Đề tài Nâng cao hiệu quả dạy học bằng đồ dùng trực quan trong môn Địa lí 6 tập trung giới thiệu và giải quyết những vấn đề về việc sử dụng đồ dùng trực quan để nâng cao hiệu quả dạy học và phát triển tư duy cho học sinh trong giảng dạy Địa lí ở lớp 6 hiện nay.
Trang 1
ỦY BAN NHÂN DÂN …….
PHÒNG GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO ….
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
NÂNG CAO HIỆU QUẢ DẠY HỌC
BẰNG ĐỒ DÙNG TRỰC QUAN
TRONG MÔN ĐỊA LÍ 6
Môn: Địa lí
Năm học:
MÃ SKKN
……….
Trang 2MỤC LỤC
Trang
A PHẦN MỞ ĐẦU
I Lí do chọn đề tài 2
II Mục đích nghiên cứu
3 III Đối tượng nghiên cứu 4
IV Đối tượng khảo sát 4
V Phạm vi và kế hoạch nghiên cứu 4
VI Phương pháp nghiên cứu 4
B PHẦN NỘI DUNG I Cơ sở lí luận 5
II Thực trạng vấn đề nghiên cứu 6
III Nội dung nghiên cứu
8 IV Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm 31
C PHẦN KẾT LUẬN I Những bài học kinh nghiệm 33
II Kết luận 34
III Những khuyến nghị 34
D TÀI LIỆU THAM KHẢO 35
Trang 3
Theo chỉ đạo của Bộ giáo dục và đào tạo, toàn ngành giáo dục phải đổimới phương pháp dạy học ở tất cả các bậc học theo hướng phát huy tính tíchcực, chủ động và sáng tạo của học sinh nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng dạy –học Chính vì vậy, người giáo viên phải nghiên cứu, tìm tòi, đề ra những biệnpháp tích cực trong quá trình giảng dạy nhằm đổi mới phương pháp dạy học Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực là vấn đề rất được sự quantâm của các giáo viên trung học Tuy nhiên việc vận dụng nó vào thực tiễn giảngdạy không phải là chuyện dễ dàng.
Đối với giáo viên nói chung và giáo viên dạy địa lí nói riêng, lâu naynhiều người vẫn giảng dạy theo các phương pháp truyền thống đôi khi lại vậndụng chúng một cách cứng nhắc và thụ động, thiếu tích cực và không hiệu quả,chúng ta có thể hình dung như sau:
- Giáo viên trình bày toàn bộ bài giảng - học sinh nghe
- Giáo viên đặt câu hỏi - học sinh trả lời (thậm chí học sinh đọc nguyênvăn sách giáo khoa để trả lời câu hỏi)
- Giáo viên ghi bảng - học sinh chép vào vở (đôi khi giáo viên đọc cho
Trang 4Một giờ giảng như thế chúng ta có thể hình dung như thế này:
- Giáo viên giảng bài học sinh chăm chú lắng nghe
- Giáo viên đặt câu hỏi học sinh trả lời
Làm như thế được xem là tiết học đạt yêu cầu, tuy rằng chất lượng chưacao, học sinh không hứng thú và việc phát triển tư duy cho học sinh sẽ rất hạnchế Vậy một tiết học đạt hiệu suất cao phải là tiết học đạt được mức yêu cầuchuẩn về Kiến thức - Kĩ năng và Tư duy đã được đặt ra trong mục đích yêucầu của từng bài học Để có được một tiết dạy phát triển được tư duy cho họcsinh và đạt hiệu suất cao thì giữa thầy và trò phải có sự phối hợp nhịp nhàng,trong đó thầy giữ vai trò chủ đạo, trò giữ vai trò chủ động Nhưng làm thế nào
để đạt được điều đó ở mức cao nhất lại luôn làm những người thầy có tâm huyếtvới nghề phải trăn trở nhất là khi mà người thầy còn bị gò bó bởi nhiều thứ :Chương trình, sách giáo khoa, thời lượng một tiết dạy, quy trình một tiết dạyphải thực hiện,
Đối với bộ môn Địa lí, để một tiết dạy đạt hiệu suất cao và phát triển được
tư duy cho học sinh thì không còn cách nào tốt hơn là tích cực khai thác các loạikênh hình trong sách giáo khoa như: Bản đồ, biểu đồ, lát cắt, tranh ảnh, hình vẽ, atlat, Chính vì vậy nên tôi đã chọn đề tài “ Nâng cao hiệu quả dạy học bằng
đồ dùng trực quan trong môn Địa lí 6” làm nội dung nghiên cứu
II MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
1 Đối với giáo viên
- Sáng tạo về phương pháp dạy học phát huy tính chủ động, phát triển tưduy, tính tích cực, tự giác, tự học tập của học sinh
- Chú trọng đến việc rèn luyện các kĩ năng, năng lực hành động, vận dụngkiến thức, tăng cường thực hành và gắn nội dung bài học với thực tế cuộc sống
- Thiết kế tổ chức, hướng dẫn học sinh thực hiện các hoạt động học tập vớicác phương tiện dạy học trực quan đa dạng, phong phú, có sự hấp dẫn, phù hợpvới đặc trưng bài học, với đặc điểm và trình độ học sinh, với điều kiện cụ thểcủa lớp, trường và địa phương
2 Đối với học sinh
- Tích cực suy nghĩ, chủ động tham gia các hoạt động học tập, tự khám phá
và lĩnh hội kiến thức, rèn luyện kĩ năng, xây dựng thái độ và hành vi đúng đắn
- Mạnh dạn trình bày và bảo vệ ý kiến, quan điểm cá nhân; tích cực thảoluận, tranh luận, đặt câu hỏi cho bản thân, cho thầy (cô), cho bạn; không ngừngsáng tạo trong việc tự làm các đồ dùng để học tập
- Hình thành và rèn luyện kĩ năng khai thác kiến thức từ kênh hình
Trang 5
-3/35 -III ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Áp dụng trong việc dạy - học Địa lí cho học sinh lớp 6.
IV ĐỐI TƯỢNG KHẢO SÁT
2 Kế hoạch nghiên cứu
Đề tài này được tôi nghiên cứu và tiến hành thực nghiệm từ tháng 8/2018đến tháng 5/ 2019
VI PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Tìm hiểu thực tế
- Nghiên cứu thực nghiệm
- Tổng hợp tư liệu, tài liệu
Trang 6B PHẦN NỘI DUNG
I CƠ SỞ LÍ LUẬN
Mặc dù ở cấp Tiểu học các em đã được làm quen với một số khái niệm, biểu tượng, sự vật và hiện tượng địa lí đơn giản thường xảy ra trong tự nhiênchung quanh, nhưng các em vẫn không khỏi ngỡ ngàng khi tiếp thu những kiếnthức địa lí ở cấp THCS, đặc biệt là những kiến thức địa lí đại cương Nó quátrừu tượng và một phần nào đó vượt quá khả năng tư duy của các em Vậy làmthế nào để các em có thể nhanh chóng nắm được các khái niệm, hiểu được mộtcách sâu sắc bản chất các sự vật và hiện tượng địa lí trong chương trình mà các
em phải hoàn thành? Để trả lời cho câu hỏi này, mỗi thầy giáo, ngoài những địnhhướng của sách giáo viên phải vận dụng kinh nghiệm và năng lực chuyên môncủa bản thân để tìm hướng đi riêng nhằm giúp học sinh hiểu được bài học và vậndụng những kiến thức đã học vào thực tiễn cuộc sống một cách hiệu quả nhất
Trong kho tàng ca dao, tục ngữ của nước ta có câu “Trăm nghe khôngbằng một thấy”, các nhà nghiên cứu phương pháp giảng dạy địa lí cũng đã đúckết rằng: Con đường tốt nhất và ngắn nhất để nhận thức các khái niệm và biểu
tượng địa lí là con đường đi “từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng” Từ
đó chúng ta có thể hiểu rằng trong dạy học địa lí, đồ dùng trực quan đóng mộtvai trò cực kì quan trọng Đồ dùng trực quan làm cho bài học trở nên sinh động,hấp dẫn, gây hứng thú cho học sinh, nó làm cho các khái niệm và biểu tượng địa
lí gần gũi dễ hiểu hơn
Các phương tiện dạy học trực quan có ý nghĩa to lớn trong môn Địa lí ởphổ thông Một mặt các sự vật hiện tượng địa lí trái dài ra khắp trong không gianrộng lớn của Trái Đất, học sinh không thể quan sát trực tiếp được, phải thôngqua các phương tiện dạy học Mặt khác các sự vật, hiện tượng địa lí lại đa dạng
và phức tạp, nhờ vào phương tiện dạy học mới trở nên gần gũi, cụ thể hơn đốivới nhận thức của học sinh Trong việc đổi mới phương pháp dạy học theohướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh, phương tiện dạyhọc vừa là công cụ để giáo viên tổ chức hoạt động nhận thức tích cực cho họcsinh, vừa là cơ sở để học sinh hoạt động tích cực, chủ động, sáng tạo, tìm ranhững kiến cần thiết
II THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Trang 7
-5/35 -Thực tiễn hiện nay, ở các trường trung học cơ sở nhất là các trường ởvùng nông thôn, phương tiện dạy học vừa thiếu, vừa không đảm bảo về mặt chấtlượng nên việc sử dụng chúng không đem lại hiệu quả cao Mặc khác, do thiếuphòng học bộ môn nên đồ dùng dạy học của tất cả các môn đều được để chungvào một phòng Hơn nữa cán bộ chuyên trách chưa được đào tạo chính quy nênviệc sắp xếp vẫn còn thiếu khoa học gây khó khăn cho bảo quản, sử dụng, gâytâm lý ngại mượn đồ dùng dạy học ( vì phải tự vào kho để lục tìm) Điều nàyảnh hưởng rất lớn đến chất lượng dạy - học địa lí nói riêng và các môn học khácnói chung.
Quan điểm chỉ đạo của chương trình địa lí THCS yêu cầu giáo viên vậndụng mọi phương pháp, mọi hình thức tổ chức dạy học thích hợp nhằm giúp họcsinh vừa có được những kiến thức cần thiết, vừa rèn luyện được các năng lựchoạt động Qua môn địa lí cũng góp phần tạo nên những năng lực cần thiết đểhọc sinh sau này có thể trở thành người lao động năng động, sáng tạo có khảnăng thu thập xử lí thông tin, hoà nhập với xã hội đương đại Bộ môn địa lí làmột bộ môn khoa học tự nhiên đồng thời cũng vừa là bộ môn khoa học xã hội,kiến thức rộng lớn và luôn thay đổi theo sự phát triển của xã hội loài người, do
đó yêu cầu về đồ dùng dạy học và cách sử dụng đồ dùng dạy học cũng luônphải đổi mới không ngừng để phù hợp với những thay đổi đó
Một thực tế nữa là kỹ năng địa lí của học sinh bậc phổ thông, nhất là họcsinh lớp 6 còn rất hạn chế do đó các em thường làm mất rất nhiều thời gian khilàm việc với các phương tiện dạy học, điều này làm nảy sinh tâm lý “ngại” sử
dụng đồ dùng dạy học ở giáo viên (sợ “cháy giáo án”), nhất là khi giáo viên còn
bị gò bó bởi chương trình, bởi quy trình lên lớp ( thực ra đây là một lỗi nhậnthức của giáo viên, nếu học sinh được rèn luyện nhuần nhuyễn các kĩ năng địa lí,nếu giáo viên nghiên cứu và chuẩn bị tốt đồ dùng dạy học trước khi lên lớp thìchính đồ dùng dạy học sẽ giúp giáo viên tiết kiệm được rất nhiều thời gian, đỡtốn sức, tránh được lối dạy thuyết giảng và mô tả)
Để khắc phục được những tồn tại trên người giáo viên cần thực hiện biệnpháp lâu dài là việc rèn luyện kĩ năng địa lí cho học sinh để các em dễ dàng khaithác được kiến thức từ kênh hình trong sách giáo khoa và từ các nguồn trực quankhác Bên cạnh đó giáo viên còn có thể vẽ thêm nhiều tranh đơn giản, các sơ đồ
để giúp các em lĩnh hội kiến thức nhanh chóng và phát triển tư duy cho các em
Vì vậy, nên trong quá trình dạy học địa lí giáo viên cần hạn chế tối đa cácphương pháp dạy học thuyết trình, diễn giảng mang tính nhồi nhét kiến thức.Thay vào đó việc sử dụng hiệu quả các thiết bị dạy học địa lí là điều kiện,
Trang 8động cho học sinh Thông qua đó học sinh tiếp cận được với hình ảnh mô phỏngthực tế, rèn luyện kỹ năng xử lí thông tin.
“ Nâng cao hiệu quả dạy - học bằng đồ dùng trực quan trong môn Địa lí6” là một đề tài dạng mở, xuất phát từ thực tiễn dạy - học, có tính khả thi cao,bất kì một giáo viên nào cũng có thể thực hiện được một cách hiệu quả nếungười đó yêu nghề, nhiệt huyết với nghề và có tinh thần cầu tiến
III NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Trang 9
-7/35 -Việc sử dụng đồ dùng trực quan cho từng nội dung bài học đã giúp cho giáo viên giải quyết được những vướng mắc nêu trên và thực hiện được một tiếtdạy như mong muốn theo hướng tích cực Đồng thời việc sử dụng đồ dùng trựcquan phù hợp và khai thác có hiệu quả có thể làm “mềm” hóa kiến thức giúphọc sinh phát hiện và tiếp thu dễ dàng, thông qua qua các đồ dùng trực quan, còn
có thể huy động được nhiều đối tượng học sinh tham gia vào bài học một cáchtích cực, đặc biệt là các em yếu và trung bình, tạo ra hứng thú trong tiết học,kích thích tư duy của học sinh, đồng thời giáo viên còn có thể động viên, hướngdẫn các em tham gia làm đồ dùng dạy học, đây cũng là cách để các em chiếmlĩnh tri thức khoa học
Hiện nay, sách giáo khoa cải cách của môn Địa lí 6 có hệ thống kênh hình
có nhiều màu sắc đẹp mắt, vừa giúp học sinh dễ quan sát và đọc hiểu Tuy nhiên
do có giới hạn nên sách giáo khoa không thể đưa hết tất cả mọi loại phương tiệntrực quan vào, do đó khi dạy giáo viên phải tự tìm tòi thêm để bài học được sinhđộng, để học sinh hứng thú với môn Địa lí 6
Các phương tiện trực quan trong dạy học địa li gồm: Bản đồ giáo khoa địa
lí, các tranh ảnh hình vẽ có sẵn, biểu đồ, sơ đồ, mô hình, khối đồ… và cácphương tiện hiện đại đều góp phần tích cực vào việc đổi mới phương pháp dạyhọc và nâng cao chất lượng, hiệu quả dạy - học địa lí trong nhà trường
1 Bản đồ giáo khoa địa lí
- Bản đồ giáo khoa địa lí là những bản đồ được qui định sử dụng trong dạy
và học ở tất cả các cấp Bản đồ giáo khoa phải đảm bảo tính khoa học, tính trựcquan và tính sư phạm Tính trực quan đòi hỏi bản đồ giáo khoa phải khái quáthóa cao, dùng nhiều hình ảnh và phương pháp biểu thị trực quan, đảm bảo chohọc sinh nhận biết và hiểu nội dung bản đồ tốt hơn
- Theo hình thức sử dụng trong quá trình học tập có nhiều loại bản đồ khácnhau
+ Bản đồ treo tường chủ yếu sử dụng trên lớp với số đông học sinh, chúngđược quan sát ở cự li tương đối xa vì vậy kích thước lớn
Ví dụ : Bài 11: Thực hành – Sự phân bố các lục địa và đại dương trên
bề mặt Trái Đất.
Giáo viên sử dụng Bản đồ tự nhiên thế giới để học sinh xác định được cáclục địa và đại dương trên thế giới
Trang 10+ Bản đồ trong SGK (lược đồ) biểu hiện một số nội dung tương ứng vớibài viết SGK, nội dung về sự phân bố không gian của đối tượng địa lí Bản đồtrong sách giáo khoa có chủ đề đa dạng, mỗi bản đồ chỉ biểu hện một hoặc một
số nội dung nổi bật của bài học
Ví dụ: Bản đồ khu vực của TP Đà Nẵng – Nhìn vào bản đồ học sinh sẽđọc được tỉ lệ bản đồ, sẽ phân biệt được bản đồ nào có tỉ lệ lớn và bản đồ nào có
tỉ lệ nhỏ và dựa vào bản đồ tính khoảng cách trên thực tế
Hình 8 Bản đồ một khu vực của thành phố Đà Nẵng ( Tỉ lệ 1:7500)
+ Tập bản đồ địa lí 6 để học sinh làm bài tập để các em hiểu bài rõ hơn và
có thể quan sát cụ thể hơn các vị trí và đặc điểm của các đối tượng địa lí
- Trong giảng dạy địa lí ở trường THCS các kĩ năng làm việc với bản đồcủa học sinh lớp 6 gồm:
+ Nhận biết bản đồ, tỉ lệ bản đồ, kí hiệu bản đồ
+ Xác định phương hướng, kinh độ, vĩ độ và tọa độ địa lí
+ Xác dịnh giờ, khu vực trên bản đồ
+ Tính khoảng cách trên thực tế dựa vào tỉ lệ bản đồ, xác định độ cao dựavào đường đồng mức
+ Chỉ ra đối tượng địa lí trên bản đồ
+ Nhận xét đơn giản sự phân bố một đối tượng địa lí trên bản đồ
Trang 11
-9/35 - Khi sử dụng bản đồ giáo viên có thể đặt câu hỏi phát vấn dựa trên bản đồ
để học sinh quan sát bản đồ trả lời
- Giao cho học sinh các bài tập có liên quan đến bản đồ
Ví dụ : Dạy bài 4: Phương hướng trên bản đồ Kinh độ, vĩ độ và tọa độ địa lí.
Dựa vào hình 12: Bản đồ thủ đô các nước ở khu vực Đông Nam Á cho biếtcác hướng bay từ:
+ Hà Nội Viêng Chăn + Cu-a-la Lăm-pơ Băng Cốc
+ Hà Nội Gia-cac-ta + Cu-a-la Lăm-pơ Ma-ni-la
+ Hà Nội Ma-ni-la + Ma-ni-la Băng Cốc
Hình 12 Bản đồ thủ đô các nước ở khu vực Đông Nam Á
Ví dụ: Bài 5: Kí hiệu bản đồ, cách biểu hiện địa hình trên bản đồ.
- Quan sát hình 16 cho biết mỗi lát cắt cách nhau bao nhiêu mét?
- Dựa vào khoảng cách các đường đồng mức ở 2 sườn phía Đông và sườnphía Tây cho biết sườn nào có độ dốc lớn hơn?
Trang 12
Hình 16 Núi được cắt ngang
và hình biểu hiện của nó trên bản đồ
* Lưu ý:
Để nâng cao hiệu quả sử dụng bản đồ cần lưu ý một số điểm: Sử dụng
thường xuyên trong giờ học, từ thấp đến cao, từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp, sử dụng hợp lí, trong cả dạy bài mới, kiểm tra bài cũ, trong ôn tập, bài tập về nhà, bài thực hành…, phù hợp với bài giảng tránh khập khiễng.
2 Các tranh ảnh, hình vẽ có sẵn
Các tranh ảnh, hình vẽ có sẵn trong SGK, trong các tập tranh ảnh được in
ấn để phục vụ cho dạy học, hoặc do giáo viên và học sinh sưu tầm ở các nguồnxuất bản khác nhau phục vụ cho dạy học Chúng gần gũi với bài học, có thểdùng để mở đầu bài học, nghiên cứu bài mới, củng cố, kiểm tra, cho học sinhlàm bài tập
Ví dụ: Giáo viên có thể sử dụng H42, H 43, H47 để có thể giới thiệu bài
hoặc nghiên cứu bài mới
Hình 42 Quặng sắt Hình 43 Quặng đồng
Trang 13- Quan sát hình 48 Sự thay đổi nhiệt độ không khí theo độ cao trong SGK
để tính sự chênh lệch về độ cao giữa hai địa điểm
H48 Sự thay đổi nhiệt độ không khí theo độ cao
Cách thức hoạt động phổ biến với tranh ảnh, hình vẽ có sẵn là đàm thoại.Trong quá trình đó, giáo viên hướng dẫn học sinh vào việc tìm tòi, liệt kê cácdấu hiệu độc đáo, các mối liên hệ của các sự vật với nhau
Hình 47 Lều khí tượng
Trang 14
H29 Bộ phận rìa lục địa
Ví dụ: Quan sát H29 SGK, cho biết:
- Rìa lục địa gồm những bộ phận nào?
- Nêu độ sâu của các bộ phận từ đó giúp các em phân biệt được thế nào là thềmlục địa và sườn lục địa
3 Hình vẽ của giáo viên trên bảng
- Hình vẽ của giáo viên trên bảng cũng được xem là một đồ dùng trực quanquan trọng, vì nó làm cho học sinh dễ hiểu bài, dễ ghi nhớ và hình thành đượccác biểu tượng và khái niệm địa lí Việc vẽ trên bảng sẽ kéo theo hoạt động củahọc sinh: vẽ lại vào vở; thị giác, sự phân tích và liên kết được huy động làmviệc, học sinh suy nghĩ sâu hơn trên hình vẽ và học cách biểu thị suy nghĩ củamình bằng hình vẽ
Ví dụ:
*BÀI 10: CẤU TẠO BÊN TRONG CỦA TRÁI ĐẤT
Trong bài này ở mục 1: Cấu tạo bên trong của Trái Đất chỉ có 1 hình 26như bên dưới Hình này tương đối trừu tượng, học sinh khó hình dung nhất làđối với học sinh trung bình và yếu, kém, vậy ta có thể vẽ thêm hình như sau:(hình 26b)
Đại dương Lục địa -13/35 -
Lớp vỏ, độ dày từ 5-70km
Lớp trung gian, độ dày gần
3000km Lõi Trái Đất, độ dày trên 3000km
Trang 15Hình 26b: Lát cắt Trái Đất
Giáo viên, sau khi treo hình vẽ lên bảng có thể hỏi: Quan sát hình vẽ, hãycho biết cấu tạo bên trong của Trái Đất gồm có mấy lớp, thứ tự sắp xếp và độdày mỗi lớp?
*BÀI 18:THỜI TIẾT, KHÍ HẬU VÀ NHIỆT ĐỘ KHÔNG KHÍ
Hỏi: Quan sát hình vẽ, cho biết:
+ Nhiệt độ thay đổi như thế nào theo độ cao?
+ Cho biết nhiệt độ tương ứng với từng độ cao?
Hình vẽ này có thể sử dụng để dạy bài khí hậu núi cao
Ở bài này, trong mục 3.b: Nhiệt độ
không khí thay đổi theo độ cao cũng chỉ có 1
hình vẽ đó là hình 48, hình này không được
rõ ràng, học sinh khó tư duy do đó ngoài
việc sử dụng hình vẽ này, giáo viên có thể vẽ
nhanh bằng phấn màu trên bảng hình vẽ như
bên cạnh để học sinh dễ hình dung hơn.Có
thể minh họa như sau:
Theo quy luật càng lên cao nhiệt độ
Trang 16Ở bài này trong mục 1, để chứng minh trong không khí có chứa hơi nướcgiáo viên có thể vẽ hình sau (hoặc nếu có điều kiện thì làm thí nghiệm tại chỗ):
Hỏi: - Vì sao thành ly có bám những giọt nước?
- Nước bám trên thành ly chứng tỏ trong không khí có chứa gì?
Ở mục 2 sự phân bố lượng mưa trên Trái Đất sau khi cho học sinh nhận xét
về sự phân bố lượng mưa trên thế giới, giáo viên có thể vẽ hình sau để mở rộngkiến thức cho học sinh:
Gió
/ / Gió
Mưa / / / / // /
/ / // // / / / / / /
Sườn A Sườn B
Hỏi: - Sườn nào mưa nhiều?
- Trên thực tế , sườn hướng về phía đại dương và sườn hướng về lục địathì sườn nào có nhiều mưa? Vì sao?
Trang 17
*BÀI 17: LỚP VỎ KHÍ
Trong khi dạy dạy phần 3 Các khối khí có thể vẽ:
Khi quan sát, học sinh sẽ thấy ánh sáng mặt trời chiếu vuông góc ở xíchđạo, vậy ở đó sẽ nhận được nhiều nhiệt hình thành khối khí nóng, ở vĩ độthấp Còn ở khu vực 2 cực ánh sáng mặt trời không chiếu vuông góc nên ở đó sẽnhận được ít nhiệt hình thành khối khí lạnh ở vĩ độ cao
- Hình vẽ trên bảng của giáo viên có thể là lược đồ, sơ đồ hoặc hình dạngbên ngoài, cấu trúc mô phỏng của các đối tượng địa lí Vẽ đúng, đẹp, nhanh làmột trong những yêu cầu của việc vẽ lên bảng, đòi hỏi phải có sự sáng tạo củagiáo viên
- Yếu tố quan trọng đối với hình vẽ là đơn giản, rõ ràng và truyền đạt đượccác đặc điểm nổi bật Đồng thời hình vẽ phải đúng và phản ánh tỉ lệ tương ứngthực tế
Ví dụ: Bài 22: Các đới khí hậu trên Trái Đất.
Khi dạy bài này giáo viên có thể vẽ hình sau lên bảng để giúp học sinh xácđịnh được ranh giới các đới khí hậu
Hình các đới khí hậu
Trang 184 Biểu đồ
Trong môn địa lí sử dụng rất nhiều loại biểu đồ như: Biểu đồ tròn, hình cột(đứng, ngang, nằm), đường, miền… Mỗi loại đều có những chức năng riêng.Việc sử dụng biểu đồ ở cấp THCS được diễn ra với nhiều hình thức khác nhaunhư: phân tích, rút ra nhận xét, so sánh…Tuy nhiên, với học sinh lớp 6 mức độ
sử dụng biểu đồ chỉ ở mức độ đọc biểu đồ như: hiểu biểu đồ, đọc nội dung đơngiản, xác định vị trí của đối tượng địa lí dựa vào biểu đồ
Ví dụ: Bài 21: Thực hành- Phân tích biểu đồ nhiệt độ, lượng mưa.
Quan sát biểu đồ hình 55 và trả lời các câu hỏi
- Những yếu tố nào được thể hiện trên biểu đồ? Thời gian bao lâu?
- Yếu tố nào biểu hiện theo đường? Yếu tố nào thể hiện bằng hình cột?
- Dựa vào các trục của hệ tọa độ vuông góc để xác định
+ Tháng nhiệt độ cao nhất là bao nhiêu?
+ Tháng nhiệt độ thấp nhất là bao nhiêu?
+ Nhiệt độ chênh lêch giữa tháng cao nhất và tháng thấp nhất?
+ Lượng mưa tháng cao nhất, tháng thấp nhất?
- HS sẽ dựa vào biểu đồ để trả lời câu hỏi
5 Sơ đồ