Đề tài Nghiên cứu cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của kĩ thuật bản đồ tư duy, nội dung chương trình môn Đạo đức ở tiểu học. Tìm hiểu thực trạng vận dụng kĩ thuật BĐTD trong dạy học môn Đạo đức ở tiểu học. Vận dụng kĩ thuật bản đồ tư duy để dạy học môn Đạo đức ở tiểu học.
Trang 1MỤC LỤC
A.PHẦN MỞ ĐẦU 1
I LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1
II MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU 3
III KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 3
1 Khách thể nghiên cứu 3
2 Đối tượng nghiên cứu 3
IV NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 3
V PHẠM VI NGHIÊN CỨU 3
VI PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 4
1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận 4
2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn 4
B PHẦN NỘI DUNG 5
CHƯƠNG I CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG KĨ THUẬT BẢN ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY HỌC MÔN ĐẠO ĐỨC Ở TIỂU HỌC 5
I CƠ SỞ LÍ LUẬN 5
1 Khái niệm kĩ thuật dạy học 5
2 Phân biệt kĩ thuật dạy học, phương pháp dạy học, hình thức tổ chức dạy học 5
3 Bản đồ tư duy 6
4 Một số vấn đề về môn Đạo đức ở tiểu học 12
II CƠ SỞ THỰC TIỄN 15
1 Khái quát quá trình điều tra 15
2 Kết quả điều tra 15
3 Những thuận lợi và khó khăn khi sử dụng kĩ thuật dạy học bản đồ tư duy trong dạy học môn Đạo đức 18
4 Ý nghĩa của việc sử dụng các phương pháp dạy học và kĩ thuật dạy học tích cực trong giảng dạy 20
III KẾT LUẬN CHƯƠNG 22
CHƯƠNG II: SỬ DỤNG KĨ THUẬT DẠY HỌC BẢN ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY HỌC MÔN ĐẠO ĐỨC Ở TIỂU HỌC 23
I CÁC NGUYÊN TẮC VẬN DỤNG KĨ THUẬT DẠY HỌC BẢN ĐỒ TƯ DUY 23
1 Nguyên tắc đảm bảo mục tiêu bài học 23
2 Nguyên tắc đảm bảo tính vừa sức 23
3 Nguyên tắc đảm bảo sự thông nhất giữa vai trò tự giác, tích cực độc lập của học sinh và vai trò chủ đạo của giáo viên 23
II SỬ DỤNG KĨ THUẬT BẢN ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY HỌC ĐẠO ĐỨC Ở TIỂU HỌC……… 24
1 Học sinh làm quen và tập đọc hiểu BĐTD 24
2 Hướng dẫn học sinh vẽ bản đồ tư duy 25
3 Lựa chọn thời điểm vận dụng kĩ thuật bản đồ tư duy 25
Trang 2III MỘT SỐ LƯU Ý KHI SỬ DỤNG KĨ THUẬT DẠY HỌC BẢN ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY HỌC … 28
C KẾT LUẬN 31
I KẾT LUẬN 31
II KHUYẾN NGHỊ 31
1 Đối với giáo viên 31
2 Đối với nhà trường 32
D TÀI LIỆU THAM KHẢO 33
Trang 4Trong Điều 24, mục 2 Luật giáo dục (do Quốc hội khoá X thông qua) cũng
đã chỉ rõ: Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, từng môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn.
Trong những năm học vừa qua, việc áp dụng phương pháp mới trong giảngdạy ở trường tiểu học nói chung và phân môn Đạo đức nói riêng đã đem lạinhững kết quả bước đầu đáng khích lệ, học sinh hoạt động tích cực hơn tronggiờ học, các em nắm vững và chủ động tìm tòi, phát hiện tri thức, giáo viênkhông còn là người làm thay mà các em đã phát huy được vai trò thực sự củamình Đó là thành quả của phong trào đổi mới phương pháp dạy học, trong đó
sử dụng bản đồ tư duy là kĩ thuật dạy học tương đối mới mẻ tại nước ta vì đây là
kĩ thuật mang lại tâm lí thỏa mái, vui vẻ, đầy tính sáng tạo rất phù hợp với tìnhhình dạy học của giáo viên và học sinh hiện nay và các phong trào do Bộ giáo
dục phát động như phong trào “ Trường học thân thiện, học sinh tích cực ”.
Nhóm các PPDH và KTDH hiện nay rất đa dạng nhưng không có phươngpháp dạy học nào là vạn năng Bản thân mỗi phương pháp đều thể hiện những
ưu, nhược điểm riêng của nó Tuy nhiên, một KTDH có nhiều ưu điểm, đáp ứngđược yêu cầu đổi mới và có thể vận dụng tốt vào quá trình dạy học hiện nay đóchính là KTDH Bản đồ tư duy
BĐTD không những giúp các nhà quản lý, giúp người thầy đổi mới công tác
Trang 5nhìn tổng thể nắm chắc mục tiêu, không bỏ sót việc Sử dụng BĐTD người thầy
sẽ hình dung ra toàn bộ các hoạt động của quá trình lên lớp và có thể dự kiến tốtđược tình huống Sư phạm có thể xảy ra Từ đó người thầy có thể tự tin hơntrong quá trình giảng dạy làm cho tiết học trở lên nhẹ nhàng, sinh động, hiệu quả không đơn điệu, nhàm chán
Kĩ thuật thuật bản đồ tư duy là một trong những KTDH tích cực Khi sửdụng BĐTD trong học tập, học sinh sẽ biết cách học và tự học một cách có chủđích, không thuộc lòng, thuộc vẹt một cách máy móc Các em sẽ nhớ nhanh, nhớlâu, hiểu sâu các kiến thức trọng tâm cơ bản, biết liên tưởng, liên kết thành một
hệ thống các kiến thức có liên quan với nhau và đặc biệt các em có thể thuộc bàingay tại lớp, tập trung được sức mạnh tập thể, tự tin và sáng tạo hơn
Tuy nhiên hiện nay, còn nhiều học sinh học tập thụ động, chỉ đơn thuần lànhớ kiến thức một cách rời rạc, máy móc hay theo một trình tự áp đặt của thầy
cô giáo dẫn đến học sinh chóng quên Do đó sử dụng bản đồ tư duy để hệ thốngkiến thức rất thuận lợi trong quá trình học tập, tư duy và ghi nhớ kiến thức Bản
đồ tư duy là một sơ đồ mở do chính học sinh hình thành, sáng tạo thỏa sức, làsản phẩm của chính tay học sinh tạo ra nên học sinh nhớ rất lâu, đồng thời bản
đồ tư duy được thể hiện bằng màu sắc, đường nét và dùng những từ khóa để ghichép một cách ngắn gọn, đầy đủ giúp học sinh quan sát được tổng thể hệ thốngkiến thức
Dạy học bằng những phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực và có sử dụngbản đồ tư duy mới được áp dụng nên bước đầu cả thầy và trò đều bở ngỡ và gặpkhông ít khó khăn: Học sinh chưa quen với việc sử dụng bản đồ tư duy để hìnhthành được phương pháp tổng quát hóa nội dung của một tiết học, chưa quentrong quá trình thể hiện các nhánh cho khoa học Đó là chưa kể đến một bộ phậnhọc sinh lười tư duy và thụ động trong học tập
Đối với giáo viên sử dụng bản đồ tư duy gặp rất nhiều khó khăn trong khâusoạn , giảng Trong thực tế tìm hiểu việc giảng dạy môn Đạo đức ở trường tiểuhọc, chúng tôi thấy rằng khi dạy tiết lý thuyết chỉ có một đơn vị kiến thức rấtkhó hình thành bản đồ tư duy, các tiết lý thuyết là xây dựng kiến thức mà bản đồ
tư duy thường dùng để hệ thống, củng cố kiến thức Phần khác do một số giáoviên suy nghĩ là dùng bản đồ tư duy để củng cố kiến thức nhằm mục đích là nhớkiến thức Khi dạy các tiết ôn tập giáo viên thường ngại khó, chỉ hướng dẫn họcsinh ôn tập lý thuyết một cách qua loa đại khái rồi dành thời gian còn lại đểhướng dẫn học sinh làm các bài tập hoặc bỏ qua phần ôn tập lý thuyết chỉ hướng
Trang 6dẫn làm bài tập khi nào cần kiến thức nào thì mới yêu cầu hoc sinh nhắc lại.Không ít học sinh lúng túng không biết học bắt đầu từ đâu, làm sao ghi nhớ cáckiến thức, bởi lẽ kiến thức nhiều, học sinh không biết sắp xếp ghi nhớ kiến thứcmột cách hệ thống, không thấy được mối quan hệ giữa các kiến thức dẫn đếnnhầm lẫn, chán nản trong các giờ học kể cả tự học ở nhà Ghi chép một cách thụđộng các bài giảng của giáo viên cung cấp nên khi gặp các bài tập tương tư vẫnkhông biết cách giải quyết Mặt khác, một số giáo viên còn ngần ngại sử dụngbản đồ tư duy vì chưa xác định rõ quy trình dạy học và vẽ bản đồ tư duy, nên khibắt tay vào vẽ thì cứng nhắc, rập khuôn theo mẫu ,trong đó các nhánh phải cong,lúc ngoặc sang trái, lúc ngoặc sang phải , chữ viết lúc xuôi, lúc ngược, khó đọcdẫn đến thiếu tính sư pham.; đồng thời khi sử dụng phần mềm vẽ bản đồ tư duyiMindMap lại gặp nhiều trở ngại nhất cấu hình máy vi tính phải đủ mạnh
Xuất phát từ những lí do trên, tôi chọn đề tài “Sử dụng kĩ thuật bản đồ tư
duy trong dạy học môn Đạo đức ở tiểu học” để tìm hiểu và nghiên cứu trong
khoá luận tốt nghiệp của mình
II MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Đề tài này nhằm nghiên cứu, vận dụng KTDH BĐTD trong dạy học Đạođức ở tiểu học Qua đó, góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn Đạo đức ởbậc học này
III KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
1 Khách thể nghiên cứu
Là quá trình dạy và học môn Đạo đức ở trường tiểu học
2 Đối tượng nghiên cứu
Là việc vận dụng kĩ thuật bản đồ tư duy để dạy học môn Đạo Đức ở trưởngtiểu học
IV NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
- Nghiên cứu cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của kĩ thuật bản đồ tư duy, nội
dung chương trình môn Đạo đức ở tiểu học
- Tìm hiểu thực trạng vận dụng kĩ thuật BĐTD trong dạy học môn Đạo đức ởtiểu học
- Vận dụng kĩ thuật bản đồ tư duy để dạy học môn Đạo đức ở tiểu học
V PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đề tài tập trung giới thiệu và giải quyết những vấn đề về việc sử dụng kĩthuật bản đồ tư duy trong dạy học môn Đạo đức ở tiểu học, nhằm đổi mới về
Trang 7phương pháp dạy học góp phần nâng cao chất lượng dạy và học môn Đạo đức ởtiểu học.
VI PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận
- Phương pháp phân tích, tổng hợp các tài liệu, sách báo, văn bản liên quan đến đề tài
2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp điều tra
- Phương pháp đàm thoại, phỏng vấn
Trang 8B PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG I CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG KĨ THUẬT BẢN ĐỒ TƯ DUY
TRONG DẠY HỌC MÔN ĐẠO ĐỨC Ở TIỂU HỌC
I CƠ SỞ LÍ LUẬN
1 Khái niệm kĩ thuật dạy học
Kỹ thuật dạy học (KTDH): là những động tác, cách thức hành động của của
GV và HS trong các tình huống hành động nhỏ nhằm thực hiện và điều khiểnquá trình dạy học
Hiện nay có rất nhiều kĩ thuật dạy học tích cực mà những nhà nghiên cứugiáo dục đã đưa ra nhằm dạy học sinh không chỉ tiếp thu kiến thức tốt mà cònphát triển năng lực Điều quan trọng là giáo viên linh hoạt tuỳ theo bài học đểchọn kĩ thuật phù hợp
Hình 1 Các kĩ thuật dạy học tích cực
2 Phân biệt kĩ thuật dạy học, phương pháp dạy học, hình thức tổ chức dạy học
- PPDH là những hình thức, cách thức hành động của GV và HS nhằm thựchiện những mục tiêu DH xác định, phù hợp với những nội dung và những điềukiện DH cụ thể PPDH cụ thể quy định những mô hình hành động của GV và
Trang 9- Hình thức tổ chức dạy học là biểu hiện bên ngoài của hoạt động phối hợpgiữa GV và HS được thực hiện theo trình tự và chế độ xác định.
2.1 Giống nhau
PPDH, KTDH, hình thức dạy học đều là những cách thức, phương thức, biệnpháp, biểu hiện bên ngoài của hoạt động phối hợp giữa GV và HS nhằm đạtđược mục tiêu của việc DH
Sự phân biệt giữa PPDH, hình thức tổ chức dạy học, KTDH chỉ mang tínhtương đối
3 Bản đồ tư duy
3.1 Khái niệm bản đồ tư duy
Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia: “Bản đồ tư duy (Mindmap) là phương pháp được đưa ra như là một phương tiện mạnh để tận dụng khả năng ghi nhận hình ảnh của bộ não Đây là cách để ghi nhớ chi tiết, để tổng hợp, hay
để phân tích một vấn đề ra thành một dạng của lược đồ phân nhánh Khác với máy tính, ngoài khả năng ghi nhớ kiểu tuyến tính (ghi nhớ theo 1 trình tự nhất định chẳng hạn như trình tự biến cố xuất hiện của 1 câu truyện) thì não bộ còn có khả năng liên lạc, liên hệ các dữ kiện với nhau Phương pháp này khai thác cả hai khả năng này của bộ não”.
Đây là một kĩ thuật để nâng cao cách ghi chép Bằng cách dùng giản đồ ý,tổng thể của vấn đề được chỉ ra dưới dạng một hình trong đó các đối tượng thìliên hệ với nhau bằng các đường nối Với cách thức đó, các dữ liệu được ghi nhớ
và nhìn nhận dễ dàng và nhanh chóng hơn
Trang 10Thay vì dùng chữ viết để miêu tả một chiều biểu thị toàn bộ cấu trúc chi tiếtcủa một đối tượng bằng hình ảnh hai chiều Nó chỉ ra dạng thức của đối tượng,
sự quan hệ hỗ tương giữa các khái niệm (hay ý) có liên quan và cách liên hệgiữa chúng với nhau bên trong của một vấn đề lớn
Theo Tony Buzan, người đầu tiên tìm hiểu và sáng tạo ra bản đồ tư duy
thì: “Bản đồ tư duy là một hình thức ghi chép sử dụng màu sắc và hình ảnh để
mở rộng và đào sâu các ý tưởng Ở giữa bản đồ là một ý tưởng hay một hình ảnh trung tâm Ý tưởng hay hình ảnh trung tâm này sẽ được phát triển bằng các nhánh tượng trưng cho các ý chính và đều được nối với các ý trung tâm Với phương thức tiến dần từ trung tâm ra xung quanh, bản đồ tư duy khiến tư duy con người cũng phải hoạt động tương tự Từ đó các ý tưởng của con người sẽ phát triển”.
Hình 2 Bản đồ tư duy trong dạy học
Như vậy ta có thể đi đến một khái niệm chung nhất về bản đồ tư duy
là: “Bản đồ tư duy (MindMap) là hình thức ghi chép nhằm tìm tòi đào sâu, mở rộng một ý tưởng, hệ thống hóa một chủ đề hay một mạch kiến thức,… bằng cách kết hợp việc sử dụng đồng thời hình ảnh, đường nét, màu sắc, chữ viết với
sự tư duy tích cực Đặc biệt đây là một sơ đồ mở, không yêu cầu tỉ lệ, chi tiết chặt chẽ như bản đồ địa lí, có thể vẽ thêm hoặc bớt các nhánh, mỗi người vẽ một kiểu khác nhau, dùng màu sắc, hình ảnh, các cụm từ diễn đạt khác nhau, cùng một chủ đề nhưng mỗi người có thể “thể hiện” nó dưới dạng Bản đồ tư
Trang 11duy theo một cách riêng Do đó, việc lập Bản đồ tư duy phát huy được tối đa khả năng sáng tạo của mỗi người”.
3.2 Lịch sử hình thành bản đồ tư duy
Phương pháp này được phát triển vào cuối thập niên 60 (của thế kỉ 20)bởi Tony Buzan như là một cách để giúp học sinh “ghi lại bài giảng” mà chỉdùng các từ then chốt và các hình ảnh Cách ghi chép này sẽ nhanh hơn, dễ nhớ
- Ghi chú: Khi thông tin được gợi ra, Bản đồ tư duy (Mind maps) giúp tổ
chức thông tin theo một hình thức mà dễ dàng được xuất hiện và ghi nhớ Được
sử dụng để ghi chú tất cả các loại sách vở, bài giảng, hội họp, phỏng vấn, vàđàm thoại
- Gợi nhớ, hồi tưởng: Bất cứ khi nào thông tin được xuất hiện từ trong bộ não
thì Mind maps cho phép các ý tưởng được ghi lại rất nhanh ngay sau khi nóđược sinh ra vào một hệ được tổ chức Vì thế chẳng cần phải viết cả một câu
Nó như một phương tiện nhanh và hiệu quả trong việc tổng quát và vì thế có thểgiữ lại các hồi tưởng rất nhanh gọn
- Sáng tạo: Bất cứ khi nào bạn muốn khuyến khích sự sáng tạo, Mind maps
sẽ giúp bạn giải phóng cách suy diễn cổ điển theo phương thức ghi chép sự kiệntheo dòng cho phép các ý tưởng mới được hình thành nhanh chóng theo luồng tưduy xuất hiện
- Giải quyết vấn đề: Khi bạn gặp trở ngại với một vấn đề, Mind maps có thể
giúp bạn nhìn nhận tất cả các vấn đề và làm thế nào để liên kết chúng lại vớinhau Nó cũng giúp bạn có được cái nhìn tổng quát là bạn có thể nhìn nhận vấn
đề dưới góc độ nào và sự quan trọng của nó
- Trình bày (trình diễn): Mind maps không chỉ giúp ta tổ chức các ý kiến hợp
lý, dễ hiểu mà còn giúp ta trình bày mà không cần phải nhìn vào biên bản cósẵn
b Trong giáo dục, đào tạo
- BĐTD giúp học sinh học được phương pháp học: Việc rèn luyện phương
pháp học tập cho học sinh không chỉ là một biện pháp nâng cao hiệu quả dạy
Trang 12học mà còn là mục tiêu dạy học Thực tế cho thấy một số học sinh học rất chămchỉ nhưng vẫn học kém, các em này thường học bài nào biết bài đấy, học phầnsau đã quên phần trước và không biết liên kết các kiến thức với nhau, không biếtvận dụng kiến thức đã học trước đó vào những phần sau Phần lớn số HS nàykhi đọc sách hoặc nghe giảng trên lớp không biết cách tự ghi chép để lưu thôngtin, lưu kiến thức trọng tâm vào trí nhớ của mình Sử dụng thành thạo BĐTD
trong dạy học HS sẽ học được phương pháp học, tăng tính độc lập, chủ động,
sáng tạo và phát triển tư duy
- BĐTD giúp học sinh học tập một cách tích cực: Một số kết quả nghiên cứu
cho thấy bộ não của con người sẽ hiểu sâu, nhớ lâu và in đậm cái mà do chínhmình tự suy nghĩ, tự viết, vẽ ra theo ngôn ngữ của mình vì vậy việc sử dụngBĐTD giúp HS học tập một cách tích cực, huy động tối đa tiềm năng của bộnão
- BĐTD giúp học sinh ghi chép có hiệu quả: Do đặc điểm của BĐTD nên
người thiết kế BĐTD phải chọn lọc thông tin, từ ngữ, sắp xếp, bố cục để “ghi”thông tin cần thiết nhất và lôgic, vì vậy, sử dụng BĐTD sẽ giúp HS dần dần hìnhthành cách ghi chép có hiệu quả
Tác giả Stella Cottrell đã tổng kết cách “ghi chép” có hiệu quả trên BĐTD:1) Dùng từ khóa và ý chính; 2) Viết cụm từ, không viết thành câu; 3) Dùng các
từ viết tắt 4).Có tiêu đề 5) Đánh số các ý; 6) Liên kết ý nên dùng nét đứt, mũitên, số, màu sắc,… 7) Ghi chép nguồn gốc thông tin để có thể tra cứu lại dễdàng 8) Sử dụng màu sắc để ghi
- Sử dụng BĐTD giúp GV, cán bộ quản lí nhà trường lập kế hoạch công tác và có cái nhìn tổng quát toàn bộ kế hoạch từ chỉ tiêu, phương hướng, biện
pháp,…và dễ theo dõi quá trình thực hiện đồng thời có thể bổ sung thêm các chỉtiêu, biện pháp,…một cách rất dễ dàng so với việc viết kế hoạch theo cách thôngthường thành các dòng chữ
- BĐTD có thể vận dụng được với bất kì điều kiện cơ sở vật chất nào của cácnhà trường hiện nay Có thể thiết kế BĐTD trên giấy, bìa, bảng phụ,… hoặccũng có thể thiết kế trên phần mềm bản đồ tư duy
- Việc sử dụng BĐTD giúp cán bộ quản lí có cái nhìn tổng quát toàn bộ vấn
đề, giúp GV đổi mới PPDH, giúp học sinh học tập tích cực đó chính là một
trong những cách làm thiết thực triển khai nội dung dạy học có hiệu quả – nội dung quan trọng nhất trong năm nội dung của phong trào thi đua “Xây dựng
Trang 13Trường học thân thiện, học sinh tích cực” mà Bộ Giáo dục và Đào tạo phát
Bước 1: Vẽ chủ đề ở trung tâm trên một mảnh giấy (đặt nằm ngang) hoặc
trên máy
- Người vẽ sẽ bắt đầu từ trung tâm với hình ảnh của chủ đề Hình ảnh có thể
thay thế cho cả ngàn từ và giúp chúng ta sử dụng tốt hơn trí tưởng tượng củamình Sau đó có thể bổ sung từ ngữ vào hình vẽ chủ đề nếu chủ đề không rõràng
- Nên sử dụng màu sắc vì màu sắc có tác dụng kích thích não như hình ảnh
- Có thể dùng từ khóa, kí hiệu, câu danh ngôn, câu nói nào đó gợi ấn tượngsâu sắc về chủ đề
Bước 2: Vẽ thêm các tiêu đề phụ vào chủ đề trung tâm.
- Tiêu đề phụ có thể viết bằng chữ in hoa nằm trên các nhánh to để làm nổibật
- Tiêu đề phụ được gắn với trung tâm
- Tiêu đề phụ nên được vẽ chéo góc để nhiều nhánh phụ khác có thể được vẽtỏa ra một cách dễ dàng
Bước 3: Trong từng tiêu đề phụ vẽ thêm các ý chính và các chi tiết hỗ trợ.
Trang 14- Khi vẽ các ý chính và các chi tiết hỗ trợ chỉ nên tận dụng các từ khóa và hìnhảnh.
- Nên dùng những biểu tượng, cách viết tắt để tiết kiệm không gian vẽ và thờigian
- Mỗi từ khóa, hình ảnh nên được vẽ trên một đoạn gấp khúc riêng trênnhánh Trên mỗi khúc nên chỉ có tối đa một từ khóa
- Sau đó nối các nhánh chính cấp 1 đến hình ảnh trung tâm, nối các nhánhcấp 2 đến các nhánh cấp 1, nối các nhánh cấp 3 đến các nhánh cấp 2…bằngđường kẻ Các đường kẻ càng ở gần trung tâm thì càng được tô đậm hơn
+ Nên dùng các đường kẻ cong thay vì các đường kẻ thẳng vì đường kẻ congđược tổ chức rõ ràng sẽ thu hút được sự chú ý của mắt nhiều hơn
+ Tất cả các nhánh tỏa ra cùng một điểm nên có cùng một màu Chúng tathay đổi màu sắc khi đi từ ý chính ra đến các ý phụ cụ thể hơn
-Người vẽ có thể thêm nhiều hình ảnh nhằm giúp các ý quan trọng thêm nổi
bật cũng như giúp lưu chúng vào trí nhớ tốt hơn
c Những lưu ý khi tạo bản đồ tư duy
- Sử dụng từ ngắn hoặc hình ảnh sát với chủ đề.
- Hình ảnh rõ ràng và “mạnh”.
- Đặt những “từ khóa” làm tăng sự liên tưởng.
- Sử dụng mũi tên, biểu tượng hoặc những hình ảnh để chỉ ra sự liên kết.
- Không để “nghẽn mạch” Nếu “cạn kiệt” suy nghĩ thì chuyển sang nhánh
khác
- Ghi ngay ý tưởng vào nơi hợp lí ngay khi nghĩ ra nó Đừng lưỡng lự.
- Phá vỡ ranh giới Khi hết giấy để trình bày thì đừng nên thay một tờ giấy khác to hơn mà sử dụng thêm các tờ giấy khác ghép vào.
3.5 Ứng dụng trong dạy học
BDTD có thể ứng dụng trong nhiều tình huống khác nhau như:
- Tóm tắt nội dung, ôn tập một chủ đề;
- Trình bày tổng quan một chủ đề;
- Chuẩn bị ý tưởng cho một báo cáo hay buổi nói chuyện, bài giảng;
- Thu thập, sắp xếp các ý tưởng;
- Ghi chép khi nghe bài giảng
- Trong một tiết dạy trên lớp, giáo viên có thể sử dụng BĐTD linh hoạttrong các bước kiểm tra bài cũ; học kiến thức mới; củng cố
Trang 15a Ưu điểm
- Khi sử dụng phần mềm hỗ trợ, việc giảng dạy bằng BĐTD được thể hiệnbằng đường nét, màu sắc, hình ảnh sẽ tác động vào kênh hình của người học,huy động tối đa các giác quan của học sinh Dùng bản đồ tư duy để minh họa sẽlàm giảm tính trừu tượng của nội dung bài học Không làm mất thời gian vẽ trênbảng và xóa bảng
- Làm cho nội dung bài học được trình bày ngắn gọn, cô đọng làm cho họcsinh dễ tiếp thu, nhớ bài giảng lâu hơn
- Trong một thời gian ngắn có thể khái quát được một khối lượng kiến thứclớn, có lôgíc giúp học sinh tìm hiểu được bản chất quy luật, xâu chuỗi các kiếnthức và tái hiện lại tri thức khi cần thiết
- Dưới sự hướng dẫn của giáo viên, học sinh cùng thực hiện sơ đồ bài học,
dễ phát huy tích cực, chủ động của học sinh trong quá trình lĩnh hội kiến thức
- Đây là một kĩ thuật để nâng cao cách ghi chép So với các cách thức ghichép truyền thống, thì phương pháp bản đồ tư duy có những điểm vượt trội nhưsau:
• Ý chính sẽ ở trung tâm và được xác định rõ ràng
• Quan hệ hỗ tương giữa mỗi ý được chỉ ra tường tận Ý càng quan trọngthì sẽ nằm vị trí càng gần với ý chính
• Liên hệ giữa các khái niệm then chốt sẽ được tiếp nhận lập tức bằng thị giác
• Ôn tập và ghi nhớ sẽ hiệu quả và nhanh hơn
• Thêm thông tin (ý) dễ dàng hơn bằng cách vẽ chèn thêm vào bản đồ
• Mỗi bản đồ sẽ phân biệt nhau tạo sự dễ dàng cho việc gợi nhớ
• Các ý mới có thể được đặt vào đúng vị trí trên hình một cách dễ dàng, bấtchấp thứ tự của sự trình bày, tạo điều kiện cho việc thay đổi một cáchnhanh chóng và linh hoạt cho việc ghi nhớ
• Có thể tận dụng hỗ trợ của các phần mềm trên máy tính
b Nhược điểm
- Một số nội dung, định nghĩa, khái niệm khi sơ đồ hóa không truyền tải hếtnội dung khoa học của vấn đề
- Sơ đồ hóa chưa phải là sự nhận thức đầy đủ về lý luận mà chỉ mới là công
cụ để xây dựng lý luận Phải có sự kết hợp với các phương pháp khác để mởrộng kiến thức, liên hệ với thực tiễn, gắn với các vấn đề đặt ra trong cuộc sống
- Nếu lạm dụng sơ đồ hóa sẽ gây ra tình trạng học sinh bị loạn trong kiếnthức, mất phương hướng trong việc tiếp thu kiến thức bài giảng
Trang 16- Với những giáo viên chưa sử dụng thành thạo máy tính và các phần mềm
hỗ trợ thì việc sơ đồ hóa nội dung kiến thức trên máy tính là tương đối khó khăn
4 Một số vấn đề về môn Đạo đức ở tiểu học
4.1 Định hướng xây dựng chương trình môn Đạo đức
a Bảo đảm phù hợp và phục vụ việc thực hiện mục tiêu giáo dục tiểu học
Mục tiêu giáo dục tiểu học là “nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sởban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất thẩm
mĩ và các kĩ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học Trung học cơ sở” (theo Điều
27 của Luật giáo dục, 2005)
Như vậy, theo mục tiêu này thì chương trình môn Đạo đức phải:
- Tạo được những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài vềđạo đức cho học sinh tiểu học: Điều này các chuẩn mực hành vi trong chươngtrình phải là những chuẩn mực cơ bản, vừa sức, phản ánh các mối quan hệthường gặp của các em Đồng thời, chúng cũng tạo điều kiện cho học sinh tiểuhọc phát triển đạo đức của mình qua việc mở rộng các mối quan hệ khác nhau
- Chuẩn bị thiết thực cho học sinh tiểu học học tiếp trung học cơ sở: Tức là,việc giáo dục đạo đức ở tiểu học phải có kết quả tốt để các em có đủ tư cách vàtrách nhiệm thực hiện tốt việc học tập và rèn luyện ở bậc học mới; ngoài ra, mônĐạo đức còn có nhiệm vụ chuẩn bị cho học sinh học tốt môn Giáo dục công dân
ở Trung học cơ sở Vì vậy, các chuẩn mực hành vi đạo đức ở tiểu học phải gópphần hình thành ở các em hệ thống tri thức về các chuẩn mực đạo đức cơ bản,thái độ học tập tích cực, kĩ năng và thói quen hoạt động tập thể, cư xử đúng đắnvới những người xung quanh, tính năng động, sáng tạo trong các công việc khácnhau…
b Bảo đảm tính cơ bản, hiện đại, thiết thực, gắn với thực tiễn Việt Nam
Theo định hướng này, nội dung chương trình môn Đạo đức cần phải:
- Phản ánh được các mối quan hệ thường gặp của học sinh tiểu học như :
+ Quan hệ với bản thân ( tự trọng, ngăn nắp, ý chí, trung thực…).
+ Quan hệ với gia đình (yêu quý, quan tâm, chăm sóc ông bà, cha mẹ, anh
chị em, là các công việc khác nhau để giúp đỡ…)
+ Quan hệ với nhà trường (yêu quý, vâng lời, kính trọng thầy cô giáo, yêu
mến, giúp đỡ, chia sẻ với bạn bè, giữ gìn vệ sinh, thực hiện nội quy trường lớp,
Trang 17+ Quan hệ với cộng đồng, xã hội (yêu quê hương, đất nước, tôn trọng
những nội quy, quy định nơi công cộng, tôn trọng, giúp đỡ, cư xử lịch sự vớinhững người xung quanh…)
+ Quan hệ với môi trường tự nhiên (yêu quý, bảo vệ cây trồng, vật nuôi,
thiên nhiên, môi trường…)
- Giúp học sinh tiểu học hòa nhập với cuộc sống văn minh, hiện đại trongbối cảnh đất nước đổi mới toàn diện, sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa,hòa nhập quốc tế Vì vậy, trong chương trình, cần có những chuẩn mực hành viliên quan đến tôn trọng, thực hiện những quy định, luật lệ của nhà nước, xã hội,ứng xử đúng đắn với người nước ngoài, thiếu nhi quốc tế, hiểu biết và tôn trọngcác tổ chức quốc tế…
c Góp phần đổi mới phương pháp dạy học tiểu học
Định hướng đổi mới phương pháp dạy học của chương trình tiểu học mớiđược thể hiện trong chương trình môn đạo đức ở chỗ:
- Chương trình tiểu học nêu định hướng là, phương pháp phải tập trungvào việc dạy cách học, trong đó, giúp học sinh biết cách học và từ đó, có nhucầu tự học, thực hiện hành vi đạo đức trong cuộc sống
- Chương trình coi trọng và khuyến khích dạy học trên cơ sở tổ chức hoạtđộng học tập tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh, từ đó tạo điều kiện chocác em phát hiện tri thức mới, tự giải quyết các vấn đề của bài học
- Chương trình mới đòi hỏi đổi mới phương pháp dạy học môn Đạo đứcphải song song với đổi mới phương tiện, hình thức tổ chức, kiểm tra và đánh giákết quả dạy học…
4.2 Những phương hướng cụ thể về đổi mới phương pháp dạy học Tiểu học
- Giúp học sinh không những nắm vững kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo mà cònbiết được cách thức học tập, cách thức tự học, tạo điều kiện thuận lợi nhất chohọc sinh tự thể hiện, tranh luận, thảo luận hợp tác với nhau giúp các em tựphát hiện ra những tri thức mới
- Kích thích, khuyến khích học sinh vận dụng những điều được học vàothực tiễn vào cuộc sống cộng đồng như giải quyết các hiện tượng , xây dựng
và cải tạo cuộc sống xung quanh theo chiều hướng tốt đẹp hơn
- Tạo cơ hội cho học sinh tự nghiên cứu làm cho phương pháp học tập, tiếp cận với phương pháp nghiên cứu khoa học như: Làm thực nghiệm, tham gia các công tác khảo sát điều tra
- Giúp học sinh chủ động tự kiểm tra đối với việc học tập của mình ,
Trang 18phát hiện ra những thiếu sót và tự sửa chữa, khắc phục.
- Khai thác khả năng phong phú to lớn của phương tiện dạy học, đa dạng hóacác hình thức tổ chức dạy học
4.3 Mục tiêu môn Đạo đức
- Có hiểu biết ban đầu về một số chuẩn mực hành vi đạo đức và pháp luậtphù hợp với lứa tuổi trong các mối quan hệ của các em với bản thân, gia đình,nhà trường, cộng đồng, môi trường tự nhiên và ý nghĩa của việc thực hiện theocác chuẩn mực đó
- Từng bước hình thành kỹ năng nhận xét, đánh giá hành vi của bản thân
và những người xung quanh theo chuẩn mực đã học; kỹ năng lựa chọn và thựchiện các hành vi ứng xử phù hợp chuẩn mực trong các quan hệ và tình huốngđơn giản, cụ thể của cuộc sống; biết nhắc nhở bạn bè cùng thực hiện
- Từng bước hình thành thái độ tự trọng, tự tin; yêu thương, tôn trọng conngười; yêu cái thiện, cái đúng, cái tốt; không đồng tình với cái ác, cái sai, cáixấu
- Bên cạnh đó, dạy – học môn Đạo đức theo chuẩn kiến thức kỹ năng lànhu cầu cần thiết của Ngành giáo dục Tiểu học hiện nay Ngoài dạy theo Chuẩnkiến thức kỹ năng còn chú trọng việc Rèn kỹ năng sống – Giáo dục Bảo vệ môitrường cho các em cũng là yêu cầu mà các em cần đạt được sau mỗi phần, mỗichủ điểm và sau mỗi năm học
II CƠ SỞ THỰC TIỄN
1 Khái quát quá trình điều tra
1.1 Mục đích điều tra
Tìm hiểu thực trạng việc sử dụng kĩ thuật bản đồ tư duy trong dạy học
môn Đạo đức ở trường tiểu học
1.2 Nội dung điều tra
Điều tra khảo sát về thực trạng sử dụng các phương pháp dạy học trong mônĐạo đức của giáo viên Tiểu học
Thực trạng việc sử dụng kĩ thuật bản đồ tư duy trong dạy học môn Đạo đức
ở trường tiểu học
1.3 Đối tượng điều tra
Trong quá trình thực hiện đề tài tôi đã tiến hành điều tra 20 giáo viên trựctiếp giảng dạy môn Đạo đức ở các trường tiểu học trên địa bàn huyện Mỹ Đức –Thành phố Hà Nội
Trang 192 Kết quả điều tra
2.1 Thực trạng sử dụng các phương pháp dạy học trong môn Đạo đức của giáo viên tiểu học
Từ bảng 1 ta thấy hiện nay các phương pháp dạy học truyền thống như: Kểchuyện, đàm thoại, giảng giải được GV sử dụng chủ yếu, trong đó chiếm ưuthế nhất là phương pháp giảng giải, 100% GV được điều tra đều sử dụng thườngxuyên phương pháp này Trong khi đó các PPDH phát huy tính tích cực, chủđộng, sáng tạo của HS như: Điều tra, thảo luận nhóm thì GV lại sử dụng ở mứcrất khiêm tốn:
- Phương pháp tổ chức điều tra: Chỉ có 10% giáo viên thường xuyên sử dụng và có tới 40% hiếm khi sử dụng, 30% chưa bao giờ sử dụng
- Phương pháp thảo luận nhóm chỉ có 20% thường xuyên sử dụng và có tới 60% thỉnh thoảng sử dụng
Bảng 1 Mức độ sử dụng các phương pháp dạy học trong môn Đạo đức
Hiếm Khi
Chưa bao giờ
Trang 20bi, tia chớp cũng là 5%.
Thông qua trao đổi trực tiếp với GV chúng tôi nhận thấy các KTDH trênđây là những KTDH quá mới với GV, ít được GV sử dụng Yêu cầu đặt ra vớicác cấp quản lý giáo dục là phải tăng cường công tác tập huấn, giới thiệu cácKTDH mới để tạo điều kiện cho GV được tiếp cận và hiểu được bản chất củacác KTDH mang tính hợp tác
2.3 Nhận thức của giáo viên về kĩ thuật dạy học.
Bảng 3 Nhận thức của giáo tiểu học về kĩ thuật dạy học (đơn vị: %)
1 KTDH là những động tác, cách thức hành động của của GV
và HS trong các tình huống hành động nhỏ nhằm thực hiện
và điều khiển quá trình dạy học
30
2 KTDH được hình thành từ việc tích lũy kinh nghiệm đúc kết
từ thực tiễn tiến lên thời kì vận dụng những thành tựu của lực
lượng dạy học
25
KTDH, chúng tôi đã tiến hành điều tra theo nội dung phiếu điều tra Kếtquả điều tra về sự hiểu biết của GV về KTDH chúng tôi nhận thấy chỉ có30% GV có nhận thức đúng về KTDH và có tới 70% GV còn nhầm lẫn vềkhái niệm KTDH
Trang 212.4 Nhận thức của giáo viên về kĩ thuật dạy học bản đồ tư duy
Bảng 4 Nhận thức của giáo tiểu học về kĩ thuật BĐTD
(đơn vị: %)
1 Là hình thức ghi chép nhằm tìm tòi đào sâu, mở rộng một ý
tưởng, hệ thống hóa một chủ đề hay một mạch kiến thức
2.5 Nhận thức của giáo viên về mức độ cần thiết của kĩ thuật bản đồ tư duy trong dạy học môn Đạo đức
Bảng 5: Mức độ cần thiết sử dụng KTDH BĐTD trong dạy học môn Đạo đức.
(đơn vị: %)
thiết
Phân tích kết quả: Qua điều tra bằng phiếu và trò chuyện với GV, kết quả
thu được cho thấy các GV đều nhận định đây là 1 KTDH rất mới và ít được
sử dụng trong quá trình dạy học Tuy nhiên nhìn chung các thầy cô đều thấyđược sự cần thiết và tác dụng của KTDH BĐTD trong dạy học môn Đạođức, có tới 35% GV cho rằng là rất cần thiết, 45% GV cho rằng cần thiết vàchỉ có 5% GV cho rằng không cần thiết Điều này thể hiện rằng việc sửdụng KTDH BĐTD là cần thiết trong xu thế đổi mới giáo dục ở nước tahiện nay
3 Những thuận lợi và khó khăn khi sử dụng kĩ thuật dạy học bản đồ tư duy trong dạy học môn Đạo đức
3.1 Thuận lợi