quyền lợi cho mình thuộc về đương sự nhưng vẫn khẳng định “Khi cần thiết, toà án có thể xác minh, thu th ập chứng cứ để đảm bảo cho vi ệc giải quyết vụ án được chính xác”.2 BLTTDS Việt
Trang 1Ths TrÇn Anh TuÊn *
1 Về phạm vi điều chỉnh và sự tiếp nhận
các yếu tố của tố tụng xét hỏi và tranh tụng
trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam
- V ề phạm vi điều chỉnh
Trước khi Bộ luật tố tụng dân sự
(BLTTDS) được xây dựng, ở Việt Nam có ba
pháp lệnh quy định ba loại thủ tục tố tụng
riêng biệt là thủ tục tố tụng dân sự, thủ tục tố
tụng kinh tế và thủ tục tố tụng lao động.(1)
BLTTDS hiện nay được xây dựng trên cơ sở
kế thừa và phát triển ba pháp lệnh đó đồng
thời tiếp thu những thành tựu lập pháp của
nhiều nước trên thế giới như Cộng hoà Pháp,
Mĩ, Australia, Nga, Trung Quốc, Nhật Bản,
Hàn Quốc, Đài Loan, Thái Lan, Singapore
để xây dựng một thủ tục tố tụng chung, thống
nhất có thể áp dụng để giải quyết tất cả các
tranh chấp có cùng bản chất phát sinh từ các
quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh
doanh, thương mại, lao động Như vậy, sau
rất nhiều năm tồn tại ba loại thủ tục tố tụng
riêng biệt như là một sự khác biệt so với thế
giới, BLTTDS ra đời đã đánh dấu một bước
chuyển biến lớn trong lịch sử pháp luật tố
tụng dân sự Việt Nam theo xu thế tất yếu của
thời đại, khẳng định sự nỗ lực của Việt Nam
trong việc hội nhập và tiếp thu thành quả của
nền văn minh nhân loại
- V ề sự tiếp nhận các yếu tố của tố tụng
xét h ỏi và tranh tụng
Trên thế giới hiện tồn tại nhiều hệ thống
pháp luật khác nhau, trong đó hai hệ thống
pháp luật được xem là chủ yếu đó là hệ thống
pháp luật châu Âu lục địa (continental law) và
hệ thống pháp luật án lệ (common law) Tương ứng với hai hệ thống pháp luật trên là hai loại hình thủ tục tố tụng chủ yếu là thủ tục
tố tụng xét hỏi và thủ tục tố tụng tranh tụng
Có thể nhận xét rằng hai loại hình tố tụng này đều có những ưu điểm và nhược điểm nhất định Tuy nhiên, để khắc phục những hạn chế của mỗi loại hình tố tụng, xu hướng cải cách thủ tục tố tụng trên thế giới hiện nay
là pháp luật tố tụng dân sự của các nước đang ngày càng xích lại gần nhau hơn, loại bỏ dần những yếu tố không hợp lí và chấp nhận những ưu điểm của hệ thống pháp luật khác Theo dòng lịch sử, có thể thấy rằng pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam trước đây thuộc loại hình thủ tục tố tụng xét hỏi, coi trọng việc điều tra, thu thập chứng cứ của thẩm phán và hồ sơ vụ án Điều này có thể được minh chứng bởi các quy định về thủ tục tố tụng dân sự tại Nam kì, Trung Kì và Bắc kì trong thời kì Pháp thuộc được xây đựng trên
cơ sở mô phỏng và giản lược các quy định của BLTTDS Pháp năm 1807 Sau này, các quy định tại Pháp lệnh thủ tục giải quyết các
vụ án dân sự năm 1989, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế năm 1994, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động năm 1996 mặc dù quy định nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh bảo vệ
* Giảng viên Khoa luật dân sự Trường Đại học Luật Hà Nội
Trang 2quyền lợi cho mình thuộc về đương sự nhưng
vẫn khẳng định “Khi cần thiết, toà án có thể
xác minh, thu th ập chứng cứ để đảm bảo cho
vi ệc giải quyết vụ án được chính xác”.(2)
BLTTDS Việt Nam năm 2004 về cơ bản
cũng được xây dựng trên cơ sở thủ tục tố tụng
xét hỏi của các nước theo hệ thống luật châu
Âu lục địa như BLTTDS mới của Pháp năm
1975 nhưng có kết hợp các yếu tố của thủ tục
tố tụng tranh tụng của các nước theo hệ thống
pháp luật án lệ Cụ thể là BLTTDS Việt Nam
hiện nay vẫn coi hồ sơ vụ án là tài liệu quan
trọng làm cơ sở cho việc giải quyết vụ án
nhưng đề cao hơn nghĩa vụ tự chứng minh của
đương sự so với các quy định trước kia, trong
trường hợp xét thấy chứng cứ trong hồ sơ chưa
đủ cơ sở để giải quyết thì thẩm phán yêu cầu
đương sự giao nộp bổ sung chứng cứ Toà án
chỉ tiến hành các biện pháp thu thập chứng cứ
khi đương sự không thể tự mình thu thập được
và có yêu cầu toà án thu thập chứng cứ.(3)
Theo BLTTDS Việt Nam hiện nay, mặc
dù hội đồng xét xử giữ vai trò điều khiển
phiên tòa nhưng các yếu tố của thủ tục tố tụng
tranh tụng được coi trọng như trong phần xét
hỏi luật sư có quyền chất vấn bên đối thủ, các
đương sự có thể đặt câu hỏi đối với nhau
Ngoài ra, đương sự được biết và ghi chép, sao
chụp tài liệu, chứng cứ do các đương sự khác
xuất trình hoặc do toà án thu thập; tất cả các
tình tiết, chứng cứ, tài liệu dùng làm căn cứ
cho việc giải quyết vụ án đều được các bên
tranh luận công khai, trực tiếp và bằng lời nói
tại phiên tòa, luật sư giữ vai trò chủ động
trong quá trình tranh tụng, toà án không được
hạn chế thời gian tranh luận mà phải tạo điều
kiện cho những người tham gia tranh luận
trình bày hết ý kiến của họ.(4)
Việc tiếp nhận các yếu tố của thủ tục tố tụng tranh tụng trong BLTTDS Việt Nam cũng đặt ra những vấn đề mà chúng ta cần giải quyết Trong thực tiễn, sau khi BLTTDS có hiệu lực pháp luật, các toà án dường như trút được một gánh nặng trong việc chứng minh làm rõ sự thật của vụ án với quan niệm các đương sự phải tự chứng minh cho quyền lợi của mình, nếu không tự chứng minh được sẽ
bị toà án xử bác yêu cầu Tuy nhiên, cũng phải nhìn nhận rằng Việt Nam là một đất nước mà
đa phần dân số đều làm nông nghiệp, do vậy, các quy định này của BLTTDS mặc dù không gây xáo trộn đối với các doanh nghiệp, các thị dân thành phố nhưng đối với khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa thì đó lại quả là một vấn đề không nhỏ Người nông dân Việt Nam vốn xa lạ với pháp đình và càng xa lạ hơn với việc tự chứng minh, do vậy, sau khi nộp đơn kiện rồi thì thường phó mặc cho toà án giải quyết mà không biết rằng mình phải tự đi thu thập các tài liệu cần thiết để chứng minh Trong khi đó, theo quy định của BLTTDS hiện nay thì toà án không còn được tự mình tiến hành các biện pháp thu thập chứng cứ để hoàn thiện hồ sơ vụ án như trước đây nữa Như vậy, hậu quả tất yếu là thời gian giải quyết vụ án sẽ bị kéo dài hơn so với các quy định trước kia Để khắc phục tình trạng này, thiết nghĩ cơ quan có thẩm quyền nên có những quy định mang tính chuyển tiếp cho việc thực hiện Cụ thể là cần quy định rõ khi nhận đơn khởi kiện của đương sự, toà án phải giải thích rõ cho đương sự về nghĩa vụ chứng minh của họ cũng như các chứng cứ, tài liệu
cụ thể cho mỗi vụ án mà đương sự phải xuất trình và quyền yêu cầu toà án thu thập chứng
cứ nếu không tự mình thu thập được
Trang 32 Về sự tiếp nhận các quy định về thủ
tục áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời
trong Bộ luật tố tụng dân sự Việt Nam
- Vi ệc tiếp nhận các quy định về phạm vi
và th ời điểm áp dụng các biện pháp khẩn cấp
t ạm thời
Trong quá trình xây dựng các quy định về
thủ tục áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm
thời trong BLTTDS, chúng ta cũng đã tham
khảo pháp luật tố tụng dân sự của nhiều nước
trên thế giới về vấn đề này như pháp luật tố
tụng dân sự Mĩ, Pháp, Nga, Trung Quốc…
Việc tham khảo pháp luật của các nước này
cho thấy trên cơ sở sự kết hợp hài hoà giữa
các nguyên tắc truyền thống, sự mềm dẻo,
linh hoạt trong việc xây dựng thủ tục giải
quyết tranh chấp, các nhà lập pháp đã xây
dựng những quy định về thủ tục áp dụng các
biện pháp khẩn cấp tạm thời nhằm đảm bảo
cho việc xét xử, thi hành án hoặc giải quyết
những yêu cầu khẩn cấp của đương sự Theo
pháp luật tố tụng dân sự của các nước nói
trên, quyết định áp dụng các biện pháp khẩn
cấp tạm thời đều là những quyết định mang
tính chất tạm thời và không có hiệu lực như
một bản án xử sơ thẩm về nội dung của vụ
tranh chấp Pháp luật tố tụng dân sự của một
số nước như Mĩ, Pháp, Trung Quốc cho phép
áp dụng các biện pháp khẩn cấp trước khi
khởi kiện hoặc trong quá trình toà án giải
quyết một vụ kiện chính hoặc có thể được áp
dụng một cách hoàn toàn độc lập
Tuy nhiên, các quy định về biện pháp khẩn
cấp tạm thời trong pháp luật tố tụng dân sự của
các nước này cũng có những điểm khác biệt
nhất định Chẳng hạn, trong BLTTDS Pháp có
hai loại thủ tục tố tụng được thiết lập để áp
dụng giải quyết những loại việc mang tính
khẩn cấp là thủ tục xét xử cấp thẩm và thủ tục xét xử theo đơn yêu cầu Điểm khác biệt cơ bản giữa hai thủ tục này là vấn đề có triệu tập
bị đơn đến tham gia tố tụng hay không.(5) Theo thủ tục xét xử theo đơn yêu cầu trong tố tụng dân sự Pháp không cần thiết phải triệu tập bị đơn đến tham gia tố tụng, ngược lại thủ tục xét
xử cấp thẩm tuân theo trình tự tranh tụng, việc triệu tập bị đơn đến tham gia phiên xét xử là bắt buộc Thủ tục xét xử theo đơn yêu cầu không đòi hỏi thẩm phán phải triệu tập bị đơn đến tham gia tố tụng, bởi lẽ thủ tục này được
áp dụng đối với các loại việc có nhiều bị đơn
mà toà án không thể triệu tập các đương sự đến tham gia tố tụng hoặc các vụ việc mà việc triệu tập bị đơn là khó khăn Ví dụ: buộc những người đình công chiếm giữ công sở phải rời nơi họ chiếm giữ, sở hữu chủ yêu cầu trục xuất những người chiếm hữu nhà của họ một cách bất hợp pháp mà không có hợp đồng thuê nhà, lập bằng chứng về việc ngoại tình.(6) Các quy định về thủ tục trục xuất những người chiếm hữu nhà một cách bất hợp pháp cũng thường được áp dụng trong tố tụng dân sự của Ý và Tây Ban Nha
Ở Việt Nam, những thủ tục tương tự đã từng được áp dụng trong thời kì Pháp thuộc
và chế độ cũ dưới tên gọi là thủ tục cấp thẩm
và thủ tục án lệnh phê đơn với thẩm quyền chuyên biệt trong việc ra quyết định thuộc về chánh án Theo những thủ tục này, chánh án toà án có thể quyết định áp dụng các biện pháp cần thiết ngay cả khi toà án chưa thụ lí
vụ kiện Tiếc rằng, theo dòng thời gian, các quy định này không còn được áp dụng nữa Trong quá trình xây dựng BLTTDS, Ban soạn thảo đã phối hợp với Nhà Pháp luật Việt
- Pháp tổ chức nhiều cuộc hội thảo về pháp
Trang 4luật tố tụng dân sự, đặc biệt là tham khảo kinh
nghiệm của Pháp về thủ tục cấp thẩm nhằm
hoàn thiện các quy định về thủ tục áp dụng các
biện pháp khẩn cấp tạm thời trong Dự thảo
BLTTDS Việt Nam Tuy nhiên, BLTTDS Việt
Nam chỉ tiếp thu một phần kinh nghiệm của
Pháp về thủ tục cấp thẩm để xây dựng các quy
định về một số biện pháp khẩn cấp mang tính
chất buộc tạm phải thực hiện trước một phần
nghĩa vụ như buộc thực hiện trước một phần
nghĩa vụ cấp dưỡng, nghĩa vụ bồi thường thiệt
hại do tính mạng, sức khoẻ bị xâm phạm; buộc
người sử dụng lao động phải tạm ứng tiền
công, tiền bồi thường v.v BLTTDS của
chúng ta hiện nay chỉ quy định các biện pháp
khẩn cấp tạm thời nhằm đảm bảo cho việc xét
xử và thi hành án trong vụ kiện chính mà
không có sự phân biệt giữa hai loại thủ tục
xét xử cấp thẩm và xét xử theo đơn yêu cầu
như trong tố tụng dân sự Pháp.(7)
Có thể nhận xét rằng các quy định về thời
điểm áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm
thời trong BLTTDS hiện nay chủ yếu được
xây dựng trên cơ sở kế thừa ba pháp lệnh về
thủ tục tố tụng trước đó và được bổ sung,
hoàn thiện hơn trên cơ sở tham khảo các quy
định tương ứng trong pháp luật tố tụng dân sự
của một số nước trên thế giới Tuy nhiên, sự
tiếp thu một số quy định của các nước về thời
điểm áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm
thời trong BLTTDS Việt Nam cũng còn
nhiều hạn chế Theo pháp luật tố tụng dân sự
của nhiều nước trên thế giới mà điển hình là
pháp luật tố tụng dân sự của Mĩ, Pháp và
Trung Quốc thì thủ tục áp dụng các biện pháp
khẩn cấp có thể được áp dụng trước khi khởi
kiện hoặc trong quá trình toà án giải quyết
một vụ kiện chính hoặc có thể được áp dụng
một cách hoàn toàn độc lập.(8) Trong quá trình xây dựng BLTTDS, trên cơ sở tham khảo quy định trong pháp luật tố tụng dân sự các nước nói trên, các nhà soạn thảo của chúng ta đã đưa vào điểm a khoản 1 Điều 120
Dự thảo BLTTDS (lần thứ XI) một quy định
theo hướng: “Nếu biện pháp khẩn cấp tạm
th ời được áp dụng trước khi người yêu cầu
kh ởi kiện vụ án mà hết thời hạn 10 ngày làm
vi ệc, kể từ ngày toà án ra quyết định áp dụng
ng ười yêu cầu đã không khởi kiện vụ án tại
toà án thì bi ện pháp khẩn cấp tạm thời này bị
hu ỷ bỏ” Tuy nhiên, sự tiếp thu này đã gây
nhiều tranh cãi và phản ứng khác nhau, sau nhiều bàn thảo và tranh luận cam go giữa những người nghiên cứu về tố tụng và các nhà thực tiễn, chúng ta đã đi đến một giải pháp trung dung giữa các quy định mang tính truyền thống và các kĩ thuật tố tụng hiện đại của thế giới Cụ thể là BLTTDS Việt Nam đã
mở rộng hơn phạm vi áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời so với các quy định trước kia, cho phép đương sự có thể yêu cầu toà án
áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời cùng với việc nộp đơn khởi kiện vụ án hoặc trong quá trình giải quyết vụ án (Điều 99 BLTTDS) nhưng không cho phép yêu cầu áp dụng biện pháp này trước khi khởi kiện vụ án
- V ề việc tiếp nhận các quy định nhằm
b ảo vệ quyền lợi của người bị áp dụng các
bi ện pháp khẩn cấp tạm thời
Để đảm bảo quyền lợi chính đáng của người bị áp dụng biện pháp khẩn cấp và ngăn ngừa việc lạm quyền khi yêu cầu áp dụng biện pháp này, pháp luật tố tụng dân sự của nhiều nước trên thế giới như Mỹ, Pháp, Trung Quốc đều có những quy định về buộc thực hiện biện pháp bảo đảm khi yêu cầu áp dụng
Trang 5biện pháp khẩn cấp tạm thời Điều 120
BLTTDS Việt Nam hiện nay đã tiếp thu một
số quy định về buộc thực hiện biện pháp bảo
đảm khi yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp
tạm thời theo pháp luật tố tụng dân sự của các
nước nói trên Theo khoản 1 Điều 120
BLTTDS thì “Người yêu cầu toà án áp dụng
m ột trong các biện pháp khẩn cấp tạm thời
quy định tại các khoản 6, 7, 8, 10 và 11 Điều
102 c ủa Bộ luật này phải gửi một khoản tiền,
kim khí quý, đá quý hoặc giấy tờ có giá do
toà án ấn định tương đương với nghĩa vụ tài
s ản mà người có nghĩa vụ phải thực hiện để
b ảo vệ lợi ích của người bị áp dụng biện pháp
kh ẩn cấp tạm thời và ngăn ngừa sự lạm dụng
quy ền yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp
t ạm thời từ phía người có quyền yêu cầu”
Thực tiễn vận dụng các quy định nêu trên của
BLTTDS đã đặt ra những vấn đề sau đây:
Theo tinh thần của Điều luật này thì mặc
dù trong “ tình thế khẩn cấp, cần phải bảo
v ệ ngay bằng chứng, ngăn chặn hậu quả
nghiêm tr ọng có thể xảy ra ” mà người yêu
cầu toà án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm
thời chưa thực hiện biện pháp bảo đảm thì toà
án vẫn không ra quyết định áp dụng biện
pháp khẩn cấp tạm thời Như vậy, việc vận
dụng các quy định về buộc thực hiện biện
pháp bảo đảm này trong thực tiễn có nhiều
trường hợp không bảo đảm được quyền lợi
chính đáng của nguyên đơn Mặt khác, bị đơn
có thể lợi dụng các quy định của pháp luật để
tẩu tán tài sản, đặc biệt là đối với các vụ án
mà nguyên đơn là người nghèo không có tiền,
kim khí quý, đá quý hoặc giấy tờ có giá để
gửi vào tài khoản phong toả tại ngân hàng nơi
có trụ sở của toà án
Thiết nghĩ, các cơ quan chức năng cần
sớm có những nghiên cứu, hướng dẫn cụ thể
để các quy định về buộc thực hiện biện pháp bảo đảm khi vận dụng trong thực tiễn có thể đảm bảo được sự công bằng và quyền, lợi ích hợp pháp của các bên đương sự
3 Sự tiếp nhận các quy định về thủ tục rút gọn trong Bộ luật tố tụng dân sự Việt Nam
Xuất phát từ những đòi hỏi của công cuộc cải cách tư pháp và thực tiễn giải quyết các tranh chấp dân sự, kinh tế, lao động tại Hội nghị lần thứ 3 Ban chấp hành trung ương Đảng Khoá VIII, Đảng ta đã chỉ rõ cần phải
“Nghiên c ứu áp dụng thủ tục rút gọn để xét
x ử kịp thời một số vụ án đơn giản, rõ ràng”
Thực hiện tinh thần này những nhà nghiên cứu tâm huyết đã dành nhiều thời gian và công sức cho việc nghiên cứu pháp luật tố tụng dân sự nước ngoài để xây dựng một thủ tục rút gọn ở Việt Nam
Việc nghiên cứu pháp luật tố tụng nước ngoài cho thấy rằng pháp luật tố tụng dân sự của nhiều nước trên thế giới bên cạnh thủ tục
tố tụng thông thường đều có xây dựng một thủ tục tố tụng giản đơn hoặc thủ tục ra lệnh
áp dụng đối với những tranh chấp đơn giản,
rõ ràng hoặc giá ngạch thấp
BLTTDS của Pháp, Nga, Trung Quốc và Đài Loan đều có những quy định về thủ tục ra lệnh thanh toán nợ với những khoản nợ có chứng cứ rõ ràng như có khế ước vay nợ viết,
nợ do cam kết nhận hoặc rút hối phiếu (LC),
kí nhận một kì phiếu Ngoài ra, BLTTDS của những nước này và một số nước như Mĩ, Australia và một số nước châu Á có điều kiện gần gũi và tương đồng với Việt Nam như Nhật Bản, Thái Lan, Hàn Quốc, Singapore đều có những quy định về thủ tục giản đơn đối với những vụ kiện có giá trị nhỏ (đòi món
Trang 6nợ nhỏ) do một thẩm phán giải quyết và phán
quyết được đem ra thi hành ngay, đương sự
không có quyền kháng cáo theo thủ tục phúc
thẩm hoặc hạn chế quyền kháng cáo phá án
của đương sự
Trong thực tiễn xây dựng BLTTDS ở
Việt Nam thì việc xác định phạm vi loại việc
được giải quyết theo thủ tục rút gọn cũng còn
có nhiều ý kiến khác nhau Về vấn đề này,
pháp luật tố tụng dân sự các nước cũng chỉ
dừng lại ở mức độ rất chung là thủ tục rút gọn
được áp dụng với những vụ án dân sự đơn
giản, sự việc rõ ràng, tranh chấp không gay
gắt Theo pháp luật tố tụng dân sự Đài Loan
thì phạm vi các loại việc được giải quyết theo
thủ tục giản đơn được quy định tương đối rõ
ràng, cụ thể hơn Trên cơ sở tham khảo pháp
luật tố tụng dân sự của các nước nói trên, các
nhà lập pháp Việt Nam đã đưa vào Dự thảo
BLTTDS (lần thứ V) các quy định tại Điều
237, Điều 238 nhằm xác định phạm vi những
loại việc được giải quyết theo thủ tục rút gọn
Theo đó thủ tục rút gọn được áp dụng để giải
quyết đối với các quan hệ tranh chấp về nghĩa
vụ đã rõ ràng, bị đơn không phản đối các yêu
cầu của nguyên đơn; sự việc đơn giản các
đương sự đồng ý giải quyết theo thủ tục rút
gọn; yêu cầu tuyên bố giao dịch dân sự vô
hiệu Ngoài ra, theo Dự thảo này, thủ tục rút
gọn cũng có thể áp dụng đối với các vụ kiện
có giá ngạch ở mức chỉ phải tính án phí như
vụ kiện không có giá ngạch
Như vậy, Dự thảo BLTTDS Việt Nam
không có sự phân biệt giữa hai loại thủ tục rút
gọn là thủ tục ra lệnh thanh toán nợ với
những khoản nợ có chứng cứ rõ ràng và thủ
tục giản đơn với những vụ kiện có giá trị nhỏ
như pháp luật tố tụng dân sự của Pháp, Nga,
Trung Quốc và Đài Loan mà đi theo hướng xây dựng một thủ tục rút gọn chung thống nhất đối với tất cả các loại việc nêu trên Ngoài ra, các quy định tại Dự thảo tuy có những điểm tương đồng với thủ tục giản đơn theo pháp luật tố tụng dân sự của một số nước như Mỹ, Australia và một số nước châu Á có điều kiện gần gũi và tương đồng với Việt Nam như Nhật Bản, Thái Lan, Hàn Quốc, Singapore ở chỗ áp dụng với những vụ kiện đơn giản, có giá trị nhỏ nhưng lại khác biệt
ở chỗ thủ tục này còn có thể áp dụng đối với các quan hệ tranh chấp về nghĩa vụ đã rõ ràng, bị đơn không phản đối các yêu cầu của nguyên đơn; sự việc đơn giản các đương sự đồng ý giải quyết theo thủ tục rút gọn; yêu cầu tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu mà không căn cứ vào giá trị của việc kiện
Một vấn đề nữa cũng gây nhiều tranh luận khi xây dựng thủ tục tố tụng dân sự rút gọn ở Việt Nam là ngoài việc đơn giản hoá về thủ tục, rút ngắn về thời hạn thì quyền kháng cáo, khiếu nại của đương sự đối với bản án được giải quyết theo thủ tục rút gọn như thế nào ? Đương sự có quyền kháng cáo hay quyền khiếu nại ? Nếu quy định bản án được giải quyết theo trình tự rút gọn có hiệu lực pháp luật ngay sẽ tránh được một bên lạm dụng quyền kháng cáo nhằm trì hoãn việc thực hiện nghĩa vụ, bảo vệ kịp thời quyền lợi chính đáng, hợp pháp của một bên nhưng lại không đảm bảo nguyên tắc xét xử hai cấp Và nếu như ngược lại thì vụ án được coi là đơn giản,
rõ ràng đó vẫn phải được xem xét lại ở cấp phúc thẩm và việc giải quyết vụ án vẫn bị kéo dài một cách không cần thiết Về vấn đề này tồn tại hai loại quan điểm trái ngược nhau Quan điểm thứ nhất cho rằng nguyên tắc
Trang 7toà án xét xử tập thể và quyết định theo đa số,
nguyên tắc xét xử có hội thẩm nhân dân tham
gia và nguyên tắc xét xử hai cấp là những
nguyên tắc bất di, bất dịch, do vậy, việc xây
dựng thủ tục rút gọn theo hướng vụ việc do
một thẩm phán giải quyết và phán quyết có
hiệu lực pháp luật ngay là không phù hợp với
thực tiễn lập pháp của Việt Nam Ngược lại,
những người theo quan điểm ủng hộ cải cách
thì cho rằng cần thiết phải xây dựng trong
BLTTDS một thủ tục tố tụng dân sự rút gọn
theo mô hình của một số nước như Pháp,
Nga, Trung Quốc
Sau nhiều cuộc hội thảo, mặc dù còn nhiều
ý kiến và quan điểm tranh luận rất khác nhau
nhưng cuối cùng thủ tục rút gọn đã được xây
dựng tại chương XV Dự thảo BLTTDS (lần
thứ V) gồm 7 điều luật (Điều 234 - Điều 243)
Tuy còn có những điểm còn phải chỉnh sửa
nhưng các quy định về thủ tục rút gọn này đã
phần nào đáp ứng được những đòi hỏi mà thực
tiễn giải quyết tranh chấp đặt ra và tiếp thu
được những tinh hoa của pháp luật tố tụng dân
sự trên thế giới Cho tới Dự thảo VIII, phạm vi
áp dụng thủ tục rút gọn này đã bị thu hẹp bởi 3
điều luật (Điều 267 - Điều 269) tại chương XV
với tên gọi là “ Thủ tục yêu cầu thanh toán
nợ” Có thể thấy rằng thủ tục yêu cầu thanh
toán nợ trong Dự thảo VIII về cơ bản là sự mô
phỏng các quy định về thủ tục ra lệnh thanh
toán đối với các món nợ có chứng cứ rõ ràng
trong BLTTDS Pháp, Trung Quốc, Nga nhưng
lại thiếu vắng các quy định về cơ chế xét xử
một lần, phán quyết của toà án có hiệu lực
pháp luật ngay, sự việc chỉ do một thẩm phán
giải quyết đối với những việc kiện có giá trị
nhỏ Rất tiếc rằng, cho tới Dự thảo X và XI thì
thủ tục rút gọn đã hoàn toàn “mất tích” Xem
ra “số phận” của thủ tục rút gọn này cũng thật
là long đong trên con đường đi tìm chỗ đứng của nó trong BLTTDS Việt Nam
Sau khi BLTTDS ra đời, nhiều ý kiến cho rằng thủ tục giải quyết việc dân sự được quy định từ Điều 311 đến Điều 341 BLTTDS năm
2004 chính là thủ tục rút gọn Tuy nhiên, việc nghiên cứu pháp luật tố tụng dân sự của nhiều nước trên thế giới cho thấy rằng đây chỉ là các thủ tục tố tụng đặc biệt chứ không phải là thủ tục rút gọn theo đúng nghĩa của nó Điều này đã được minh chứng bởi Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ chính trị Ban chấp hành trung ương Đảng ngày 2/6/2005 về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 tiếp tục
khẳng định cần phải “Xây dựng cơ chế xét xử
theo th ủ tục rút gọn đối với những vụ án có
đủ một số điều kiện nhất định”
Như vậy, việc xây dựng thủ tục tố tụng dân sự rút gọn ở Việt Nam đã không thực sự thành công bởi nhận thức và quan điểm khác nhau của các nhà nghiên cứu, xây dựng, áp dụng pháp luật của Việt Nam Hi vọng rằng, một ngày không xa những thủ tục này với tư cách là một thành tựu của nền văn minh nhân loại sẽ hiện diện trong pháp luật tố tụng dân
sự nước nhà Và như vậy, những nhà nghiên cứu hẳn còn nhiều việc cần làm để góp sức mình vào sự nghiệp chung này
4 Sự tiếp nhận pháp luật tố tụng dân
sự nước ngoài trong việc xây dựng thủ tục thi hành án dân sự tại Việt Nam
Tham khảo pháp luật tố tụng dân sự của một số nước trên thế giới cho thấy ở nhiều nước, việc thi hành án do thừa phát lại thực hiện Chẳng hạn ở Pháp, Bỉ, Hà Lan và Lux-xem-bourg, nhà nước không nắm trong tay tất
cả các đặc quyền như ở một số nước khác Nét đặc thù này thể hiện qua việc nhà nước trao cho thừa phát lại trách nhiệm thi hành
Trang 8các bản án dân sự do toà án tuyên Thừa phát
lại không phải là công chức nhà nước, được
hành nghề theo quy chế tự do và hưởng thù lao
từ lệ phí thi hành án thu được theo tỉ lệ nhất
định Ở Pháp thừa phát lại chịu trách nhiệm
trước toà án về những sai phạm chuyên môn
và chịu trách nhiệm trước các tổ chức chuyên
môn của nghề hoặc trước viện trưởng viện
công tố bên cạnh toà sơ thẩm thẩm quyền rộng
về những sai phạm kỉ luật của mình.(9) Ngược
lại, Thụy Điển, Trung Quốc, Nga, Thái Lan,
Singapore và các nước xã hội chủ nghĩa Đông
Âu trước đây lại theo mô hình thi hành án
công, tổ chức thi hành án bao gồm hệ thống
các cơ quan thuộc bộ máy nhà nước, các chấp
hành viên là công chức, viên chức hưởng
lương từ ngân sách nhà nước Ngoài ra, một
số nước như Nhật Bản, Đức, Hà Lan, Áo,
Thuỵ Sĩ theo mô hình tổ chức thi hành án
bán công, việc thi hành án do viên chức thi
hành án đảm nhiệm nhưng trên nguyên tắc tự
lấy thu bù đắp chi phí thi hành án
Xét thực tiễn thi hành án ở Việt Nam
dưới thời kì Pháp thuộc thì việc thi hành án
án không do cơ quan thi hành án của nhà
nước thực hiện mà việc thi hành án do thừa
phát lại đảm nhiệm Thừa phát lại do nhà
nước bổ nhiệm nhưng không phải là công
chức nhà nước, không hưởng lương từ ngân
sách nhà nước mà được trả thù lao từ các
khoản lệ phí thu được từ người được thi hành
án theo một tỉ lệ nhất định Từ năm 1950, trên
cơ sở Điều 19 Sắc lệnh số 85/ SL ngày
22/5/1950 “Về cải cách bộ máy tư pháp và
luật tố tụng” thì việc thi hành án dân sự được
giao toà án đảm nhiệm Cho đến năm 1993,
sau khi Nhà nước ban hành Pháp lệnh thi
hành án mới ngày 21/4/1993 thì việc tổ chức
thi hành án dân sự được bàn giao cho cơ quan
thi hành án dân sự thực hiện, các toà án không còn đảm nhận công tác thi hành án dân
sự nữa Theo pháp luật hiện hành, việc thi hành các bản án, quyết định của toà án vẫn thuộc trách nhiệm của các cơ quan nhà nước
mà cụ thể là các cơ quan thi hành án dân sự Sau hơn mười năm áp dụng mô hình thi hành
án công do các cơ quan thi hành án dân sự thực hiện, bên cạnh những ưu điểm của nó cũng bộc lộ những hạn chế, dẫn tới quyền lợi hợp pháp của người được thi hành án không được bảo đảm, việc thi hành án bị kéo dài
Do vậy, trên cơ sở nghiên cứu các quy định về thừa phát lại trong lịch sử và tiếp thu các quy định về thủ tục thi hành án dân sự trên thế giới, chúng ta có thể vận dụng để xây dựng một cơ chế thi hành án hợp lí trong điều kiện hiện nay Trong Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 Bộ chính trị Ban chấp hành trung ương Đảng đã
chỉ rõ phải “ từng bước xã hội hoá hoạt động thi hành án” Tiếp theo đó, Nghị quyết
số 49-NQ/TW của Bộ chính trị Ban chấp hành trung ương Đảng ngày 2/6/2005 về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020
cũng xác định “ làm thí điểm ở một số địa
ph ương về chế định thừa phát lại, từng bước
xã h ội hoá các hoạt động bổ trợ tư pháp”
Như vậy, việc nghiên cứu sử dụng luật so sánh trong việc xây dựng pháp luật tố tụng dân
sự Việt Nam cho thấy rằng trong quá trình xây dựng BLTTDS, các nhà lập pháp của chúng ta
đã tiếp thu được các quy định hợp lí trong pháp luật tố tụng dân sự của nhiều nước trên thế giới để hoàn thiện pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam Chẳng hạn như sự tiếp nhận các yếu tố của tố tụng xét hỏi và tranh tụng, các quy định về phạm vi, thời điểm áp dụng các
Trang 9biện pháp khẩn cấp tạm thời, thực hiện biện
pháp bảo đảm khi áp dụng các biện pháp khẩn
cấp tạm thời cũng như các quy định về xã hội
hoá hoạt động thi hành án
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt
được cũng còn nhiều vấn đề đòi hỏi chúng ta
phải tiếp tục nghiên cứu kinh nghiệm của
nước ngoài và tìm kiếm giải pháp khắc phục
cho phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh cụ thể
của Việt Nam Như đã phân tích ở trên, khi
tiếp nhận các yếu tố của thủ tục tố tụng tranh
tụng và xét hỏi trong pháp luật tố tụng dân sự
các nước vào nội luật, chúng ta cần nghiên
cứu để xây dựng các quy định mang tính
chuyển tiếp cho phù hợp với điều kiện thực
tiễn và đặc điểm tâm lí của người Việt Nam
Cụ thể là khi tiếp nhận các quy định về thủ
tục tố tụng tranh tụng của các nước theo
truyền thống common law như Anh, Mĩ,
Australia chúng ta phải tính đến những đặc
điểm riêng biệt của Việt Nam như đặc điểm
về một nền văn minh nông nghiệp lúa nước,
người dân Việt sống hướng nội và có
“khuynh hướng duy hoà”(10) hơn là chủ động
tranh đấu để tự bảo vệ quyền lợi cá nhân như
ở các nước phương Tây
Bên cạnh đó, việc tiếp tục nghiên cứu
pháp luật nước ngoài về thời điểm, phạm vi
áp dụng cũng như các quy định về thực hiện
biện pháp bảo đảm khi áp dụng các biện pháp
khẩn cấp tạm thời nhằm hoàn thiện các quy
định tương ứng trong BLTTDS Việt Nam,
khắc phục những vướng mắc nảy sinh từ thực
tiễn áp dụng các quy định của BLTTDS là hết
sức cần thiết Ngoài ra, theo xu hướng hội
nhập quốc tế và trong bối cảnh Việt Nam đã
gia nhập Tổ chức thương mại thế giới
(WTO), chúng ta cũng cần phải tiếp tục
nghiên cứu các loại hình thủ tục tố tụng giản lược của các nước như Mĩ, Australia, Pháp, Nga, Trung Quốc, Nhật Bản để vận dụng xây dựng thủ tục rút gọn trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam, đáp ứng những đòi hỏi của thực tiễn hiện nay về cải cách và đơn giản hoá thủ tục tố tụng dân sự./
(1).Xem: Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân
sự năm 1989, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế năm 1994 và Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động năm 1996
(2).Xem: Điều 3 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ
án dân sự năm 1989; Điều 3, 4 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế năm 1994, Điều 3 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động năm 1996 (3).Xem: Điều 6 và các điều từ Điều 85 đến Điều 98 BLTTDS
(4).Xem: Các điều 222, 232, 233 BLTTDS
(5).Xem: Jean Vincent et Serge Guinchard, Procédure civile, Nxb DALLOZ, 2001, tr 267, 277.
(6).Xem: Pierre ESTOUP, La pratique des procédures rapides, Nxb LITEC, 1990, tr 3, 285 , 327.
(7).Xem: Jean - Marie COULON, Kỉ yếu Hội thảo pháp luật tố tụng dân sự, Nhà Pháp Luật Việt-Pháp,
1998, tr 38, 39, 40 Áp dụng các Điều 808, 809 BLTTDS Pháp, chánh án toà sơ thẩm thẩm quyền rộng
có thể áp dụng biện pháp cưỡng chế trả nhà đối với người thuê nhà không có hợp đồng thuê hoặc chỉ định một uỷ viên quản trị tạm thời một công ti trong trường hợp công ti không thể hoạt động do có sự bất đồng giữa các cổ đông, cưỡng chế một người thuê nhà ra khỏi nhà vì ngôi nhà có nguy cơ bị sụp đổ, quyết định cấm cạnh tranh bất hợp pháp, cấm phát hành các ấn phẩm có nội dung xâm phạm đời tư của cá nhân (8).Xem: Điều 13, chương II; Điều 4, chương IV Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kì ngày 13/7/2000; Jean Vincent et Serge Guinchard, Procédure civile, Nxb DALLOZ, 2001, tr 612, 622; Điều 93 BLTTDS của nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa
(9).Xem: “L'Huissier de Justice” - Tài liệu do Hội đồng thừa phát lại Pháp ấn hành tháng 2/1994, tr.4 (10).Xem: Trần Quốc Vượng, «
V ăn hoá Việt Nam - Tìm
tòi và suy ng ẫm », Nxb Văn học 2003, tr 121, 901