137 BLTTDSM)

Các quy định nêu trên độc lập một cách

tương đối Điều 15 BLTTDSM đòi hỏi các

tình tiết ngoài đơn khởi kiện phải được

thông báo cho các đương sự khác nhằm giúp

các đương sự tổ chức việc biện hộ

Trước tiên, các đương sự thông báo cho

nhau về các phương tiện thực tế mà theo đó

họ đã thiết lập yêu cầu của mình, tiếp theo là các phương tiện pháp luật mà họ viện dẫn Chỉ dẫn này là rất quan trọng cho phép đương sự thực hiện việc đối đáp

Tuy nhiên, cần phải đi xa hơn nữa, Điều

15 BLTTDSM đưa ra quy định chung theo

đó các đương sự phải thông báo cho nhau

các chứng cứ mà họ đưa ra Tinh thần này

rất rộng, nhằm vào tất cả các tình tiết được đưa ra trong tất cả các giai đoạn tố tụng dưới bất kì hình thức nào dành cho việc thiết lập

niềm tin của thẩm phán, ví dụ: Các giấy tờ,

tài liệu, biên bản, vật chứng

Việc áp dụng quy định này đôi khi cũng gặp một số khó khăn liên quan tới tư liệu cá nhân của mỗi đương sự, đặc biệt là bài biện

hộ - kết quả lao động cá nhân của mỗi đương

sự, không phải gửi cho các đương sự khác Nghĩa vụ trao đổi thông tin nêu trên cũng được áp dụng đối với các luật sư khi họ thực hiện công việc bảo vệ hoặc đại diện cho các đương sự Nếu luật sư không tôn trọng nguyên tắc này thì tự họ làm mất đi giá trị công việc của mình đồng thời họ có thể chịu chế tài kỉ luật theo quy chế hành nghề luật sư

Cũng cần lưu ý rằng những thông tin về

vụ án đã được thông báo ở cấp sơ thẩm thì không buộc phải thông báo ở cấp phúc thẩm Tuy nhiên, nếu cần thiết thì các đương sự vẫn có quyền yêu cầu đối tụng thông báo lại

1.4 Thông báo cho nhau trong thời gian thích hợp

Nguyên tắc tranh tụng chỉ có hiệu quả nếu các đương sự thông báo cho nhau các yêu cầu và các tình tiết của vụ án trong thời gian đủ suy nghĩ nhằm tổ chức cho việc biện

Trang 4

hộ Đó chính là lí do mà Điều 15 BLTTDSM

quy định: Các đương sự phải cho nhau biết

các quy phạm pháp luật mà họ viện dẫn và

các chứng cứ mà họ đưa ra trong thời gian

thích hợp Đồng thời Điều 135 BLTTDSM

cho phép thẩm phán bỏ ra ngoài cuộc tranh

luận những gì mà các đương sự không thông

báo hoặc thông báo cho nhau trong thời gian

không thích hợp

Về nguyên tắc, BLTTDSM quy định

trước khi mở phiên toà trong thời hạn 15

ngày, các đương sự phải thực hiện nghĩa vụ

thông báo (các điều 755, 837, 856, 866)

Trường hợp vì lí do khoảng cách trong điều

kiện luật định, ví dụ: Đương sự cư trú ở tỉnh

khác hoặc ở nước ngoài (các điều 643, 645);

hoặc trong trường hợp khẩn cấp (các điều

649, 839, 858) thì chánh án có thể gia hạn

nhưng không quá 2 tháng tuỳ từng trường

hợp cụ thể

Trong tiến trình tố tụng, các tình tiết

mang tính quyết định nội dung vụ án nhất

thiết phải được thông báo

2 Tranh tụng trong quan hệ giữa

thẩm phán và đương sự

Nguyên tắc tranh tụng không chỉ phát

sinh nghĩa vụ tuân thủ đối với các đương sự,

nó còn đặt ra cho thẩm phán nghĩa vụ kép,

bởi vì, theo khoản 1 Điều 16 BLTTDSM thì

trong mọi hoàn cảnh, thẩm phán phải bảo

đảm việc tôn trọng và tự mình tôn trọng

nguyên tắc tranh tụng

Nghĩa vụ kép này là hệ quả tự nhiên bởi

vì trong tố tụng hiện đại, thẩm phán không

phải là trọng tài bị động Kể từ thời điểm

được chỉ định giải quyết vụ án, thẩm phán có

nghĩa vụ duy trì tiến trình tố tụng bình

thường (Điều 3 BLTTDSM), đưa ra các sáng kiến (Điều 7 và Điều 12 BLTTDSM) và cũng thật hiển nhiên, thẩm phán trở thành người bảo đảm, thậm chí là tác giả của hoạt động tranh tụng

2.1 Thẩm phán phải bảo đảm việc tuân thủ nguyên tắc tranh tụng

Khoản 2 Điều 16 BLTTDSM chỉ rõ hệ quả của nguyên tắc: Tất cả các tình tiết của

vụ kiện chỉ được thẩm phán cứu xét nếu chúng được tranh luận theo nguyên tắc tranh tụng Điều này thể hiện một khía cạnh trong nhiệm vụ thực tiễn của thẩm phán - người bảo đảm sự tuân thủ của nguyên tắc tranh tụng Do đó, thẩm phán phải kiểm tra việc áp dụng nguyên tắc này trong quan hệ giữa các đương sự và nếu cần phải tổ chức thực hiện nguyên tắc đó

2.1.1 Kiểm tra tư pháp hoạt động tranh tụng giữa các đương sự

Nhiệm vụ của thẩm phán là giám sát những gì mà các đương sự thực hiện nhằm tuân thủ triệt để những nghĩa vụ liên quan tới trách nhiệm cung cấp thông tin của họ Việc kiểm tra của thẩm phán phải được tiến hành thường xuyên trong mọi giai đoạn

tố tụng, đặc biệt là vào thời điểm khởi kiện

vụ án bằng cách xác minh xem bị đơn có được triệu tập hợp thức và có đủ thời gian để

ra hầu toà không Do đó, trong tiến trình tố tụng, thẩm phán phải bảo đảm cho các đương sự có được thời gian cần thiết để tìm hiểu các phương tiện, các tình tiết của vụ án

do các đương sự khác cung cấp

Trong khi thi hành công vụ, thẩm phán được sử dụng quyền hạn rất rộng: Thẩm phán có thể ra lệnh tái triệu tập bị đơn

Trang 5

(khoản 1 Điều 471 BLTTDSM); ra lệnh xuất

trình các bằng chứng trong các giai đoạn tố

tụng, nếu cần có thể bằng công lực (Điều

133,134 BLTTDSM); bỏ ra ngoài cuộc tranh

luận các tài liệu không được trao đổi hoặc

trao đổi muộn (Điều 15, 135 BLTTDSM)…

2.1.2 Tổ chức hoạt động tranh tụng giữa

các đương sự

Trước tiên, thẩm phán phải giám sát

những gì mà các đương sự được thông tin về

thời gian mở phiên toà Nghĩa vụ này biểu

thị tầm quan trọng đặc biệt trong các vụ án

không có đại diện bắt buộc khi các đương sự

được gọi ra toà theo những thể thức nhất

định tuỳ từng cấp xét xử Nếu không được

thông báo hợp thức hoặc là bằng miệng khi

các đương sự ở phiên toà hoặc bằng giấy

triệu tập, phán quyết chắc chắn sẽ bị huỷ bỏ

Việc thi hành các biện pháp điều tra

cũng buộc thẩm phán và các kĩ thuật viên tư

pháp phải tổ chức hoạt động tranh tụng giữa

các đương sự theo các thể thức riêng biệt tuỳ

thuộc vào từng biện pháp đó

Cũng theo tinh thần của BLTTDSM thì

thẩm phán có trách nhiệm thúc đẩy tiến trình

tố tụng và đưa ra các vấn đề có tính chất

quyết định trong cuộc tranh luận Thẩm phán

có quyền kết thúc cuộc tranh luận khi

nguyên nhân của vụ kiện đã sáng tỏ bằng

cách kiểm tra những gì mà các đương sự đã

chuẩn bị cho việc đối đáp về các yêu cầu,

chứng cứ và lí lẽ của đối phương

2.2 Thẩm phán phải tự mình tuân thủ

nguyên tắc tranh tụng

Quy định này được ghi nhận rõ tại khoản

3 Điều 16 BLTTDSM theo đó thẩm phán

không thể ra phán quyết dựa vào các phương

tiện mà anh ta đã thừa nhận chính thức nếu không thông báo cho các đương sự để họ trình bày nhận xét về các phương tiện đó

Vụ án dân sự thực chất là sự xung đột về quyền lợi của các đương sự Do vậy, kể từ thời điểm được chỉ định tham gia một cách tích cực vào quá trình giải quyết vụ án, pháp luật đã áp đặt những nghĩa vụ tố tụng cho thẩm phán cũng như cho các đương sự, đặc biệt là nghĩa vụ yêu cầu đương sự trình bày ý kiến của mình về các phương tiện mà dựa vào đó thẩm phán ra phán quyết Trong luật

tư pháp tư, nguyên tắc tranh tụng xuất hiện như là sự đối trọng cần thiết đối với các quyền rất lớn mà thẩm phán có được

2.2.1 Điều kiện áp dụng

Đến đây chúng ta phải làm rõ hai khái niệm: Phương tiện được thừa nhận chính

thức và phương tiện trong vụ kiện

Nghĩa vụ do thẩm phán tiến hành nhằm xác định sự tồn tại của phương tiện được thừa nhận chính thức Từ đó phát sinh điều kiện kép:

- Trước tiên phải kể đến phương tiện hữu hiệu nhằm thiết lập phán quyết Do đó, những quy định liên quan tới thể thức thi hành không nằm trong loại này, vì vậy thẩm phán không có nghĩa vụ yêu cầu các đương

sự trình bày ý kiến Ví dụ: Thẩm phán áp

dụng biện pháp cưỡng chế, ra lệnh thi hành tạm thời phán quyết hoặc quyết định phương thức thanh toán

- Tiếp theo là nghĩa vụ do thẩm phán tiến hành nhằm thúc đẩy hoạt động tranh tụng chỉ được chấp nhận nếu phương tiện do thẩm phán sử dụng thuộc quyền hạn riêng biệt của mình ngoài tất cả sáng kiến của đương sự

Trang 6

Người ta cũng đưa ra sự phân biệt không

mấy chắc chắn giữa phương tiện được thừa

nhận chính thức và phương tiện trong vụ

kiện, căn cứ vào đó thẩm phán có thể thiết

lập phán quyết mà không cần phải chất vấn

trước đối với các đương sự

Theo án lệ, phương tiện trong vụ kiện là

phương tiện sinh ra từ nội dung của yêu cầu

hoặc từ bằng chứng có được trong quá trình

giải quyết vụ án, đặc biệt là từ các kết luận

Hơn nữa thẩm phán không có nghĩa vụ bắt

buộc các đương sự trình bày ý kiến nhằm làm

rõ yêu cầu của nguyên đơn mà thẩm phán

phải kiểm tra sự tồn tại của các điều kiện luật

định khi thẩm phán tuyên bố về khả năng có

thể chấp nhận một chứng cứ, phạm vi và hậu

quả của một số sự kiện đã xảy ra, về một vài

tài liệu hoặc về giới hạn của quyền thụ lí đối

với việc đã được giải quyết bằng bản án,

quyết định đã có hiệu lực pháp luật

Án lệ cũng mở rộng sự miễn trừ hoạt

động tranh tụng trong trường hợp nguyên

đơn, qua giấy tờ tài liệu của mình đã không

làm sáng tỏ các căn cứ pháp lí cho yêu cầu

khởi kiện

Mục đích, tinh thần tại Điều 16 BLTTDSM

là giúp các đương sự đề phòng những hậu

quả bất ngờ trong trường hợp thẩm phán

đánh giá phương tiện mới Bởi vì, nếu trên

thực tế phương tiện được thẩm phán chấp

nhận nằm ngay trong vụ kiện thì phương tiện

đó được coi là các đương sự đã biết và kể từ

đó nghĩa vụ bác bỏ nó thuộc về các đương sự

mà không đợi đến việc thẩm phán phải nhắc

nhở về bổn phận của họ bằng cách yêu cầu

họ đưa ra kết luận

Dù sao đối với chứng cứ về các sự kiện,

khái niệm phương tiện trong vụ kiện chứa đựng tính bất ổn không thể lường trước và người ta tự biện hộ một cách vụng về cho chủ nghĩa kinh nghiệm cố hữu dùng để giải thích mà nó chính là đối tượng, nhất là khi thẩm phán thiết lập phán quyết của mình dựa vào các sự kiện thực tế mà các đương sự đã không thông báo cho nhau với tư cách là cơ

sở cho yêu cầu của họ

2.2.2 Phương tiện pháp luật và phương tiện thực tế

Trong giới hạn vừa nêu, nghĩa vụ đặt ra cho thẩm phán là chỉ được đưa ra phán quyết dựa vào phương tiện đã được thừa nhận chính thức sau khi đã yêu cầu các đương sự trình bày ý kiến và phán quyết này đương nhiên sẽ được tuyên căn cứ vào phương tiện pháp luật mà các phương tiện đó được ghi nhận một cách đặc biệt tại khoản 3 Điều 16 BLTTDSM

Ngược lại, điều luật này không đưa ra đưa

ra quy chiếu nào về các phương tiện thực tế Tuy vậy, người ta cũng phải thống nhất về mặt nguyên tắc là vấn đề này cũng được áp dụng tương tự trong cùng quy định đó Cuối cùng, người ta bổ sung rằng trong trường hợp giả thiết thẩm phán có quyền thừa nhận phương tiện hỗn hợp (thực tế và luật pháp) thì nguyên tắc tranh tụng vẫn được áp dụng trong các điều kiện nêu trên

2.2.3 Đánh giá sự kiện và hành vi tranh tụng

Khi thẩm phán tiến hành hoặc khôi phục việc đánh giá các sự kiện và hành vi tranh tụng như quy định tại Điều 12 BLTTDSM, phải chăng thẩm phán phải đệ trình việc đánh giá đó cho hoạt động tranh tụng của các đương sự? Án lệ hiện đại gần như đã xoá

Trang 7

bỏ điều này

Nói chung, thẩm phán có toàn quyền

đánh giá các sự kiện và các hành vi tranh

tụng nhằm tìm kiếm cơ sở chân xác cho

phán quyết của mình Trong trường hợp thấy

rằng việc đánh giá đó có khiếm khuyết thì

thẩm phán có thể đánh giá lại trước khi ra

phán quyết

3 Thể thức của nguyên tắc tranh tụng

Thể thức của nguyên tắc tranh tụng rất

đơn giản, đối với thẩm phán là cốt sao yêu

cầu các đương sự đưa ra ý kiến về các

phương tiện chứng minh, đặc biệt là phương

tiện mới bằng kiến giải miệng của họ tại

phiên toà

Thông thường, chính trong quá trình

nghị án - thời điểm mà các thẩm phán soạn

thảo quyết định của mình mới xuất hiện

phương tiện mới

Trong trường hợp này thẩm phán có

quyền ra lệnh tranh luận lại (bản án của Toà

phá án ngày 10/7/1981) hoặc thẩm phán có

thể yêu cầu các đương sự đưa ra ý kiến của

họ dưới hình thức bản chú thích viết Quy

định này nhằm tránh việc hoãn phiên toà

trong thời gian kéo dài

III CHẾ TÀI KHI VI PHẠM NGUYÊN

TẮC TRANH TỤNG

1 Huỷ phán quyết

Các phán quyết của toà án đã tuyên dựa

vào các tình tiết không được tranh luận phù

hợp với nguyên tắc tranh tụng đều dẫn tới

hậu quả là bị huỷ bỏ

Việc huỷ phán quyết trong trường hợp

này mang tính trật tự công trên cơ sở yêu cầu

của đương sự bị ảnh hưởng do hành vi vi

phạm nguyên tắc tranh tụng Tiếp nhận giải

quyết yêu cầu này thuộc thẩm quyền của toà phúc thẩm hoặc toà phá án tuỳ thuộc vào tính chất và hiệu lực của phán quyết - đối tượng cần huỷ bỏ

2 Chứng cứ và suy đoán của thẩm phán

Áp dụng chế tài này, cơ quan xét xử cấp trên phải kiểm tra xem nguyên tắc tranh tụng

có được tuân thủ, tôn trọng hay không Để kết luận, người ta phải tìm kiếm các căn cứ pháp lí và chứng cứ thực tế

Các chứng cứ thường được rút ra từ các tài liệu của vụ kiện: Các kết luận, bản kê khai tài liệu đã trao đổi, văn kiện nghị án…

Do vậy chứng cứ do các đương sự cung cấp phải có trong hồ sơ vụ án hoặc trong sổ phiên toà

Tuy nhiên, để tránh việc thiếu căn cứ khi

ra quyết định huỷ phán quyết, án lệ đã không

do dự nhằm tạo ra những suy đoán làm cơ sở cho thẩm phán

Ví dụ: Trước Toà án thẩm quyền rộng, quyết định kết thúc điều tra suy đoán rằng các đương sự đã được thông báo về các tình tiết của vụ án hoặc khi tố tụng được thực hiện bằng hình thức nói thì những phương tiện được thẩm phán sử dụng làm cơ sở cho phán quyết của mình đều được rút ra sau khi

đã được tranh luận theo nguyên tắc tranh tụng trước thẩm phán Ngoài ra, người ta cũng xem như là có sai lệch khi bản án kết luận rằng việc một đương sự gửi tài liệu, giấy tờ cho lục sự được suy đoán là các đương sự khác cũng đã được thông báo Tóm lại, những suy đoán thuần tuý như vậy của thẩm phán có nguy cơ mở ra con đường dẫn tới sự lạm quyền nghiêm trọng ngay trong cơ chế áp dụng của bản thân nguyên tắc tranh tụng./

Ngày đăng: 17/03/2014, 14:20

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm