1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Dò khe mang số 1 loại 2: Kinh nghiệm 5 năm điều trị

4 61 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 4
Dung lượng 279,07 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu có mục tiêu nhằm xác định biểu hiện lâm sàng và bàn luận về phương pháp điều trị phẫu thuật bệnh lý dò khe mang số 1 loại 2. Nghiên cứu thực hiện trên 9 bệnh nhi được chẩn đoán dò khe mang số 1 tại bệnh viện Nhi đồng 1, TP.HCM trong 5 năm từ tháng 6/2008 đến tháng 8/2012.

Trang 1

Y Học TP Hồ Chí Minh * Tập 17 * Phụ bản của Số 1 * 2013 Nghiên cứu Y học

DÒ KHE MANG SỐ 1 LOẠI 2: KINH NGHIỆM 5 NĂM ĐIỀU TRỊ

Lê Tự Thành Nhân*, Nguyễn Công Huyền Tôn Nữ Cẩm Tú**

TÓM TẮT

Mục tiêu: Xác định biểu hiện lâm sàng và bàn luận về phương pháp điều trị phẫu thuật bệnh lý dò khe mang

số 1 loại 2

Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu trên 9 bệnh nhi được chẩn đoán dò khe mang số 1 tại bệnh viện Nhi đồng 1, thành phố Hồ Chí Minh trong 5 năm từ tháng 6/2008 đến tháng 8/2012

Kết quả: 5 trường hợp lỗ dò nằm ở trước tai, 2 trường hợp lỗ dò nằm ở vùng sau tai và 2 trường hợp có lỗ

dò sau tai được rạch apxe 5 lần trước đó, 2 trường hợp xoang vùng trước tai và mang tai Cả 9 trường hợp đều đổ vào ống tai sụn Điều trị bao gồm phẫu thuật bộc lộ dây thần kinh mặt và lấy trọn đường dò đến sát ống tai sụn 5/9 trường hợp đường dò đi sâu bên dưới dây thần kinh mặt, 4/9 trường hợp đường dò đi bên ngoài dây thần kinh mặt Chưa có trường hợp nào tái phát và tổn thương dây thần kinh mặt

Kết luận: Chẩn đoán xác định dò khe mang số 1 loại 2 dựa vào biểu hiện lâm sàng và giải phẫu của đường

dò và giải phẫu bệnh lý Điều trị bao gồm phẫu thuật bộc lộ dây thần kinh mặt đoạn thoát ra khỏi lỗ trâm chũm kết hợp với lấy trọn đường dò đến sát phần sụn ống tai ngoài

Từ khóa: Dây thần kinh số VII, dò khe mang số 1, xương móng

ABSTRACT

TYPE 2, FIRST BRANCHIAL CLEFT ANOMALIES: 5 YEARS EXPERIENCE OF SURGICAL

TREATMENT

Le Tu Thanh Nhan, Nguyen Cong Huyen Ton Nu Cam Tu

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 17 - Supplement of No 1 - 2013: 199 - 202

Objectives: To identify the clinical and anatomical presentations and to discuss the surgical management of first branchial cleft anomalies, type 2

Design: Retrospective study

Setting: Children hospital Number 1, ent department, HCMC, Viet nam

Patients: 9 patients with first branchial cleft anomalies, type 2 operated on between 06/2008 and 08/2012 Results: Anatomically, 2 types of first branchial anomalies are identified: fistulas (n=7), and sinus (n=2) All cases had ending at external auditory canal 5 cases (55%) were located medial to facial nerve and 4 cases (45%) were located superficial to facial nerve Clinical presentation are recurrent abscess and persistent fistula (n=3), persistent fistula in the neck above the hyoid bone (n=4), periauricular swelling in the parotid area (n=2) Surgical treatment included standard parotidectomy incision allows adequate exposure and preservation of the facial nerve and fistullectomy until their ending at the cartilaginous external auditory canal No case of recurrence and facial nerve paralysis

Conlusions: First branchial anomalies type 2 were diagnosed base on anatomical, clinical presentations and anatopathological results Successful surgical treatment included wide exposure and preservation of facial nerve as well as complete removal the tracts until their ending at the cartilaginous external auditory canal

* BS, Khoa Tai Mũi Họng, Bệnh viện Nhi Đồng 1 ** BS, Bộ Môn Tai Mũi Họng, ĐHYD Tp HCM

Tác giả liên lạc: BS Lê Tự Thành Nhân ĐT: 0989282931 Email: nhandr@gmail.com

Trang 2

Nghiên cứu Y học Y Học TP Hồ Chí Minh * Tập 17 * Phụ bản của Số 1 * 2013

Chuyên Đề Mắt – Tai Mũi Họng

200

Keywords: Facial nerve, first branchial anomalies, hyoid bone

ĐẶT VẤN ĐỀ

Dò khe mang số 1 là bệnh bẩm sinh hiếm

gặp ở vùng đầu cổ, chiếm tỷ lệ khoảng 1 phần

triệu trong năm(1) và 8% trong các trường hợp dò

khe mang(5) Bất thường xuất phát từ sự nhân đôi

của ống tai ngoài trong quá trình tạo phôi Vì

hiếm gặp và biểu hiện lâm sàng thay đổi nên

bệnh thường được chẩn đoán sai và điều trị

không đúng cách Dò khe mang số 1 được chia

làm 2 loại, loại 1 có đường đi liên quan gần với

sụn cửa tai và song song với ống tai ngoài và kết

thúc Loại 2 thường xuất phát từ vùng cổ trên

xương móng, biểu hiện lâm sang dạng xoang,

nang hoặc đường dò, có đường đi liên quan đến

tuyến mang tai, dây thần kinh số 7 và tận cùng ở

chỗ nối giữa ống tai sụn và ống tai xương(9) Tỷ lệ

ở nữ gấp 2 lần nam và thường nằm bên trái(2) Để

điều trị thành công dò khe mang số 1 cần phải

hiểu rõ mối liên quan của đường dò với dây thần

kinh mặt, đặc biệt với những trường hợp đường

dò đi sâu bên dưới dây thần kinh và lấy trọn

đường dò tránh tái phát(6,7).

Mục tiêu nghiên cứu

Xác định biểu hiện lâm sang, giải phẫu và

bàn luận về phương pháp điều trị phẫu thuật

bệnh lý dò khe mang số 1 loại 2

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Tiến hành nghiên cứu hồi cứu trên tổng số

bệnh nhân được chẩn đoán dò khe mang số loại

2 trong thời gian từ tháng 6/2008 đến tháng

8/2012 Tiêu chuẩn chẩn đoán là bệnh nhi dưới

15 tuổi, được chẩn đoán là theo dõi dò khe mang

số 1 loại 2 dựa vào biểu hiện lâm sàng có lỗ dò

hoặc nang vùng trước hoặc sau tai vùng cổ trên

xương móng kết hợp đường đi của đường dò

trong lúc phẫu thuật và kết quả giải phẫu bệnh

phẫu bệnh sau mổ

Các tiêu chí đánh giá bao gồm: tuổi, giới,biểu

hiện lâm sàng, giải phẫu đường đi của nang và

đường dò, mối liên quan của đường dò với dây

thần kinh mặt và ống tai, kết quả giải phẫu bệnh

KẾT QUẢ

Từ 6/2008 đến 8/2012 có 9 bệnh nhân được chẩn đoán dò khe mang số loại 2

Tuổi từ 2 đến 15 tuổi, 6 nữ và 3 nam 7 ca bên trái, 2 ca bên phải

Biểu hiện lâm sàng

Lỗ dò ở vùng cổ trên xương móng: 7 trường hợp trong đó có 5 trường hợp lỗ dò nằm ở trước tai, 2 trường hợp lỗ dò nằm ở vùng sau tai Xoang vùng trước tai và mang tai 2 trường hợp Chảy mủ tai kéo dài: 1 trường hợp

Nhiễm trùng tái phát vùng góc hàm, vùng mang tai kết hợp với lỗ dò ra da 3 trường hợp, trong đó có 2 trường hợp đã được mổ và rạch áp

xe 5 lần

Đường đi của đường dò và xoang: Cả 9 trường hợp đều tận cùng ở ống tai sụn gần chỗ nối với ống tai xương

Mối liên quan với dây thần kinh mặt

5 trường hợp có vị trí lỗ dò nằm ở vùng cổ trên xương móng và trước tai đều có đường dò

đi bên dưới dây thần kinh mặt và đều đi bên dưới nhánh thái dương gò má 2 trường hợp lỗ

dò nằm ở vùng sau trái tai đường dò đi sát vào thân chính của dây thần kinh mặt nơi thoát ra từ

lỗ trâm chũm sau đó đi vòng lên trên và tận cùng ở chỗ nối giữa ống tai sụn và xương

Hai trường hợp xoang, đều có đường dò đi sát nhưng bên ngoài dây mặt và cũng tận cùng ở chỗ nối ống tai sụn và xương

Mối liên quan với ống tai: 9 trường hợp tận cùng ở chỗ nối ống tai sụn và xương 1 trường hợp lổ dò thông với ống tai gây chảy mủ ống tai ngoài, các trường hợp còn lại còn phân cách với ống tai bởi da ống tai ngoài

Giải phẫu bệnh: 7 trường hợp là đường dò được lót bởi biểu mô gai và phần phụ sụn kết hợp với các tế bào viêm leucocyte, lymphocyte, neutrophile 2 trường hợp dạng nang được lót bởi biểu mô gai

Trang 3

Y Học TP Hồ Chí Minh * Tập 17 * Phụ bản của Số 1 * 2013 Nghiên cứu Y học

Hình 1: Bệnh nhân nữ 10 tuổi biểu hiện lâm sàng là lỗ

dò sau tai trái, nhiễm trùng tái đi tái lại được rạch apxe

5 lần (a), được phẫu bộc lộ dây mặt , đường dò đi bên

ngoài thân chính dây thần kinh mặt và tận cùng ở ống

tai ngoài phần sụn (b)

Hình 2: Bệnh nhân nữ 2 tuổi, biểu hiện lỗ dò ở vùng góc hàm phải, đường dò đi sâu bên dưới dây thần kinh mặt (trong hình đường dò đã được tách ra khỏi dây thần kinh) và tận cùng ở ống tai sụn

Phương pháp phẫu thuật: Thực hiện đường

mổ hình chữ S giống như mổ u tuyến mang tai,

bộc lộ thân chính dây thần kinh mặt đoạn thoát

ra khỏi lỗ trâm chũm, bộc lộ các nhánh chính,

sau đó tiến hành bóc tách theo đường dò, bảo

tồn các nhánh dây thần kinh mặt, theo sát đường

dò đến chỗ tận cùng ở chỗ nối ống tai sụn và

xương, cắt đường dò, khâu kín phần sụn ống tai

chỗ tận cùng của đường dò

Kết quả sau mổ: Thời gian theo dõi lâu nhất

là 4 năm, ngắn nhất là 3 tháng Có 2 trường hợp

vết mổ bị sưng nề sau mổ và đáp ứng tốt với

điều trị nội khoa 2 trường hợp liệt nhẹ dây 7 sau

phẫu thuật và phục hồi hoàn toàn sau 4 tuần Tỷ

lệ tái phát 0%

BÀN LUẬN

Dò khe mang số 1 loại 2 thường xảy ra ở trẻ

nhỏ(2) Nghiên cứu của Stokroos và Manni, 8

trong số 18 bệnh nhân dưới 10 tuổi(6) Trong 9

bệnh nhân của chúng tôi, có 7/9 bệnh nhân dưới

10 tuổi

Tỷ lệ nữ/nam: 6/3, trái/phải: 7/2.Theo

D’Souza tỷ lệ nữ/nam là 2/1 và thường nằm bên

trái(2) Tỷ lệ của chúng tôi chỉ mang tính tham

khảo vì cỡ mẫu nhỏ và thời gian còn ngắn

Về phương diện giải phẫu: 7 trường hợp

dạng đường dò nối từ da vùng cổ trên đến ống

tai ngoài, 2 trường hợp dạng xoang Theo Triglia

và cộng sự, trong 39 trường hợp có 11 dạng

đường dò, 20 dạng xoang và 8 dạng nang(7)

Trong 9 trường hợp của chúng tôi không có trường hợp nào dạng nang, có lẽ do số ca của chúng tôi còn ít

Về phương diện lâm sàng : 4 trường hợp có

lỗ dò chảy dịch đục tái đi tái lại nhiều lần vùng

cổ trên xương móng, 3 trường hợp nhiễm trùng tái phát vùng quanh lổ dò được rạch apxe nhiều lần, trong đó có 2 trường hợp đã được mổ và rạch apxe 5 lần và 1 trường hợp chảy mủ tai ra ống tai ngoài, 2 trường hợp sưng vùng tuyến mang tai Theo Triglia và cộng sự, trong 39 bệnh nhân dò khe mang số 1, 3 dạng lâm sàng thường gặp là chảy mủ tai kéo dài, sưng vùng trước tai quanh tuyến mang tai và apxe kết hợp với đường dò chảy dịch kéo dài

Về chẩn đoán dò khe mang số 1 loại 2, chúng tôi dựa vào phân loại của Work(9), bất thường loại 2 có nguồn gốc từ ngoại bì, trung bì và phần phụ sụn, đường dò đi từ ống tai ngoài đến vùng

cổ trên gần góc hàm Violaris và Pahor phân chia thêm loại 3 khi đường dò đi từ ống tai đến xương chũm và cơ ức đòn chũm(8)

Bất thường khe mang số 1 xuất phát từ tuần thứ 6 đến tuần thứ 8 của thai kỳ Cùng thời điểm này là sự hình thành của tuyến mang tai và dây thần kinh mặt, dó đó bất thường về phôi thai của

hệ thống mang số 1 có thể nằm nông hoặc sâu so với dây thần kinh mặt Theo Miller và D’souza, bất thường dạng xoang thường nằm nông so với dây thần kinh mặt, dạng đường dò thường nằm

Trang 4

Nghiên cứu Y học Y Học TP Hồ Chí Minh * Tập 17 * Phụ bản của Số 1 * 2013

Chuyên Đề Mắt – Tai Mũi Họng

202

sâu bên dưới dây mặt(2) Trong nghiên cứu của

chúng tôi, có 5/7 trường hợp dạng đường dò đều

nằm sâu dưới nhánh thái dương gò má, 2/7

trường hợp nằm nông so với dây thần kinh mặt

có lỗ dò ra da nằm sau tai Cả 5 trường hợp nằm

sâu dưới dây mặt đều có lỗ dò ra da nằm ở vùng

cổ trên xương móng và trước góc hàm 2 trường

hợp dạng xoang đều nằm bên ngoài dây mặt

Về phương pháp bộc lộ dây thần kinh mặt,

chúng tôi bộc lộ thân chính đoạn thoát ra khỏi lỗ

trâm chũm, mốc giải phẫu chính chúng tôi dựa

vào là bụng sau cơ nhị thân sau khi đã bộc lộ bờ

trước cơ ức đòn chũm Tất cả 9 trường hợp

chúng tôi đều bộc lộ thành công dây thần kinh

mặt trước khi bóc tách lấy đường dò Nếu đường

dò nằm ngoài dây mặt, chúng tôi chỉ bóc tách

thân chính dây mặt nhằm tránh gây phù nề các

nhánh, nếu đường dò nằm dưới dây mặt, chúng

tôi bóc tách tiếp theo nhánh, cả 5 trường hợp

đường dò đều nằm dưới nhánh thái dương gò

má Chúng tôi không phát hiện trường hợp nào

bất thường về giải phẫu của dây thần kinh mặt

CT scan có vai trò trong việc xác định mối liên

quan của sang thương với cấu trúc xung quanh

nhưng không giúp phát hiện những trường hợp

bất thường dây thần kinh mặt (3, 4).

D’souza và cộng sự báo cáo tỷ lệ liệt mặt tạm

thời sau mổ là 21% trong trường hợp xác định

được dây thần kinh mặt và 29% trong trường

hợp không xác định được dây thần kinh mặt (2).

Trong nghiên cứu của chúng tôi có 2 trường hợp

liệt mặt tạm thời, 2 trường hợp này chúng tôi

đều bộc lộ dây mặt, tuy nhiên do hiện tượng

viêm nhiễm nên đường dò dính vào dây mặt, trong quá trình bóc tách gây phù nề dây thần kinh, cả 2 đều phục hồi hoàn toàn sau 4 tuần

KẾT LUẬN

Bất thường dò khe mang số 1 loại 2 là bệnh hiếm gặp Biểu hiện lâm sàng đa dạng dẫn đến chẩn đoán sai và điều trị không đầy đủ Đường

đi phức tạp liên quan đến dây thần kinh mặt nên

dễ gây tổn thương dây thần kinh mặt trong quá trình phẫu thuật Do đó để điều trị thành công

và triệt để cần phải bộc lộ và bảo tồn tất cả các nhánh của dây thần kinh mặt kết hợp với lấy trọn đường dò đến chỗ nối với ống tai

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Arndal H, Bonding P (1996) First branchial cleft anomaly Clin Otolaryngol; 21:203-207; 108:1524-1527

2 D'Souza AR, Uppal HS, De R, Zeitoun H (2002) Updating

concepts of first branchial cleft defects: A literature review Int J Pediatr Otorhinolaryngol; 62:103-109

3 Marchioni D, Cuzzola E, Massone F, Ghidini A (2002)

Congenital postauricular swelling in a child Pediatr Dermatol.;

19(3):246-249

4 Nofsinger YC, Tom LW, LaRossa D, Wetmore RF, Handler SD

(1997) Periauricular cysts and sinuses Laryngoscope;

1077:883-887

5 Sichel JY, Halperin D, Dano I, Dangoor E (2001) Clinical

update on type II first branchial cleft cysts Laryngoscope;

1023:345-349

6 Stokroos RJ, ManniJJ (2000) The double auditory meatus-rare first branchial clelf anomaly: clinical presentation and

treatment Am J Otol; 21:837-41

7 Triglia JM, Nicollas R,Ducroz V (1998) First branchial cleft anomalies; a study of 39 cases and a review of the literature

Arch Otolaryngol Head Neck Surg; 124:291-5

8 Violaris NS, Pahor AL (1993) A variation of first branchial cleft

anomalies J Laryngol Otol; 107:625-626

9 Work WP (1972) Newer concepts of first branchial cleft defects

Laryngoscope; 82:1581-1593

Ngày đăng: 19/01/2020, 16:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w