Tuy nhiên, việc lấy lời khai của đương sự không phải là điều kiện cốt lõi, vấn đề là các bên đã được triệu tập, nghĩa là được yêu cầu tham gia một cách hợp thức để tự mình trình bày trư
Trang 1Ths Ph¹m Nh− h−ng *
I PHẦN GIỚI THIỆU
1 Tranh tụng - nguyên tắc chung của
pháp luật
Theo nguyên tắc tố tụng, phán quyết của
toà án là kết quả của cuộc tranh luận công
khai giữa các bên tranh chấp Các đương sự
có quyền tự do tranh luận trước thẩm phán
về các yêu cầu, lí lẽ và chứng cứ chống lại
mình Về phương diện ngôn ngữ, "tụng" có
nghĩa là tranh biện công khai và tự nó đã
trực tiếp khẳng định ý nghĩa của nguyên tắc
tranh tụng Về phương diện luật pháp, tranh
tụng là một bảo đảm cơ bản cho một nền
công lí trong sạch, trung thực và công bằng
Việc tranh luận công khai giữa các đương sự
hoặc luật sư của họ, một mặt làm hiện rõ bức
tranh toàn cảnh về vụ án đối với chính bản
thân các đương sự cũng như đối với thẩm
phán, mặt khác, nó còn giúp cho các đương
sự - người đưa ra yêu cầu có được khả năng
tốt nhất để chống lại những hậu quả bất ngờ
mà vì nó các đương sự không thực hiện được
một cách đầy đủ các quyền của mình Thật
xác đáng khi người Pháp có câu thành ngữ
“từ tranh luận sẽ phát sinh ánh sáng” Do
vậy, trong tố tụng, hoạt động chứng minh vụ
án cần phải tổ chức một cách khoa học cho
phép xác định sự thật của vụ án, từ đó toà án
sẽ ra được phán quyết chính xác, bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự
Cho nên, về mặt kĩ thuật, nguyên tắc tranh
tụng là giải pháp tối ưu cho yêu cầu đó và nó
được xếp vào hàng nguyên tắc chung của
luật tố tụng
Ở Pháp, nguyên tắc này thực chất đã được đề cập trong Tuyên ngôn nhân quyền
và quyền công dân năm 1789 và được hoàn thiện ngay thời kì đầu thế kỉ XIX Toà phá
án Pháp trong bản án năm 1828 đã nhấn
mạnh: “Biện hộ là một quyền tự nhiên,
không ai bị xét xử nếu không được chất vấn
và chuẩn bị cho việc tự biện hộ” Có thể nói trong hệ thống pháp luật của Pháp, tầm quan trọng của nguyên tắc này được ghi nhận chính thức tại Điều 6 Công ước châu Âu về quyền con người; tiết 6 từ Điều 14 đến Điều
17 Bộ luật tố tụng dân sự mới (BLTTDSM)
và các quy định chuyên biệt khác có liên quan, đặc biệt là án lệ
2 Điều kiện cơ bản của nguyên tắc tranh tụng
Trong tố tụng, người ta chỉ có thể tranh biện với hai điều kiện:
- Tố tụng với các phương tiện luật định + Phương tiện thực tế: Chứng cứ;
+ Phương tiện pháp lí: Các quy phạm pháp luật
- Tôn trọng nguyên tắc tranh tụng Cũng như bất kì nguyên tắc chung nào mang đặc tính hiển nhiên, điều cơ bản trong quan niệm thực tiễn là đương sự cần phải được biết và có thể biết các thông tin về vụ
án mà mục đích của nó là làm cho nguyên tắc tranh tụng được tôn trọng trên văn bản cũng như trong thực tế
* Giảng viên Trường đào tạo các chức danh tư pháp
Trang 2Điều 14 BLTTDSM đưa ra quy định
tổng hợp: Không đương sự nào có thể bị xét
xử nếu trước đó họ không được trình bày ý
kiến hoặc không được triệu tập
Giải pháp cần thiết này là tất yếu đối với
các bên trong vụ án Tuy nhiên, việc lấy lời
khai của đương sự không phải là điều kiện
cốt lõi, vấn đề là các bên đã được triệu tập,
nghĩa là được yêu cầu tham gia một cách
hợp thức để tự mình trình bày trước thẩm
phán về các chứng cứ và lí lẽ nhằm chứng
minh cho yêu cầu của mình hoặc bác bỏ yêu
cầu của đối tụng Tính hợp thức của tố tụng
trên thực tế không phụ thuộc vào thiện ý của
một đương sự mong muốn xác định giá trị
các phương tiện thực tế và phương tiện pháp
lí mà mình đưa ra, ở đây nên biết rằng kể từ
khi mỗi đương sự được triệu tập hợp lệ, bên
vắng mặt, đặc biệt là bị đơn phải chịu bị xét
xử mà không thể trách cứ thẩm phán vì đã
không tôn trọng nguyên tắc tranh tụng
Nguyên tắc mà Điều 14 BLTTDSM đưa
ra kéo theo các hệ quả quan trọng không chỉ
liên quan đến quan hệ giữa các đương sự mà
còn liên quan đến thẩm phán mà ở đó nghĩa
vụ của thẩm phán là ra phán quyết trong
khuôn khổ quyền hạn của mình Việc không
tuân thủ nguyên tắc sẽ dẫn đến chế tài tố
tụng là huỷ bỏ phán quyết
II NỘI DUNG CỦA NGUYÊN TẮC TRANH
TỤNG
1 Tranh tụng trong quan hệ giữa các
đương sự
1.1 Nghĩa vụ thông báo cho nhau
Thực tế chứng minh rằng tranh tụng chỉ
có hiệu quả nếu mỗi đương sự có được sự
hiểu biết đầy đủ và toàn diện các yêu cầu,
chứng cứ và lí lẽ chống lại mình Về mặt
logic, người ta chỉ có thể đối đáp lại những
gì mà mình biết Do vậy, thông báo là nghĩa
vụ của mỗi đương sự nhằm giúp đối tụng chuẩn bị tổ chức việc biện hộ sau khi đã biết
rõ thực trạng vụ tranh chấp
Nội dung này không chỉ bao hàm nghĩa
vụ mang lại sự hiểu biết cho bị đơn các yêu cầu chống lại anh ta mà còn là nghĩa vụ thông báo cho các đương sự khác các tình tiết của vụ án đã đặt trước sự xem xét của thẩm phán Hơn nữa, nghĩa vụ thông tin này phải được thực hiện trong thời gian thích
hợp giúp cho đối tụng quyết định thời gian
suy nghĩ đủ để chuẩn bị cho công việc biện
hộ của mình
1.2 Thông báo yêu cầu cho người đối tụng
Trước tiên, nghĩa vụ thông báo cho người đối tụng là nhằm thông tin cho họ về việc tham gia tố tụng thông qua giấy triệu tập (triệu hoán trạng) Đây là quyền tố tụng rất quan trọng của các đương sự Do đó, bất
kì bản án nào tuyên đối với người không được triệu tập hợp lệ theo các quy thức luật định đều bị mất giá trị và bị huỷ bỏ
Ngoài ra, nếu phiên toà đã ấn định thời gian và địa điểm thì phải thông báo cho bị đơn biết để tham gia phiên toà Nghĩa vụ này cũng được áp dụng đối với yêu cầu phụ phát sinh trong quá trình giải quyết vụ án Để nguyên tắc tranh tụng được tôn trọng, Điều
68 khoản 2 BLTTDSM đòi hỏi trong trường hợp đặc biệt, các yêu cầu phụ phải được đưa
ra theo thể thức luật định như khi khởi kiện Ngược lại, nghĩa vụ thông báo yêu cầu
sẽ bị sai lạc khi luật cho phép hoặc do tính
cần thiết phải áp dụng biện pháp mà đương
sự không biết (Điều 17 BLTTDSM), trong trường hợp này thẩm phán thụ lí vụ án bằng
Trang 3phương pháp thẩm cứu đơn giản yêu cầu các
đương sự đã được triệu tập thực hiện nghĩa
vụ thông tin Đối với các đương sự khác sẽ
có quyền kháng cáo nhằm chống lại quyết
định không phù hợp với quyền, lợi ích của
anh ta
1.3 Thông báo cho nhau về các tình tiết
của vụ án
Người ta thường quan niệm nghĩa vụ
thông báo chỉ dừng lại đối với bị đơn Nếu
như vậy sẽ là không đầy đủ Nghĩa vụ này
còn dành cho tất cả các đương sự trong vụ án
quyền được thông tin một cách đầy đủ và
chính xác các tình tiết của vụ án mà các tình
tiết đó đã được đưa ra trước sự xem xét của
thẩm phán Bản án của Toà phá án nhấn
mạnh yêu cầu này có mục đích bảo đảm tính
công khai của cuộc tranh luận và bảo vệ các
quyền của đương sự bằng cách duy trì sự
bình đẳng giữa họ
Lưu ý nêu trên gắn liền với các quy định
cụ thể: Nghĩa vụ thông báo trong giấy triệu
tập tới phiên toà phải đề cập đối tượng của
yêu cầu; các phương tiện được sử dụng phải
dựa vào các chứng cứ ban đầu mà căn cứ
vào đó yêu cầu được thiết lập (Điều 56
BLTTDSM); nghĩa vụ do mỗi đương sự thực
hiện nhằm thông báo trước ý kiến của họ cho
các đương sự khác trong vụ án; việc trao đổi
giấy tờ, tài liệu giữa các đương sự… (các
điều 132 - 137 BLTTDSM)
Các quy định nêu trên độc lập một cách
tương đối Điều 15 BLTTDSM đòi hỏi các
tình tiết ngoài đơn khởi kiện phải được
thông báo cho các đương sự khác nhằm giúp
các đương sự tổ chức việc biện hộ
Trước tiên, các đương sự thông báo cho
nhau về các phương tiện thực tế mà theo đó
họ đã thiết lập yêu cầu của mình, tiếp theo là các phương tiện pháp luật mà họ viện dẫn Chỉ dẫn này là rất quan trọng cho phép đương sự thực hiện việc đối đáp
Tuy nhiên, cần phải đi xa hơn nữa, Điều
15 BLTTDSM đưa ra quy định chung theo
đó các đương sự phải thông báo cho nhau
các chứng cứ mà họ đưa ra Tinh thần này
rất rộng, nhằm vào tất cả các tình tiết được đưa ra trong tất cả các giai đoạn tố tụng dưới bất kì hình thức nào dành cho việc thiết lập
niềm tin của thẩm phán, ví dụ: Các giấy tờ,
tài liệu, biên bản, vật chứng
Việc áp dụng quy định này đôi khi cũng gặp một số khó khăn liên quan tới tư liệu cá nhân của mỗi đương sự, đặc biệt là bài biện
hộ - kết quả lao động cá nhân của mỗi đương
sự, không phải gửi cho các đương sự khác Nghĩa vụ trao đổi thông tin nêu trên cũng được áp dụng đối với các luật sư khi họ thực hiện công việc bảo vệ hoặc đại diện cho các đương sự Nếu luật sư không tôn trọng nguyên tắc này thì tự họ làm mất đi giá trị công việc của mình đồng thời họ có thể chịu chế tài kỉ luật theo quy chế hành nghề luật sư
Cũng cần lưu ý rằng những thông tin về
vụ án đã được thông báo ở cấp sơ thẩm thì không buộc phải thông báo ở cấp phúc thẩm Tuy nhiên, nếu cần thiết thì các đương sự vẫn có quyền yêu cầu đối tụng thông báo lại
1.4 Thông báo cho nhau trong thời gian thích hợp
Nguyên tắc tranh tụng chỉ có hiệu quả nếu các đương sự thông báo cho nhau các yêu cầu và các tình tiết của vụ án trong thời gian đủ suy nghĩ nhằm tổ chức cho việc biện
Trang 4hộ Đó chính là lí do mà Điều 15 BLTTDSM
quy định: Các đương sự phải cho nhau biết
các quy phạm pháp luật mà họ viện dẫn và
các chứng cứ mà họ đưa ra trong thời gian
thích hợp Đồng thời Điều 135 BLTTDSM
cho phép thẩm phán bỏ ra ngoài cuộc tranh
luận những gì mà các đương sự không thông
báo hoặc thông báo cho nhau trong thời gian
không thích hợp
Về nguyên tắc, BLTTDSM quy định
trước khi mở phiên toà trong thời hạn 15
ngày, các đương sự phải thực hiện nghĩa vụ
thông báo (các điều 755, 837, 856, 866)
Trường hợp vì lí do khoảng cách trong điều
kiện luật định, ví dụ: Đương sự cư trú ở tỉnh
khác hoặc ở nước ngoài (các điều 643, 645);
hoặc trong trường hợp khẩn cấp (các điều
649, 839, 858) thì chánh án có thể gia hạn
nhưng không quá 2 tháng tuỳ từng trường
hợp cụ thể
Trong tiến trình tố tụng, các tình tiết
mang tính quyết định nội dung vụ án nhất
thiết phải được thông báo
2 Tranh tụng trong quan hệ giữa
thẩm phán và đương sự
Nguyên tắc tranh tụng không chỉ phát
sinh nghĩa vụ tuân thủ đối với các đương sự,
nó còn đặt ra cho thẩm phán nghĩa vụ kép,
bởi vì, theo khoản 1 Điều 16 BLTTDSM thì
trong mọi hoàn cảnh, thẩm phán phải bảo
đảm việc tôn trọng và tự mình tôn trọng
nguyên tắc tranh tụng
Nghĩa vụ kép này là hệ quả tự nhiên bởi
vì trong tố tụng hiện đại, thẩm phán không
phải là trọng tài bị động Kể từ thời điểm
được chỉ định giải quyết vụ án, thẩm phán có
nghĩa vụ duy trì tiến trình tố tụng bình
thường (Điều 3 BLTTDSM), đưa ra các sáng kiến (Điều 7 và Điều 12 BLTTDSM) và cũng thật hiển nhiên, thẩm phán trở thành người bảo đảm, thậm chí là tác giả của hoạt động tranh tụng
2.1 Thẩm phán phải bảo đảm việc tuân thủ nguyên tắc tranh tụng
Khoản 2 Điều 16 BLTTDSM chỉ rõ hệ quả của nguyên tắc: Tất cả các tình tiết của
vụ kiện chỉ được thẩm phán cứu xét nếu chúng được tranh luận theo nguyên tắc tranh tụng Điều này thể hiện một khía cạnh trong nhiệm vụ thực tiễn của thẩm phán - người bảo đảm sự tuân thủ của nguyên tắc tranh tụng Do đó, thẩm phán phải kiểm tra việc áp dụng nguyên tắc này trong quan hệ giữa các đương sự và nếu cần phải tổ chức thực hiện nguyên tắc đó
2.1.1 Kiểm tra tư pháp hoạt động tranh tụng giữa các đương sự
Nhiệm vụ của thẩm phán là giám sát những gì mà các đương sự thực hiện nhằm tuân thủ triệt để những nghĩa vụ liên quan tới trách nhiệm cung cấp thông tin của họ Việc kiểm tra của thẩm phán phải được tiến hành thường xuyên trong mọi giai đoạn
tố tụng, đặc biệt là vào thời điểm khởi kiện
vụ án bằng cách xác minh xem bị đơn có được triệu tập hợp thức và có đủ thời gian để
ra hầu toà không Do đó, trong tiến trình tố tụng, thẩm phán phải bảo đảm cho các đương sự có được thời gian cần thiết để tìm hiểu các phương tiện, các tình tiết của vụ án
do các đương sự khác cung cấp
Trong khi thi hành công vụ, thẩm phán được sử dụng quyền hạn rất rộng: Thẩm phán có thể ra lệnh tái triệu tập bị đơn
Trang 5(khoản 1 Điều 471 BLTTDSM); ra lệnh xuất
trình các bằng chứng trong các giai đoạn tố
tụng, nếu cần có thể bằng công lực (Điều
133,134 BLTTDSM); bỏ ra ngoài cuộc tranh
luận các tài liệu không được trao đổi hoặc
trao đổi muộn (Điều 15, 135 BLTTDSM)…
2.1.2 Tổ chức hoạt động tranh tụng giữa
các đương sự
Trước tiên, thẩm phán phải giám sát
những gì mà các đương sự được thông tin về
thời gian mở phiên toà Nghĩa vụ này biểu
thị tầm quan trọng đặc biệt trong các vụ án
không có đại diện bắt buộc khi các đương sự
được gọi ra toà theo những thể thức nhất
định tuỳ từng cấp xét xử Nếu không được
thông báo hợp thức hoặc là bằng miệng khi
các đương sự ở phiên toà hoặc bằng giấy
triệu tập, phán quyết chắc chắn sẽ bị huỷ bỏ
Việc thi hành các biện pháp điều tra
cũng buộc thẩm phán và các kĩ thuật viên tư
pháp phải tổ chức hoạt động tranh tụng giữa
các đương sự theo các thể thức riêng biệt tuỳ
thuộc vào từng biện pháp đó
Cũng theo tinh thần của BLTTDSM thì
thẩm phán có trách nhiệm thúc đẩy tiến trình
tố tụng và đưa ra các vấn đề có tính chất
quyết định trong cuộc tranh luận Thẩm phán
có quyền kết thúc cuộc tranh luận khi
nguyên nhân của vụ kiện đã sáng tỏ bằng
cách kiểm tra những gì mà các đương sự đã
chuẩn bị cho việc đối đáp về các yêu cầu,
chứng cứ và lí lẽ của đối phương
2.2 Thẩm phán phải tự mình tuân thủ
nguyên tắc tranh tụng
Quy định này được ghi nhận rõ tại khoản
3 Điều 16 BLTTDSM theo đó thẩm phán
không thể ra phán quyết dựa vào các phương
tiện mà anh ta đã thừa nhận chính thức nếu không thông báo cho các đương sự để họ trình bày nhận xét về các phương tiện đó
Vụ án dân sự thực chất là sự xung đột về quyền lợi của các đương sự Do vậy, kể từ thời điểm được chỉ định tham gia một cách tích cực vào quá trình giải quyết vụ án, pháp luật đã áp đặt những nghĩa vụ tố tụng cho thẩm phán cũng như cho các đương sự, đặc biệt là nghĩa vụ yêu cầu đương sự trình bày ý kiến của mình về các phương tiện mà dựa vào đó thẩm phán ra phán quyết Trong luật
tư pháp tư, nguyên tắc tranh tụng xuất hiện như là sự đối trọng cần thiết đối với các quyền rất lớn mà thẩm phán có được
2.2.1 Điều kiện áp dụng
Đến đây chúng ta phải làm rõ hai khái niệm: Phương tiện được thừa nhận chính
thức và phương tiện trong vụ kiện
Nghĩa vụ do thẩm phán tiến hành nhằm xác định sự tồn tại của phương tiện được thừa nhận chính thức Từ đó phát sinh điều kiện kép:
- Trước tiên phải kể đến phương tiện hữu hiệu nhằm thiết lập phán quyết Do đó, những quy định liên quan tới thể thức thi hành không nằm trong loại này, vì vậy thẩm phán không có nghĩa vụ yêu cầu các đương
sự trình bày ý kiến Ví dụ: Thẩm phán áp
dụng biện pháp cưỡng chế, ra lệnh thi hành tạm thời phán quyết hoặc quyết định phương thức thanh toán
- Tiếp theo là nghĩa vụ do thẩm phán tiến hành nhằm thúc đẩy hoạt động tranh tụng chỉ được chấp nhận nếu phương tiện do thẩm phán sử dụng thuộc quyền hạn riêng biệt của mình ngoài tất cả sáng kiến của đương sự
Trang 6Người ta cũng đưa ra sự phân biệt không
mấy chắc chắn giữa phương tiện được thừa
nhận chính thức và phương tiện trong vụ
kiện, căn cứ vào đó thẩm phán có thể thiết
lập phán quyết mà không cần phải chất vấn
trước đối với các đương sự
Theo án lệ, phương tiện trong vụ kiện là
phương tiện sinh ra từ nội dung của yêu cầu
hoặc từ bằng chứng có được trong quá trình
giải quyết vụ án, đặc biệt là từ các kết luận
Hơn nữa thẩm phán không có nghĩa vụ bắt
buộc các đương sự trình bày ý kiến nhằm làm
rõ yêu cầu của nguyên đơn mà thẩm phán
phải kiểm tra sự tồn tại của các điều kiện luật
định khi thẩm phán tuyên bố về khả năng có
thể chấp nhận một chứng cứ, phạm vi và hậu
quả của một số sự kiện đã xảy ra, về một vài
tài liệu hoặc về giới hạn của quyền thụ lí đối
với việc đã được giải quyết bằng bản án,
quyết định đã có hiệu lực pháp luật
Án lệ cũng mở rộng sự miễn trừ hoạt
động tranh tụng trong trường hợp nguyên
đơn, qua giấy tờ tài liệu của mình đã không
làm sáng tỏ các căn cứ pháp lí cho yêu cầu
khởi kiện
Mục đích, tinh thần tại Điều 16 BLTTDSM
là giúp các đương sự đề phòng những hậu
quả bất ngờ trong trường hợp thẩm phán
đánh giá phương tiện mới Bởi vì, nếu trên
thực tế phương tiện được thẩm phán chấp
nhận nằm ngay trong vụ kiện thì phương tiện
đó được coi là các đương sự đã biết và kể từ
đó nghĩa vụ bác bỏ nó thuộc về các đương sự
mà không đợi đến việc thẩm phán phải nhắc
nhở về bổn phận của họ bằng cách yêu cầu
họ đưa ra kết luận
Dù sao đối với chứng cứ về các sự kiện,
khái niệm phương tiện trong vụ kiện chứa đựng tính bất ổn không thể lường trước và người ta tự biện hộ một cách vụng về cho chủ nghĩa kinh nghiệm cố hữu dùng để giải thích mà nó chính là đối tượng, nhất là khi thẩm phán thiết lập phán quyết của mình dựa vào các sự kiện thực tế mà các đương sự đã không thông báo cho nhau với tư cách là cơ
sở cho yêu cầu của họ
2.2.2 Phương tiện pháp luật và phương tiện thực tế
Trong giới hạn vừa nêu, nghĩa vụ đặt ra cho thẩm phán là chỉ được đưa ra phán quyết dựa vào phương tiện đã được thừa nhận chính thức sau khi đã yêu cầu các đương sự trình bày ý kiến và phán quyết này đương nhiên sẽ được tuyên căn cứ vào phương tiện pháp luật mà các phương tiện đó được ghi nhận một cách đặc biệt tại khoản 3 Điều 16 BLTTDSM
Ngược lại, điều luật này không đưa ra đưa
ra quy chiếu nào về các phương tiện thực tế Tuy vậy, người ta cũng phải thống nhất về mặt nguyên tắc là vấn đề này cũng được áp dụng tương tự trong cùng quy định đó Cuối cùng, người ta bổ sung rằng trong trường hợp giả thiết thẩm phán có quyền thừa nhận phương tiện hỗn hợp (thực tế và luật pháp) thì nguyên tắc tranh tụng vẫn được áp dụng trong các điều kiện nêu trên
2.2.3 Đánh giá sự kiện và hành vi tranh tụng
Khi thẩm phán tiến hành hoặc khôi phục việc đánh giá các sự kiện và hành vi tranh tụng như quy định tại Điều 12 BLTTDSM, phải chăng thẩm phán phải đệ trình việc đánh giá đó cho hoạt động tranh tụng của các đương sự? Án lệ hiện đại gần như đã xoá
Trang 7bỏ điều này
Nói chung, thẩm phán có toàn quyền
đánh giá các sự kiện và các hành vi tranh
tụng nhằm tìm kiếm cơ sở chân xác cho
phán quyết của mình Trong trường hợp thấy
rằng việc đánh giá đó có khiếm khuyết thì
thẩm phán có thể đánh giá lại trước khi ra
phán quyết
3 Thể thức của nguyên tắc tranh tụng
Thể thức của nguyên tắc tranh tụng rất
đơn giản, đối với thẩm phán là cốt sao yêu
cầu các đương sự đưa ra ý kiến về các
phương tiện chứng minh, đặc biệt là phương
tiện mới bằng kiến giải miệng của họ tại
phiên toà
Thông thường, chính trong quá trình
nghị án - thời điểm mà các thẩm phán soạn
thảo quyết định của mình mới xuất hiện
phương tiện mới
Trong trường hợp này thẩm phán có
quyền ra lệnh tranh luận lại (bản án của Toà
phá án ngày 10/7/1981) hoặc thẩm phán có
thể yêu cầu các đương sự đưa ra ý kiến của
họ dưới hình thức bản chú thích viết Quy
định này nhằm tránh việc hoãn phiên toà
trong thời gian kéo dài
III CHẾ TÀI KHI VI PHẠM NGUYÊN
TẮC TRANH TỤNG
1 Huỷ phán quyết
Các phán quyết của toà án đã tuyên dựa
vào các tình tiết không được tranh luận phù
hợp với nguyên tắc tranh tụng đều dẫn tới
hậu quả là bị huỷ bỏ
Việc huỷ phán quyết trong trường hợp
này mang tính trật tự công trên cơ sở yêu cầu
của đương sự bị ảnh hưởng do hành vi vi
phạm nguyên tắc tranh tụng Tiếp nhận giải
quyết yêu cầu này thuộc thẩm quyền của toà phúc thẩm hoặc toà phá án tuỳ thuộc vào tính chất và hiệu lực của phán quyết - đối tượng cần huỷ bỏ
2 Chứng cứ và suy đoán của thẩm phán
Áp dụng chế tài này, cơ quan xét xử cấp trên phải kiểm tra xem nguyên tắc tranh tụng
có được tuân thủ, tôn trọng hay không Để kết luận, người ta phải tìm kiếm các căn cứ pháp lí và chứng cứ thực tế
Các chứng cứ thường được rút ra từ các tài liệu của vụ kiện: Các kết luận, bản kê khai tài liệu đã trao đổi, văn kiện nghị án…
Do vậy chứng cứ do các đương sự cung cấp phải có trong hồ sơ vụ án hoặc trong sổ phiên toà
Tuy nhiên, để tránh việc thiếu căn cứ khi
ra quyết định huỷ phán quyết, án lệ đã không
do dự nhằm tạo ra những suy đoán làm cơ sở cho thẩm phán
Ví dụ: Trước Toà án thẩm quyền rộng, quyết định kết thúc điều tra suy đoán rằng các đương sự đã được thông báo về các tình tiết của vụ án hoặc khi tố tụng được thực hiện bằng hình thức nói thì những phương tiện được thẩm phán sử dụng làm cơ sở cho phán quyết của mình đều được rút ra sau khi
đã được tranh luận theo nguyên tắc tranh tụng trước thẩm phán Ngoài ra, người ta cũng xem như là có sai lệch khi bản án kết luận rằng việc một đương sự gửi tài liệu, giấy tờ cho lục sự được suy đoán là các đương sự khác cũng đã được thông báo Tóm lại, những suy đoán thuần tuý như vậy của thẩm phán có nguy cơ mở ra con đường dẫn tới sự lạm quyền nghiêm trọng ngay trong cơ chế áp dụng của bản thân nguyên tắc tranh tụng./