1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

BRANCH 2010 CKI DO KHE MANG TSBS lê HÀNH

8 60 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 33,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từng đơn vị của hệ thống mang biệt hóa dần thành các cấu trúc của vùng cổ.. Sự tồn tại bất thường của cấu trúc mang khi cơ thể đã hòan thiện là bệnh sinh của các nang, xoang và dò mang v

Trang 1

ĐƯỜNG DÒ, XOANG VÀ NANG MANG CẠNH

CỔ BẨM SINH.

Bs Ts Lê Hành

*0 Bài giảng Chuyên Khoa 1 (chuyên ngành

Tai Mũi Họng)

*1 Tín chỉ Các tật bẩm sinh

*2 Đối tượng: Học viên Cao Học và chuyên

khoa cấp I

*3 Biên soạn: BS TS LÊ HÀNH

Hệ thống mang được miêu tả đầu tiên bởi Baer 1827 Hệ thống này bắt đầu phát triển từ tuần thứ 2 ở vùng cổ của phôi Đến

tuần thứ 4 thì hình thành rõ 4 cung mang và các khe mang, túi mang Mỗi cung mang mang một động mạch, một thần kinh, một cung sụn và cơ Từng đơn vị của hệ thống mang biệt hóa dần thành các cấu trúc của vùng cổ Những phần không chức năng sẽ tự biến mất Sự tồn tại bất thường của cấu trúc

mang khi cơ thể đã hòan thiện là bệnh sinh của các nang, xoang và dò mang vùng cổ

Từ khóa: hệ thống mang: branchial system;

nang mang: branchial cyst; dò mang: branchial

fistula; xoang mang: branchial sinus Khe mang:

branchial groove or cleft; túi mang: branchial

pouch; cung mang branchial arch.

CẤU TRÚC XUẤT PHÁT TỪ HỆ THỐNG MANG

Trang 2

Cung mang

Trong thời kỳ đầu, phần trung mô của cung mang hình thành một cung sụn, cung này sẽ tiến hóa thành xương, sụn và những cấu

trúc mô liên kết khác như cơ vùng mặt cổ Cấu trúc xương:

+Phần gần của sụn cung mang I (sụn

Meckel’s) sẽ thành xương hàm dưới, dây

chằng bướm hàm, dây chằng búa trước,

xương búa (trừ manubrium), xương đe (trừ

ngành dài), hai cấu trúc này thuộc cung mang 2

+ Cấu trúc thuộc cung mang 2: (sụn

Reichert): Tạo xương ở hai đầu, đoạn giữa là dây chằng trâm hàm Phần trước là phần trên thân xương móng + sừng nhỏ phần sau là cán búa, ngành dài xương đe, xương bàn đạp (trừ đế thuộc vỏ tai (otic capsule) Như

vậy trên người trưởng thành, giới hạn của cung mang thứ 2 là một đường từ mấu trâm qua dây chằng trâm móng, tận cùng ở sừng nhỏ

+Phần còn lại của xương móng tạo bởi cung mang thứ 3

+Phần trên của sụn gíap do cung mang thứ 4

+Phần dưới sụn giáp và phần trên sụn nhẫn, sụn phễu, sụn vừng… do cung mang thứ 5

Cấu trúc cơ: (Muscle derivatives)

Cung mang 1: hệ cơ nhai gồm: cơ cắn, cơ thái dương, cơ chân bưóm trong, ngoài

Cơ căng màng nhĩ, thân trưóc cơ nhị thân, cơ hàm móng

Trang 3

Cung mang 2: các cơ diễn cảm mặt cùng với

cơ da cổ

Cơ thân sau cơ nhị thân, cơ trâm móng, cơ căng xương bàn đạp

Cung mang 3: chỉ 1 cơ: cơ trâm họng ( tác dụng nâng họng khi nuốt)

Cung mang 4, 5 và 6: Nhóm cơ thanh quản, cơ họng: các cơ siết họng, thực quản: nhóm cơ nửa trên Phân nửa dưới của thực quản là

cơ trơn, do splanchnic mesoderm của ruột

nguyên thủy

Cấu trúc thần kinh:

Vì nằm kế cận thân não, mỗi cung mang

nhận một thần kinh cảm giác và vận động riêng biệt từ não bộ Cũng như trên thân mình, mỗi vùng cơ nhận thần kinh sống

chuyên biệt từ thời kỳ phôi Sau đó dù cấu trúc này có di chuyển đi nơi nào khác thì vẫn chịu sự chi phối của nhánh thần kinh đó

Cung mang 1: thần kinh sinh ba Cung cấp vận động cho các cơ của cung mang này và cảm giác cho vùng xương hàm dưới và vùng mặt Cung mang 2: thần kinh mặt Vận động cơ diễn cảm vùng mặt và một nhánh nhỏ cảm

giác vùng ống tai ngoài

Cung mang 3: thần kinh thiệt hầu Vận động

cơ trâm họng và cảm giác vùng họng

Thần kinh X và nhánh sọ của thần kinh XI cung cấp vận động cho các cơ thuộc cung mang 3,4,

5, 6 Cùng xuất phát từ nhân mơ hồ ở hành tủy, các sợi thần kinh theo dây X qua lỗ cảnh

ở nền sọ Đặc biệt, các cơ siết họng vận động bởi nhánh của dây X còn các cơ

Trang 4

chuyển tiếp giữa họng và thực quản thì vận động bởi dây hồi qui

Thần kinh thanh quản trên vận động cơ giáp nhẫn và cho cảm giác vùng thanh quản

Thần kinh hồi qui vận động tất cả cơ còn lại của thanh quản

Túi mang:

Túi mang là những chỗ lõm ra ngòai của

thành ruột trên (foregut) hay vùng phôi của họng

Túi mang được lát bởi nội mạc và cùng với cung mang tạo thành những cấu trúc quan

trọng của vùng cổ

Túi mang 1: lõm sâu vào trong vung xương

thái dương và tạo thành tai giữa và vòi nhĩ Phần ngoài cùng tạo thành niêm mạc màng nhĩ, lớp mesoderm tạo thành lớp xơ và ngoài cùng là lớp biểu bì của cung mang 1 Như vậy ống tai ngoài được tạo thành bởi khe mang 1 Túi mang 2: các tế bào trung mô kê cận tạo thành mô amiđan còn nội mạc tạo thành niêm mạc bao quanh

Túi mang 3: hai thành phần: Trên: tuyến phó giáp dưới; dưới: thymus cuối cùng di chuyển vào trung thất

Túi mang 4: nội mạc tạo thành tuyến phó giáp trên

Phần kế cận được gọi là túi mang 5,6 hay the ultimobranchial body, bị thâm nhập bởi tế bào từ neural crest Các tế bào này đi vào trong tuyến giáp và tạo thành parafollicular cell (C cell) có nhiệm vụ tiết Calcitonin

Trang 5

Khe mang (Branchial cleft)

Là phần khu trú giữa hai cung mang Chỉ khe mang 1 là tồn tại cho đến lúc trưởng thành và tạo thành ống tai ngoài Các khe mang

còn lại tự biến mất Những rối loạn phát

triển của hệ thống mang để lại những bệnh tích phức tạp trên người trưởng thành Bệnh tích có thể từ những nang nhỏ cho đến

những tật của vùng miệng-mặt

Cần làm rõ một số từ:

Nang (cyst): không thông với bề mặt nào

của cơ thể

Xoang (sinus): thông với một bề mặt của cơ thể hoặc da, hoặc niêm mạc họng…

Dò (fistula): thông với cả hai mặt da và niêm mạc

Trên một dò hay xoang có thể có vùng dãn rộng như một nang

Đừng lẫn lộn giữa khe mang (branchial cleft) và túi mang (branchial pouch) Có thể dùng groove thay cho cleft

NHỮNG DỊ TẬT BẨM SINH LIÊN QUAN

ĐẾN HỆ THỐNG MANG:

Những dị dạng do khe mang 1:

Rối loạn phát triển của khe mang 1 đưa đến sự thành lập những nang hay xoang ở vùng ống tai ngòai

Work và Aronsohn nhấn mạnh sự khác biệt về phôi học của dò luân nhĩ (preauricular cysts) và dò khe mang 1

Dò luân nhĩ nằm trên bình tai Là những nang ẩn nhập (inclusion cysts) tạo thành trong quá

Trang 6

trình phối hợp để tạo thành vành tai của các hillocks ngoại bì của cung mang 1 và 2

Ngược lại, những dị dạng của khe mang 1 là sự nhân đôi (duplication) của phần màng của ống tai ngòai Biểu hiện có thể là một dò, xoang hay nang

Work chia thành hai loại:

Loại 1: ngoại bì chỉ là phần mềm của ống tai ngoài

Loại 2: ngoại- trung bì: dò bao gồm cả sụn

Dò khe mang 1 có thể liên quan đến dây VII

Những dị dạng liên quan đến khe và túi mang 2 – 4

Bình thường các khe mang từ 2-5 sẽ phối hợp với nhau thanh một khe gọi là xoang cổ

(cervical sinus of His) rồi tự biến mất Sự tồn tại của xoang cổ làm hình thành những dị dạng của khe mang: nang, xoang hay dò

Nói chung, lỗ dò ngoài da, nang, đường dò của các loại khe mang đều ở bên cổ, trước

cơ ức đòn chũm, nằm trong máng cảnh, dưới xương móng

Đường dò có thể hoàn toàn, có lỗ mở ra ngoài da và lỗ mở vào họng Tuy nhiên, dò có thể không đổ vào trong họng (chột trong) hay không mở ra da (chột ngoài) còn gọi là xoang Hay thành nang ( vừa chột trong vừa chột ngoài)

Định danh đường dò bằng lỗ mở vào trong họng:

Dò KM 2: đi xuyên giữa đm cảnh ngoài và trong, mở vào hố amiđan Nang của KM2

thường nằm sát, chạy dọc theo máng cảnh

Trang 7

Dò KM 3: ít gặp, ở phần thấp của cổ, trước

cơ UĐC, cực trên tuyến giáp, thành bên tuyến giáp Nằm phía trong các cấu trúc của cung mang 3 như TK IX, đm cảnh trong nhưng phía

ngoài cấu truc của cung mang 4 như TK X Mở vào xoang lê hay màng giáp móng

Dò KM 4-5: Được tả bởi Sanborn6 in 1972 Y văn nêu khoảng 30 trường hợp Thường nằm bên cổ trái, mở vào miệng thực quản, màng

nhẫn giáp Khi viêm thường bị chẩn đoán nhầm là viêm tuyến giáp

Dí tích của cung mang thường là những mảnh sụn nằm dọc theo bờ trước cơ ức đòn chũm

Nang khe mang:

Nang khe mang khá phổ biến, chiếm 1/3 các khối bẩm sinh vùng cổ

Là một khối không đau, nẩy, ở vùng cổ Có thể tăng thể tích hay viêm đỏ, hóa mủ theo sau một đợt viêm đường hô hấp trên Thường phát hiện sớm trên trẻ em, nang KM có thể xuất hiện ở mọi tuổi

Nang lớn có thể gây đau, nuốt đau, thở rít

Vị trí:

Nang KM1: cạnh góc hàm

Nang KM 2: Thường gặp nhất, ở phần cao của cổ, sâu ở bờ trước cơ UDC

CẬN LÂM SÀNG:

Siêu âm, CTScan, MRI

XỬ TRÍ:

Phẫu thuật Mổ lấy triệt căn bệnh tích

Nếu đã bị áp xe, cần rạch tháo mủ trước

Trang 8

Đừng làm tổn thương thêm các cấu trúc

chung quanh

Phẫu thuật khó hơn nhiều đối với những dò, nang tái phát

Phải định danh những cấu trúc sinh tồn trong phẫu trường trước khi cắt bỏ bệnh tích cùng các mô kế cận

Ngày đăng: 04/10/2019, 20:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w