1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát triển vốn từ cho trẻ mầm non thông qua các sáng tác thơ phạm hổ

51 423 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 51
Dung lượng 689,36 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhiều tác phẩm của ông được dịch và giới thiệu ở các nước như Nga, Pháp, Trung Quốc, Đức… Ông là tác giả của những tập thơ: Ra Khơi1960, Chú bò tìm bạn 1970, Những ô cửa những ngả đường1

Trang 3

luận tốt nghiệp này

Chúng tôi xin bày tỏ sự biết ơn đến ban quản lí thư viện trường Đại học

Sư phạm Hà Nội 2 đã tạo điều kiện, giúp đỡ để chúng tôi hoàn thành khóa luận của mình

Trong công trình nghiên cứu, không thể tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế Vì vậy tôi rất mong nhận được sự đóng góp, góp ý của các thầy cô giáo và các bạn để khóa luận được hoàn thiện hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày tháng 5 năm 2018

Sinh viên

Nguyễn Thị Khánh Huyền

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi, các căn cứ, số liệu trong khóa luận là trung thực, đề tài này chưa được công bố trong bất kì khóa luận nào khác

Hà Nội, ngày tháng 5 năm 2018

Sinh viên

Nguyễn Thị Khánh Huyền

Trang 5

MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5

5 Phương pháp nghiên cứu 5

6 Bố cục khóa luận 5

NỘI DUNG 6

Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN 6

1.1 Cơ sở tâm lí 6

1.1.1 Kĩ năng giao tiếp của trẻ có bước phát triển mới 6

1.1.2 Trẻ bắt đầu hình thành cái tôi cá nhân và tính từ lập 6

1.1.3 Khả năng tư duy 7

1.1.4 Khả năng chú ý 8

1.1.5 Trí tưởng tượng của trẻ 8

1.2 Cơ sở sinh lí 8

1.3 Cơ sở giáo dục học 10

1.4 Cơ sở ngôn ngữ 11

1.4.1 Vai trò của ngôn ngữ đối với sự phát tiển của trẻ em 11

1.4.2 Khái niệm từ 13

1.4.3 Phân loại từ 13

1.4.4 Đặc điểm vốn từ trẻ mầm non 14

1.5 Cuộc đời, sự nghiệp sáng tác của nhà thơ Phạm Hổ 17

Chương 2 MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN VỐN TỪ CHO TRẺ MẦM NON THÔNG QUA CÁC SÁNG TÁC THƠ PHẠM HỔ 21

Trang 6

2.1 Nguyên tắc đề xuất biện pháp 21

2.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính mục đích 21

2.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính tích cực của trẻ 23

2.1.3 Nguyên tắc đảm bảo phù hợp với vốn sống và kinh ngiệm của trẻ 24

2.2 Thơ Phạm Hổ với phát triển vốn từ cho trẻ mầm non 25

2.2.1 Phát triển vốn từ cho trẻ thông qua các bài thơ về thiên nhiên trong trẻo, đầy chất thơ 26

2.2.2 Phát triển vốn từ cho trẻ mầm non thông qua các bài thơ về thế giới thực vật 27

2.2.3 Phát triển vốn từ cho trẻ mầm non qua các bài thơ về thế giới các đồ vật sống động 34

2.3 Các biện pháp phát triển vốn từ cho trẻ mầm non thông qua các sáng tác thơ Phạm Hổ 37

2.3.1 Biện pháp đọc thơ cho trẻ nghe 37

2.3.2 Biện pháp đàm thoại 39

2.3.3 Biện pháp giải nghĩa của từ 40

2.3.4 Dạy trẻ học thuộc thơ 43

KẾT LUẬN 44

TÀI LỆU THAM KHẢO 45

Trang 7

Văn chương khơi dậy cảm xúc cho con người, làm cho người ta biết khóc, biết cười, biết vui, biết buồn, biết yêu, biết ghét… nó bồi đắp cho con người nhiều hơn về mặt tình cảm Thật khó có thể hình dung một người sống mà không có cảm xúc, không có tình cảm Sự nhạy cảm, tinh tế của tâm hồn được hình thành từ thời thơ ấu Trên thực tế, không ai không thừa nhận vai trò của văn học thiếu nhi đối với việc bồi dưỡng tâm hồn, cao hơn là cách xây dựng nhân cách cho các thế hệ trẻ thơ Trẻ nhỏ thường đến với thơ ca một cách tự nhiên như đến với chính mình vậy Cho trẻ tiếp xúc với thơ ca ngay từ khi còn nằm trong lòng mẹ là điều nên làm, bởi thơ ca là nguồn nuôi dưỡng tâm hồn trẻ thơ

về nhiều mặt như phát triển ngôn ngữ, giáo dục đạo đức, trí tuệ, thẩm mĩ, tư duy… góp phần làm phong phú thêm vốn tri thức của trẻ

Nhắc đến dòng văn học thiếu nhi chúng ta không thể không nhắc tới những nhà thơ nổi tiếng như: Tô Hoài, Nguyễn Huy Tưởng, Trần Đăng Khoa,

Võ Quảng và đặc biệt là nhà thơ, nhà văn Phạm Hổ - một cái tên đã trở nên khá quen thuộc đối với trẻ thơ Phạm Hổ được biết đến với những vần thơ ngộ nghĩnh, cách định nghĩa sự vật hiện tượng xung quanh đáng yêu và với khát vọng cháy lòng là mãi được làm bạn với trẻ thơ

Khác với nhiều người, Phạm Hổ chọn con đường đi vào thế giới tâm hồn

trẻ thơ: “Đối với tôi, được viết cho các em là cả một hạnh phúc” , “Nếu được sống thêm lần nữa, tôi vẫn chọn nghề cũ: Làm thơ, viết văn cho các em đọc, còn

vẽ tranh cho các em xem nữa Tôi thường lấy lòng yêu mến các em, lấy những

Trang 8

2

công việc mình làm cho các em làm thước đo lòng mình đối với dân đối với nước Bây giờ đã trên bẩy mươi, tôi vẫn thấy cái thước đo ấy có độ chuẩn, có độ tin cậy” Tinh thần ấy ta bắt gặp trong Những bài thơ nho nhỏ, khúc đồng dao

được cất lên từ một tâm hồn đồng điệu với trẻ em và của một tấm lòng nhân hậu

vì trẻ thơ :

“Suốt đời tôi chỉ mơ Được viết cho các em Những bài thơ nho nhỏ”

Hay:

“Thật đơn sơ là hạnh phúc của tôi Được viết cho các em

Những bài thơ nho nhỏ”

Nói về thơ Phạm Hổ, Vũ Duy Thông nhận xét: “Một cách tự nhiên, Thơ Phạm Hổ thiên về lứa bạn đọc nhỏ tuổi” Đây là lứa tuổi có đặc thù riêng về tâm

lí tiếp nhận thơ ca Phạm Hổ không ngừng tìm tòi những nội dung, những hình thức biểu đạt phù hợp, khiến mỗi bài thơ là một niềm vui dành tặng cho các em

Đi vào thế giới thơ Phạm Hổ, ta bắt gặp tất cả những gì quen thuộc trong cuộc sống hàng ngày của các em Đó là cái kéo, cái chổi, dây cầu chì, là con chó, con mèo, là cây na, quả khế Tất cả đều có mặt trong thơ ông một cách tự nhiên, dung dị Nhiều tác phẩm của ông được dịch và giới thiệu ở các nước như Nga,

Pháp, Trung Quốc, Đức… Ông là tác giả của những tập thơ: Ra Khơi(1960), Chú bò tìm bạn (1970), Những ô cửa những ngả đường(1976)…

Với ý nghĩa ấy, chúng tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu “Phát triển vốn từ cho trẻ mầm non thông qua các sáng tác thơ Phạm Hổ” nhằm mục đích phát

triển vốn từ vựng cho các em, giúp các em cảm thấy yêu đời, yêu cuộc sống và

có những bước đệm vững vàng nhất trong tương lai của mình

Trang 9

3

rằng việc giúp trẻ mầm non phát triển ngôn ngữ là nhiệm vụ vô cùng quan trọng

Về vấn đề phát triển ngôn ngữ và phát triển vốn từ cho trẻ đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu được xã hội ghi nhận

Ở Việt Nam, từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, vấn đề này cũng được quan tâm Một số hội nghị khoa học ở Trung Ương cũng như địa phương

đã hướng vào nội dung việc thảo luận nâng cao chất lượng giảng dạy phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non

Tác giả Đinh Hồng Thái trong cuốn Phương pháp phát triến lời nói trẻ

em, NXB Đại học Sư phạm, 2007, đã nêu lên đặc điểm ngôn ngữ và chú trọng

đến dạy nói cho trẻ, phát triển ngôn ngữ thông qua các thành phần của ngữ pháp tiếng Việt, hình thành và phát triển vốn từ, dạy trẻ các mẫu câu tiếng Việt, phát triển lời nói mạch lạc, phát triến vốn từ nghệ thuật cho trẻ thông qua các tác phẩm văn học, tạo tiền đề tốt để trẻ chuẩn bị vào lớp một

Trong cuốn Phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo, NXB Đại học Sư phạm,

năm 2004, tác giả Nguyễn Xuân Khoa đã nói về phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo rất chi tiết, tỉ mỉ Qua đó, ông đưa ra một số phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non, trong đó có cả vấn đề phát trienr lời nói mạch lạc cho trẻ

Tác giả Nguyễn Xuân Khoa cũng đã cung cấp tri thức cơ bản về tiếng việt

trong 2 tập Tiếng Việt, NXB Đại học Sư phạm, 2003; từ đó giúp giáo viên mầm

non có vốn kiến thức cơ bản phục vụ tốt việc phát triển ngôn ngữ mẹ đẻ cho trẻ mầm non

Trong cuốn Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ dưới 6 tuổi, NXB

Đại học Quốc gia Hà Nội, 2005, các tác giả Hoàng Thị Oanh- Phạm Thị Việt – Nguyễn Kim Đức đã nói lên tầm quan trọng của ngôn ngữ trong việc giáo dục toàn diện cho trẻ và nêu sơ lược nội dung, phương pháp, biện pháp để luyện phát

âm, phát triển vốn từ, dạy trẻ nói đúng ngữ pháp, phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ

Trang 10

4

Tạp chí Giáo dục mầm non có rất nhiều bài viết về cách tố chức, quản lí, những sáng kiến kinh nghiệm của giáo viên và cán bộ quản lí ngành mầm non Trong đó cũng có khá nhiều bài viết về vấn đề phát triến ngôn ngữ cho trẻ mầm

non Trong đó tạp chí Giáo dục mầm non số 1/2006, tác giả Đinh Thị Uyên có

bài dịch tìm hiểu về chương trình phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non Hàn Quốc Đây là một góc nhìn mở cho nền giáo dục mầm non Việt Nam hiện nay

Cũng trong tạp chí Giáo dục mầm non số 1/2009, có bài: “Một số biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non”, của tiến sĩ Bùi Kim Tuyến(Viện

khoa học giáo dục Việt Nam), đã đề cập tới việc tạo thói quen nói đúng ngữ pháp cho trẻ thông qua việc giao tiếp với trẻ bằng những câu hỏi gợi mở

Đứng trên phương diện một nhà giáo dục học, một nhà tâm lí học, tác

giả Nguyễn Ánh Tuyết với cuốn “Tâm lí học trẻ em lứa tuổi mầm non”, 2005,

đã đề cập đến sự phát triển vốn từ của trẻ ở từng giai đoạn, từng lứa tuối

Như vậy, có rất nhiều công trình nghiên cứu về phát triển ngôn ngữ, phát triển vốn từ cho trẻ mầm non Tuy nhiên, chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu về phát triển vốn từ cho trẻ mầm non thông qua các sáng tác thơ Phạm Hổ Đây là vấn đề mà chúng tôi đã tìm được và có hướng đi riêng cho việc nghiên cứu và đưa ra các phương pháp phát triển vốn từ cho trẻ

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Thông qua các sáng tác thơ của nhà thơ Phạm Hổ, khóa luận hướng tới khẳng định vai trò của các sáng tác thơ Phạm Hổ nói riêng và thơ ca nói chung đối với việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non Từ đó, khóa luận cũng đưa ra một số biện pháp phát triển vốn từ cụ thể thông qua những sáng tác thơ của nhà thơ viết cho thiếu nhi này

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Tìm hiểu một số cơ sở lí luận phát triển vốn từ cho trẻ mầm non thông qua các sáng tác thơ Phạm Hổ

Đề xuất một số biện pháp phát triển vốn từ cho trẻ mầm non thông qua các sáng tác thơ Phạm Hổ

Trang 11

5

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là sự phát triển vốn từ cho trẻ mầm non thông qua các sáng tác thơ Phạm Hổ

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của đề tài là những bài thơ viết cho thiếu nhi của nhà thơ Phạm Hổ

5 Phương pháp nghiên cứu

Trong đề tài này, chúng tôi sử dụng các phương pháp sau:

Ngoài các phần mở đầu và kết luận nội dung khóa luận gồm 2 chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận

Chương 2: Một số biện pháp phát triển vốn từ cho trẻ mầm non thông

qua các sáng tác thơ Phạm Hổ

Trang 12

6

NỘI DUNG Chương 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN 1.1 Cơ sở tâm lí

Ở từng giai đoạn phát triển, trẻ có những đặc điểm tâm lí riêng đòi hỏi giáo viên phải nắm bắt một cách rõ ràng để có thể giao tiếp tốt với trẻ cũng như đưa ra phương pháp, chương trình dạy học phù hợp Đứng ở góc độ tâm lí học, các nhà ngôn ngữ thấy rằng: việc tiếp thu ngôn ngữ có nhiều điểm khác so với tiếp thu kiến thức trong các lĩnh vực khác Ngôn ngữ được hình thành rất sớm Ngay từ giai đoạn hài nhi, ở trẻ đã hình thành những tiền đề của sự lĩnh hội ngôn ngữ Nhu cầu giao tiếp với người lớn ngày càng tăng làm nảy sinh khả năng nói nói năng của trẻ Trẻ không có ý thức về ngôn ngữ nhưng bằng cách bắt chước

có tính bản năng, trẻ em sẽ được học nói từ những người xung quanh mình

1.1.1 Kĩ năng giao tiếp của trẻ có bước phát triển mới

Phát triển kí năng giao tiếp là một trong những đặc điểm tâm lí trẻ mầm non Ở độ tuổi này trẻ bắt đầu được giao tiếp nhiều hơn và cảm thấy hào hứng với việc này Trẻ sẽ quan sát những gì xảy ra xung quanh và ghi nhớ những lời nói và hành động của người lớn để học theo từ đó ngôn ngữ của trẻ được phát triển hoàn thiện hơn Việc cho trẻ học các tác phẩm thơ góp phần quan trọng trong việc phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo

1.1.2 Trẻ bắt đầu hình thành cái tôi cá nhân và tính từ lập

Đặc điểm tâm lý trẻ mầm non nổi bật ở giai đoạn này là bắt đầu hình thành ý thức cá nhân Trẻ có thể tự đưa ra nhận xét hay – không hay , thích - không thích khi xem một bộ phim hay nghe một bài hát.Trẻ thích được thể hiện cái tôi cá nhân của mình, thích tự mình làm những việc như mặc quần áo, đánh răng, rửa tay, tự ăn, sắp xếp đồ chơi, đi vệ sinh… Ngoài ra, trẻ cũng luôn chú ý đến những lời nhận xét của người khác dành cho mình Với đặc điểm tâm sinh

lý trẻ mầm non như vậy, giáo viên nên hỗ trợ trẻ trong quá trình hình thành ý thức bản thân bằng các tác phẩm thơ phát triển kĩ năng sống Việc cho trẻ tiếp xúc nhiều với thơ và việc giáo dục đạo đức trẻ thông qua nội dung các bài thơ là

Trang 13

Ở tuổi ấu nhi, hầu hết trẻ đều rất tích cực hoạt động với đồ vật, nhờ đó trí tuệ, tư duy phát triển khá mạnh, đó là tư duy trực quan hành động Nhưng đó mới chỉ là những hành động bên ngoài, làm tiền đề cho sự hình thành những hoạt động định hướng bên trong Đến tuổi mẫu giáo, tư duy của trẻ có một bước ngoặt rất

cơ bản, chuyển từ kiểu tư duy trực quan - hành động sang kiểu tư duy trực quan- hình tượng Tuổi mẫu giáo bé, trẻ bắt đầu biết tư duy bằng những hình ảnh trong đầu, nhưng do những biểu tượng còn nghèo nàn và tư duy mới được chuyển từ bình diện bên ngoài vào bình diện bên trong nên trẻ chỉ mới giải quyết được những bài toán hết sức đơn giản theo kiểu tư duy trực quan- hình tượng ở tuổi mẫu giáo nhỡ trẻ phải giải những bài toán ngày càng phức tạp và đa dạng, đòi hỏi tách biệt và sử dụng mối liên hệ giữa những sự vật, hiện tượng và hành động Trẻ mẫu giáo nhỡ đã bắt đầu đề ra những bài toán nhận thức, tìm tòi cách giải thích những sự vật, hiện tượng mà mình nhìn thấy, kiểu tư duy trực quan hình tượng đã bắt đầu chiếm lĩnh Đến tuổi mẫu giáo lớn, khi ngôn ngữ trở thành phương tiện của tư duy và cho phép trẻ giải những bài toán trí tuệ mà không cần

sử dụng trực tiếp hành động và biểu tượng Lúc này trẻ bắt đầu tập làm quen, lĩnh hội những khái niệm đơn giản, khái niệm trừu tượng những khái niệm đó là những tri thức về các dấu hiệu chung và bản chất của sự vật cũng như hiện tượng trong hiện thực đã được khái quát lại bằng các từ Trẻ biểu hiện năng lực trí tuệ qua hoạt động tổng hợp của lời nói, qua quan sát, chú ý và suy nghĩ bằng năng lực ghi nhớ liên tưởng và khả năng giải quyết các nhiệm vụ thông qua vui chơi sáng tạo Tư duy trực quan giải thích việc trẻ mẫu giáo bé và mẫu giáo nhỡ

có vốn từ biểu danh là chủ yếu Tư duy trừu tượng và tư duy logic xuất hiện ở

Trang 14

có sự chú ý, ghi nhớ tác phẩm

1.1.5 Trí tưởng tượng của trẻ

Trẻ mầm non lứa tuổi mẫu giáo lớn (5 - 6 tuổi) có trí tưởng tượng vô cùng phong phú, trẻ biết sử dụng trí tưởng tượng của mình để khám phá thế giới và thỏa mãn nhu cầu nhận thức của bản thân Như vậy, trí tưởng tượng là một phần quan trọng của các quá trình tâm lí góp phần tích cực vào hoạt động tư duy, nhận thức và phát triển ngon ngữ của trẻ Theo nghiên cứu của các nhà tâm lí, tưởng tượng của trẻ em lứa tuổi này đã bắt đầu mang tính chất sáng tạo Giai đoạn đầu tiên của tưởng tượng là tưởng tượng hoang đường Đặc điểm của giai đoạn này là tưởng tượng những điều mang tính chất kì diệu, khác thường Đây chính là cơ hội để chúng ta sử dụng các tác phẩm văn học, nhất là tuyện cổ tích cho trẻ làm quen Thể giới đầy bí ẩn, diệu kì trong truyện cổ tích sẽ làm khơi dậy trong trẻ trí tưởng tượng phong phú và sự sáng tạo phong phú trong trẻ

1.2 Cơ sở sinh lí

Hệ thần kinh là một hệ thống trẻ tuổi trong các hệ thống cơ quan của con người, là cơ quan điều khiển mọi hoạt động của cơ thể Hệ thần kinh duy trì mối liên hệ giữa cơ thể với môi trường, điều chỉnh mọi hoạt động của cơ thể, và tạo mối thống nhất giữa hoạt động bên ngoài và hoạt động bên trong cơ thể Não bộ chính là cơ quan trung tâm điều khiển hệ thần kinh trung ương Cho đến lúc ra đời, não bộ của trẻ phát triển chưa hoàn thiện, mặc dù hình thái và cấu tạo giải phẫu của nó không khác não người lớn là mấy Ở trẻ sơ sinh: não bộ có kích thước nhỏ, khoảng 370 - 392g (1/8 - 1/9 trọng cơ thể) Trong 9 năm đầu, trọng

Trang 15

9

lượng não trẻ tăng lên mạnh mẽ Chẳng hạn, trẻ được 6 tháng tuổi, trọng lượng của não tăng lên gấp đôi lúc sơ sinh; trẻ 3 tuổi tăng gấp 3 và đa số các tế bào thần kinh đã được biệt hóa

Ở người, hệ thống tín hiệu thứ nhất và thứ hai có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, trong đó hệ thống tín hiệu thứ hai chiếm ưu thế So với hệ thống tín hiệu thứ nhất thì hệ thống tín hiệu thứ hai có đặc điểm vượt trội hơn đó là khả năng trừu tượng hóa, khái quát hóa các sự vật, hiện tượng xảy ra ngoài môi trường cũng như xảy ra bên trong cơ thể Do vậy, hệ thống tín hiệu thứ hai chính là cơ

sở tư duy của con người Học thuyết về các hệ thống tín hiệu đã khẳng định: Ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu thứ hai, là sự hoạt động đặc biệt của vỏ bán cầu đại não Hệ thống tín hiệu thứ hai có được là nhờ những kích thích trừu tượng như ngôn ngữ, lời nói, chữ viết… Việc phát triển ngôn ngữ phải liên quan mật thiết tới việc phát triển, hoàn thiện bán cầu đại não và hệ thần kinh Trong ba năm đầu là kết thúc sự trưởng thành về mặt giải phẫu vùng não chỉ huy ngôn ngữ, vì thế phải phát triển ngôn ngữ cho trẻ đúng lúc mới đạt hiệu quả tốt nhất

Để có thể giao tiếp tốt chúng ta không thể không kể đến bộ máy phát âm Mỗi con người sinh ra đã có sẵn bộ máy phát âm, đó là tiền đề vật chất để sản sinh âm thanh ngôn ngữ Đó là một trong những điều kiện vật chất quan trọng nhất mà thiếu nó không thể có ngôn ngữ; nếu như bộ máy phát âm có một khiếm khuyết nào đó (ví dụ như sứt môi, hở hàm ếch, ngắn lưỡi, lưỡi dài…) thì việc hình thành lời nói cũng gặp rất nhiều khó khăn Khi sinh ra mỗi con người không phải đã có ngay bộ máy phát âm hoàn chỉnh Độ tuổi mầm non là giai đoạn hoàn thiện dần bộ máy đó: sự xuất hiện và hoàn thiện của hai hàm răng, sự vận động của môi, lưỡi, hàm dưới…quá trình đó diễn ra tự nhiên theo các quy luật sinh học, nó phát triển và hoàn thiện cùng sự lớn lên của trẻ Trong thực tế ở cùng một độ tuổi nhiều em có ngôn ngữ phát triển tốt, phát âm rõ ràng bên cạnh

đó có những em ngôn ngữ kém phát triển hơn, nói ngọng hoặc lời nói không rõ ràng Có sự khác nhau như thế là do bộ máy phát âm khác nhau và quá trình chăm sóc giáo dục cũng khác nhau Trẻ nói ngọng là do bộ máy phát âm phát triển chưa hoàn chỉnh Tuy nhiên bộ máy phát âm hoàn chỉnh mới chỉ là tiền đề

Trang 16

10

vật chất Cùng với thời gian, quá trình học tập, rèn luyện một cách có hệ thống

sẽ làm cho bộ máy phát âm đáp ứng được nhu cầu thực hiện các chuẩn mực âm thanh ngôn ngữ Cấu tạo bộ máy phát âm gồm: dây thanh và các hộp cộng hưởng phía trên thanh hầu Âm sắc và tiếng nói do tính chất của âm xác định và phụ thuộc vào các khoang cộng hưởng của phần trên các bộ phận thanh quản, họng, khoang, miệng, mũi Bộ máy phát âm của trẻ chưa phát triển đầy đủ, các

bộ phận tạo thành tiếng nói chưa liên kết chặt chẽ nên trẻ phát âm còn chưa chuẩn, không chính xác Do đó, việc nghiên cứu bộ máy phát âm để tìm hiểu vốn từ của trẻ mầm non hoàn toàn có cơ sở và mang tính khoa học

Ở cuối Tuổi mẫu giáo , do việc giao tiếp bằng ngôn ngữ được mở rộng, tai nghe âm vị được rèn luyện thường xuyên để tiếp nhận các ngữ âm khi nghe người lớn nói, mặt khác cơ quan phát âm đã trưởng thành đến mức trẻ có thể phát âm tương đối chuẩn kể cả những âm khó của tiếng mẹ đẻ khi nói năng Trẻ mẫu giáo lớn đã biết sử dụng ngữ điệu một cách phù hợp với nội dung giao tiếp hay nội dung câu chuyện mà trẻ kể

1.3 Cơ sở giáo dục học

Dạy học ở trường mẫu giáo là quá trình phát triển có hệ thống, có kế hoạch, có mục đích các năng lực nhận thức cửa trẻ, trang bị cho trẻ hệ thống tri thức sơ đẳng, hình thành kĩ năng, kĩ xảo tương ứng trên cơ sở đó góp phần hình thành nhân cách cho trẻ Trong quá trình dạy học gồm có nhiều hoạt động khác

nhau như: Làm quen với văn học, Hình thành biểu tượng toán sơ đẳng cho trẻ mầm non, Làm quen với môi trường xung quanh… Tất cả các hoạt động này

nhằm mục đích mở rộng kiến thức hiểu biết cho trẻ và bên cạnh đó còn một nhiệm vụ quan trọng là phát triển ngôn ngữ cho trẻ Hiện nay ở các trường mầm non có hai hình thức phát triển lời nói cho trẻ đó là : tiết học và ngoài tiết học

Các tiết học như: nhận biết tập nói, làm quen với chữ cái, làm quen với các tác phẩm văn học, làm quen với môi trường xung quan, Hình thành biểu tượng toán

sơ đẳng cho trẻ mầm non, Tổ chức hoạt động tạo hình, Giáo dục âm nhạc… Tất

cả đều phát triển lời nói cho trẻ Vì vậy trong giờ học các hoạt động khác chúng

Trang 17

và sinh hoạt hằng ngày Qua đó rèn luyện và phát triển vốn từ cho trẻ, tập cho trẻ biết nghe, hiểu và phát âm chính xác các âm của tiếng mẹ đẻ, hướng dẫn trẻ biết cách diễn đạt ý muốn của mình cho người khác hiểu.Vì vậy, khi cho trẻ làm quen, tiếp xúc với các sự vật hiện tượng ngoài việc giới thiệu tên gọi, đặc điểm của đối tượng cho trẻ thì giáo viên cần dạy trẻ biết nói các câu đầy đủ, rõ nghĩa, dạy trẻ phát âm đúng các âm chuẩn tiếng Việt, đảm bảo các nguyên tắc của giáo dục như tính khoa học, tính hệ thống, tính vừa sức

Phát triển ngôn ngữ cho trẻ là một nhiệm vụ quan trọng trong chương trình giáo dục toàn diện trẻ Chương trình phát triển ngôn ngữ cho trẻ đã được nhà giáo dục mầm non Liên Xô (cũ) nổi tiếng Eiti- Kheeva xem là khâu chủ yếu nhất của các hoạt động trong trường mầm non, là tiền đề thành công của các công tác khác

1.4 Cơ sở ngôn ngữ

1.4.1 Vai trò của ngôn ngữ đối với sự phát tiển của trẻ em

a, Ngôn ngữ là công cụ để giao tiếp

“Bản chất con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội” (C.Mac) Con

người muốn tồn tại thì phải gắn bó với cộng đồng Giao tiếp là một đặc trưng

quan trọng của con người “Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người” (V.I.Lênin) Nhờ có ngôn ngữ mà con người có thẻ hiểu được

nhau, cùng nhau hành động vì có mục đích chung: Lao động, đấu tranh, xây dựng và phát triển xã hội

Không có ngôn ngữ không thể giao tiếp được, thậm chí không thể tồn tại được, nhất là đứa trẻ, một sinh thể yếu ớt cần sự chăm sóc và bảo vệ của người lớn

Trang 18

12

Ngôn ngữ làm cho đứa trẻ trở thành một thành viên của xã hội loài người Ngôn ngữ là một công cụ hữu hiệu để trẻ có thể bày tỏ những nguyện vọng của mình từ khi còn rất nhỏ để người lớn có thể chăm sóc, điều khiển, giáo dục trẻ,

là một điều kiện quan trọng để trẻ tham gia mọi hoạt động và trong hoạt động hình thành nhân cách trẻ

b, Ngôn ngữ là công cụ để phát triển tư duy, nhận thức

Quá trình trưởng thành của một đứa trẻ bên cạnh thể chất là trí tuệ Công

cụ để phát triển tư duy, trí tuệ chính là ngôn ngữ Ngôn ngữ chính là hiện thực của tư duy Tư duy của con người có thể hoạt động được cũng chính nhờ phương tiện là ngôn ngữ tư duy và ngôn ngữ có mối liên hệ mật thiết với nhau Nếu không có ngôn ngữ thì quá trình tư duy của con người cũng không diễn ra được ngôn ngữ làm cho các kết quả tư duy được cố định lại, do đó có thể khách quan hóa nó cho người khác và cho bản thân chủ thể tư duy Ngược lại nếu không có tư duy với các sản phẩm của nó thì ngôn ngữ chỉ là các âm thanh vô nghĩa

Phát triển ngôn ngữ cho trẻ không chỉ có mục đích tự thân Có ngôn ngữ,

tư duy của trẻ được phát triển Đây là hai mặt của một quá trình biện chứng có tác động qua lại ảnh hướng mạnh mẽ đến nhau Ngôn ngữ phát triển làm cho tư duy phát triển Ngược lại tư duy phát triển càng đẩy mạnh quá trình phát triển ngôn ngữ

Ngôn ngữ là công cụ để học tập, vui chơi – Hoạt động chủ đạo ở tường mầm non Giống như dạy tiếng mẹ đẻ ở các cấp học khác, phát triển lời nói cho trẻ ở trường mầm non thực hiện mục tiêu “kép” Đó là, trẻ học để biết tiếng mẹ

đẻ, đồng thời sử dụng nó như một công cụ để vui chơi, học tập Ngôn ngữ được tích hợp trong tất cả các loại hình giáo dục, ở mọi nơi, mọi lúc Như vậy, ngôn ngữ cần thiết cho tất cả các hoạt động và ngược lại, mọi hoạt động tạo cơ hội cho ngôn ngữ trẻ phát triển

c Ngôn ngữ là phương tiện để giáo dục trẻ một cách toàn diện

Sự phát triển toàn diện của đứa trẻ bao gồm cả sự phát triển về đạo đức, chuẩn mực hành vi văn hóa Điều gì tốt, điều gì xấu, cần phải ứng xử, giao tiếp

Trang 19

13

như thế nào cho phù hợp … chứ không phải chỉ là bắt chước một cách máy móc Ngôn ngữ phát triển sẽ giúp cho trẻ mở rộng giao tiếp Điều này làm cho trẻ có điều kiện học hỏi những gì tốt đẹp xung quanh trẻ Cô giáo cũng sẽ dễ dàng hơn trong việc giải thích, nêu gương, thuyết phục trẻ, giáo dục những hành vi đạo đức cho trẻ

Ngôn ngữ phát triển giúp trẻ sớm tiếp thu những giá trị thẩm mĩ trong thơ

ca, truyện kể - những tác phẩm nghệ thuật ngôn từ đầu tiên người lớn có thể đem đến cho trẻ ngay từ những ngày thơ ấu Đó là sự tác động của lời nói nghệ thuật như một phương tiện hữu hiệu giáo dục thẩm mĩ cho trẻ

1.4.2 Khái niệm từ

Từ là đơn vị cơ bản, trung tâm của ngôn ngữ Tuy nhiên để đưa ra một khái niệm đầy đủ và toàn diện về từ thì các nhà ngôn ngữ đều thấy khá nan giải Cái khó ở đây một phần do từ trong các ngôn ngữ khác nhau về loại hình, khác nhau về nguồn gốc và có những đặc trưng rất khác nhau Vì thế đi tìm một định nghĩa về từ, một mặt phải chú ý đến những điểm đồng nhất, chú ý đến tính phổ quát của từ nói chung, mặt khác cũng phải chú ý đến đặc điểm riêng của từng ngôn ngữ Dựa theo phương châm này, từ của tiếng Việt được định nghĩa như sau:

Từ tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cố định, bất biến, mang theo những đặc điểm ngữ pháp nhất định, nằm trong những kiểu cấu tạo nhất định Tất cả ứng với một kiểu ý nghĩa nhất định, lớn nhất trong hệ thống và nhỏ nhất

để tạo câu (Đỗ Hữu Châu)

Định nghĩa này cho thấy từ là một đơn vị bao gồm 2 bộ phận: hình thức của từ (thành phần ngữ âm, thành phần ngữ pháp, thành phần cấu tạo) và ý nghĩa của từ Những thành phần này có sự quy định lẫn nhau, thống nhất với nhau thành một hợp thể là từ

1.4.3 Phân loại từ

Có thể phân chia các từ trong Tiếng Việt về các mặt cấu tạo thành: từ đơn và từ phức (từ láy và từ ghép)

 Từ đơn

Trang 20

14

Đại bộ phận các từ đơn là một âm tiết, chúng mang những đặc trưng ngữ nghĩa chủ yếu của từ vựng Tiếng Việt Ví dụ: Nước, cơm, cây, … có một số ít từ đơn đa âm tiết như: bù nhìn, mồ hôi, bò hóng Có một số từ đơn đa âm tiết là từ vay mượn của các ngôn ngữ ẩn ấu như: cà phê, ô tô, …

- Từ ghép là từ trong đó các thành tố có ý nghĩa được kết hợp với nhau, các thành tố này có thể độc lập hoặc không độc lập Từ ghép bao gồm từ ghép đẳng lập (nhà cửa, to lớn, đẹp tươi, …) và từ ghép chính phụ (áo dài, nhà ăn, sân bay…)

1.4.4 Đặc điểm vốn từ trẻ mầm non

a, Xét về mặt số lượng

Trong độ tuổi từ 0 – 1 tuổi, trẻ sẽ nói chuyện với bạn bằng nét mặt, tiếng khóc hay ánh mắt.Trẻ giao tiếp thông qua nét mặt và nụ cười Khả năng ngôn ngữ giao tiếp với thế giới bên ngoài của trẻ khác nhau theo đặc điểm phát triển của trẻ từng tháng tuổi Khi trẻ đươc 7-8 tháng, trẻ bắt đầu biết tên mình.Từ 10-

11 tháng, trẻ bắt đầu hiểu một số từ chỉ sự vật, người mà trẻ thường xuyên được tiếp xúc

Từ 12 tháng trở đi, nhu cầu giao tiếp của trẻ với thế giới xung quanh ngày càng tăng, bên cạnh các âm bập bẹ xuất hiện các từ chủ động đầu tiên.Khi 18 tháng, số từ bình quân là 11 từ, cháu ít nhất là 0, nhiều nhất là 25 từ (trường hợp

đặc biệt lên tới 45 từ) trẻ bắt chước người lớn và lặp lại một số từ gần gũi như:

bố, mẹ, bà, măm…

Từ 19-21 tháng, môi trường tiếp xúc của trẻ được mở rộng, trẻ được làm quen với nhiều sự vật, hiện tượng hơn, số lượng từ của trẻ tăng lên rõ rệt Đến

Trang 21

15

21 tháng tuổi, trẻ đạt 220 từ Giai đoạn 21- 24 tháng, tốc độ chậm lại, chỉ đạt

234 từ vào tháng 24, sau đó tăng tốc: 30 tháng đạt 434 từ

Trẻ 3 tuổi sử dụng được hơn 500 từ, phần lớn là danh từ, động từ, tính từ

và các từ loại khác danh từ chỉ đồ chơi, đồ dùng quen thuộc, các con vật gần gũi

như: búp bê, siêu nhân, quả bóng, con chó, con mèo, con gà… Động từ chỉ những hoạt động gần gũi với trẻ và những người xung quanh như: ăn, uống, ngủ, chơi…

Trẻ 4 tuổi có thể nắm được gần 700 từ, ưu thế vẫn thuộc về danh từ và động từ Hầu hết các loại từ đã xuất hiện trong vốn từ của trẻ

Ở độ tuổi 5-7 tuổi vốn từ của trẻ tăng bình quân 1033 từ, tính từ và các loại từ khác đã chiếm tỉ lệ cao hơn

Tốc độ tăng vốn từ ở các độ tuổi khác nhau, chậm dần theo độ tuổi: cuối 3 tuổi so với đầu 3 tuổi vốn từ tăng 107%; cuối 4 tuổi so với đầu 4 tuổi tăng 40,58%; cuối 5 tuổi so với đầu 5 tuổi, vốn từ của trẻ chỉ tăng 10,40% ; cuối 6 tuổi so với đầu 6 tuổi vốn từ chỉ tăng 10,01%

Mặc dù số lượng từ của trẻ mẫu giáo do các nhà tâm lí học, ngôn ngữ học đưa ra không khớp nhau, nhưng sự chênh lệch không lớn lắm; bởi lẽ số lượng từ của trẻ phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố khác nhau trong đó quan trọng nhất là tác động của môi trường như sự tiếp xúc thường xuyên với những người xung quanh, sự chăm sóc giáo dục của gia đình và nhà trường

b, Xét về mặt cấu trúc từ loại

Cơ cấu từ loại trong vốn từ của trẻ là một tiêu chí để đánh giá chất lượng vốn từ Số lượng từ loại càng nhiều bao nhiêu thì càng tạo điều kiện cho trẻ diễn đạt thuận lợi bấy nhiêu Các loại từ xuất hiện dần dần trong vốn từ của trẻ Theo Xtecnơ, ban đầu chủ yếu là danh từ, sau đó đến động từ, tính từ và các từ loại khác xuất hiện muộn hơn

Theo nhà nghiên cứu Đinh Hồng Thái, đến 3-4 tuổi, về cơ bản vốn từ của trẻ đã có đủ các loại từ Tuy nhiên tỉ lệ danh từ và tính từ cao hơn nhiều so với các loại từ khác: danh từ chiếm 38%, động từ 32%; còn lại là tính từ 6,8%, đại

Trang 22

Từ đặc điểm này chúng ta cần chú ý đến các loại từ khác khi dạy từ cho trẻ, chú trọng tới vốn từ cho trẻ vì lúc này vốn từ của trẻ còn nghèo nàn: lúc đầu số lượng danh từ chiếm phần lớn, sau đó đến động từ, rồi đến tính từ

c, Khả năng hiểu nghĩa của từ của trẻ mẫu giáo

Trẻ mẫu giáo bé có khả năng nắm được những từ ngữ có ý nghĩa cụ thể

như những từ ngữ là tên gọi các đồ vật trong gia đình ( bát, đĩa, bàn, tủ, ghế…), tên gọi các con vật (lợn, chó, gà, mèo…), thực vật ( cây chuối, quả cam, hoa loa kèn…) Từ “đồ vật” có ý nghĩa trừu tượng, trẻ hiểu nó không phải bằng cảm

giác mà bằng sự trừu tượng hóa Đến 6 tuổi, để nắm từ với ý nghĩa khái quát trẻ không đòi hỏi cảm giác trực tiếp nữa

Theo Fedorenko (Nga), ở trẻ em có 5 mức độ hiểu nghĩa khái quát của từ như sau:

- Mức độ zero ( mức độ 0): mỗi sự vật có tên gọi gắn với nó Cuối tuổi lên một, đầu tuổi lên 2, trẻ hiểu được những từ ngữ thể hiện một sự vật đơn lẻ, cụ thể, tách biệt, những từ ngữ ở mức độ khái quát (nghĩa biểu danh)

Ví dụ: Mẹ, bố, bàn bát…

Một điều cần chú ý là: động từ và tính từ không có mức khái quát zero như danh từ

- Mức độ 1: cuối tuổi lên hai, trẻ nắm được mức độ thứ nhất của sự khái quát-

ý nghĩa biểu niệm ở mức thấp, tức là tên gọi chung của đối tượng cùng loại ( đồ vật, hành động, tính chất)

Ví dụ: “Bóng” chỉ một quả bóng bất kì như bóng bay, bóng nhựa, bóng cao su;

“cốc” chỉ những vật dùng để uống nước

- Mức độ 2: trẻ nắm được những từ ngữ thể hiện sự khái hơn

Trang 23

17

Ví dụ: “quả” có thể chỉ bất cứ loại quả nào ( quả cam, quả xoài, quả táo…);

“xe” ( xe đạp, xích lô, ô tô…); “con” (gà, mèo, lợn, chim…)

Cam , xoài, táo: mức độ thứ nhất của sự khái quát; “quả”: mức độ thứ hai của

sự khái quát

- Mức độ 3: trẻ 5-6 tuổi có thể nắm được mức độ ba của sự khái quát

Ví dụ: “đồ vật” có thể chỉ đồ chơi như búp bê, máy bay, ô tô…; “đồ gỗ” chỉ các đồ dùng, vật dụng được làm từ gỗ (bàn, ghế, giường…); “phương tiện giao thông” (xe máy, tàu thủy, tàu hỏa, máy bay…)

“Búp bê”: mức độ thứ nhất của sự khái quát; “đồ chơi”: mức độ thứ hai của sự khái quát; “đồ vật”: mức độ thứ ba của sự khái quát

- Mức độ 4: trẻ hiểu được những từ biểu thị sự khái quát tối đa - những khái niệm thực sự khoa học

Ví dụ: vật chất, hành động, trạng thái, chất lượng, số lượng, quan hệ…

Khả năng nắm được mức độ thứ tư của sự khái quát xuất hiện vào tuổi thiếu niên Đối với trẻ mầm non, khi ở tuổi nhà trẻ, trẻ hiểu được nghĩa biểu danh ( mức độ zero và 1) Mức độ 2 và 3 dành cho trẻ mẫu giáo, đặc biệt là mẫu giáo lớn

1.5 Cuộc đời, sự nghiệp sáng tác của nhà thơ Phạm Hổ

Phạm Hổ có bút danh là Hồ Huy Ông sinh ngày 28-11-1926 trong một gia đình nho học tại xã Thanh Liêm (nay là xã Nhơn An), Thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định Ông qua đời ngày 4 tháng 5 năm 2007, hưởng thọ 80 tuổi

Phạm Hổ cũng chịu ảnh hưởng rất sâu ở ông anh ruột của mình là nhà báo, nhà thơ, nhà văn viết tiếng Việt và tiếng Pháp - Phạm Văn Ký - người đạt giải thưởng lớn về tiểu thuyết của Viện Hàn lâm Pháp năm 1961, người đã viết tựa cho tập "Gái quê" của Hàn Mặc Tử Thời kỳ ông Ký làm chủ bút tờ "Gazette de Hue" (Tạp chí Huế), Phạm Hổ đã ra đây học ở anh Phạm Hổ kể: "Lúc bé tôi có người anh viết văn, làm thơ Anh tôi thường cho tôi tiền, mỗi tháng phải mua và đọc cho được bốn quyển sách Hồng Cứ đọc xong quyển nào thì viết tóm tắt quyển ấy Viết càng gọn và càng đầy đủ thì càng được anh tôi khen… Nhờ đó

mà sau này, đọc sách, tôi dễ dàng nắm được ý chính - tức chủ đề của câu chuyện,

Trang 24

18

của bài thơ Có lẽ thời kỳ này, Phạm Hổ làm quen với những tác phẩm của Andecxen, anh em Grim, Laphongten… và điều đó đã nuôi dưỡng hoài bão viết văn, làm thơ cho nhà thơ sau này

Cuộc đời Phạm Hổ, ngay từ những ngày đầu đến với nghệ thuật, đã có may mắn gặp được những bậc thầy thật sự Ngoài việc sáng tác thơ và truyện cho thiếu nhi và người lớn, ông còn sáng tác âm nhạc và hội họa Năm 1995, ông đã có một cuộc triển lãm tranh đầu tiên tại Hà Nội Với ông, tranh cũng như thơ, đều thể hiện một tâm hồn yêu đời, yêu người, yêu thiên nhiên Thời kháng chiến chống Pháp, ông đã từng theo học một lớp họa do danh họa Nguyễn Đỗ Cung giảng dạy Hơn nữa, ông còn được "đặc ân" cắp giá vẽ theo hầu thầy suốt

bò tìm bạn, Từ không đến mười, Mẹ, Mẹ ơi, Cô bảo

Tính từ tập truyện đầu tiên "Em Tre" (1949) đến năm 1993, Phạm Hổ đã

có 11 tập thơ, 9 tập truyện, 4 vở kịch viết cho các em Ngoài ra ông có 8 tập thơ, văn viết cho người lớn Trong những năm kháng chiến chống Pháp, Phạm Hổ hoạt động văn nghệ ở khu V Thơ của ông được in ở 2 tập "Em vẽ Bác Hồ" (1948) và "Lúa non" (1952) Ở 2 tập sáng tác phục vụ kịp thời và có ý nghĩa tập dượt này đã bắt đầu bộc lộ thiên hướng viết cho thiếu nhi của ông

Ông cũng gặt hái được nhiều thành công trong sự nghiệp với rất nhiều giải thưởng: Giải chính thức về thơ, Hội đồng văn học thiếu nhi Hội Nhà văn năm 1985 cho tác phẩm "Những người bạn im lặng" Giải thưởng về kịch viết cho thiếu nhi do Trung ương Đoàn và Hội Nghệ sỹ Sân khấu tặng cho vở kịch

"Nàng tiên nhỏ thành ốc", năm 1986 Tặng thưởng loại A cuộc vận động sáng tác cho thiếu nhi do Trung ương Đoàn tổ chức năm 1967-1968 cho tác phẩm

"Chú vịt bông" Tặng thưởng loại A cuộc vận động sáng tác cho thiếu nhi do

Trang 25

19

Trung ương Đoàn tổ chức năm 1957-1958 cho bài thơ "Chú bò tìm bạn" Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật đợt I, năm 2001

Ông sáng tác và cho ra mắt rất nhiều tác phẩm, một số tác phẩm chính

như: Những người bạn im lặng (tập thơ, 1984); Ra khơi (thơ, năm 1960); Những

ô cửa, những ngả đường (thơ, năm 1976); Tình thương (tiểu thuyết, năm 1974); Ngựa thần từ đâu tới (tập truyện, năm 1986); Cất nhà giữa hồ (tập truyện cổ tích, năm 1995); Tuyển tập Phạm Hổ (năm 1999); Những ngày xưa thân ái (thơ, năm 1957); Đi xa (thơ, năm 1970); Vườn xoan (truyện ngắn, năm 1964); Chú

bò tìm bạn (thơ, năm 1970); Chuyện hoa qua chuyện quả (6 tập từ năm 1994); Nàng tiên nhỏ thành ốc (bộ ba vở kịch in năm 1980); Cây bánh tét của người cô (truyện, năm 1993); Mỵ Châu - Trọng Thủy (kịch, năm 1993) và rất

1974-nhiều các sáng tác thơ, truyện, kịch khác

Bằng các bài thơ, Phạm Hổ đã dẫn các em vào thế giới những vật xung quanh, từ những cái rất bình thường ông đã khám phá ra những vẻ đẹp, sự giàu

có và giàu chất thơ nữa Thơ ông hay vì đã nhuyễn cái mộc mạc trong sáng, ngộ nghĩnh của ca dao vào nét nhuần nhị, thâm thúy của thơ ca cổ điển Mỗi bài là một bài học nhưng ông không cao giọng rao giảng mà nhỏ nhẹ tâm tình với những câu thơ ngọt ngào vần điệu và tươi sáng những màu sắc, đường nét tạo

hình Chúng ta tin đã và sẽ còn nhiều thế hệ bạn đọc nữa thuộc lòng: Chú bò tìm

bạn, Xe chữa cháy, Mười quả trứng tròn, Bắp cải xanh, Gà nở…

Viết cho các em, ngòi bút Phạm Hổ khá linh hoạt với những cách chuyển đổi từ góc nhìn đến giọng điệu, lúc giọng trẻ thơ nói với nhau, lúc là giọng các cháu trò chuyện với thế giới thiên nhiên, và cũng có lúc là giọng của ông, một người cha, người anh ôn tồn, nhân hậu … Với bút pháp đó, thế giới trẻ thơ trong sáng tác của Phạm Hổ khá phong phú, vừa gần gũi với những trò chơi, sinh hoạt học hành, lại vừa dẫn dắt suy tưởng làm tâm hồn các em bay bổng hơn

Ngoài ra, Phạm Hổ còn là họa sĩ và đã có tranh triển lãm, dẫu vậy người

ta vẫn coi ông là một nhà thơ Một nhà thơ cho thiếu nhi với sự tâm huyết, say

mê và lòng nhiệt thành Sáng tác của ông vun đắp tâm hồn cho các em từ cây cỏ, loài vật đến con người, và đến cả các mối quan hệ, tình cảm giữa mọi người

Ngày đăng: 17/08/2018, 16:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w