trong trẻo, đầy hóm hỉnh và đặc biệt là vốn từ giàu hình ảnh, sáng tạo, linhhoạt truyện ngắn của Nguyễn Nhật Ánh đã trở thành lựa chọn hàng đầu củacác độc giả và được trẻ em yêu thích.Tu
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC MẦM NON
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Giáo dục mầm non
Người hướng dẫn khoa học
ThS VŨ THỊ TUYẾT
HÀ NỘI - 2018
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC MẦM NON
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Giáo dục mầm non
Người hướng dẫn khoa học
ThS VŨ THỊ TUYẾT
HÀ NỘI - 2018
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn, giúp đỡ của các thầy, cô giáotrong khoa Giáo dục Mầm non đã tạo điều kiện thuận lợi cho em trong quátrình làm khóa luận này Đặc biệt em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến côgiáo Vũ Thị Tuyết - người đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình để em cóthể hoàn thành khóa luận
Trong quá trình thực hiện đề tài khóa luận, dù đã cố gắng nhưng dothời gian và năng lực có hạn nên em vẫn chưa đi sâu khai thác hết được, vẫncòn nhiều thiếu xót và hạn chế Vì vậy, em mong nhận được sự tham gia đónggóp ý kiến của các thầy, cô giáo và các bạn
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 05 năm 2018
Sinh viên
Nguyễn Thị Hiền
Trang 4MỤC LỤC
Mở đầu 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Mục đích nghiên cứu 5
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 5
6 Phương pháp nghiên cứu 5
7 Cấu trúc của khóa luận 5
Nội dung 7
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn 7
1.1 Cơ sở tâm lí 7
1.2 Cơ sở sinh lí 10
1.3 Cơ sở ngôn ngữ 13
1.3.1 Một số khái niệm 13
1.3.2 Phân loại từ 13
1.3.2 Đặc điểm vốn từ của trẻ mầm non 20
1.3.4 Đặc điểm vốn từ của trẻ mẫu giáo lớn 24
1.4 Vài nét về tác giả Nguyễn Nhật Ánh 26
1.4.1 Cuộc đời và sự nghiệp 26
1.4.2 Đặc điểm từ ngữ trong một số truyện ngắn viết cho thiếu nhi của Nguyễn Nhật Ánh 29
Tiểu kết chương 1 37
Chương 2: BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN VỐN TỪ CHO TRẺ MẪU GIÁO LỚN THÔNG QUA TRUYỆN NGẮN CỦA NGUYỄN NHẬT ÁNH 38
Trang 52.1 Nguyên tắc đề xuất biện pháp 38
2.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính mục đích 38
2.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính tích cực của trẻ 40
2.1.3 Nguyên tắc đảm bảo phù hợp với vốn sống và kinh nghiệm của trẻ 42
2.2 Biện pháp phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua truyện ngắn của Nguyễn Nhật Ánh 43
2.2.1 Biện pháp đọc, kể chuyện cho trẻ nghe 43
2.2.2 Biện pháp giải nghĩa của từ 51
2.2.3 Biện pháp tổ chức trò chơi đóng kịch 56
2.2.4 Biện pháp sử dụng trò chơi ngôn ngữ 61
Tiểu kết chương 2 64
KẾT LUẬN 65
TÀI LIỆU THAM KHẢO 67
Trang 61 Lí do chọn đề tài
MỞ ĐẦU
Trang 7Như chúng ta đã biết ngôn ngữ có vai trò vô cùng quan trọng đối vớicon người, là đặc trưng chỉ có ở xã hội loài người để phân biệt con người vớicác loài động vật khác Ngôn ngữ được sử dụng với tư cách là một phươngtiện của tư duy, đồng thời ngôn ngữ còn là phương tiện giao tiếp quan trọngnhất của con người Nhờ có ngôn ngữ chúng ta có thể bày tỏ ý muốn củamình cho người khác thông qua lời nói, trao đổi với nhau những hiểu biết vàtruyền cho nhau những kinh nghiệm trong cuộc sống.
Đối với trẻ mầm non, đây là giai đoạn phát cảm về ngôn ngữ ngôn ngữcủa trẻ phát triển theo một tốc độ nhanh Trong giai đoạn này ngôn ngữ củatrẻ phát triển mạnh về các phương diện: ngữ âm, vốn từ và sử dụng ngữ pháp
Nó là công cụ cơ bản nhất để giúp trẻ giao tiếp, học tập và vui chơi, làphương tiện giáo dục toàn diện về đạo đức, tư duy, nhận thức và chuẩn mựchành vi văn hóa… Chính vì thế ngôn ngữ có một vai trò đặc biệt quan trọngđối với trẻ mầm non
Độ tuổi mẫu giáo lớn là lứa tuổi cuối cùng của trường mầm non, đây làbước ngoặt lớn để trẻ chuẩn bị bước vào bậc tiểu học Vì vậy, cần phải chuẩn
bị cho trẻ một tâm thế sẵn sàng trong đó ngôn ngữ là thành phần cốt yếu Pháttriển vốn từ là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong lĩnh vực phát triểnngôn ngữ của trẻ mầm non nói chung và trẻ mẫu giáo lớn nói riêng Để có thểbộc lộ suy nghĩ, thể hiện ý muốn, ứng biến nhanh trong mọi tình huống giaotiếp, học tập tốt các môn học khác ở trường tiểu học, trẻ mẫu giáo lớn phải cóvốn từ chuẩn mực, phong phú cả về số lượng và chất lượng
Trên diễn đàn văn học Việt Nam, có rất nhiều cây bút viết những tácphẩm hay dành cho thiếu nhi Nhưng xuất hiện trên văn đàn như một hiệntượng văn học đặc sắc phải kể đến Nguyễn Nhật Ánh Với giọng văn giản dị,
Trang 8trong trẻo, đầy hóm hỉnh và đặc biệt là vốn từ giàu hình ảnh, sáng tạo, linhhoạt truyện ngắn của Nguyễn Nhật Ánh đã trở thành lựa chọn hàng đầu củacác độc giả và được trẻ em yêu thích.
Tuy nhiên, việc sử dụng các truyện ngắn của Nguyễn Nhật Ánh để mởrộng và nâng cao chất lượng vốn từ cho trẻ mẫu giáo lớn chưa được đưa nhiềuvào giảng dạy trong chương trình mầm non hiện nay Với mong muốn tìmhiểu rõ hơn về việc sử dụng ngôn ngữ trong truyện ngắn của ông, góp phần
mở rộng vốn từ cho trẻ Vì vậy, chúng tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài “ Phát
triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua truyện ngắn của Nguyễn Nhật Ánh”.
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trong chương trình chăm sóc và giáo dục mầm non, mở rộng vốn từcho trẻ mẫu giáo lớn chiếm một vị trí rất quan trọng Bởi vậy, đã có rất nhiềucông trình khoa học nghiên cứu về vấn đề này ở nhiều khía cạnh khác nhau
Trong cuốn “Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo”,
NXB Đại học Sư phạm Hà Nội, 2004, tác giả Nguyễn Xuân Khoa đã nói vềphương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo rất chi tiết, cụ thể Trong
đó, tác giả đưa ra một số phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non,bao gồm cả vấn đề phát triển vốn từ cho trẻ
Tác giả Nguyễn Xuân Khoa đã cung cấp những tri thức cơ bản về tiếng
việt trong hai tập “Tiếng Việt”, NXB Đại học Sư phạm Hà Nội, 2003; từ đó
giúp giáo viên mầm non có vốn kiến thức cơ bản phục vụ tốt việc phát triểnngôn ngữ mẹ đẻ cho trẻ mầm non
Tiếp theo, cuốn “Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ dưới 6
tuổi”, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2005, các tác giả Hoàng Thị Oanh –
Phạm Thị Việt – Nguyễn Kim Đức đã nói lên tầm quan trọng của ngôn ngữtrong việc giáo dục toàn diện cho trẻ và nêu sơ lược nội dung, phương pháp,
Trang 9biện pháp để luyện phát âm, phát triển vốn từ, dạy trẻ nói đúng ngữ pháp,
phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ trong cuốn sách “Phương pháp phát
triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo”, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2005.
Tác giả Đinh Hồng Thái trong cuốn “Phương pháp phát triển lời nói
cho trẻ em” NXB Đại học Sư phạm Hà Nội, 2012, cũng viết rất chi tiết về
việc hình thành và phát triển vốn từ cho trẻ mầm non
Tạp chí Giáo dục Mầm non có rất nhiều bài viết về cách tổ chức, quản
lý, những sáng kiến, kinh nghiệm của giáo viên và cán bộ quản lý ngành mầm
non Trong tạp chí Giáo dục Mầm non số 1/2006, tác giả Đinh Thị Uyên có
bài dịch tìm hiểu về chương trình phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non HànQuốc Đây là một góc nhìn mở cho nền giáo dục mầm non Việt Nam hiệnnay
Với hơn 100 tác phẩm, trong đó có một số tác phẩm được giải thưởng,được dịch sang tiếng nước ngoài, Nguyễn Nhật Ánh trở thành một hiện tượngđộc đáo Cùng với một số tác giả tài năng của xứ Quảng (viết cho thiếu nhi)như Võ Quảng, Bùi Minh Quốc, Đông Trình, Quế Hương, Thanh Quế, Bùi
Tự Lực, Trần Trung Sáng…, Nguyễn Nhật Ánh đã đóng góp không nhỏ chonền văn học thiếu nhi sau 1975 nói chung và văn học Đất Quảng nói riêng.Nguyễn Nhật Ánh là một hiện tượng văn học đặc biệt bởi nhiều thế hệ độc giảđều yêu thích tác phẩm của anh - trẻ em tìm thấy tuổi thơ sinh động, hồnnhiên, chân thật của chính mình; còn người lớn thì nhận được những “tấm vé”
về lại tuổi thơ
Với giọng điệu dí dỏm, với tài năng quan sát tinh tế, mỗi truyệnNguyễn Nhật Ánh đều làm lạ hóa cái thế giới hằng ngày quen thuộc Đọctruyện Nguyễn Nhật Ánh, ai cũng thấy mình trong đó Phải chăng đó là điểm
thành công lớn của anh Cái tên Nguyễn Nhật Ánh, tác giả của Bàn có năm
chỗ ngồi, Thằng quỷ nhỏ, Chú bé rắc rối, Kính vạn hoa, Chuyện xứ
Trang 10Langbiang, Tôi là Bêtô, Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ, Lá nằm trong lá… trở
nên quen thuộc với mọi người Hơn cả thế, cái tên ấy, nhà văn mang tên ấy,còn trở thành bạn của trẻ em ở mọi miền đất nước Nếu điểm danh sẽ thấykhông quá khó để chỉ ra những cây bút đã và đang viết cho thiếu nhi ở ViệtNam, nhưng để chọn một người lớn thật sự biết kể “chuyện của trẻ em” theonhiều điểm nhìn, có lẽ ít ai vượt qua Nguyễn Nhật Ánh
Nhà thơ Lê Minh Quốc từng nói: “Khi liệt kê tên tuổi và tác phẩm củamột thế hệ nhà văn, hội đồng làm văn học sử có thể nhớ đến người này vàquên béng người kia, có thể chọn người này và bỏ sót người kia nhưng vớiNguyễn Nhật Ánh, người ta không thể, dù cố tình hoặc vô tâm” Nguyễn NhậtÁnh được đánh giá cao không chỉ bởi ông đã viết nhiều, viết hay về thiếu nhi,
đã động chạm tới những mảng đề tài còn ít và khó viết như đề tài về trườnghọc, việc học của trẻ em… mà quan trọng hơn, thông qua tất cả những trangviết ấy, Nguyễn Nhật Ánh còn đóng vai trò là một người thầy, một nhà giáodục giúp di dưỡng tâm hồn trẻ thơ Nguyễn Hương Giang đã đánh giá: “…những cuốn sách bé nhỏ của Nguyễn Nhật Ánh sẽ là món ăn tinh thầntrong hành trang vào đời của các em”
“Phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua truyện cổ tích”,
2013, khóa luận tốt nghiệp đại học của Trần Ngọc Anh; “phát triển vốn từ
cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua tập thơ Chú bò tìm bạn của nhà thơ Phạm Hổ”, 2016, khóa luận tốt nghiệp đại học của Trần Thị Hằng; “phát triển vốn
từ cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua tập thơ Bài ca trái đất của nhờ thơ Định Hải”, 2017, khóa luận tốt nghiệp đại học của Đinh Thị Thu cũng đã nêu
những đặc điểm vốn từ của trẻ mầm non, đặc điểm vốn từ của trẻ mẫu giáolớn, từ đó đưa ra các biện pháp phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo lớn quatruyện cổ tích, qua các tập thơ Tuy nhiên, những đề tài này mới chỉ dừng lại
ở mở rộng vốn từ cho trẻ qua truyện cổ tích và thông qua thơ
Trang 11Như vậy, các tác giả đã nghiên cứu về vốn từ vựng của trẻ mầm non, vềnhững phương pháp để phát triển vốn từ cho trẻ Song đến thời điểm hiện tạivẫn chưa có một ai và chưa có bất cứ công trình khoa học nào đi sâu vào khai
thác đề tài “Phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua truyện ngắn của
Nguyễn Nhật Ánh” Với đề tài nghiên cứu này, chúng tôi đã tìm ra một hướng
đi riêng, dựa trên sự tìm hiểu, đánh giá của chính bản thân mình
3 Mục đích nghiên cứu
Đề xuất biện pháp phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua truyệnngắn của Nguyễn Nhật Ánh
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Việc phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua truyện ngắn củaNguyễn Nhật Ánh
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi ngiên cứu là trẻ mẫu giáo lớn
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn của việc phát triển triển vốn từ cho trẻmẫu giáo lớn thông qua truyện ngắn của Nguyễn Nhật Ánh
- Đề xuất biện pháp phát triển vốn từ vốn từ cho trẻ mẫu giáo lớn thông quatruyện ngắn của Nguyễn Nhật Ánh
6 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết
- Phương pháp tra cứu
- Phương pháp tổng kết thực nghiệm sư phạm
- Phương pháp điều tra
- Phương pháp so sánh
7 Cấu trúc của khóa luận
Trang 12Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, Nội dung của khóa luận được chia thành 2chương:
Chương 1: Cở sở lí luận và thực tiễn
Chương 2: Biện pháp phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo lớn thôngqua truyện ngắn của Nguyễn Nhật Ánh
Trang 13NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Cơ sở tâm lí
Quan điểm tâm lí học duy vật biện chứng cho rằng hoạt động làphương thức tồn tại của con người trong thế giới khách quan Hoạt động tạonên sự tác động qua lại giữa con người với thế giới xung quanh và với chínhbản thân mình, qua đó tạo ra sản phẩm cả về phía thế giới, cả về phía conngười Chính vì vậy, con người trở thành người không bằng cơ chế di truyềnsinh học mà bằng cơ chế lĩnh hội nền văn hóa Thông qua hoạt động, các tácđộng của nền văn hóa xã hội con người hình thành, phát triển và hoàn thiệnchính mình
Sự phát triển của trẻ em nói chung và sự phát triển về mặt ngôn ngữ nóiriêng cũng không nằm ngoài những quy luật của tâm lí con người Ngôn ngữcủa trẻ được hình thành và phát triển không phải là một hiện tượng tự nhiên
mà nó là cả một quá trình mang tính quy luật về sự chuyển đoạn thông quacác hoạt động giao tiếp hàng ngày Vì vậy, tương ứng với mỗi giai đoạn lứatuổi lại có những đặc trưng khác nhau
Ngay từ giai đoạn hài nhi (0 – 15 tháng), ngoài tiếng khóc chào đời trẻcòn biết mấp máy môi rồi đến bập bẹ, những âm thanh “ồ, à…” Mặc dù trẻchưa có khả năng diễn đạt bằng lời, nhưng sự gia tăng kiểm soát ở các cơquan phát thanh và hệ thống phản hồi thính giác cho phép trẻ trở nên quenthuộc với âm thanh ngôn ngữ Khi đến 3 – 4 tháng, trẻ có khả năng nhận biếtđược giọng mẹ và phản ứng theo nhịp nói chuyện của người chăm sóc bằngcách yên lặng, lắng nghe hoặc quay đầu về hướng có âm thanh Dần dần trẻbiết hưởng ứng khi gọi tên và có thể phát ra được ba hay nhiều âm thanh hơntrong một lần hít thở Ở cuối giai đoạn này trẻ bắt chước âm thanh và lắngnghe những từ quen thuộc, trẻ thích giao tiếp với người lớn bằng những âm
Trang 14thanh bập bẹ của mình Điều này có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với sựphát triển ngôn ngữ của trẻ ở những giai đoạn sau.
Ở giai đoạn ấu nhi (15 – 36 tháng), vốn từ của trẻ đã lên đến 300 từ.Trẻ có thể gọi tên một vài đồ vật quen thuộc nếu có ai chỉ trỏ đến chúng Trẻcũng tự sáng tác ra các từ ngữ đầy ý nghĩa, trẻ bập bẹ hoặc nói trong điệnthoại đồ chơi và giả vờ như đang trò chuyện và nghe một số yêu cầu đơn giản
từ người lớn Trẻ còn có thể lắng nghe những câu truyện ngắn và xác địnhđược nhân vật, hành động có trong câu chuyện Sử dụng những câu đơn giản,biết phối hợp các từ với nhau tạo nên câu có đầy đủ danh từ, động từ
Các hiện tượng tâm lý như tri giác, trí nhớ, tưởng tượng về cơ bản là sự nốitiếp sự phát triển ở lứa tuổi từ 4 - 5 tuổi nhưng chất lượng mới hơn Thể hiệnở: mức độ phong phú của các kiểu loại, mức độ chủ định các quá trình tâm lý
rõ ràng hơn, có ý thức hơn, tính mục đích hình thành và phát triển ở mức độcao hơn, độ nhạy cảm của các giác quan được tinh nhạy hơn, khả năng kiềmchế các phản ứng tâm lý được phát triển Quá trình tâm lý phát triển mạnh
mẽ và đặc trưng nhất đó là tư duy: trẻ đã biết phân tích tổng hợp không chỉdừng lại ở đồ vật, hình ảnh mà ngay cả từ ngữ, tư duy của trẻ dần dần mất đitính duy kỷ, tiến dần đến khách quan, hiện thực hơn, dần dần trẻ phân biệtđược thực và hư, ý thức rõ về những ý nghĩ, tình cảm của mình, trách nhiệmđối với hành vi
Đến giai đoạn mẫu giáo, ngôn ngữ của trẻ dần hoàn thiện hơn, vốn từcũng đa dạng hơn, trẻ trả lời được các câu hỏi đơn giản và cũng thường xuyênđặt những câu hỏi cho người lớn Trẻ sử dụng các câu được nối với nhau vàbắt đầu biết tranh luận bằng lời nói Đặc biệt ở độ tuổi mẫu giáo lớn, trẻ sửdụng lượng lớn ngôn ngữ để vận dụng trong giao tiếp và sử dụng từ ngữ mộtcách chính xác và linh hoạt hơn Nhìn chung, trước khi bước vào bậc tiểu họctrẻ đã có khả năng nắm được ý nghĩa của từ vựng thông dụng, phát âm theo
Trang 15sự phát âm của người lớn, biết dùng ngữ điệu với hoàn cảnh giao tiếp và nóiđúng hệ thống ngữ pháp.
Ở lứa tuổi mẫu giáo lớn, trẻ đã có khả năng chú ý có chủ định từ 37 - 51 phút,đối tượng chú ý hấp dẫn, nhiều thay đổi, kích thích được sự tò mò, ham hiểubiết của trẻ Trẻ có thể phân phối được chú ý vào 2, 3 đối tượng cùng một lúc,tuy nhiên thời gian phân phối chú ý chưa bền vững, dễ dao động
Ở giai đoạn này trẻ phát triển cả 3 loại tư duy, tư duy hành động trực quanvẫn chiếm ưu thế Tuy nhiên do nhiệm vụ hoạt động mà cả loại tư duy hìnhảnh trực quan, tư duy trừu tượng được phát triển ở trẻ Loại tư duy này giúptrẻ đến gần với hiện thực khách quan Ở lứa tuổi này, tinh thần trách nhiệm
và ý thức về bản ngã của trẻ cũng dần dần được hình thành
Tư duy trực quan giải thích việc trẻ em mẫu giáo bé và đầu mẫu giáonhỡ có vốn từ biểu danh là chủ yếu Tư duy trừu tượng và tư duy logic xuấthiện ở tuổi thứ 5 cho phép trẻ em lĩnh hội những khái niệm đầu tiên – đó lànhững khái niệm về sự vật hiện tượng gần gũi xung quanh trẻ Vốn từ và cơcấu ngữ pháp của trẻ phát triển Trẻ có nhu cầu nhận sự giải thích và cũngthích giải thích cho các bạn.Việc trau dồi vốn từ, sử dụng ngôn ngữ trong giaotiếp, các tính chất của ngôn ngữ ở trẻ phụ thuộc phần lớn vào việc hướng dẫn,tính tích cực trong lời nói của cha mẹ và cô giáo
Sự phát triển của con người từ khi lọt lòng đến 6 tuổi có những đặcđiểm quy luật phát triển độc đáo không giống với bất cứ một giai đoạn nàotrong đời và có tầm quan trọng đặc biệt trong quá trình phát triển chung củatrẻ Việc cho trẻ tiếp xúc nhiều với các tác phẩm văn chương phù hợp sẽ hỗtrợ thúc đẩy sự phát triển ngôn ngữ, phát triển vốn từ và dần dần hình thànhnhân cách cho trẻ thơ
Trang 161.2 Cơ sở sinh lí
Điều kiện sinh học là cơ sở vật chất, là phương tiện để nảy sinh và pháttriển tâm lí Từ lúc sinh ra, trẻ lớn lên và phát triển không ngừng Cấu tạo củacác cơ quan, hệ cơ quan dần dần hoàn thiện nhưng không giống nhau về mức
độ phát triển Học thuyết về các hệ thống tín hiệu khẳng định việc phát triểnngôn ngữ liên quan mật thiết đến sự phát triển của não bộ, hệ thần kinh và bộmáy phát âm
- Hệ thần kinh đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành và pháttriển ngôn ngữ ở trẻ Từ lúc chào đời cho 5 - 6 tuổi hệ thần kinh của trẻ đãtương đối phát triển Não bộ là cơ sở vật chất không thể thiếu đối với quátrình nhận thức, tư duy của con người Nó là cơ quan quan trọng trong quátrình hình thành và phát triển ngôn ngữ ở trẻ
vỏ bọc miêlin, các dây thần kinh ngoại biên phải đến khi trẻ được 3 tuổi mới
có vỏ bọc miêlin Nói chung, đến gần 2 tuổi thì quá trình miêlin hóa đã tươngđối hoàn thiện sự miêlin hóa có ý nghĩa lớn vì nó góp phần làm cho hưngphấn được truyền một cách riêng biệt theo các sợi thần kinh Vì thế, hưngphấn được truyền đến vỏ não một cách chính xác, định khu hơn Từ đó, hoạtđộng của trẻ hoàn thiện hơn
Trong thời kì sơ sinh, vỏ não và thể vẫn chưa phát triển Lúc đầu chủ yếucác trung tâm dưới vỏ, sau đó vỏ não mới được hình thành và phát triển Hệ
Trang 17thống mao mạch trong não của trẻ phát triển mạnh, các đám rối huyết quảnchưa phát triển.
Trong não của trẻ em có nhiều nước, nhiều chất đạm, ít chất mỡ Khi trẻđược 2 tuổi thì thành phần hóa học của não giống như người lớn
Sự phát triển của các đường dẫn truyền diễn ra mạnh mẽ theo sự tăng lêncủa tuổi và được tiếp tục cho đến khi trẻ 14 - 15 tuổi
+ Về tiểu não:
Tiểu não tuy phát triển muộn nhưng có tốc độ phát triển nhanh Trẻ sơsinh tiểu não chưa phát triển: các rãnh chưa sâu, khối lượng còn nhỏ Khi trẻđược khoảng từ 1 - 2 tuổi, tiểu não có khối lượng và kích thước gần giống vớinão của người lớn
+ Về hành tủy, não giữa:
Khi trẻ được 5 - 6 tuổi, hành tủy và não giữa có vị trí giống như ở ngườilớn về mặt chức năng
Ở giai đoạn mẫu giáo lớn, hệ thần kinh của trẻ đã tương đối phát triển,
hệ thần kinh trung ương và ngoại biên đã biến hóa, chức năng phân tích, tổnghợp cả vỏ não đã hoàn thiện, số lượng các phản xạ có điều kiện ngày càngnhiều, tốc độ hình thành phản xạ có điều kiện nhanh Do đó, trẻ có thể nóiđược những câu dài, có biểu hiện ham học, có ấn tượng sâu sắc đối với nhữngngười xung quanh Đây là những điều kiện cần thiết để cho trẻ học hỏi được
hệ thống ngôn ngữ, cách nói, cách diễn đạt của những người xung quanh hoặctheo những câu chuyện văn học dành cho trẻ
Để có thể giao tiếp tốt, chúng ta không thể không kể đến bộ máy phát
âm Mỗi người sinh ra đều có sẵn bộ máy phát âm, đó là tiền đề vật chất đểsản sinh âm thanh ngôn ngữ Đây là một trong những điều kiện vật chất quantrọng nhất mà thiếu nó không thể có ngôn ngữ nói Nếu như cấu tạo của nó cómột khiếm khuyết nào đó (sứt môi, hở hàm ếch, ngắn lưỡi…) thì việc hình
Trang 18thành lời nói cũng gặp nhiều khó khăn Khi sinh ra bộ máy phát âm chưa hoànchỉnh, nó được hoàn hiện dần: sự xuất hiện, hoàn thiện của hàm răng, sự vậnđộng của môi, lưỡi, của hàm dưới…Quá trình đó diễn ra tự nhiên theo cácquy luật sinh học, nó phát triển và hoàn thiện cùng với quá trình lớn lên củatrẻ.
Trong thực tế có những em cùng sinh ra nhưng có em phát triển tốt, có
em nói ngọng Sự khác nhau như vậy là do bộ máy điều kiện vật chất khácnhau và quá trình chăm sóc giáo dục khác nhau Trẻ nói ngọng là do bộ máyphát âm chưa hoàn thiện Tuy nhiên, bộ máy phát âm mới chỉ là tiền đề vậtchất Cùng với thời gian, quá trình học tập, rèn luyện một cách hệ thống sẽlàm cho bộ máy phát âm đáp ứng được nhu cầu thực hiện các chuẩn mực âmthanh ngôn ngữ
Cấu tạo bộ máy phát âm gồm: dây thanh và các hộp cộng hưởng phíatrên thanh hầu Âm sắc và tiếng nói do tính chất của âm xác định và phụ thuộcvào các khoang cộng hưởng của phần trên các bộ phận thanh quản, họng,khoang miệng, mũi Bộ máy phát âm của trẻ chưa phát triển đầy đủ, các bộphận tạo tiếng nói chưa liên kết chặt chẽ nên trẻ phát âm còn chưa chuẩn,chưa chính xác Ở cuối tuổi mẫu giáo, do việc mở rộng giao tiếp bằng ngônngữ được mở rộng, tai nghe ngữ âm được rèn luyện thường xuyên để tiếpnhận ngữ âm khi nghe người lớn nói Mặt khác, cơ quan phát âm đã trưởngthành đến mức trẻ có thể phát âm tương đối chuẩn kể cả những âm khó củatiếng mẹ đẻ khi nói năng và sử dụng ngữ điệu phù hợp với hoàn cảnh
Quá trình hình thành và phát triển ngôn ngữ có liên quan mật thiết tớiquá trình hoàn thiện của não bộ, hệ thần kinh và bộ máy phát âm Do đó, việcnghiên cứu quá trình hoàn thiện của não bộ, hệ thần kinh và bộ máy phát âm
để phát triển vốn từ cho trẻ mầm non là hoàn toàn có cơ sở và mang tính khoahọc
Trang 191.3 Cơ sở ngôn ngữ
1.3.1 Một số khái niệm
a, Khái niệm ngôn ngữ
Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu đặc biệt và quan trọng bậc nhất củaloài người, là phương tiện tư duy và công cụ giao tiếp xã hội Ngôn ngữ baogồm ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết Trong thời đại ngày nay, nó là phươngtiện quan trọng nhất của sự trao đổi văn hóa giữa các dân tộc, truyền đạttruyền thống văn hóa - lịch sử từ thế hệ này sang thế hệ khác
Ngôn ngữ chỉ sinh ra và phát triển trong xã hội loài người Ngôn ngữ vàlao động là hai yếu tố cơ bản quyết định sự ra đời, tồn tại và phát triển củacon người trong xã hội Ngôn ngữ đã trở thành đối tượng của nhiều ngànhkhoa học như: Xã hội học, ngôn ngữ học, tâm lý học, giáo dục học…
Trong cuốn Từ vựng ngữ nghĩa của Đỗ Hữu Châu từ tiếng Việt gồm một
số âm tiết cố định bất biến mang theo những đặc điểm ngữ pháp nhất định,ứng với một kiểu ý nghĩa nhất định lớn nhất trong hệ thống ngôn ngữ và nhỏnhất để tạo thành câu
1.3.2 Phân loại từ
1.3.2.1 Phân loại từ theo cấu tạo
a, Từ đơn
- Khái niệm: từ đơn là từ được cấu tạo bởi chỉ một tiếng
- Phân loại: từ đơn được chia làm hai loại
+ Từ đơn âm: là từ chỉ được cấu tạo bởi một âm tiết
Trang 20- Phân loại: từ phức được chia ra làm hai loại là từ ghép và từ láy.
+ Từ ghép: là những từ có cấu tạo từ hai tiếng trở lên, giữa các tiếng cóquan hệ với nhau về mặt nghĩa
Căn cứ vào quan hệ mặt nghĩa giữa các tiếng trong từ ghép, người ta chialàm hai loại: từ ghép đẳng lập và từ ghép chính phụ
VD: sách vở, bàn ghế, quần áo (từ ghép đẳng lập)
xe đạp, lốp xe, (từ ghép chính phụ)
+ Từ láy: là những từ được cấu tạo bởi hai tiếng trở lên, giữa các tiếng cóquan hệ với nhau về mặt âm Trong từ láy chỉ có một tiếng gốc có nghĩa, cáctiếng khác láy lại tiếng gốc
VD: Lung linh, xinh xinh, đo đỏ
Từ láy chia ra làm hai loại: Láy bộ phận ( láy âm và láy vần) và láy toànbộ
VD: róc rách, long lanh, trăng trắng,… (láy bộ phận)
ào ào, xanh xanh, ầm ầm,… (láy toàn bộ)
1.3.2.2 Phân loại từ theo đặc điểm ngữ pháp
Trang 21+ Danh từ riêng: là những từ thường dùng để gọi tên một cá nhân, mộtđịa phương, một đơn vị hành chính,…
- Phân loại: động từ được chia thành hai loại
+ Động từ không độc lập: là những động từ thường không đứng mộtmình đảm nhiệm vai trò ngữ pháp trong câu, mà phải cùng với một động từkhác hoặc một cụm từ đi sau làm thành tố phụ
VD: có thể, bị, được, chịu, phải
+ Động từ độc lập: là những động từ tự thân đã có nghĩa Chúng có thểdùng độc lập, không cần một động từ khác đi kèm làm thành phần phụ sautrong cụm động từ
VD1: khóc, cười, cho, biếu, tặng …
Trang 22- Khái niệm: số từ là những từ biểu thị số lượng hoặc thứ tự của sự vật.
- Phân loại: số từ được chia thành hai loại
- Phân loại: đại từ được chia thành hai loại
+ Đại từ nhân xưng
Trang 23* Khái niệm: phụ từ là những hư từ thường đi kèm với các thực từ trongcụm từ.
* Phân loại: phụ từ được phân chia thành
- Định từ: là những từ biểu thị quan hệ về số lượng với sự vật được nêu ởdanh từ, chuyên dùng kèm với danh từ, với chức năng làm thành tố phụ trongkết họp từ có trung tâm ngữ nghĩa - ngữ pháp là danh từ (cụm danh từ)
VD: mỗi, các, từng,…
- Phó từ: phó từ là những hư từ thường dùng kèm với thực từ (động từ,tính từ) Chúng biểu thị ý nghĩa về quan hệ giữa quá trình và đặc trưng vớithực tại, đồng thời cũng biểu thị ý nghĩa về cách nhận thức và phản ánh cácquá trình và đặc trưng trong hiện thực
Phân loại: phó từ được phân chia thành
+ Những phó từ thường đi kèm với động từ như: hãy, đừng, chớ, đã, sẽ,
đang,
+ Những phó từ đi kèm với tính tò như: rất, quá,…
+ Những phó từ có khả năng dùng kèm với động từ hoặc tính từ như:
không, chưa, chẳng, chả, vẫn, v.v…
g, Quan hệ từ (kết từ, từ nối)
- Trong Ngữ pháp tiếng Việt (tập một), Diệp Quang Ban (chủ biên), nxb
Giáo dục Việt Nam, 2012, trang 152 cho rằng: Về ý nghĩa khát quát, kết từbiểu thị ý nghĩa về quan hệ giữa các khái niệm và đối tượng được phản ánh.Kết từ là dấu hiệu biểu thị các quan hệ cú pháp giữa các thực từ một cáchtường minh
- Phân loại: kết từ được phân chia thành
+ Quan hệ từ chính phụ
VD: của, cho, bằng, do, vì, mà, ở, tại, với, cùng, về, đến, trong, trên, để,bởi…
+ Quan hệ từ đẳng lập
Trang 24VD: và, với, cùng, hay, hoặc
h, Tình thái từ
- Khái niệm: tình thái từ là những từ biểu thị ý nghĩa quan hệ giữa chủthể phát ngôn với nội dung phản ánh; hoặc biểu thị quan hệ giữa phát ngônvới nội dung phản ánh, ý nghĩa quan hệ của tiểu từ là ý nghĩa quan hệ có tínhtình thái
- Phân loại: tình thái từ được phân chia thành
+Tình thái từ đứng đầu câu để nhấn mạnh
- Khái niệm: than từ là hư từ dùng để hô gọi hoặc biểu lộ cảm xúc
VD: ơi, hỡi, thưa, a, ôi, ối, ái chà …
1.3.2.3 Phân loại từ theo phạm vi sử dụng
Trang 25một vài địa phương.
VD: áo bà ba, bầm, tía, má…
1.3.2.4 Phân loại từ theo nguồn gốc
a, Từ thuần Việt
Khái niệm: từ thuần việt là những từ thuần gốc Việt
VD: chân, tay, bụng…
b, Từ vay mượn
Khái niệm: Từ mượn là từ vay mượn từ tiếng nước ngoài (ngôn ngữ cho)
để làm phong phú thêm cho vốn từ vựng của ngôn ngữ nhận
VD: thủy, hỏa, thổ…
1.3.2.5 Phân loại từ theo ý nghĩa
a, Từ một nghĩa
Khái niệm: Từ một nghĩa là từ chỉ có một nghĩa duy nhất
VD: Với từ “xe đạp”: chỉ loại xe có 2 bánh, dùng sức người đạp choquay bánh
Đây là nghĩa duy nhất của từ xe đạp
b, Từ nhiều nghĩa
Khái niệm: Từ nhiều nghĩa là từ có một nghĩa gốc và một hay một sốnghĩa chuyển Các nghĩa của từ bao giờ cũng có mối liên hệ với nhau
VD: Với từ “chân” – bộ phận dưới cùng tiếp xúc với mặt đất
Chân: là bộ phận cuối cùng của cơ thể người hay động vật dùng để đi,đứng, chạy, nhảy,… ( nghĩa gốc)
Chân núi, chân tường, chân răng: phần dưới cùng của một số vật, tiếpgiáp và bám vào mặt nền
Chân đèn, chân giường: bộ phận dưới cùng của một số đồ dùng, có tácdụng đỡ cho các bộ phận khác
c, Từ đồng nghĩa
Trang 26- Khái niệm: từ đồng nghĩa là những từ có nghĩa giống nhau hoặc gầngiống nhau
- Phân loại: có thể chia từ đồng nghĩa thành 2 loại:
+ Từ đồng nghĩa hoàn toàn (đồng nghĩa tuyệt đối ): Là những từ cónghĩa hoàn toàn giống nhau, được dùng như nhau và có thể thay thế cho nhautrong lời nói
VD: xe lửa = tàu hỏa, con lợn = con heo
+ Từ đồng nghĩa không hoàn toàn (đồng nghĩa tương đối , đồng nghĩakhác sắc thái): là các từ tuy cùng nghĩa nhưng vẫn khác nhau phần nào sắcthái biểu cảm (biểu thị cảm xúc, thái độ) hoặc cách thức hành động
VD: Biểu thị mức độ, trạng thái khác nhau: cuồn cuộn, lăn tăn, nhấpnhô,…(chỉ trạng thái chuyển động, vận động của sóng nước)
Cuồn cuộn: hết lớp sóng này đến lớp sóng khác, dồn dập và mạnh mẽ.Lăn tăn: chỉ các gợn sóng nhỏ, đều, chen sát nhau trên bề mặt
Nhấp nhô: chỉ các đợt sóng nhỏ nhô lên cao hơn so với xung quanh
Đường bộ: là loại đường dành cho các loại phương tiện giao thông như ô
tô , xe cơ giới , xe máy,… và người đi bộ
Đường ăn: là hợp chất gluxit ngọt giàu năng lượng nhóm cacbohydrat
1.3.2 Đặc điểm vốn từ của trẻ mầm non
a Xét về số lượng
Trang 27Trong năm đầu đời trẻ nghe và phát ra những âm thanh bập bẹ khi nóichuyện với người lớn Từ 12 tháng trở đi, bên cạnh các âm bập bẹ xuất hiệncác từ chủ động đầu tiên Ở 18 tháng tuổi, số từ trung bình là 11 từ, cháu ítnhất là 0, nhiều nhất là 25 từ (trường hợp đặc biệt lên tới 45 từ) trẻ bắt chướcngười lớn lặp lại một số từ gần gũi: mẹ, bà, bố…
Từ 9 - 12 tháng, số lượng từ tăng nhanh Đến 21 tháng trẻ đạt tới 220
từ Giai đoạn 21 - 24 tháng, tốc độ chậm lại, chỉ đạt 234 từ vào tháng 24, sau
đó lại tăng tốc: 30 tháng đạt 434 từ, 36 tháng đạt 486 từ
Đến năm thứ 3, trẻ đã sử dụng được trên 500 từ, phần lớn là danh từ,động từ, tính từ và các loại khác rất ít Danh từ chỉ đồ chơi, đồ dùng quenthuộc, các con gần gũi như: chó, mèo, chim,… Động từ chỉ hoạt động gần gũicủa cháu và những người xung quanh như: ăn, uống, ngủ, đi,…
Trẻ 4 tuổi có thể nắm được xấp xỉ 700 từ, ưu thế vẫn thuộc về danh từ
và động từ Hầu hết các loại từ đều đã xuất hiện trong vốn từ của trẻ
Từ 5 - 6 tuổi vốn từ của trẻ tăng bình quân 1033 từ, tính từ và các loại
từ khác đã chiếm một tỉ lệ cao hơn
Tốc độ tăng vốn từ ở các độ tuổi khác nhau cũng khác nhau, chậm dầntheo độ tuổi: Cuối 3 tuổi so với đầu 3 tuổi, vốn từ tăng 107%; cuối 4 tuổi sovới đầu 4 tuổi, vốn từ tăng 40,58%; cuối 5 tuổi so với đầu 5 tuổi vốn từ chỉtăng 10,40%; cuối 6 tuổi so với đầu 6 tuổi, vốn từ chỉ tăng 10,01%
Chúng ta có thể nhận ra quy luật tăng số lượng từ của trẻ như sau:
- Số lượng từ của trẻ tăng theo thời gian
- Sự tăng có tốc độ không đồng đều, có giai đoạn tăng nhanh, có giaiđoạn tăng chậm
- Trong năm thứ 3, tốc độ tăng nhanh nhất
- Từ 3 - 6 tuổi: Tốc độ tăng vốn từ giảm dần
b Xét về cơ cấu từ loại
Trang 28Cơ cấu từ loại trong vốn từ của trẻ là một tiêu chí để đánh giá chấtlượng vốn từ Tiếng Việt có 8 loại từ: danh từ, động từ, tính từ, số từ, đại từ,phụ từ, quan hệ từ, tình thái từ Số lượng từ loại cần nhiều bao nhiêu thì càngtạo điều kiện cho trẻ diễn đạt thuận lợi bấy nhiêu Các loại từ xuất hiện dầndần trong vốn từ của trẻ Ban đầu chủ yếu là danh từ, sau đó đến động từ vàtính từ, các loại từ khác xuất hiện muộn hơn.
Đến 3 - 4 tuổi, về cơ bản trong vốn từ của trẻ đã có đủ các loại từ Tuynhiên, tỉ lệ danh từ và tính từ cao hơn nhiều so với các loại từ khác: danh từchiếm 38%, động từ chiếm 32%, còn lại là tính từ: 6,8%, đại từ 3,1%, phụ từ7,8%, tình thái từ 4,7%, quan hệ từ và số từ còn ít xuất hiện (số từ 2,5%, quan
hệ từ 1,7%)
Giai đoạn 5 - 6 tuổi cũng là giai đoạn hoàn thiện một bước cơ cấu từloại trong vốn từ của trẻ Tỉ lệ danh từ, động từ giảm đi, chỉ còn khoảng 50%,nhường chỗ cho tính từ và các loại từ khác tăng lên: Tính từ đạt tới 15%, quan
hệ từ 5,7%, còn lại là các loại từ khác
c Khả năng hiểu nghĩa từ của trẻ em mẫu giáo
Theo Fedorenko (Nga), ở trẻ em có 5 mức độ hiểu nghĩa khái quát của
Trang 29- Mức độ 4: Khái quát tối đa, gồm những khái niệm trừu tượng: sốlượng, chất lượng, hành động (học ở cấp phổ thông).
Đối với trẻ em tuổi mầm non, khi ở tuổi nhà trẻ, trẻ hiểu được nghĩabiểu danh (mức độ zero và 1) Mức độ 2 và 3 chỉ dành cho trẻ mẫu giáo, đặcbiệt là mẫu giáo lớn
e Đặc trưng lĩnh hội vốn từ của trẻ mẫu giáo
Thứ nhất, khi còn bé những đồ vật hiện tượng xung quanh trẻ cũng nhưtên gọi của chúng chỉ thu hút sự chú ý của trẻ khi mà người lớn cho trẻtiếpxúc trực tiếp với chúng Trẻ sờ, mó, nghe, cầm, nắm Ngay cả khi trẻ được 2tuổi, trẻ cũng rất khó nhớ tên đồ vật nếu được nhìn mà không được tiếp xúcvới nó Từ mà trẻ sử dụng như là tên gọi riêng của từng đồ vật cụ thể, cầnđược củng cố, rèn luyện dần dần mà trẻ có thể sử dụng được như là một từ có
ý nghĩa khái quát chung Nhờ có đặc điểm trực quan hành động và trực quanhình tượng của tư duy nên trước hết trẻ nắm được các tên gọi của sự vật, hiệntượng, thuộc tính, quan hệ mang tính chất biểu tượng trực quan và phù hợpvới hoạt động của chúng
Thứ hai, sự lĩnh hội nghĩa của từ diễn ra dần dần: Thoạt đầu trẻ chỉ đốichiếu từ với sự vật cụ thể (không có nghĩa khái quát); sự thâm nhập dần của
Trang 30trẻ vào hiện thực (khám phá ra những thuộc tính, dấu hiệu bản chất, khái quáttheo dấu hiệu nào đó), dần dần cùng với sự phát triển tư duy, trẻ mới nắmđược nội dung khái niệm trong từ, việc nắm nghĩa từ còn biến đổi trong suốttuổi mẫu giáo (Chẳng hạn: trẻ mẫu giáo lớn không coi cà chua, dưa chuột làrau; khi mở rộng nghĩa của từ này trẻ lại đưa một số loại quả vào khái niệmrau với lí do chúng được trồng dưới đất và ăn được).
Thứ ba, vốn từ của trẻ mẫu giáo có khối lượng nhỏ hơn rất nhiều so với
số lượng vốn từ của người lớn Vì khối lượng tri thức của chúng còn quá hạnhẹp Vì thế, mở rộng vốn từ phải dựa vào sự mở rộng nhận thức cho trẻ
1.3.4 Đặc điểm vốn từ của trẻ mẫu giáo lớn
Trẻ mẫu giáo lớn đã trong giai đoại trưởng thành vì thế mà trẻ có nhucầu rất lớn về nhận thức, trẻ khát khao được tìm hiểu, khám phá thế giới xungquanh mình Các nhà nghiên cứu giáo dục đều khẳng định rằng phát triển vốn
từ là nền tẳng quan trọng để phát triển ngôn ngữ, có ý nghĩa quan trọng quyếtđịnh đến mọi mặt sau này của trẻ
Như chúng ta đã biết thì trẻ 5 - 6 tuổi đã biết sử dụng thành thạo tiếng
mẹ đẻ để giao tiếp Khả năng ngôn ngữ liên quan đến chặt chẽ đến sự pháttriển trí tuệ những trải nghiệm của trẻ Ngôn ngữ của trẻ đạt tốc độ phát triểnkhá nhanh và đến cuối tuổi mẫu giáo, thì hầu hết trẻ em đã biết sử dụng tiếng
mẹ đẻ một cách thành thạo trong sinh hoạt hàng ngày Vốn từ của trẻ mẫugiáo tăng lên đáng kể, có khoảng 3000 - 4000 từ, trẻ thường xuyên sử dụng
1033 từ Trong đó loại từ được tích lũy khá phong phú, không những về danh
từ, động từ cả về đại từ, tính từ, liên từ, đủ để giao tiếp với người xungquanh
Danh từ và đại từ vẫn chiếm ưu thế nhưng tính từ và các loại từ kháccũng được trẻ sử dụng nhiều hơn, cụ thể:
- Về danh từ: nội dung, ý nghĩa của các từ được mở rộng, phong phú hơn
Trang 31ở những từ có ý nghĩa rộng; những từ chỉ ngữ chỉ nghề nghiệp của người lớntăng Ở trẻ còn những từ mang tính chất văn học như: áng mây, đóa hoa Trẻbiết sử dụng một số từ ngữ chỉ khái niệm trừu tượng, mặc dù trẻ chưa thực sựhiểu ý nghĩa của từ ngữ đó, thậm chí không hiểu như: tài năng, sáng tạo
- Về động từ: phần lớn là động từ gần gũi, tiếp tục phát triển thêm nhữngnhóm từ mới như: nhảy nhót, leng keng ; những động từ chỉ sắc thái khácnhau như: chạy vèo vèo, chạy lung tung ; xuất hiện thêm những động từ cónghía trừu tượng như: giáo dục, khánh thành, Trẻ mẫu giáo lớn đã phân biệtđược những từ có gần nghĩa nhau, ví dụ “băm”, “chặt” Cũng như một số từ
có nhiều nghĩa khác nhau, như: đánh đổ, đánh má hồng, đánh bóng,
- Về tính từ: phát triển số lượng cũng như chất lượng, trẻ sử dụng nhiềunhững từ ngữ có tính chất gợi cảm như: to đùng, tròn xoe, ngọt lịm Trẻ sửdụng chính xác các từ ngữ chỉ tính chất không gian như: cao - thấp, dài -ngắn, rộng - hẹp các từ chỉ tốc độ như: nhanh - chậm các từ chỉ màu sắcnhư: đỏ, vàng, trắng, tím
- Ngoài ra, các loại từ khác như đại từ, quan hệ từ, phụ từ cũng đượcnhiều hơn các lứa tuổi khác: trạng từ được mở rộng; đã biết sử dụng các quan
hệ từ như: nếu, thì, thế mà, xong là, và, để, vì Trẻ 5 - 6 tuổi đã biết sử dụng
từ số 1 đến số 10 và sử dụng được các từ không xác định: bao nhiêu, vài,những, các Trẻ đã sử dụng chính xã hơn các phó từ: đã, đang, sẽ, vẫn, còn,rất, hơi các tình thái từ: à, nhỉ, nhé Trẻ biết sử dụng nhiều từ đơn hơn từghép; trẻ hiểu từ láy và biết sử dụng chúng Trẻ đã hiểu được một số từ có ýnghĩa khái quát, biết sử dụng một số từ ghép mang tính gợi cảm và những từ
có nghĩa đối lập: bé xíu - to đùng, béo mẫm - gầy nhom, chua chua - ngọtngọt các từ chỉ tính chất không gian(rộng lớn, mênh mông, bát ngát ), từchỉ tốc độ (nhanh, chậm ), từ chỉ màu sắc (xanh lơ, đỏ tươi ) được trẻ sửdụng chính xác Trẻ đã hiểu và biết sử dụng các khái niệm chỉ thời gian (hôm
Trang 32qua, ngày mai, ngày kia ), từ đồng nghĩa (tàu hỏa - xe lửa, to - lớn ), từ cótính chất gợi cảm, có hình ảnh và màu sắc khác nhau (bé tí, bé xíu, be bé ).Trẻ đã biết sử dụng các đại từ thích hợp với hoàn cảnh nói, ví dụ: nói với bạnthì xưng “tôi”, lúc tức giận thì xưng “tao”, khi rủ rê thì “chúng mình” Trẻmẫu giáo lớn đã biết xưng hô đúng với các đối tượng gần gũi: em, tôi, tớ,mình, người ta
Trong khi sử dụng ngôn ngữ, trẻ đã bắt đầu hiểu nghĩa của từ và nguồn
gốc của nó Ví dụ: Trẻ giải thích “Con của con bò là con bê vì nó hay kêu bê
bê” Trẻ có thể dùng ngôn ngữ để thể hiện mối quan hệ qua lại nhiều mặt của
các sự vật, hiện tượng trong cuộc sống mà trẻ nhận thức được, bước đầu có sự
khái quát và đưa ra kết luận như: “Muối thì mặn còn đường thì ngọt”, “Bố là
đàn ông còn mẹ là đàn bà” Có thể nói rằng trẻ đã nắm được các loại từ có
tiếng mẹ đẻ và đủ để trẻ diễn đạt các mặt trong đời sống hàng ngày Ý nghĩacủa vốn từ với trẻ cũng phong phú hơn và khả năng năng nắm bắt vốn từ củatrẻ cũng phát triển hơn
Sự lĩnh hội ngôn ngữ, phát triển vốn từ cũng tùy thuộc vào giáo dục cũngnhư sự tích cực của bản thân trẻ đối với ngôn ngữ Những trẻ em năng giaotiếp, tìm hiểu hiện tượng ngôn ngữ thường sẽ nắm vững ngữ pháp và còn cóthể sáng tạo ngôn ngữ mà người lớn chưa từng có Ở lứa tuổi này trẻ thườngđưa ra những từ ngữ hay những câu nói rất lạ như: đẹp mơn mởn, đỏ choenchoét
Tóm lại, đến độ tuổi 5 - 6 tuổi trẻ đã có khả năng nắm được ý nghĩa của
từ vựng, phát âm gần đúng với phát âm của người lớn, biết dùng từ và ngữđiệu hợp lí, hợp với hoàn cảnh giao tiếp Đặc biệt là vốn từ trong tiếng mẹ đẻcủa trẻ ngày càng phát triển mạnh theo sự lớn dần của lứa tuổi
1.4 Vài nét về tác giả Nguyễn Nhật Ánh
1.4.1 Cuộc đời và sự nghiệp
Trang 33Thuở nhỏ ông theo học tại các trường THPT Tiểu La, trường THPTchuyên ban Trần Cao Vân và THCS Phan Châu Trinh Từ 1973, Nguyễn NhậtÁnh chuyển vào sống tại Sài Gòn, theo học ngành sư phạm Ông đã từng điThanh niên xung phong, dạy học môn Ngữ Văn tại trường THCS Bình Tây(Quận 6) từ năm 1983-1985.
Sài Gòn Giải Phóng, lần lượt viết về sân khấu, phụ trách mục tiểu phẩm,phụ trách trang thiếu nhi và hiện nay là bình luận viên thể thao trên báo SàiGòn Giải Phóng Chủ nhật với bút danh Chu Đình Ngạn Ngoài ra, NguyễnNhật Ánh còn có những bút danh khác như: Anh Bồ Câu, Lê Duy Cật, ĐôngPhương Sóc, Sóc Phương Đông,
b, Sự nghiệp sáng tác
Khởi đầu sự nghiệp sáng tác bằng thơ, Nguyễn Nhật Ánh bắt đầu làmthơ từ năm 13 tuổi, tác phẩm đầu tiên được in cũng là một tập thơ mang tên
Thành phố tháng tư in chung với Lê Thị Kim tại NXB Tác phẩm mới (1984).
Sau đó là Đầu xuân ra sông giặt áo, Tứ tuyệt cho nàng, Lễ hội của đêm đen,
Thơ tình Nguyễn Nhật Ánh Ngoài thơ Nguyễn Nhật Ánh còn được chọn đăng
trên nhiều công trình khác nhau với nhiều tác giả khác như Thơ tình áo trắng,
Thơ Thành phố Hồ Chí Minh hai mươi năm (1975-1995), Thơ tình tuổi học trò, Mùa hạ trong thi ca…
Trang 34Truyện dài đầu tiên của ông là tác phẩm Trước vòng chung kết (Nhàxuất bản Măng non, 1984) Hai mươi năm trở lại đây, ông tập trung viết vănxuôi, chuyên sáng tác về đề tài thanh thiếu niên.
Năm 1990, truyện dài Chú bé rắc rối được Trung ương Đoàn Thanh niên
Cộng sản Hồ Chí Minh trao giải thưởng Văn học Trẻ hạng A Năm 1995, ôngđược bầu chọn là nhà văn được yêu thích nhất trong 20 năm (1975-1995) quacuộc trưng cầu ý kiến bạn đọc về các gương mặt trẻ tiêu biểu trên mọi lãnhvực của Thành Đoàn Thành phố Hồ Chí Minh và báo Tuổi trẻ, đồng thờiđược Hội nhà Văn Thành phố Hồ Chí Minh chọn là một trong 20 nhà văn trẻtiêu biểu trong 20 năm (1975-1995)
Năm 1998, ông được Nhà xuất bản Kim Đồng trao giải cho nhà văn có
sách bán chạy nhất Năm 2003, bộ truyện nhiều tập Kính vạn hoa được Trung
ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh trao huy chương Vì thế hệ trẻ
và được Hội nhà văn Việt Nam trao tặng thưởng Đến nay ông đã xuất bảngần 100 tác phẩm và từ lâu đã trở thành Nhà văn thân thiết của các bạn đọcnhỏ tuổi ở Việt Nam
Năm 2004, Nguyễn Nhật Ánh ký hợp đồng với Nhà xuất bản Kim Đồng
tiếp tục cho xuất bản bộ truyện dài gồm 4 tập mang tên Chuyện xứ Langbiang
nói về hai cậu bé lạc vào thế giới phù thủy Đây là lần đầu tiên ông viết một
bộ truyện hoàn toàn dựa trên trí tưởng tượng Vì vậy, để chuẩn bị cho tácphẩm này, ông đã phải mất sáu tháng nghiên cứu tài liệu và đọc sách báo liên
quan như Phù thủy và Pháp sư, Các huyền thoại phương Đông, Ma thuật và
thuật phù thủy
Sau Chuyện xứ Langbiang, tác phẩm tiếp theo của ông là bút ký của một chú Cún có tên Tôi là Bêtô.
Năm 2008, ông cho ra đời tác phẩm Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ, được
báo Người Lao động bình chọn là tác phẩm hay nhất năm 2008
Trang 35Năm 2012, Nguyễn Nhật Ánh cho ra mắt truyện dài Có hai con mèo ngồi
bên cửa sổ Các tác phẩm ra đời gần đây nhất là Ngồi khóc trên cây (6/2013), Chúc một ngày tốt lành (3/2014), Bảy bước tới mùa hè (3/2015), Con chó nhỏ mang giỏ hoa hồng (xuất bản ngày 28 tháng 2 năm 2016) và Cây chuối non đi giày xanh (phát hành vào 7/1/2018)
Trước Nguyễn Nhật Ánh có cả một thế hệ các tác giả đã rất thành côngkhi viết cho thiếu nhi như Tô Hoài, Võ Quảng, Phạm Hổ, Phùng Quán, ĐoànGiỏi… Nhưng đến Nguyễn Nhật Ánh, ông vẫn tạo dựng được cho mình mộtphong cách riêng, một lối đi riêng để tạo nên thành công và phong cách riêngcho mình Chính sự tự nhiên trong những trang văn, sự sống động của nhữnghồi ức kỉ niệm, sự ngộ nghĩnh táo bạo của những tưởng tượng đã tạo ra mộtthứ hương hoa, mật ngọt hấp dẫn bầy ong thiếu nhi Nguyễn Nhật Ánh viết gìcũng đều thu hút lứa tuổi thiếu nhi đọc, ông đã chạm tới được trái tim tuổi thơ
và cả trái tim của những người từng là trẻ nhỏ bằng một trái tim đồng cảm,chân thành
1.4.2 Đặc điểm từ ngữ trong một số truyện ngắn viết cho thiếu nhi của Nguyễn Nhật Ánh
a Ngôn ngữ đồng thoại
Những chú chó, mèo, chuột trong truyện đồng thoại của Nguyễn NhậtÁnh được tác giả miêu tả vô cùng dễ thương Chúng giống như những đứa trẻhay nghịch ngợm, hay tò mò với những thứ tình cảm vô cùng trong sáng Có
lẽ vì vậy, các con vật xuất hiện trong truyện thiếu nhi của Nguyễn Nhật Ánh
luôn được các em đón nhận, thích thú Tác giả cũng đã nhận xét: “Tôi phát
hiện ra trong bộ 12 con giáp, ngoại trừ con dê, còn lại con vật nào cũng đi vào tác phẩm của tôi cả rồi.”
Viết truyện loài vật, Nguyễn Nhật Ánh chủ yếu sử dụng ngôn ngữ đồngthoại Đây là thể loại đặc biệt của văn học Ngôn ngữ đồng thoại đặc biệt, vì
Trang 36có sự kết hợp nhuần nhuyền giữa hiện thực và mơ tưởng Nhân vật trongtruyện đồng thoại là động vật, thực vật, những vật vô tri vô giác Chúng trởnên sống động khi được tác giả lồng vào những tình cảm của con người Mụcđích của ngôn ngữ đồng thoại là “qua thế giới không thực mà lại thực đó, tácgiả nhằm biểu hiện xã hội của loài người; qua những sự việc bất bình thường
đó mà làm cho thấy tình cảm và cuộc sống của con người Tính chất mơtưởng hoặc khoa trương đó chính là những yếu tố không thể thiếu được trongđồng thoại”
Sở dĩ viết truyện cho thiếu nhi, Nguyễn Nhật Ánh linh hoạt khi sử dụngngôn ngữ đồng thoại, vì thiếu nhi là đối tượng nhỏ tuổi, vốn sống của các emchưa sâu, hiểu biết về cuộc sống chưa rộng lớn Tâm hồn có nhiều mơ ước,tưởng tượng phong phú, các em luôn giải thích sự vật theo cách riêng Đối vớicác em, những con vật thân quen như: chó, mèo, ngan, ngỗng, chuột… hay cỏcây hoa lá đều trò chuyện với nhau được Nhìn nhận theo quan điểm cổ xưa:
“vạn vật hữu linh” (mọi vật có linh hồn) Ngôn ngữ đồng thoại trong truyệnNguyễn Nhật Ánh vì thế, chứa đựng nhiều yếu tố thần kì, thể hiện giá trị giáohuấn sâu sắc Ngôn ngữ đồng thoại làm sinh động nhân vật, giúp các em nhìnnhận cuộc sống toàn diện “Nhiệm vụ của đồng thoại do vậy không phải là đểgây hứng một cách vô nghĩa viển vông mà phải giúp các em phát triển trítưởng tượng một cách lành mạnh Tránh cho các em những mơ tưởng viểnvông, đồng thoại phải thỏa mãn và hướng dẫn được những đòi hỏi mãnh liệtcủa các em, phải làm sao để mơ tưởng của các em biến thành sức mạnh, làmgiàu trí tuệ” Ngôn ngữ đồng thoại có sức cảm hóa cao, các em tìm thấy niềmvui nỗi buồn qua tính cách và suy nghĩ của nhân vật Ngôn ngữ đồng thoạiđưa cuộc sống những nhân vật con vật, cây cỏ, hoa lá vào trang viết TheoVân Thanh: “Nói cho đúng hơn, trước hết chúng phải có những đặc điểm củavật rồi sau đó mới gán cho chúng đặc điểm của người”