Chương 2: LÝ THUYẾT CỔ ĐIỂN VỀ THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ Học viên chú trọng tìm hiểu kỹ các nội dung cốt lõi sau đây của bài học: Lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith: Dựa theo quan đ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH KHOA KINH TẾ VÀ QUẢN LÝ CÔNG
LƯU HÀNH NỘI BỘ
Trang 2MỤC ĐÍCH
Tài liệu này nhằm hỗ trợ cho học viên hình thức giáo dục từ
xa nắm vững nội dung ôn tập và làm bài kiểm tra hết môn hiệu quả
Tài liệu này cần được sử dụng cùng với tài liệu học tập của môn học và bài giảng của giảng viên ôn tập tập trung theo chương trình đào tạo
NỘI DUNG HƯỚNG DẪN
Nội dung tài liệu này bao gồm các nội dung sau:
Phần 1: Các nội dung trọng tâm của môn học Bao gồm các
nội dung trọng tâm của môn học được xác định dựa trên mục tiêu học tập, nghĩa là các kiến thức hoặc kỹ năng cốt lõi
mà người học cần có được khi hoàn thành môn học
Phần 2: Cách thức ôn tập Mô tả cách thức để hệ thống hóa
kiến thức và luyện tập kỹ năng để đạt được những nội dung trọng tâm
Phần 3: Hướng dẫn làm bài kiểm tra Mô tả hình thức kiểm
tra và đề thi, hướng dẫn cách làm bài và trình bày bài làm và lưu ý về những sai sót thường gặp, hoặc những nỗ lực có thể được đánh giá cao trong bài làm
Phần 4: Đề thi mẫu và đáp án Cung cấp một đề thi mẫu và
đáp án, có tính chất minh hoạ nhằm giúp học viên hình dung yêu cầu kiểm tra và cách thức làm bài thi
Trang 3Phần 1
CÁC NỘI DUNG TRỌNG TÂM
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ KINH TẾ QUỐC TẾ
Khái niệm thương mại quốc tế
Đặc điểm của thương mại quốc tế
Tầm quan trọng của thương mại quốc tế
Chương 2: LÝ THUYẾT CỔ ĐIỂN VỀ THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
Lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith
Qui luật lợi thế so sánh của David Ricardo
Lý thuyết chi phí cơ hội của Haberler
Chương 3: LÝ THUYẾT HIỆN ĐẠI VỀ THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
Lý thuyết chuẩn về mậu dịch quốc tế
Lý thuyết H – O (Heckscher – Ohlin)
Lý thuyết H – O – S (với sự bổ sung của Paul A Samuelson)
Chương 4: LÝ THUYẾT VỀ LỢI THẾ CẠNH TRANH
Lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp
Lợi thế cạnh tranh của ngành
Lợi thế cạnh tranh của quốc gia
Trang 4Chương 5: CÁC CÔNG CỤ CỦA CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
Khái niệm chính sách thương mại quốc tế và hàng rào mậu dịch
Thuế quan
Các hàng rào phi thuế quan
Chương 6: CHÍNH SÁCH BẢO HỘ MẬU DỊCH
Nội dung cơ bản của chính sách bảo hộ mậu dịch
Các xu hướng bảo hộ mậu dịch
Tác dụng của chính sách bảo hộ mậu dịch
Chương 7: CHÍNH SÁCH TỰ DO HÓA THƯƠNG MẠI
Nội dung cơ bản của chính sách tự do hóa thương mại
Phối hợp chính sách tự do hóa thương mại với chính sách công nghiệp
Phối hợp chính sách tự do hóa thương mại với chính sách đầu tư quốc tế
Phối hợp chính sách tự do hóa thương mại với chính sách tài chính quốc tế
Chương 8: CÁC XU HƯỚNG TOÀN CẦU HÓA VÀ KHU VỰC HÓA
Tính tất yếu khách quan của toàn cầu hóa
Lợi ích và tác hại của toàn cầu hóa
Khu vực hóa
Mâu thuẫn cơ bản giữa toàn cầu hóa với khu vực hóa và cách điều hòa mâu thuẫn
Trang 5Chương 9: CÁC ĐỊNH CHẾ HỢP TÁC KINH TẾ QUỐC TẾ
Vấn đề mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế
Hiệp định thương mại song phương (BTA)
Hiệp định thương mại khu vực (RTA)
Liên minh khu vực (RU)
Hiệp định thương mại đa phương (MTA)
Trang 6Phần 2
CÁCH THỨC ÔN TẬP
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ KINH TẾ QUỐC TẾ
Học viên chú trọng tìm hiểu kỹ các nội dung cốt lõi sau đây của bài học:
Khái niệm thương mại quốc tế:
Thương mại quốc tế là hành vi mua bán liên quốc gia (qua biên giới hoặc mua bán tại chỗ với người nước ngoài) nhận thanh
toán bằng ngoại tệ Trên cơ sở đó, nắm rõ phân ngành thương
mại quốc tế chia theo đối tượng mua bán; Lợi ích của thương mại quốc tế; Mô thức của thương mại quốc tế; Môi trường thương mại quốc tế (trong mối tương quan chặt chẽ với môi trường sản xuất và môi trường tài chính quốc tế)
Đặc điểm của thương mại quốc tế:
Các nước công nghiệp phát triển giữ vai trò thống trị trong hoạt động thương mại quốc tế Nhưng vị thế của các nước đang phát triển cũng ngày càng trở nên quan trọng hơn Liên kết chặt chẽ hơn, nhưng cạnh tranh cũng khốc liệt hơn Sự phối hợp chính sách thương mại đa phương ngày càng đa dạng – các xu hướng toàn cầu hóa và khu vực hóa là không thể đảo ngược
Tầm quan trọng của thương mại quốc tế:
Thương mại quốc tế giữ vai trò quan trọng hàng đầu trong chính sách kinh tế đối ngoại Yêu cầu phải phối hợp chặt chẽ giữa thương mại quốc tế với đầu tư quốc tế và tài chính quốc tế thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa và duy trì sự phát triển bền vững của nền kinh tế
Trang 7 Đọc tài liệu: chương 1 tập bài giảng môn Kinh tế quốc tế; chương I giáo trình môn Kinh tế quốc tế
Thảo luận nhóm: 4 câu hỏi cuối chương 1 tập bài giảng môn Kinh tế quốc tế
Chương 2: LÝ THUYẾT CỔ ĐIỂN VỀ THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
Học viên chú trọng tìm hiểu kỹ các nội dung cốt lõi sau đây của bài học:
Lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith:
Dựa theo quan điểm mậu dịch tự do, nắm rõ 3 vấn đề: (1) Nguyên
nhân làm phát sinh thương mại quốc tế là lợi thế tuyệt đối (dựa trên
căn bản của lý thuyết tính giá trị bằng lao động); (2) Mô thức thương mại quốc tế là chuyên môn hóa sản xuất vào sản phẩm có lợi thế tuyệt đối để xuất khẩu, nhập khẩu sản phẩm không có lợi thế tuyệt đối; (3) Hiểu rõ lợi ích của thương mại quốc tế thông qua các bài tập phân tích lợi ích của thương mại quốc tế theo lý thuyết lợi thế tuyệt đối bằng yếu tố định lượng
Qui luật lợi thế so sánh của David Ricardo:
Dựa trên cơ sở các giả thiết về mô hình thương mại quốc tế theo
mô phỏng của David Ricardo, nắm rõ 3 vấn đề: (1) Nguyên nhân làm phát sinh thương mại quốc tế là lợi thế tương đối hay
lợi thế so sánh (luôn luôn đúng với nền kinh tế thị trường nên
học thuyết này được gọi là qui luật lợi thế so sánh); (2) Mô thức thương mại quốc tế là chuyên môn hóa sản xuất vào sản phẩm
có lợi thế so sánh để xuất khẩu, nhập khẩu sản phẩm không có lợi thế so sánh; (3) Hiểu rõ lợi ích của thương mại quốc tế thông qua các bài tập phân tích lợi ích của thương mại quốc tế theo qui luật lợi thế so sánh bằng yếu tố định lượng Chú trọng, nắm
kỹ cách tính mức lợi thế so sánh RCA (Revealed Comparative Advantage) theo công thức của Bela Balassa
Trang 8Lý thuyết chi phí cơ hội của Haberler:
Điểm nhấn căn bản là sử dụng lý thuyết chi phí cơ hội thay thế
lý thuyết tính giá trị bằng lao động để tính toán xác định lợi thế
so sánh Chi phí cơ hội không đổi trong mỗi nước nhưng khác nhau giữa các quốc gia là nguyên nhân làm phát sinh thương mại quốc tế Mô thức thương mại quốc tế là chuyên môn hóa
sản xuất hoàn toàn vào sản phẩm có chi phí cơ hội nhỏ hơn so
với thị trường thế giới để xuất khẩu, nhập khẩu sản phẩm có chi phí cơ hội lớn hơn so với thị trường thế giới Từ đó, tìm hiểu
kỹ lợi ích của thương mại quốc tế thông qua các bài tập phân
tích lợi ích của thương mại quốc tế theo chi phí cơ hội không đổi
bằng yếu tố định lượng Lưu ý nắm rõ phương pháp phân tích dựa trên cơ sở đường giới hạn khả năng sản xuất (PPF) là đường thẳng
Đọc tài liệu: chương 2 tập bài giảng môn Kinh tế quốc tế; chương II giáo trình môn Kinh tế quốc tế
Thảo luận nhóm: 6 câu hỏi cuối chương 2 tập bài giảng môn Kinh tế quốc tế
Chương 3: LÝ THUYẾT HIỆN ĐẠI VỀ THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
Học viên chú trọng tìm hiểu kỹ các nội dung cốt lõi sau đây của bài học:
Lý thuyết chuẩn về mậu dịch quốc tế:
Trên cơ sở nắm rõ các điều kiện của mô hình chuẩn về thương
mại quốc tế (chi phí cơ hội gia tăng, đường PPF là đường cong, đường bàng quan và trạng thái cân bằng nội địa có liên quan đến giá
cả hàng hóa), học viên cần chú ý các nội dung sau:
(1) Phân tích tổng quát lợi ích của thương mại quốc tế trên căn
bản của chuyên môn hóa sản xuất không hoàn toàn sẽ thấy rằng
khi tiến hành trao đổi mậu dịch quốc tế trong điều kiện chỉ số
Trang 9so sánh giá cả hàng hóa tại điểm cân bằng mậu dịch của hai quốc gia bằng nhau (và bằng 1) thì lợi ích tăng thêm khi thực hiện theo yêu cầu của qui luật lợi thế so sánh của hai bên giao thương là bằng nhau và đạt mức tối đa, kể cả quốc gia nhỏ cũng đạt được như thế
(2) Phân tích các thành phần của lợi ích còn cho thấy thực hiện
trao đổi mậu dịch quốc tế (là điều kiện “đủ”) sẽ làm tăng lợi ích
kinh tế từ đường bàng quan I lên đường bàng quan II; còn
chuyên môn hóa sản xuất (là điều kiện “cần” của bài toán tăng
trưởng kinh tế quốc gia) sẽ làm tăng lợi ích kinh tế từ đường bàng quan II lên đường bàng quan III (đạt mức tối đa)
(3) Phân tích lợi ích trên cơ sở đường PPF đồng dạng nhưng có
sự khác nhau về thị hiếu tiêu dùng giữa hai quốc gia thì mậu dịch quốc tế vẫn diễn ra và lợi ích tăng thêm của hai bên giao thương cũng đạt mức tối đa (trên đường bàng quan III)
(4) Phân tích cân bằng mậu dịch cục bộ (xem xét cục bộ trong từng bên giao thương) cho thấy do quan hệ cung – cầu, chỉ số
so sánh giá cả hàng hóa tại điểm cân bằng mậu dịch của 2 quốc gia phải bằng nhau Phân tích cân bằng mậu dịch tổng quát (có tính đến quan hệ tương tác giữa hai bên giao thương) cho thấy khi 2 tuyến đề cung của hai bên không giao nhau, chỉ số so sánh giá cả hàng hóa của hai bên không cân bằng, quan hệ cung – cầu sẽ tác động cho đến khi 2 tuyến đề cung của hai quốc gia giao nhau thì chỉ số so sánh giá cả hàng hóa (tại điểm cân bằng mậu dịch của hai quốc gia) sẽ bằng nhau (và bằng 1) Đồng thời, tỷ lệ mậu dịch của hai quốc gia cũng sẽ cân bằng và lợi ích kinh tế tăng thêm cho hai quốc gia (xét về lý thuyết) cũng sẽ đạt cực đại
(5) Nắm vững khái niệm tỷ lệ mậu dịch và phân tích kỹ các bài
tập tình huống về tỷ lệ mậu dịch, nhất là trong trường hợp mô hình mô phỏng nền kinh tế thế giới có nhiều hơn 2 quốc gia và
2 sản phẩm, để hiểu rõ ý nghĩa của tỷ lệ mậu dịch cũng như
Trang 10nắm được hai hướng tác động làm tăng tỷ lệ mậu dịch (nhằm
tăng tích cực lợi ích kinh tế quốc gia): hoặc là, điều tiết cho chỉ số
giá hàng xuất khẩu tăng nhanh hơn so với chỉ số giá hàng nhập
khẩu; hoặc là ngược lại, kìm giữ cho chỉ số giá hàng xuất khẩu
giảm chậm hơn so với chỉ số giá hàng nhập khẩu
Lý thuyết H – O (Heckscher – Ohlin):
Trong các giả thuyết của của Heckscher và Ohlin, lưu ý ghi nhận thêm sự khác biệt so với giả thuyết trong các mô hình trước là 2 yếu tố sản xuất (L – lao động; K – vốn); sản phẩm X thâm dụng lao động và sản phẩm Y thâm dụng vốn Để nắm rõ
lý thuyết H – O, học viên cần chú trọng đến các nội dung sau: (1) Yếu tố thâm dụng là yếu tố sản xuất được sử dụng nhiều hơn trong tỷ lệ cân đối các yếu tố sản xuất để làm ra một loại sản phẩm, và yếu tố thâm dụng chỉ mang tính tương đối Còn yếu tố dư thừa chỉ sự dồi dào của một quốc gia về một yếu tố sản xuất (K hay L) với nguồn cung dồi dào, giá rẻ, và yếu tố dư thừa cũng chỉ mang tính tương đối Đối lập với yếu tố sản xuất
dư thừa là yếu tố sản xuất khan hiếm
(2) Lý thuyết về tỷ lệ cân đối các yếu tố sản xuất cho rằng sự khác
biệt về nguồn lực (các yếu tố sản xuất dư thừa hay khan hiếm tương đối) của mỗi quốc gia quyết định sự khác biệt về giá cả hàng hóa và là nguồn gốc để xác định lợi thế so sánh và mô hình mậu dịch của mỗi quốc gia Trên cơ sở đó, qui luật lợi thế
so sánh được phát biểu cụ thể hơn như sau: Yêu cầu mỗi quốc gia chuyên môn hóa sản xuất để xuất khẩu sản phẩm thâm dụng yếu tố sản xuất mà quốc gia đó dư thừa tương đối; Đồng thời, nhập khẩu sản phẩm thâm dụng yếu tố sản xuất mà quốc gia đó khan hiếm tương đối Nói khác đi, sản phẩm có lợi thế so sánh là sản phẩm thâm dụng yếu tố sản xuất mà quốc gia đó dư thừa tương đối nên chất lượng tốt, giá thành sản xuất rẻ, và ngược lại
Trang 11(3) Từ đó, xác định mô thức thương mại quốc tế của hai nhóm
quốc gia như sau: Các quốc gia đang phát triển chuyên môn hóa
sản xuất để xuất khẩu sản phẩm thâm dụng lao động (và tài nguyên), nhập khẩu sản phẩm thâm dụng vốn (và kỹ thuật);
Các quốc gia phát triển chuyên môn hóa sản xuất để xuất khẩu
sản phẩm thâm dụng vốn (và kỹ thuật), nhập khẩu sản phẩm thâm dụng lao động (và tài nguyên)
(4) Phân tích lợi ích kinh tế theo lý thuyết H – O cần lưu ý, do
sự khác biệt về tỷ lệ cân đối các yếu tố sản xuất nên đường PPF của hai quốc gia khác nhau, nhưng do thị hiếu tiêu dùng giống nhau nên đường bàng quan (giới hạn khả năng tiêu dùng) của hai quốc gia đồng dạng nhau Khi tiến hành chuyên môn hóa
sản xuất không hoàn toàn và trao đổi mậu dịch quốc tế thì lợi ích
kinh tế của hai bên giao thương đều tăng lên, nhưng trong điều
kiện sự khác biệt giá cả hàng hóa quyết định mậu dịch thì lợi ích hai
quốc gia thu được không phải là cao nhất (chỉ thể hiện trên đường bàng quan II)
Lý thuyết H – O – S (với sự bổ sung của Paul A Samuelson):
(1) Đúc kết lý thuyết H – O, có thể khẳng định rằng “Sự khác biệt giá cả các yếu tố sản xuất giữa các quốc gia làm phát sinh thương mại quốc tế” Với lý thuyết cân bằng giá cả các yếu tố sản xuất, Paul A
Sammuelson đã đưa ra một phát kiến bổ sung quan trọng là
“Sự phát triển của thương mại quốc tế sẽ dẫn đến sự cân bằng tương đối và cân bằng tuyệt đối giá cả các yếu tố sản xuất giữa các quốc gia giao thương với nhau” để hoàn thiện lý thuyết H – O – S
(2) Phân tích lợi ích kinh tế theo lý thuyết H – O – S cần chú
trọng luận điểm cơ bản là “Trong dài hạn, thương mại quốc tế sẽ làm tăng giá yếu tố sản xuất dư thừa và giảm giá yếu tố sản xuất khan hiếm để cuối cùng dẫn đến sự cân bằng tuyệt đối giá cả yếu tố sản xuất giữa hai quốc gia giao thương” để nắm rõ tác động của
thương mại quốc tế đến sự di chuyển của nguồn lực đầu tư quốc tế theo chiều hướng: Vốn đi từ nước có lãi suất thấp đến
Trang 12nước có lãi suất cao; Lao động đi từ nước có giá nhân công thấp đến nước có giá nhân công cao
(3) Nắm vững ý nghĩa thực tiễn của lý thuyết H – O – S để vận dụng về mặt chính sách là: Bên cạnh việc xuất nhập khẩu hàng hóa, các quốc gia còn có thể xuất nhập khẩu trực tiếp các yếu tố sản xuất (vốn, lao động); Và, việc nhập khẩu yếu tố sản xuất khan hiếm (trong đó, quốc gia đang phát triển thu hút vốn đầu
tư từ quốc gia phát triển, còn quốc gia phát triển thuê lao động
từ quốc gia đang phát triển) sẽ cho phép các quốc gia khai thác nguồn lực đầu tư bổ sung rất tốt để đẩy mạnh công nghiệp hóa
và hiện đại hóa nền kinh tế
Đọc tài liệu: chương 3 tập bài giảng môn Kinh tế quốc tế; chương III giáo trình môn Kinh tế quốc tế
Thảo luận nhóm: 9 câu hỏi cuối chương 3 tập bài giảng môn Kinh tế quốc tế
Chương 4: LÝ THUYẾT VỀ LỢI THẾ CẠNH TRANH
Học viên chú trọng tìm hiểu kỹ các nội dung cốt lõi sau đây của bài học:
Lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp:
Lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp là sự khác biệt mang tính vượt trội tương đối trên hai phương diện chất lượng và giá cả của sản phẩm mà doanh nghiệp kinh doanh so với sản phẩm của đối thủ cạnh tranh Những yếu tố nguồn lực nội bộ của doanh nghiệp (bao gồm: nguồn nhân lực, tài sản hữu hình và tài sản vô hình) quyết định việc tạo ra lợi thế cạnh tranh được gọi là năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Trên cơ sở đó, cần chú ý nắm rõ các nội dung sau:
(1) Lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp là lợi thế bên trong của
nền kinh tế, biểu hiện qua qui mô lợi suất kinh tế (Economic of Scale) của doanh nghiệp và được xem xét trong mối tương quan
Trang 13giữa các doanh nghiệp cùng ngành để tranh giành thị trường trên cả hai phạm vi nội địa và quốc tế
(2) Nắm rõ các tiêu chí phân biệt giữa lợi thế so sánh (chỉ tính trên chất lượng sản phẩm và giá thành sản xuất) với lợi thế cạnh tranh (bao gồm thêm chi phí ngoài sản xuất và yếu tố lợi nhuận định mức) của doanh nghiệp để thấy rằng lợi thế so
sánh chỉ là điều kiện “cần”, doanh nghiệp còn phải bảo đảm điều kiện “đủ” (kiểm soát chi phí tiêu thụ sản phẩm và chính
sách lợi nhuận hợp lý) mới có được lợi thế cạnh tranh
(3) Muốn nâng cao và duy trì lợi thế cạnh tranh, yêu cầu doanh
nghiệp: Một mặt, phải đầu tư cải tiến kỹ thuật, học tập kinh nghiệm (Learning by Doing), nâng cao qui mô lợi suất kinh tế (Economic of Scale)… để nâng cao chất lượng và hạ giá thành sản phẩm; Mặt khác, cải tiến quản lý, quảng bá thương hiệu, mở
rộng thị trường để tiết kiệm chi phí nói chung và chi phí tiêu thụ nói riêng
(4) Ý nghĩa nghiên cứu lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp: Về mặt quản lý doanh nghiệp, là cơ sở để các công ty hoạch định
chiến lược cạnh tranh, cải tiến quản lý, nâng cao hiệu quả kinh
doanh; Về mặt quản lý nhà nước, là cơ sở để xây dựng môi
trường kinh tế bình đẳng, giải quyết vấn đề không phân biệt đối xử trong quan hệ hội nhập kinh tế quốc tế
Lợi thế cạnh tranh của ngành:
Lợi thế cạnh tranh của ngành gắn liền với lợi thế cạnh tranh của các nhóm chiến lược trong ngành hàng (mỗi nhóm là một tập hợp những công ty sử dụng chiến lược kinh doanh tương tự nhau) Cần chú ý các nội dung sau:
(1) Lợi thế cạnh tranh của ngành hàng là lợi thế bên ngoài của nền kinh tế, biểu hiện qua qui mô của ngành và được xem xét trong mối tương quan giữa các ngành hàng tương ứng của các quốc gia khác nhau để tranh giành thị trường trên phạm vi thế giới
Trang 14(2) Về các nhân tố biểu hiện lợi thế cạnh tranh của ngành hàng, ngoài 5 tác lực cạnh tranh (bao gồm: nhà cung ứng, người mua hàng, sản phẩm thay thế, đối thủ cạnh tranh hiện hữu, và đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn), còn phải tính đến chu kỳ sống của sản phẩm, trình độ công nghệ, khả năng giảm chi phí đầu vào, và chính sách của chính phủ đối với ngành hàng…
(3) Nắm vững phương pháp đánh giá lợi thế cạnh tranh của ngành hàng theo mô hình chu kỳ sống quốc tế của sản phẩm
(IPLC – International Product Life Cycle) của Raymond Vernon để
thấy rõ vấn đề mang tính qui luật: khi mà những khác biệt về chất lượng sản phẩm nhanh chóng được thu hẹp vì kỹ thuật sản xuất được chuẩn hóa dần trên phạm vi thế giới, thì sự khác biệt về giá cả hàng hóa (nhờ có chi phí sản xuất rẻ) ngày càng đóng vai trò quyết định lợi thế cạnh tranh của ngành hàng tương ứng giữa các quốc gia Theo đó, lợi thế cạnh tranh của ngành hàng không chỉ chuyển dịch dần từ nước công nghiệp phát triển đã phát minh ra sản phẩm sang các nước công nghiệp nhập khẩu sản phẩm, mà ngay cả ngành hàng tương ứng ở một số nước đang phát triển cũng có cơ hội tham gia sản xuất và cạnh tranh xuất khẩu (nhờ nhận chuyển giao công nghệ
từ các nước phát triển và là nơi có chi phí sản xuất rẻ nhất)
(4) Ý nghĩa nghiên cứu lợi thế cạnh tranh của ngành hàng: Về mặt quản lý doanh nghiệp, là cơ sở để các công ty quyết định gia
nhập nhóm chiến lược thích hợp, hoạch định chiến lược kinh
doanh dài hạn; Về mặt quản lý nhà nước, là cơ sở để xây dựng
chính sách công nghiệp, xây dựng môi trường phát triển phù hợp cho các ngành kinh tế mũi nhọn
Lợi thế cạnh tranh của quốc gia:
Lợi thế cạnh tranh của quốc gia gắn liền với lợi thế cạnh tranh của các chỉnh thể bên trong nền kinh tế, như: các doanh nghiệp, các ngành hàng, các vùng/đặc khu kinh tế… Cần chú ý các nội dung sau:
Trang 15(1) Lợi thế cạnh tranh quốc gia là sức mạnh tổng hợp của nền kinh tế, biểu hiện qua hàng loạt chỉ tiêu cơ bản như: tài nguyên thiên nhiên, nguồn nhân lực, cơ sở hạ tầng, công nghệ sản xuất, thể chế, chính sách kinh tế – xã hội, thu nhập của dân cư, qui
mô và mãi lực thị trường… và được xem xét trong mối tương quan với các quốc gia khác để cạnh tranh thu hút nguồn lực đầu tư quốc tế (vốn, công nghệ, know-how, chất xám…) cũng như thiết lập các quan hệ thị trường quốc tế thuận lợi cho việc phát triển kinh tế nội địa
(2) Đánh giá lợi thế cạnh tranh quốc gia về mặt định tính theo
mô hình kim cương của Michael Porter cần lưu ý, khi phát huy tốt các yếu tố thâm dụng (được chia làm 2 nhóm yếu tố thâm dụng cơ bản và yếu tố thâm dụng cao cấp) làm cho nền kinh tế tăng trưởng tốt, thu nhập trên đầu người gia tăng thì các điều kiện về nhu cầu của của dân cư cũng tăng theo Điều đó dẫn đến sự phát triển mạnh của các ngành công nghiệp thứ cấp để đáp ứng nhu cầu, làm xuất hiện các ngành công nghiệp mũi nhọn trong từng giai đoạn chiến lược nhất định; Và, khi một ngành công nghiệp mũi nhọn phát triển sẽ kéo sự phát triển đồng bộ của các ngành công nghiệp liên kết và bổ trợ Đồng thời, trong từng ngành công nghiệp thứ cấp đó cũng sẽ xuất hiện nhiều doanh nghiệp có qui mô lớn với cấu trúc tổ chức và chiến lược kinh doanh được thay đổi để không chỉ đáp ứng ngày càng tốt hơn cho sự gia tăng của nhu cầu trên thị trường nội địa mà còn để vươn lên thành công ty đa quốc gia mở rộng kinh doanh trên thị trường toàn cầu
(3) Đánh giá lợi thế cạnh tranh quốc gia về mặt định lượng theo
mô hình của Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF – World Economic Forum) được dựa trên căn bản của 12 yếu tố đánh giá, chia làm
3 nhóm: Các yếu tố cơ bản (thể chế, cơ sở hạ tầng, độ ổn định kinh tế vĩ mô, y tế và giáo dục sơ cấp); Các yếu tố nâng cao hiệu quả (giáo dục phổ thông và đào tạo, hiệu suất của thị trường
Trang 16hàng hóa, hiệu suất của thị trường lao động, mức phát triển của thị trường tài chính, khả năng đáp ứng về công nghệ, qui mô
của thị trường); Các yếu tố cải cách cao cấp (đáp ứng yêu cầu phát
triển kinh doanh, đáp ứng yêu cầu cải cách) Từ đó, người ta sẽ lập bảng câu hỏi điều tra khảo sát thực tế thu thập cả hai loại thông tin sơ cấp và thứ cấp để chấm điểm cho từng yếu tố, rồi
đúc kết thành chỉ số năng lực cạnh tranh toàn cầu (GCI – Global Competitiveness Index) cho từng quốc gia trong mẫu điều tra Chỉ
số GCI được đánh giá theo thang điểm 7 và qui ước rằng quốc gia có điểm số GCI (thể hiện năng lực cạnh tranh của quốc gia) cao nhất thì cũng có nghĩa là có lợi thế cạnh tranh quốc gia cao
nhất trên toàn cầu Báo cáo năng lực cạnh tranh toàn cầu (GCR – Global Competitiveness Report) hàng năm của WEF xếp hạng
các quốc gia theo thứ tự giảm dần của chỉ số GCI Lưu ý, so sánh lợi thế cạnh tranh giữa các quốc gia theo chỉ số GCI chỉ có tính chất tương đối mà thôi
(4) Ý nghĩa nghiên cứu lợi thế cạnh tranh của quốc gia: Về mặt quản lý doanh nghiệp, là cơ sở để các công ty quyết định thâm nhập thị trường quốc tế; Về mặt quản lý nhà nước, là cơ sở để
hoạch định chiến lược kinh tế - xã hội dài hạn, xây dựng chính sách kinh tế đối ngoại phù hợp, và tạo lập môi trường thu hút đầu tư nước ngoài
Đọc tài liệu: chương 4 tập bài giảng môn Kinh tế quốc tế
Truy cập website http://www.weforum.org để download
Báo cáo năng lực cạnh tranh toàn cầu (GCR – Global Competitiveness Report) hàng năm của WEF làm tài liệu
nghiên cứu kỹ thuật tính toán chỉ số GCI đánh giá năng lực cạnh tranh quốc gia
Thảo luận nhóm: 4 câu hỏi cuối chương 4 tập bài giảng môn Kinh tế quốc tế
Trang 17Chương 5: CÁC CÔNG CỤ CỦA CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
Học viên chú trọng tìm hiểu kỹ các nội dung cốt lõi sau đây của bài học:
Khái niệm chính sách thương mại quốc tế và hàng rào mậu dịch:
Chính sách thương mại quốc tế là một phức hợp các giải pháp của chính phủ điều tiết hoạt động thương mại quốc tế nhằm mục đích phân phối lại thu nhập và góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển tốt hơn Công cụ điều tiết của chính sách thương mại quốc tế là các hàng rào mậu dịch, bao gồm: thuế quan và các hàng rào phi thuế quan
Thuế quan (Tariffs):
(1) Với tính chất là một công cụ điều tiết hoạt động thương mại quốc tế, thuế quan bao gồm: suất thuế và các thủ tục qui định kèm theo đánh lên hàng hóa xuất nhập khẩu Trong đó, qui định về phương pháp đánh thuế là quan trọng nhất Trong thực
tế, có 3 phương pháp như sau: Thuế quan theo khối lượng
(Specific Tariffs) đánh theo thuế suất cố định trên số lượng hàng hóa xuất nhập khẩu (còn gọi là thuế tuyệt đối); Thuế quan theo giá trị (Ad Valorem Tariffs) đánh theo tỷ lệ phần trăm trên giá trị hàng hóa xuất nhập khẩu (còn gọi là thuế tương đối); Thuế quan
hỗn hợp với thuế suất kép (có cả số tương đối và số tuyệt đối) theo cách tính hỗn hợp giữa 2 phương pháp trên
(2) Thuế quan bao gồm 2 sắc thuế: thuế xuất khẩu và thuế nhập
khẩu Nhưng với tính chất là một hàng rào mậu dịch, hàng rào thuế quan của một nước chính là thuế nhập khẩu Ngày nay
nhiều nước đã bãi bỏ thuế xuất khẩu Lưu ý, hàng rào thuế
quan được tính toán trên cơ sở của thuế suất danh nghĩa (NTR – Nominal Tariff Rate) và sự điều tiết thương mại của hàng rào thuế quan được tính toán thông qua giá biên giới (Border Price)
của hàng hóa
Trang 18(3) Phân tích tác động của thuế quan đối với thương mại quốc
tế và sự phát triển của nền kinh tế nói chung, cần nắm rõ: thuế quan (với thuế suất danh nghĩa của thuế nhập khẩu cao) sẽ làm cho giá cả hàng hóa tăng lên, hệ quả là sản lượng sản xuất nội địa tăng theo, nhưng sản lượng nhập khẩu giảm mạnh hơn mức tăng sản xuất nội địa, nên sản lượng hàng hóa đáp ứng cho tiêu dùng bị giảm tương ứng Thuế quan thực hiện chức năng phân phối lại thu nhập bằng cách điều tiết bớt thu nhập của người tiêu dùng chuyển sang cho nhà sản xuất nội địa và
ngân sách của chính phủ Ngoài ra, thuế quan còn gây lãng phí tài nguyên (do tăng mức sản xuất sản phẩm không có lợi thế so sánh) và lãng phí cơ hội (do giảm mức nhập khẩu sản phẩm
không có lợi thế so sánh) Thiệt hại từ sự lãng phí đó cũng do người tiêu dùng gánh chịu Vì vậy, về phương diện chính sách, không nên bảo hộ bằng thuế suất danh nghĩa cao để giảm thiệt hại cho người tiêu dùng, và cần nghiên cứu kỹ tính chất bảo hộ của hàng rào thuế quan thông qua tỷ suất bảo hộ hữu hiệu để vận dụng cho phù hợp hơn
(4) Tỷ suất bảo hộ hữu hiệu (ERP – Effective Rate of Protection)
biểu hiện mối tương quan giữa NTR đánh lên thành phẩm và
NTR đánh lên nguyên liệu nhập khẩu (Inputs) sản phẩm đó, nhằm mục đích tạo ra sự leo thang thuế quan (Tariff Escalation)
để bảo hộ thực sự hữu hiệu theo chiều sâu cho sản phẩm nội địa cùng loại Phân tích tỷ suất bảo hộ hữu hiệu qua công thức tính ERP(X) (với các tình huống nghiên cứu điển hình và yếu tố định lượng cụ thể) sẽ thấy rõ 3 trường hợp:
Một là, ti(x) > t(x) ERP(x) < 0; BTTQ < 0: Thuế suất danh nghĩa nhập khẩu yếu tố đầu vào (ti(x)) cao hơn thuế suất danh nghĩa
nhập khẩu thành phẩm (t(x)), dẫn tới tỷ suất bảo hộ hữu hiệu (ERP(x)) nhỏ hơn 0 và bậc thang thuế quan (BTTQ = ERP(x) ÷ t(x)) cũng nhỏ hơn 0 Đó là điều vô nghĩa, ngành hàng X không được bảo hộ
Trang 19Hai là, ti(x) = t(x) ERP(x) = t(x); BTTQ = 1: Thuế suất danh nghĩa nhập khẩu yếu tố đầu vào bằng thuế nhập khẩu thành phẩm, dẫn tới tỷ suất bảo hộ hữu hiệu và thuế suất danh nghĩa nhập khẩu thành phẩm bằng nhau, bậc thang thuế quan bằng 1 Bảo
hộ cho ngành hàng X không hữu hiệu (chỉ tương tự mức bảo hộ của thuế suất danh nghĩa)
Ba là, ti(x) < t(x) ERP(x) > t(x); BTTQ > 1: Thuế suất danh nghĩa nhập khẩu yếu tố đầu vào thấp hơn thuế nhập khẩu thành phẩm, dẫn tới tỷ suất bảo hộ hữu hiệu lớn hơn thuế suất danh nghĩa nhập khẩu thành phẩm, bậc thang thuế quan lớn hơn 1 Lưu ý, bậc thang thuế quan sẽ quan được nới rộng nhất khi ti(x)
= 0 (giảm thuế suất danh nghĩa nhập khẩu yếu tố đầu vào xuống bằng 0) để cho tỷ suất bảo hộ hữu hiệu (ERP(x)) đạt cực đại Khi đó, ngành hàng X được bảo hộ thật sự hữu hiệu theo chiều sâu, do ti(x) = 0 (hoặc là một số dương rất bé) khuyến khích nhập khẩu nguyên liệu để chế tác sản phẩm trong nước sẽ có lợi hơn so với nhập khẩu thành phẩm (mặc dù thuế suất danh nghĩa nhập khẩu thành phẩm cũng không cao) Về mặt chính sách, cần vận dụng triệt để trường hợp thứ ba này để kích thích phát triển các ngành công nghiệp mũi nhọn và những ngành công nghiệp phụ trợ của chúng trong từng thời kỳ chiến lược
Các hàng rào phi thuế quan (Non-tariff Barriers – NTBs):
Có thể chia các hàng rào phi thuế quan ra làm 3 nhóm cơ bản như sau: (1) Giới hạn về số lượng (quota, hạn chế xuất khẩu tự nguyện, qui định hàm lượng nội địa của sản phẩm, cartel quốc tế); (2) Các biện pháp làm tăng sức cạnh tranh về giá (bán phá giá, trợ cấp xuất khẩu); (3) Các hàng rào kỹ thuật (qui định kỹ thuật về kiểm tra qui cách chất lượng sản phẩm để đảm bảo quyền lợi của người tiêu dùng ở nước nhập khẩu, như: kiểm tra
vệ sinh an toàn thực phẩm; kiểm dịch động/thực vật; kiểm tra qui cách đóng gói, bao bì, nhãn hiệu; ghi chú hướng dẫn sử dụng sản phẩm…)
Trang 20Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, các hàng rào phi thuế quan có tính chất giới hạn về số lượng và làm tăng sức cạnh tranh về giá một cách không chính đáng thường được xem xét loại bỏ để khai thông môi trường thương mại giữa các quốc gia Còn các hàng rào kỹ thuật là yêu cầu chính đáng của quốc gia nhập khẩu mà các nhà xuất khẩu phải đáp ứng Tuy nhiên, chúng cũng có thể bị lợi dụng vào mục đích bảo hộ mậu dịch bằng cách qui định kèm theo nhiều thủ tục hành chánh rườm rà phức tạp nhằm phân biệt đối xử chống lại hàng nhập khẩu
(như là các hàng rào phi thuế quan ẩn)
Đọc tài liệu: chương 5 tập bài giảng môn Kinh tế quốc tế; chương IV và các mục I & II của chương V giáo trình môn Kinh tế quốc tế
Thảo luận nhóm: 7 câu hỏi cuối chương 5 tập bài giảng môn Kinh tế quốc tế
Chương 6: CHÍNH SÁCH BẢO HỘ MẬU DỊCH
Học viên chú trọng tìm hiểu kỹ các nội dung cốt lõi sau đây của bài học:
Nội dung cơ bản của chính sách bảo hộ mậu dịch:
Bảo hộ mậu dịch là chính sách quản lý thương mại mà chính phủ áp dụng hàng rào thuế quan có mức bảo hộ cao cùng với nhiều hàng rào phi thuế quan phức tạp nhằm mục đích ngăn chặn bớt sự xâm nhập của hàng ngoại để bảo vệ các ngành sản xuất trong nước
Về lý do các quốc gia áp dụng chính sách bảo hộ mậu dịch, cần lưu ý đến hai điểm nhấn căn bản: (1) Lý do khách quan là do có sự khác biệt về điều kiện địa lý và tài nguyên, dẫn đến sự khác nhau
về nguồn lực kinh tế và năng lực cạnh tranh của các quốc gia – đó
là cái gốc của vấn đề; (2) Lý do chủ quan là vì lợi ích cục bộ, các
nước lớn đánh thuế quan tối ưu (Optimum Tariffs) để nâng cao tỷ
Trang 21lệ mậu dịch nhằm tối đa hóa lợi ích quốc gia Các nước khác trả đũa, dẫn đến thuế quan có tính chất cấm đoán mậu dịch Sau đó là hàng loạt biện pháp phi thuế quan nối tiếp nhau
Đánh giá mức bảo hộ mậu dịch cần chú ý hai mặt sau: (1) Đối với hàng rào thuế quan: đánh giá chung độ cao của hàng rào thuế quan thông qua chỉ tiêu NTR bình quân đơn giản trên toàn
bộ biểu thuế nhập khẩu; đánh giá sự bảo hộ tinh vi thông qua chỉ tiêu NTR bình quân gia quyền trên rổ hàng nhập khẩu từng năm, cũng như phân tích tỷ suất bảo hộ hữu hiệu (ERP) và sự
leo thang thuế quan (Tariff Escalation) trên từng ngành hàng
Lưu ý, làm các bài tập tình huống với số liệu cụ thể để nắm rõ phương pháp tính toán (2) Đối với các hàng rào phi thuế quan: đánh giá mức bảo hộ mậu dịch cao hay thấp phụ thuộc vào số lượng và độ phức tạp của các NTBs
Các xu hướng bảo hộ mậu dịch:
(1) Đối với các nước công nghiệp phát triển: Bảo hộ các ngành công nghiệp giá trị gia tăng cao bằng chiêu bài áp dụng NTR nhập khẩu thành phẩm thấp nhưng giảm NTR nhập khẩu các yếu tố đầu vào về mức 0% để để nâng cao ERP nhằm mở rộng tối đa bậc thang thuế quan; Trợ giá nông sản rất mạnh gây thiệt hại nặng cho các nước nghèo xuất khẩu nông sản; Ngoài ra, còn
áp dụng nhiều NTBs khác rất tinh vi
(2) Đối với các nước đang phát triển: Duy trì hàng rào thuế quan (chỉ tiêu NTR bình quân đơn giản) cao và áp dụng nhiều NTBs; Trợ cấp cho công nghiệp tràn lan để trả đũa hành vi trợ giá nông sản của các nước giàu; Đặc biệt là, bảo hộ kỹ các ngành dịch vụ giá trị gia tăng cao Tuy nhiên, ngày nay mức bảo hộ mậu dịch của các nước đang phát triển đã giảm đi nhiều
để thích nghi với những điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
Trang 22Tác dụng của chính sách bảo hộ mậu dịch:
(1) Lợi ích của chính sách bảo hộ mậu dịch: Tăng phúc lợi quốc gia (như đã đề cập khi nói về thuế quan tối ưu); tăng thu ngân sách nhà nước; Giải quyết công ăn việc làm trong nước; Bảo vệ các ngành công nghiệp non trẻ và dễ bị tổn thương; Phục vụ chiến lược phát triển các ngành công nghiệp mũi nhọn; Chống bán phá giá…
(2) Tác hại của chính sách bảo hộ mậu dịch: Phúc lợi quốc gia không tăng như mong muốn, mà còn giảm đi, người tiêu dùng thiệt thòi nhất; Tăng trưởng kinh tế quốc gia kém bền vững; Các doanh nghiệp được bảo hộ kỹ sẽ phản ứng trì trệ với việc nâng cao khả năng cạnh tranh; Thị trường thế giới bị chia cắt manh mún, môi trường thương mại trở nên kém thuận lợi…
Đọc tài liệu: chương 6 tập bài giảng môn Kinh tế quốc tế; mục III của chương V giáo trình môn Kinh tế quốc tế
Thảo luận nhóm: 4 câu hỏi cuối chương 6 tập bài giảng môn Kinh tế quốc tế
Chương 7: CHÍNH SÁCH TỰ DO HÓA THƯƠNG MẠI
Học viên chú trọng tìm hiểu kỹ các nội dung cốt lõi sau đây của bài học:
Nội dung cơ bản của chính sách tự do hóa thương mại:
Chính sách tự do hóa thương mại là chính sách quản lý thương mại thể hiện sự phối hợp giữa các quốc gia để khai thông môi trường thương mại quốc tế trên căn bản yêu cầu mỗi quốc gia phải mở cửa (giảm thấp hàng rào thuế quan và loại bỏ dần các hàng rào phi thuế quan) để hội nhập kinh tế quốc tế, gắn liền thị trường nội địa với thị trường thế giới
Đánh giá mức độ tự do hóa thương mại cần chú ý hai mặt sau: (1) Giảm hàng rào thuế quan bằng cách: Giảm mạnh chỉ tiêu NTR bình quân đơn giản; Áp dụng thuế trần đối với một số
Trang 23mặt hàng nhất định nhằm giảm ERP để khống chế bậc thang thuế quan và giảm chỉ tiêu NTR bình quân gia quyền (2) Loại
bỏ dần các hàng rào phi thuế quan bằng cách: Giảm mạnh các NTBs giới hạn về số lượng; Kiên quyết chống bán phá giá và đấu tranh bãi bỏ trợ giá; Tăng cường phối hợp kiểm soát loại bỏ các hàng rào phi thuế quan ẩn…
Về tác dụng của chính sách tự do hóa thương mại, xem xét trên hai mặt sau: (1) Những tác động tích cực: Thuận lợi hóa môi trường thương mại, loại bỏ bớt tình trạng phân biệt đối xử trong hoạt động thương mại quốc tế; Kéo theo sự di chuyển nguồn lực kinh tế hợp lý trên phạm vi thế giới; Tăng năng lực cạnh tranh quốc tế của các doanh nghiệp; Hệ quả là, tăng lợi ích kinh tế từng nước và của toàn thế giới (2) Những tác động tiêu cực: Các nước lớn (sức cạnh tranh cao) có thể lợi dụng để chèn
ép các nước nhỏ (sức cạnh tranh kém); Tính mẫn cảm cao của các nước nhỏ khi phụ thuộc nhiều vào thị trường bên ngoài; Tác hại của các yếu tố ngoại lai và các yếu tố phi kinh tế phát sinh trong quá trình hội nhập…
Nhận thức quan trọng từ kinh nghiệm phát triển của nhiều quốc gia, nhất là của các nước công nghiệp mới (NICs), cho thấy việc phối hợp chính sách tự do hóa thương mại với tự do hóa tài chính và đầu tư là một yêu cầu tất yếu khách quan để thúc đẩy các quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và tăng trưởng kinh tế nhanh chóng hơn Nội dung cơ bản của tự do hóa tài chính và đầu tư bao gồm: Tự do hóa các thể chế quản lý tài chính; Tự do hóa tài khoản vốn; Áp dụng các chính sách tài chính, tiền tệ, tỷ giá hối đoái theo chuẩn mực quốc tế; Tạo lập môi trường kinh tế lành mạnh…
Phối hợp chính sách tự do hóa thương mại với chính sách công nghiệp:
Chính sách công nghiệp đề ra định hướng phát triển nền công nghiệp trên căn bản ưu tiên phát triển các ngành công nghiệp
Trang 24chế tạo (có giá trị gia tăng cao), xác định các ngành công nghiệp mũi nhọn cho từng giai đoạn chiến lược, qua đó thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu ngành hợp lý cho toàn bộ nền kinh tế Vấn đề phối hợp chính sách tự do hóa thương mại với chính sách công nghiệp là một yêu cầu tất yếu khách quan do mối quan hệ biện chứng giữa chúng: Công nghiệp – khai thác lợi thế
so sánh (và tạo ra sự chuyển dịch lợi thế so sánh hợp lý) cho nền kinh tế; Thương mại quốc tế – thực hiện lợi thế so sánh và
mở rộng thị trường cho công nghiệp phát triển Phương thức
tốt nhất là áp dụng chính sách công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu Trong đó, ưu tiên phát triển các ngành chế biến hàng xuất
khẩu, phát triển đồng bộ các ngành liên kết và bổ trợ, kết hợp đẩy mạnh mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế Hệ quả là, tạo ra sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế hợp lý; nền kinh tế có hiệu quả cao, nhịp độ tăng trưởng (của thương mại quốc tế và GDP) nhanh Tuy nhiên, những nước hướng ngoại mạnh nền kinh tế sẽ rất
mẫn cảm, nên cần phải kết hợp: Một mặt, vẫn lấy công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu làm nền tảng; Mặt khác, kết hợp sản
xuất thay thế nhập khẩu trên những mặt hàng có hiệu quả tương đối để tăng cường nội lực, giảm bớt sự phụ thuộc vào các nhân tố bên ngoài, đảm bảo phát triển bền vững
Phối hợp chính sách tự do hóa thương mại với chính sách đầu
tư quốc tế:
Chính sách đầu tư quốc tế điều chỉnh các quan hệ đầu tư quốc
tế (vào và ra) phù hợp với chính sách kinh tế đối ngoại mở cửa hội nhập nhằm mục đích khai thác có hiệu quả các nguồn lực kinh tế quốc tế để phục vụ phát triển kinh tế trong nước theo hướng đảm bảo phát triển bền vững Trong thực tế, có hai hình
thức đầu tư quốc tế: (1) Đầu tư trực tiếp (FDI – Foreign Direct Invesment): nhà đầu tư trực tiếp chuyển giao vốn, công nghệ
hiện đại, phương pháp quản lý tiên tiến để thiết lập tổ chức sản
xuất kinh doanh (2) Đầu tư gián tiếp (FPI – Foreign Portfolio
Trang 25Invesment): nhà đầu tư không trực tiếp tham gia thiết lập tổ
chức sản xuất kinh doanh, mà chỉ chuyển giao vốn qua thị trường vốn
Tác dụng của đầu tư quốc tế đối với việc phát triển thương mại quốc tế: Tạo điều kiện mở rộng thị trường thế giới mạnh mẽ (do tăng nguồn hàng chất lượng cao, giá rẻ, tiết kiệm chi phí vận chuyển, phí licensing…); Góp phần cải thiện cán cân thanh toán
quốc tế của các quốc gia; Giúp các nước đầu tư (Home Countries)
đưa hàng hóa vượt qua hàng rào thương mại của nước tiếp
nhận đầu tư (Host Countries) một cách hữu hiệu; Đặc biệt là,
giúp các quốc gia đang phát triển khai thác tốt các nguồn lực đầu tư quốc tế để nhanh chóng nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới
Cần nắm rõ một số biện pháp điều chỉnh hoạt động đầu tư quốc tế sau đây để phối hợp đồng bộ với chính sách tự do hóa thương mại: Hoạch định chiến lược đầu tư quốc gia để định hướng sự phân luồng đầu tư phù hợp với yêu cầu của các ngành ưu tiên phát triển; Thuận lợi hóa môi trường đầu tư, kể
cả môi trường kinh tế - kỹ thuật và môi trường pháp lý; Cải cách hành chánh, chống tham nhũng…
Phối hợp chính sách tự do hóa thương mại với chính sách tài chính quốc tế:
Chính sách tài chính quốc tế tạo môi trường phát triển tốt cho các hoạt động thương mại quốc tế và đầu tư quốc tế trên những mặt sau: thanh toán quốc tế, quản lý ngoại hối, tỷ giá hối đoái, chuyển giao vốn đầu tư, quản lý rủi ro tài chính… Công cụ chính để điều chỉnh chính sách tài chính quốc tế là cán cân thanh toán quốc tế Dựa trên cơ sở phân tích các tài khoản vãng lai, tài khoản vốn và tài khoản dự trữ cho phép nhà hoạch định chính sách đề ra được những biện pháp điều chỉnh chính sách tài chính quốc tế đồng bộ với các chính sách thương mại quốc tế
và đầu tư quốc tế
Trang 26Cần nắm rõ một số biện pháp điều chỉnh hoạt động tài chính quốc tế quan trọng sau đây: Củng cố hệ thống ngân hàng, đa dạng hóa thị trường vốn; Kiểm soát lạm phát thường xuyên (duy trì tỷ lệ lạm phát trong mức 1 chữ số); Chú trọng tăng tích lũy nội địa (đảm bảo trên 1/3 GDP); Kiểm soát dòng luân chuyển vốn vào và ra một cách hợp lý (chú trọng kiểm soát chặt chẽ đầu vào để hạn chế các dòng vốn đầu cơ ngắn hạn); Quản
lý ngoại hối trên căn bản áp dụng cơ chế điều chỉnh lãi suất và
tỷ giá hối đoái linh hoạt…
Đọc tài liệu: chương 7 tập bài giảng môn Kinh tế quốc tế; mục IV của chương VII và các chương VIII & X giáo trình môn Kinh tế quốc tế
Thảo luận nhóm: 6 câu hỏi cuối chương 7 tập bài giảng môn Kinh tế quốc tế
Chương 8: CÁC XU HƯỚNG TOÀN CẦU HÓA VÀ KHU VỰC HÓA
Học viên chú trọng tìm hiểu kỹ các nội dung cốt lõi sau đây của bài học:
Tính tất yếu khách quan của toàn cầu hóa:
Toàn cầu hóa (Globalization) là tiến trình liên kết (và phụ thuộc nhau ngày càng chặt chẽ hơn) giữa các quốc gia và cá nhân trên toàn thế giới Toàn cầu hóa khởi đầu từ các quan hệ kinh tế quốc tế rồi kéo theo nhiều lĩnh vực khác có liên quan Lưu ý là, toàn cầu hóa có tính hai mặt (xem lợi ích và tác hại của toàn cầu hóa) Để hiểu rõ tính tất yếu khách quan của toàn cầu hóa, cần chú trọng các điểm sau:
(1) Lịch sử phát triển của toàn cầu hóa đã trải qua 3 giai đoạn: Bắt đầu từ giữa thế kỷ XIX với động lực chính là sự sụt giảm chi phí vận tải; Bị gián đoạn từ giữa thập niên 1910s đến cuối những năm 1980s; Tái tục mạnh mẽ từ đầu thập niên 1990s sau
Trang 27sự cố chiến tranh lạnh tan băng và động lực chính là sự sụt giảm mạnh chi phí thông tin liên lạc viễn thông Từ đó, toàn cầu hóa trong thế kỷ XXI đã phát triển nhanh chóng dựa trên nền tảng của công nghệ cao và môi trường thương mại quốc tế
tự do hơn
(2) Nội dung kinh tế của toàn cầu hóa: Sự phát triển trước tiên của làn sóng toàn cầu hóa thị trường (dựa trên cơ sở của chính sách tự do hóa thương mại) đã sản sinh ra ngày càng nhiều các công ty đa quốc gia (MNCs) và công ty xuyên quốc gia (TNCs) Chính lực lượng cơ bản này đã làm phát sinh thêm làn sóng toàn cầu hóa sản xuất (dựa trên cơ sở của các chính sách tự do hóa tài chính và đầu tư cũng như sự thúc đẩy của các tổ chức quốc tế: WTO, WB, IMF, UNCTAD…)
(3) Xu hướng phát triển của toàn cầu hóa là tất yếu và không thể đảo ngược Bởi vì, nó có ảnh hưởng định hình chính trị trong nước và quan hệ đối ngoại thực tế của tất cả các quốc gia
và vùng lãnh thổ Toàn cầu hóa cũng đã làm thay đổi trật tự kinh tế thế giới (trung tâm kinh tế thế giới đang chuyển đến khu vực lòng chảo Châu Á – Thái Bình Dương) Ngày nay, rất nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ (kể cả các nước nhỏ bé) đã tham gia hội nhập kinh tế toàn cầu để thích nghi với tiến trình toàn cầu hóa
Lợi ích và tác hại của toàn cầu hóa:
Lợi ích của toàn cầu hóa: Trước hết, đó là tập hợp những lợi ích của các chính sách tự do hóa thương mại, tự do hóa tài chính và đầu tư (như đã trình bày trong chương 7) Ngoài ra, các quốc gia và vùng lãnh thổ còn có thể kích hoạt hàng loạt sự kiện liên hoàn của môi trường kinh tế nội địa để khai thác những lợi ích của toàn cầu hóa phục vụ phát triển kinh tế tập trung mạnh mẽ trên một không gian nhất định (một thành phố, một đặc khu kinh tế hay một vùng kinh tế trọng điểm) sao cho có lợi nhất cho quốc kế dân sinh
Trang 28Tác hại của toàn cầu hóa: (1) Đối với các quốc gia đang và chậm phát triển, có nhiều nguy cơ, như: khủng hoảng tài chính – tiền
tệ khu vực; Tài nguyên bị khai thác bừa bãi, nhanh chóng cạn kiệt; Tiếp nhận công nghệ lạc hậu; phát sinh những lệch lạc trong cân đối vĩ mô… làm cho sự phát triển kém bền vững; Hơn thế, còn có sự lo ngại về những ảnh hưởng đến chủ quyền quốc gia và sự tiêm nhiễm lối sống ngoại lai (2) Đối với các quốc gia phát triển: giảm xuất khẩu, giảm việc làm và thu nhập của người lao động (3) Hiểm họa chung: chất thải công nghiệp tăng nhanh gây ô nhiễm môi trường toàn cầu…
Khu vực hóa:
Khu vực hóa là xu hướng hợp tác nhằm thuận lợi hóa môi trường kinh tế trong phạm vi hẹp hơn so với toàn cầu hóa Nó rộ lên trong giai đoạn mà toàn cầu hóa bị gián đoạn, và nay vẫn trăm hoa đua nở Cần phân biệt rõ hai cấp độ khu vực hóa như sau: (1) Khu vực hóa cấp thấp (lỏng lẻo): Nội dung chủ yếu là hợp tác tự do hóa thương mại khu vực (thường là, hạ thấp hàng rào thương mại khu vực nhiều hơn so với yêu cầu hội nhập toàn
cầu) Các hình thức tiêu biểu: Liên hiệp thuế quan (Customs Union); Khu mậu dịch tự do (Free Trade Area - FTA)…
(2) Khu vực hóa cấp cao (chặt chẽ): Nội dung hợp tác chặt chẽ trên nhiều lĩnh vực (kèm theo cả những mục tiêu phi kinh tế) Xem thêm ở chương 9 trình bày đầy đủ hơn về các tổ chức tiêu
biểu, như: Liên Minh Châu Âu (EU – European Union); Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN – Association of South-East Asian Nations)…
Mâu thuẫn cơ bản giữa toàn cầu hóa với khu vực hóa và cách điều hòa mâu thuẫn:
Mâu thuẫn cơ bản giữa toàn cầu hóa với khu vực hóa: Khu vực hóa dẫn tới sự phân biệt đối xử (về thương mại và đầu tư) giữa các nước trong khu vực với phần còn lại của thế giới Điều đó
Trang 29trái với nguyên tắc không phân biệt đối xử của toàn cầu hóa (mà WTO đang cố gắng duy trì) Những biểu hiện cụ thể (dễ nhận thấy) là: (1) Hàng rào thương mại khu vực thường rất
thấp, dẫn tới sự chuyển hướng mậu dịch bất lợi cho các nước
ngoài khu vực; (2) Ưu đãi đầu tư nhiều hơn cho các thành viên trong khu vực cũng dẫn tới ưu thế cạnh tranh trong thương mại mạnh hơn một cách không bình đẳng
Cách thức điều hòa mâu thuẫn: Lưu ý đến các tín hiệu từ thực tiễn, như: khu vực hóa cho phép các quốc gia đang và kém phát triển có chỗ dựa để tiếp cận toàn cầu hóa vững chắc hơn; WTO cũng đã chấp nhận các hiệp định thương mại khu vực như là ngoại lệ đặc biệt (Điều 24, Hiệp định GATT1994) Từ đó, rút ra cách thức điều hòa mâu thuẫn như sau: (1) Mỗi quốc gia nên theo đuổi song song các mục tiêu khu vực hóa và toàn cầu hóa
để thông qua thực tế mà điều chỉnh các quan hệ khu vực cho phù hợp với quan hệ toàn cầu; (2) Trên cơ sở đó, đẩy mạnh cải cách kinh tế, kết hợp minh bạch hóa chính sách thương mại và đầu tư theo các chuẩn mực quốc tế
Đọc tài liệu: chương 8 tập bài giảng môn Kinh tế quốc tế
Đọc thêm: Chương 1: Toàn cầu hóa, sách Kinh doanh quốc tế hiện đại, NXB Kinh tế Tp.Hồ Chí Minh, 2014; Sách Toàn cầu hóa kinh tế của Dương Phú Hiệp và các tác giả, NXB Khoa
học Xã hội, 2001
Thảo luận nhóm: 4 câu hỏi cuối chương 8 tập bài giảng môn Kinh tế quốc tế
Chương 9: CÁC ĐỊNH CHẾ HỢP TÁC KINH TẾ QUỐC TẾ
Học viên chú trọng tìm hiểu kỹ các nội dung cốt lõi sau đây của bài học:
Trang 30Vấn đề mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế:
Chính sách tự do hóa thương mại yêu cầu từng quốc gia phải
mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế Cách thức hội nhập: đi từ hẹp đến rộng (theo không gian hội nhập); và từ đơn giản đến phức tạp (theo các quan hệ ràng buộc) Trong thực tế, có 3 cấp độ hội nhập (song phương, khu vực, và đa phương) tương ứng với 4 định chế hợp tác (hiệp định thương mại song phương, hiệp định thương mại khu vực, liên minh khu vực, và hiệp định thương mại đa phương toàn cầu)
Hiệp định thương mại song phương (BTA):
Nội dung chủ yếu của hiệp định thương mại song phương là giảm rào cản thương mại, thông qua các chế độ ưu đãi dành cho nhau giữa hai bên kết ước, bao gồm: các qui định về miễn, giảm thuế quan và thuận lợi hóa các thủ tục quản lý thương mại Trong nhiều trường hợp, nội dung hợp tác song phương còn được mở rộng hơn, bằng cách ký thêm hiệp định tránh đánh thuế 2 lần, hiệp định hợp tác đầu tư song phương, hoặc
ký chung trong một hiệp định hợp tác kinh tế toàn diện Nghiên cứu kỹ trường hợp tiêu biểu: Hiệp định thương mại song phương Việt – Mỹ
Hiệp định thương mại khu vực (RTA):
Nội dung chủ yếu của hiệp định thương mại khu vực là giảm hàng rào thương mại giữa các quốc gia thành viên trong khu vực bằng cách: hạ thấp hàng rào thuế quan; và loại bỏ phần lớn hàng rào phi thuế quan Ngoài ra, còn hợp tác trong một số quan hệ kinh tế khác có liên quan (như: tài chính, đầu tư, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ…) để thuận lợi hóa môi trường thương mại Các hình thức của hiệp định thương mại khu vực: (1) Liên minh thuế quan
(Customs Union) với đặc điểm cơ bản là giảm thấp hàng rào
Trang 31thương mại khu vực, thống nhất biểu thuế quan của khu vực dành cho phần còn lại của thế giới Ngày nay hình thức này không còn phổ biến do tính chất phân biệt đối xử rất rõ (qua các tình
huống chuyển hướng mậu dịch) (2) Khu mậu dịch tự do (Free Trade Area – FTA) với đặc điểm cơ bản là giảm rất thấp hàng rào
thương mại khu vực, mỗi thành viên giữ độc lập chính sách thương mại với bên ngoài khu vực Hình thức này đang rất phổ biến trên thế giới Nghiên cứu kỹ các trường hợp tiêu biểu: Hiệp
định thương mại tự do Bắc Mỹ (North America Free Trade Agreement – NAFTA); Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương (Asia Pacific Economic Cooperation – APEC)
Liên minh khu vực (RU):
Liên minh khu vực có nội dung hợp tác chặt chẽ trên nhiều lĩnh vực, bao gồm: kinh tế; an ninh – chính trị; văn hóa – xã hội; giáo dục – đào tạo; khoa học – kỹ thuật… Riêng nội dung hợp tác kinh tế có những đặc điểm sau: (1) Hình thành thị trường chung, loại bỏ hầu hết hàng rào thương mại khu vực; (2) Có trường hợp sử dụng đồng tiền chung của khu vực; (3) Phối hợp chính sách kinh tế chặt chẽ để nâng cao khả năng cạnh tranh của cả khối với bên ngoài khu vực Nghiên cứu kỹ các trường
hợp tiêu biểu: Liên minh Châu Âu (European Union – EU); Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (Association of South-East Asian Nations – ASEAN) và Khu mậu dịch tự do ASEAN (ASEAN Free Trade Area – AFTA) Riêng với trường hợp AFTA, bên cạnh việc tìm hiểu công cụ thực hiện là CEPT (Common Effective Preferential Tariff), còn phải lưu ý đến vấn đề ASEAN.6 áp dụng
Hệ thống ưu đãi hội nhập (AISP – ASEAN Integration System of Preferences) dành cho 4 thành viên mới (Việt Nam, Lào,
Myanma, Kampuchia)
Trang 32Hiệp định thương mại đa phương (MTA):
Nội dung chính của hiệp định thương mại đa phương là khai thông môi trường thương mại toàn cầu (bao gồm cả quan hệ đầu tư và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại) So với hình thức liên minh khu vực, hiệp định thương mại đa phương có nội dung hợp tác hẹp hơn, chủ yếu là giảm thấp hàng rào thuế quan và loại bỏ bớt các hàng rào phi thuế quan bất hợp lý, nhưng không gian hợp tác rất rộng lớn nên tính chất phức tạp cao hơn hẳn Nghiên cứu kỹ trường hợp tiêu biểu: Hệ thống GATT/WTO Trong đó, lưu ý nắm vững các nội dung sau:
Sáu chức năng hoạt động của WTO: (1) Thực hiện các thỏa thuận thương mại của WTO; (2) Diễn đàn đàm phán thương mại; (3) Giải quyết tranh chấp thương mại; (4) Rà soát chính sách thương mại của các quốc gia thành viên; (5) Trợ giúp và huấn luyện kỹ thuật cho các thành viên là quốc gia đang phát triển; (6) Hợp tác với các tổ chức quốc tế khác
Năm nguyên tắc cơ bản của WTO: (1) Không phân biệt đối xử (áp dụng MFN và NT); (2) Thương mại tự do hơn (giảm hàng rào mậu dịch thông qua thương lượng); (3) Dễ dự đoán (chính sách thương mại minh bạch, không tùy tiện tăng các rào cản thương mại); (4) Tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng hơn; (5) Dành nhiều ưu đãi hơn cho các thành viên là quốc gia kém phát triển (LDCs)
Cặp qui chế không phân biệt đối xử: Qui chế tối huệ quốc (Most Favoured Nation – MFN) không phân biệt đối xử giữa hàng nhập
khẩu từ một quốc gia này với hàng nhập khẩu từ một quốc gia
khác; Qui chế đối xử quốc gia (National Treatment – NT) không
Trang 33phân biệt đối xử giữa hàng nhập khẩu với hàng nội địa cùng loại; Và,
Một qui chế phái sinh từ cặp qui chế không phân biệt đối xử: Hệ
thống ưu đãi phổ cập (Generalized System of Preferences – GSP) với
nội dung chính là một số quốc gia phát triển tự nguyện giảm thuế suất GSP nhiều hơn so với thuế suất MFN cho các quốc gia đang
và kém phát triển trên 3 nhóm: Sản phẩm thô và sơ chế; Sản phẩm chế tạo hàm lượng kỹ thuật thấp; Hàng thủ công mỹ nghệ và một
số mặt hàng không nhạy cảm khác
Đọc tài liệu: chương 9 tập bài giảng môn Kinh tế quốc tế; các mục IV & V của chương V, chương VI và mục IV của chương
XI giáo trình môn Kinh tế quốc tế
Thảo luận nhóm: 5 câu hỏi cuối chương 9 tập bài giảng môn Kinh tế quốc tế
Trang 34Phần 3
HƯỚNG DẪN LÀM BÀI KIỂM TRA
Hình thức kiểm tra và kết cấu đề thi:
Hình thức được chọn là thi trắc nghiệm khách quan Đối với hệ đào tạo từ xa, áp dụng dạng đề thi mở (sinh viên được sử dụng tài liệu trong khi làm bài), thời gian làm bài 60 phút Đề thi bao gồm
40 câu hỏi (mỗi câu có 4 đáp án) phân bố đều khắp 9 chương của môn học Mỗi lần thi, đề thi sẽ được xáo trộn làm hai đề đánh số khác nhau và phát đề xen kẻ Sự khác biệt giữa hai đề trong một lần thi chủ yếu là khác nhau về thứ tự câu hỏi và khác nhau về vị trí đáp án trong một số câu nhất định, để hạn chế tình trạng trao đổi giữa hai thí sinh ngồi gần nhau trong khi thi
Hướng dẫn cách làm bài thi trắc nghiệm:
Sinh viên làm bài bằng cách chọn đáp án đúng nhất đánh dấu hợp
lệ vào phiếu trả lời trắc nghiệm Lưu ý, một câu hỏi trắc nghiệm có thể có nhiều hơn một đáp án đúng, phải chọn đáp án đúng nhất thì mới có điểm Ngoài ra, phải xem kỹ hướng dẫn cách đánh dấu chọn đáp án và sửa đáp án hợp lệ ở phía trên phiếu trả lời trắc nghiệm để làm cho đúng, tránh trường hợp mất điểm vì làm sai qui cách
Cách làm bài thi hợp lý nhất là đọc tuần tự từ câu 1 đến câu 40, thấy câu nào dễ mình đã nắm chắc thì làm ngay vào phiếu trả lời trắc nghiệm, những câu khó thì khoanh lại để làm sau chứ không nên mất nhiều thời gian vào đó Khi đã làm lướt qua hết 40 câu rồi