1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sử dụng Bản đồ tư duy trong dạy học Ngữ văn

25 788 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 0,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

A. ĐẶT VẤN ĐỀ I. Lý do chọn đề tài 1. Tầm quan trọng của vấn đề Trong những năm qua, cùng với việc thực hiện một cách đồng bộ đổi mới nội dung, chương trình, sách giáo khoa, vấn đề đổi mới phương pháp dạy học(PPDH) nói chung, trong đó có đổi mới PPDH môn Ngữ văn luôn được các nhà khoa học giáo dục đầu ngành của nước ta quan tâm, nghiên cứu và tìm cách cải tiến. Có thể nói, đây là một bước đột phá của ngành Giáo dục nước nhà. Vì vậy, vấn đề này đã được Đảng, Nhà nước ta đặc biệt quan tâm. Thực hiện nghiêm túc tinh thần Nghị quyết 402000QH10 của Quốc hội khóa 10 và Chỉ thị số142001CTTTg của Thủ tướng Chính phủ, Bộ GDĐT đã đặc biệt chú trọng đến việc bồi dưỡng cho đội ngũ giáo viên từng bước nâng cao trình độ, đổi mới PPDH, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh; xem đây là một nhiệm vụ vừa bức thiết lại vừa trọng tâm xuyên suốt cả quá trình đổi mới. Trong những năm qua, hầu hết đội ngũ giáo viên THCS trong cả nước nói chung, ở các trường trong tỉnh, trong huyện đã được tham dự các lớp tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ về đổi mới PPDH do Sở, Phòng GDĐT tổ chức, nội dung triển khai một số phương pháp, kĩ thuật dạy học mới. Trong đó có việc sử dụng sơ đồ tư duy(SĐTD). Có thể khẳng định rằng đây là một trong những PPDH rất quan trọng, vừa rất mới, rất hiện đại, lại rất khả thi, đang được nhiều nước trên thế giới áp dụng. Qua việc tìm hiểu và vận dụng PPDH bằng SĐTD trong quá trình dạy học, tôi nhận thấy PPDH này đã thật sự đem lại “luồng sinh khí mới” cho học sinh trong quá trình dạy học bộ môn Ngữ văn. Bước đầu đã giảm bớt được tâm lý chán học Văn, khơi gợi trong học sinh tình yêu đối với môn học, đồng thời đem đến cho các em cái nhìn mới, cách tư duy mới, sự hưng phấn, lôi cuốn đối với môn học Ngữ văn. Tuy nhiên, việc ứng dụng SĐTD trong quá trình dạy học là vấn đề còn khó khăn, lúng túng đối với nhiều giáo viên, trong đó có giáo viên dạy môn Ngữ văn. Họ tỏ ra băn khoăn không biết sử dụng SĐTD vào khâu nào trong quá trình dạy học? Phương pháp thiết kế SĐTD, hướng dẫn cách thức sử dụng cho học sinh ra sao?...Nhất là đối với những giáo viên cao tuổi và những giáo viên chưa quen với việc ứng dụng Công nghệ thông tin, trình độ Tin học còn hạn chế. Bản thân tôi thật sự tâm đắc với phương pháp Sử dụng sơ đồ tư duy trong quá trình dạy học. Bởi vì không chỉ lôi cuốn, hấp dẫn với học sinh, mà nó còn là một PPDH rất hiệu quả, rất khoa học, rất dễ sử dụng và có thể sử dụng rộng rãi ở tất cả các khâu trong quá trình dạy học mà nhất là rất cần thiết trong việc giảng dạy môn Ngữ văn. Vì vậy, tôi viết đề tài đề tài khoa học: “Sử dụng Bản đồ tư duy trong dạy học Ngữ văn” để cùng trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm với đồng nghiệp.

Trang 1

Trong những năm qua, hầu hết đội ngũ giáo viên THCS trong cả nước nóichung, ở các trường trong tỉnh, trong huyện đã được tham dự các lớp tập huấn, bồidưỡng chuyên môn nghiệp vụ về đổi mới PPDH do Sở, Phòng GD&ĐT tổ chức,nội dung triển khai một số phương pháp, kĩ thuật dạy học mới Trong đó có việc sửdụng sơ đồ tư duy(SĐTD) Có thể khẳng định rằng đây là một trong những PPDHrất quan trọng, vừa rất mới, rất hiện đại, lại rất khả thi, đang được nhiều nước trênthế giới áp dụng Qua việc tìm hiểu và vận dụng PPDH bằng SĐTD trong quá trìnhdạy học, tôi nhận thấy PPDH này đã thật sự đem lại “luồng sinh khí mới” cho họcsinh trong quá trình dạy học bộ môn Ngữ văn Bước đầu đã giảm bớt được tâm lýchán học Văn, khơi gợi trong học sinh tình yêu đối với môn học, đồng thời đemđến cho các em cái nhìn mới, cách tư duy mới, sự hưng phấn, lôi cuốn đối với mônhọc Ngữ văn.

Tuy nhiên, việc ứng dụng SĐTD trong quá trình dạy học là vấn đề còn khókhăn, lúng túng đối với nhiều giáo viên, trong đó có giáo viên dạy môn Ngữ văn

Họ tỏ ra băn khoăn không biết sử dụng SĐTD vào khâu nào trong quá trình dạy

Trang 2

học? Phương pháp thiết kế SĐTD, hướng dẫn cách thức sử dụng cho học sinh rasao? Nhất là đối với những giáo viên cao tuổi và những giáo viên chưa quen vớiviệc ứng dụng Công nghệ thông tin, trình độ Tin học còn hạn chế.

Bản thân tôi thật sự tâm đắc với phương pháp Sử dụng sơ đồ tư duy trong quá trình dạy học Bởi vì không chỉ lôi cuốn, hấp dẫn với học sinh, mà nó còn là một

PPDH rất hiệu quả, rất khoa học, rất dễ sử dụng và có thể sử dụng rộng rãi ở tất cảcác khâu trong quá trình dạy học mà nhất là rất cần thiết trong việc giảng dạy môn

Ngữ văn Vì vậy, tôi viết đề tài đề tài khoa học: “Sử dụng Bản đồ tư duy trong dạy học Ngữ văn” để cùng trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm với đồng nghiệp

2 Cơ sở lí luận

Ngày 05/5/2006, Bộ trưởng Bộ GD&ĐT đã ban hành Quyết định số16/2006/BGDĐT nêu rõ những định hướng đổi mới phương pháp giáo dục, tạođiều kiện thuận lợi để giáo viên thực hiện việc đổi mới PPDH Trong những nămqua, Bộ GD&ĐT đã trực tiếp chỉ đạo việc thực hiện đổi mới PPDH, đổi mới kiểmtra, đánh giá theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh.Trong đó, yêu cầu giáo viên tăng cường tổ chức các hoạt động nhận thức cho họcsinh, hướng dẫn phương pháp tự học cho các em

Năm học 2011 - 2012 là năm học mà toàn ngành Giáo dục và Đào tạo đangtiếp tục nỗ lực đổi mới phương pháp giảng dạy, để đào tạo ra những con ngườinăng động, sớm thích ứng với đời sống xã hội, đẩy nhanh sự nghiệp Công nghiệphoá - Hiện đại hoá đất nước Trước tình hình đó, đòi hỏi đội ngũ giáo viên chúng taphải không ngừng đổi mới, cải tiến nội dung, phương pháp soạn giảng để trongmỗi tiết dạy, học sinh sẽ được hoạt động nhiều hơn, thảo luận nhiều hơn và quantrọng là được suy nghĩ nhiều hơn trên con đường chủ động chiếm lĩnh kiến thức

Vì vậy, đòi hỏi mỗi giáo viên phải triệt để thực hiện theo nguyên tắc lấy học sinhlàm trung tâm nhằm phát huy tính chủ động, tích cực, tự giác và sáng tạo của họcsinh trong hoạt động dạy học

Mặt khác, nói đến phương pháp dạy học là nói đến cách dạy của người thầy.Trong chương trình giáo dục phổ thông, Ngữ văn là một môn học có vị trí quan

Trang 3

trọng Vì đây là môn học vừa mang tính công cụ, vừa là môn học mang tính nghệthuật, lại là môn học mang tính nhân văn rất cao Bởi vậy, để học sinh học tốt mônNgữ Văn ở trường phổ thông nói chung, người giáo viên phải chú trọng đếnphương pháp dạy học, phải tìm tòi, sáng tạo, nghiên cứu và áp dụng những hìnhthức, biện pháp tổ chức dạy học mới, hiện đại, sinh động, đưa học sinh đến vớimôn học này một cách tự giác, bằng niềm say mê thật sự Có như thế mới đáp ứngđược yêu cầu của môn học mang đậm tính nhân văn này.

Sơ đồ tư duy kế thừa, mở rộng hình thức ghi chép, sử dụng bảng biểu, sơ đồnhưng ở mức độ cao hơn Nó là một công cụ tổ chức tư duy được tác giả TonyBuzan (người Anh) nghiên cứu kỹ lưỡng và phổ biến rộng khắp trên thế giới Cóthể khẳng định rằng PPDH bằng SĐTD là một trong những PPDH hiện đại Nógiúp học sinh dễ ghi nhớ, phát triển nhận thức, khả năng tư duy, óc tưởng tượng vàkhả năng sáng tạo Đây là một công cụ hữu hiệu trong quá trình dạy học hiện nay

3 Cơ sở thực tiễn

Năm học 2012 - 2013 là năm học Bộ giáo dục và đào tạo tiếp tục đổi mớiphương pháp dạy học nhằm nâng cao chất lượng dạy và học ngữ văn trong các nhàtrường phổ thông Một trong những phương pháp dạy học mới và hiện đại nhất

được đưa vào là phương pháp dạy học bằng bản đồ tư duy (BĐTD) - một phương

pháp dạy học mới đang được rất nhiều nước trên thế giới áp dụng Qua việc tìmhiểu và vận dụng phương pháp dạy học bằng bản đồ tư duy, tôi nhận thấy phươngpháp dạy học này rất có hiệu quả trong công tác giảng dạy và học tập của học sinh.Bước đầu đã giảm bớt được tâm lý ngại học văn, khơi gợi trong học sinh tình yêuđối với môn học, đồng thời đem đến cho các em cái nhìn mới, tư duy mới về mônhọc Ngữ văn Vậy thế nào là phương pháp dạy học bằng bản đồ tư duy? Cần sửdụng bản đồ tư duy như thế nào để nâng cao chất lượng trong các giờ học văn? Đó

là những vấn đề tôi muốn cùng được chia sẻ với các đồng nghiệp trong sáng kiếnkinh nghiệm này

Bản đồ tư duy là hình thức ghi chép sử dụng màu sắc, hình ảnh để mở rộng vàđào sâu các ý tưởng BĐTD một công cụ tổ chức tư duy nền tảng, có thể miêu tả

nó là một kĩ thuật hình họa với sự kết hợp giữa từ ngữ, hình ảnh, đường nét, màu

Trang 4

sắc phù hợp với cấu trúc, hoạt động và chức năng của bộ não, giúp con ngườikhai thác tiềm năng vô tận của bộ não.

BĐTD giúp học sinh có được phương pháp học hiệu quả hơn: Việc rèn

luyện phương pháp học tập cho HS không chỉ là một biện pháp nâng cao hiệu quảdạy học mà còn là mục tiêu dạy học Thực tế cho thấy một số học sinh học rấtchăm chỉ nhưng vẫn học kém, các em thường học bài nào biết bài đấy, học phầnsau đã quên phần trước và không biết liên kết các kiến thức với nhau, không biếtvận dụng kiến thức đã học trước đó vào những phần sau Phần lớn số học sinh khi đọc sách hoặc nghe giảng trên lớp không biết cách tự ghi chép để lưu thôngtin, lưu kiến thức trọng tâm vào trí nhớ của mình Sử dụng thành thạo BĐTDtrong dạy học sẽ gúp học sinh có được phương pháp học, tăng tính độc lập, chủđộng, sáng tạo và phát triển tư duy

BĐTD - giúp học sinh học tập một cách tích cực Một số kết quả nghiêncứu cho thấy bộ não của con người sẽ hiểu sâu, nhớ lâu và in đậm cái mà dochính mình tự suy nghĩ, tự viết, vẽ ra theo ngôn ngữ của mình vì vậy việc sử dụngBĐTD giúp học sinh học tập một cách tích cực, huy động tối đa tiềm năng của

bộ não

II Phương pháp nhiên cứu

- Nghiên cứu lí luận

- Thực nghiệm sư phạm

- Dự giờ, tham khảo ý kiến đồng nghiệp

III Đối tượng nghiên cứu

- Môn ngữ văn 8

- HS lớp 8A1, 8A2 trường THCS Yên lãng

IV Thời gian nghiên cứu

Từ tháng 9 năm 2012 đến tháng 4 năm 2013

Trang 5

B NỘI DUNG

I Thực trạng của việc học văn hiện nay

- Nhà văn hoá lớn của nhân loại Lê-nin từng nói:"Văn học là nhân học" vậy

mà một thực trạng đáng lo ngại là học sinh bây giờ không còn thích học văn Thựctrạng này lâu nay đã được báo động Ban đầu chỉ đơn thuần là những lời than thởvới nhau của những người trực tiếp giảng dạy môn văn và nay đã trở thành vấn đềcủa báo chí và dư luận Ai đã trực tiếp dạy và chấm bài làm văn của học sinh trongnhững năm gần đây mới thấy cần thiết phải có những thay đổi về phương pháp dạyvăn và học văn hiện nay Qua công tác giảng dạy cũng như chấm trả các bài kiểmtra Ngữ văn, tôi nhận thấy có rất nhiều những biểu hiện thể hiện tâm lý chán họcvăn của học sinh , cụ thể là:

- Học sinh thờ ơ với Văn: Những năm gần đây, nhiều người quan tâm đếncông tác giáo dục không khỏi lo ngại trước một thực trạng, đó là tâm lý thờ ơ vớiviệc học văn ở các trường phổ thông Điều đáng buồn nhất cho các giáo viên dạyvăn là nhiều học sinh có năng khiếu văn cũng không muốn tham gia đội tuyển văn.Các em còn phải dành thời gian học các môn khác Phần lớn phụ huynh khi đãđịnh hướng cho con mình sẽ thi khối A thì chỉ chủ yếu chú trọng ba môn: Toán,

Lý, Hóa Điều đáng lo ngại hơn nữa, là có không ít phụ huynh đã chọn hướng chocon thi khối A từ khi học tiểu học Một bậc học mà học sinh còn đang được rènnói, viết, mới bắt đầu làm quen với những khái niệm về từ ngữ mà đã định hướngkhối A thì thật là nguy hại

- Khả năng trình bày: Khi HS tạo lập một văn bản giáo viên có thể dễ dàngnhận ra những lỗi sai cơ bản của học sinh như: dùng từ sai, viết câu sai, viết chính

tả sai, bố cục và lời văn hết sức lủng củng, thiếu logic Đặc biệt có những bài văndiễn đạt ngô nghê, tối nghĩa, lủng củng Đây là một tình trạng đã trở nên phổ biến

và thậm chí là đáng báo động trong xã hội ta

- Mục tiêu của bậc học phổ thông là đào tạo con người toàn diện, nhưngthực tế hiện nay cho thấy, các bộ môn khoa học xã hội thường bị học sinh xem

Trang 6

nhẹ, mặc dù kiến thức của các bộ môn này vô cùng quan trọng cho tất cả mọingười Muốn khôi phục sự quan tâm của xã hội đối với các bộ môn khoa học xãhội, không thể chỉ bằng biện pháp kêu gọi mà chúng ta phải tích cực đổi mớiphương pháp dạy học văn, khơi gợi lại hứng thú học văn của học sinh, hình thànhcho các em phương pháp học

II Nguyên nhân

a Đối với người dạy

- Đa số giáo viên đều có tình yêu nghề, mến trẻ, tận tụy với công tác giảngdạy, chăm lo quan tâm đến học sinh Tuy nhiên, vẫn còn những mặt hạn chế sau :

- Phương pháp giảng dạy chưa thực sự phù hợp với một bộ phận không nhỏhọc sinh yếu kém dẫn đến chất lượng chưa cao

- Do điều kiện khách quan nên việc sử dụng đồ dùng dạy học, phương pháptrực quan vào tiết học hạn chế, ảnh hưởng đến chất lượng tiếp thu bài của học sinh

- Một số giáo viên chưa thực sự tâm huyết với nghề, chưa khơi gợi đượcmạch nguồn cảm xúc ẩn sau mỗi trái tim người học

b Đối với học sinh

- Một số học sinh vì lười học, chán học mải chơi, hổng kiến thức nên khôngchuẩn bị tốt tâm thế cho giờ học Ngữ văn

- Đời sống văn hóa tinh thần ngày một nâng cao, một số nhu cầu giải trí nhưxem ti vi, chơi game ngày càng nhiều làm cho một số em chưa có ý thức học bịlôi cuốn, sao nhãng việc học tập

III Giải pháp

1 Bản chất phương pháp dạy học bằng bản đồ tư duy (BĐTD)

* Để sử dụng một cách có hiệu quả SĐTD trong quá trình dạy học, trướchết, ta cần nắm vững những tri thức về nó:

a Khái niệm

Trang 7

- Bản đồ tư duy hay còn gọi là Lược đồ tư duy, Bản đồ tư duy (Mind Map)

là phương pháp dạy học chú trọng đến cơ chế ghi nhớ, dạy cách học, cách tự họcnhằm tìm tòi, đào sâu, mở rộng một ý tưởng, hệ thống hóa một chủ đề hay mộtmạch kiến thức, bằng cách kết hợp việc sử dụng đồng thời hình ảnh, đường nét,màu sắc, chữ viết với sự tư duy tích cực Đặc biệt, đây là một dạng sơ đồ mở,không yêu cầu tỉ lệ, chi tiết chặt chẽ như bản đồ địa lí, các em có thể vẽ thêm hoặcbớt các nhánh, mỗi em có thể vẽ một kiểu khác nhau, dùng những màu sắc, hìnhảnh, chữ viết và các cụm từ diễn đạt khác nhau, Tuy cùng một chủ đề nhưng mỗi

em có thể “thể hiện” nó dưới dạng bản đồ tư duy theo cách riêng của mình Do đó,việc lập bản đồ tư duy phát huy tối đa khả năng sáng tạo của mỗi người

Trang 8

c Các bước thiết kế một BĐTD

Để thiết kế một BĐTD dù vẽ thủ công trên bảng, trên giấy , hay trên phầnmềm Mind Map, chúng ta đều thực hiện theo thứ tự các bước sau đây:

Bước 1: Bắt đầu từ trung tâm với từ, cụm từ thể hiện chủ đề (có thể vẽ hình

ảnh minh họa cho chủ đề - nếu hình dung được)

Bước 2: Từ hình ảnh trung tâm (chủ đề) chúng ta cần xác định: để làm rõ

chủ đề, thì ta đưa ra những ý chính nào Sau đó, ta phân chia ra những ý chính, đặttiêu đề các nhánh chính, nối chúng với trung tâm

Bước 3: Ở mỗi ý chính, ta lại xác định cần đưa ra những ý nhỏ nào để làm

rõ mỗi ý chính ấy Sau đó, nối chúng vào mỗi nhánh chính Cứ thế ta triển khaithành mạng lưới liên kết chặt chẽ

Bước 4: Cuối cùng, ta dùng hình ảnh (vẽ hoặc chèn) để minh họa cho các ý,

tạo tác động trực quan, dễ nhớ

*Lưu ý

Ảnh minh họa cấu tạo Sơ đồ tư duy

Trang 9

- Nên chọn hướng giấy ngang để khổ giấy rộng, thuận lợi cho việc vẽ cácnhánh con.

- Nên dùng các nét vẽ cong, mềm mại thay vì vẽ các đường thẳng để thu hút

sự chú ý của mắt, như vậy BĐTD sẽ lôi cuốn, hấp dẫn hơn

- Các nhánh càng ở gần trung tâm thì càng được tô đậm hơn, dày hơn

- Chú ý dùng màu sắc, đường nét hợp lý để vừa làm rõ các ý trong sơ đồđồng thời tạo sự cân đối, hài hòa cho sơ đồ

- Không ghi quá dài dòng, hoặc ghi những ý rời rạc, không cần thiết, nêndùng các từ, cụm từ một cách ngắn gọn

- Không dùng quá nhiều hình ảnh, nên chọn lọc những hình ảnh thật cầnthiết góp phần làm rõ các ý, chủ đề

- Có thể đánh số thứ tự ở các ý chính cùng cấp

- Không đầu tư quá nhiều thời gian vào việc “làm đẹp” sơ đồ bằng vẽ, viết,

tô màu

- Không vẽ quá chi tiết, cũng không vẽ quá sơ sài

- Người lập sơ đồ được phép vẽ và trang trí theo cách riêng của mình

d Quy trình tổ chức hoạt động vẽ BĐTD trên lớp

Hoạt động 1: Cho học sinh lập BĐTD theo nhóm hay cá nhân thông qua gợi

ý của giáo viên

Hoạt động 2: Học sinh hoặc đại diện của các nhóm học sinh lên báo cáo,

thuyết minh về BĐTD mà nhóm mình đã thiết lập

Hoạt động 3: Học sinh thảo luận, bổ sung, chỉnh sửa để hoàn thiện BĐTD

về kiến thức của bài học đó Giáo viên sẽ là người cố vấn, là trọng tài giúp họcsinh hoàn chỉnh BĐTD, từ đó dẫn dắt đến kiến thức của bài học

Hoạt động 4: Củng cố kiến thức bằng một BĐTD mà giáo viên đã chuẩn bị

sẵn hoặc một BĐTD mà cả lớp đã tham gia chỉnh sửa hoàn chỉnh, cho học sinh lêntrình bày, thuyết minh về kiến thức đó

Trang 10

e Những tiện ích của việc sử dụng Bản đồ tư duy trong dạy học Ngữ Văn

- Dạy học bằng BĐTD giúp học sinh có được phương pháp học hiệu quả.Chúng ta biết rằng việc rèn luyện phương pháp học tập cho HS không chỉ đơnthuần là một biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học mà còn là mục tiêu dạy học.Trong thực tế hiện nay, còn nhiều học sinh học tập một cách thụ động, chỉ đơnthuần là nhớ kiến thức một cách máy móc theo thói quen học vẹt, các em chưa có ýthức hoặc chưa biết rèn luyện kỹ năng tư duy Học sinh chỉ học bài nào biết bài ấy,nắm kiến thức một cách đơn lẻ, rời rạc, chưa biết tích hợp, liên hệ kiến thức vớinhau giữa các bài học, giữa các phân môn, vì vậy mà chưa phát triển được tư duylô-gic và tư duy hệ thống Do đó, dù các em học rất chăm chỉ nhưng vẫn học kém

Vì học phần sau đã quên phần trước, không biết vận dụng kiến thức đã học trước

đó vào những phần sau Lại có nhiều học sinh khi đọc sách hoặc nghe giảng trênlớp không biết cách tự ghi chép để lưu thông tin, hay kiến thức trọng tâm vào trínhớ của mình Bởi vậy, rèn kuyện cho các em có thói quen và kĩ năng sử dụngthành thạo BĐTD trong quá trình dạy học sẽ gúp học sinh có được phương pháphọc tốt, phát huy tính độc lập, chủ động, sáng tạo và phát triển tư duy

- BĐTD giúp học sinh học tập một cách tích cực Một số kết quả nghiêncứu của các nhà khoa học cho thấy bộ não của con người sẽ hiểu sâu, nhớ lâu và

in đậm cái mà do chính mình tự suy nghĩ, tự viết, vẽ ra theo ngôn ngữ của mình

Vì vậy sử dụng BĐTD giúp học sinh học tập một cách tích cực, huy động tối đatiềm năng của bộ não Việc học sinh trực tiếp vẽ SĐTD vừa lôi cuốn, hấp dẫn các

em, đồng thời còn phát triển khiếu thẩm mĩ, óc hội họa, bởi đó là “sản phẩm kiếnthức hội họa”do chính các em tự làm ra, lại vừa phát huy được tối đa khả năngsáng tạo của các em trong học tập, không rập khuôn một cách máy móc như khilập các bảng biểu, sơ đồ, vì các em dễ dàng vẽ thêm các nhánh để phát triển ýtưởng riêng của mình Vì thế, tạo một không khí sôi nổi, hào hứng, say mê cho họcsinh trong học tập Đây cũng là một trong những nội dung quan trọng của phongtrào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” mà Bộ GD&ĐTđang triển khai thực hiện

Trang 11

- Bản đồ tư duy chú trọng tới hình ảnh, màu sắc, với các mạng lưới liêntưởng (các nhánh) Do đó, chúng ta có thể vận dụng Bản đồ tư duy vào tất cả cáckhâu trong quá trình dạy học Từ khâu kiểm tra bài cũ, đến khâu dạy học kiến thứcmới, hay khâu củng cố kiến thức sau mỗi tiết học, rồi ôn tập hệ thống hóa kiếnthức sau mỗi chương, mỗi học kì, kể cả việc kiểm tra bài cũ, kiểm tra 15 phút

- Bản đồ tư duy, một công cụ có tính khả thi cao Ta có thể vận dụng đượcvới bất kì điều kiện cơ sở vật chất nào của các nhà trường hiện nay nói chung Bởi

vì ta có thể thiết kế Bản đồ tư duy trên giấy, bìa, tờ lịch cũ, bảng phụ,… bằng cách

sử dụng bút chì màu, phấn màu, tẩy…hoặc cũng có thể thiết kế trên phần mềm Sơ

đồ tư duy (Mind Map) Với trường THCS Yên Lãng đủ điều kiện về cơ sở vật chấtnhư Máy chiếu Projecto, phòng máy vi tính đảm bảo, thầy cô giáo sử dụng phầnmềm (Mind Map) để phục vụ cho việc dạy học có ứng dụng CNTT

Tóm lại, việc sử dụng Bản đồ tư duy trong quá trình dạy học sẽ giúp HS:

1 Tăng sự hứng thú trong học tập

2 Phát huy khả năng sáng tạo, năng lực tư duy của các em

3 Tiết kiệm thời gian rất nhiều

4 Nhìn thấy được bức tranh tổng thể

5 Ghi nhớ tốt hơn

6 Thể hiện phong cách cá nhân, dấu ấn riêng của mỗi em

2 Vận dụng BĐTD trong quá trình dạy học Ngữ văn

a Giáo viên sử dụng BĐTD để hỗ trợ quá trình dạy học

- Dùng BĐTD để dạy bài mới: Giáo viên đưa ra một từ khoá để nêu kiến

thức của bài mới rồi yêu cầu học sinh vẽ BĐTD bằng cách đặt câu hỏi, gợi ý chocác em để các em tìm ra các tự liên quan đến từ khoá đó và hoàn thiện BĐTD QuaBĐTD đó học sinh sẽ nắm được kiến thức bài học một cáhc dễ dàng

- Ví dụ 1: Với văn bản: Thầy bói xem voi (Môn Ngữ văn lớp 6), sau phần

đọc và tìm hiểu chung, giáo viên có thể vẽ mô hình BĐTD lên bảng BĐTD gồm 5

Trang 12

nhánh chính, ở mỗi nhánh có thể phân thành nhiều nhánh nhỏ tuỳ thuộc vào nộidung bài học.

Để có thể hoàn thiện được mô hình BĐTD của bài học, giáo viên sử dụng hệthồng câu hỏi định hướng để khai thác kiến thức:

+ Bố cục của văn bản: học sinh sẽ dựa vào văn bản để xác định các ý chính (Hoàn cảnh các thầy bói xem voi, cách xem voi, các thầy nhận xét về con voi, hậuquả.)

+ Tiếp tục hoàn thành các nhánh của BĐTD bằng hệ thống câu hỏi nhỏ cótính gợi mở (các thầy xem voi trong hoàn cảnh nào, cách xem voi của các thầy rasao, )

Sơ đồ minh hoạ

Bản đồ tư duy văn bản: Thầy bói xem voi - Ngữ văn 6

- Ví dụ 2: Khi học bài “ So sánh” ( Môn Ngữ văn lớp 6), đầu giờ giáo viên

cho từ khoá “ So sánh” rồi yêu cầu học sinh vẽ BĐTD bằng cách đặt câu hỏi gợi ýcho các em để các em có thể vẽ tiếp các nhánh con và bổ sung dần các ý nhỏ( nhánh con cấp 2, cấp 3…), sau khi các nhóm HS vẽ xong, cho một số em lêntrình bày trước lớp để các học sinh khác bổ sung ý Giáo viên kết luận qua đó giúpcác em tự chiếm lĩnh kiến thức một cách nhẹ nhàng, tự nhiên nhưng rất hiệu quả,đồng thời kích thích hứng thú học tập của học sinh

Ngày đăng: 09/06/2015, 22:38

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ minh hoạ - Sử dụng Bản đồ tư duy trong dạy học Ngữ văn
Sơ đồ minh hoạ (Trang 12)
Sơ đồ minh hoạ - Sử dụng Bản đồ tư duy trong dạy học Ngữ văn
Sơ đồ minh hoạ (Trang 13)
Sơ đồ minh hoạ - Sử dụng Bản đồ tư duy trong dạy học Ngữ văn
Sơ đồ minh hoạ (Trang 14)
Sơ đồ minh hoạ - Sử dụng Bản đồ tư duy trong dạy học Ngữ văn
Sơ đồ minh hoạ (Trang 15)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w