So với sản phụ có cân nặng bình thường trước khi mang thai thì những sản phụ béo phì có nguy cơ sẩy thai, đái tháo đường thai kì, tiền sản giật và các nguy cơ có hại đến kết cục của thai
Trang 1KHUYẾN CÁO VỀ BÉO PHÌ
4 Sv Trần Thi ̣ Thùy Trang
5 Sv Nguyễn Hồng Trung
6 Sv Hoàng Thanh Huyền
7 Sv Võ Trần Cát Tường
1 TỔNG QUAN
Béo phì là vấn đề sức khỏe thường gặp ở phụ nữ trong độ tuổi sinh sản Tình trạng này thường bị bỏ sót hoặc phớt lờ
do thiếu hụt các phương pháp điều trị cụ thể Tỷ lệ béo phì trên thế giới đã tăng đáng kể trong vài thập kỷ qua và tình trạng này được WHO xem là “dịch bệnh toàn cầu” ảnh hưởng đến sức khỏe của cộng đồng Năm 2014 ước tính trên thế giới có 38.9 triệu sản phụ thừa cân béo phì, trong đó có 14.6 triệu sản phụ béo phì [51] Tỷ lệ sản phụ béo phì ở Anh tăng mạnh từ 9% lên 16% trong giai đoạn
1999 đến 2004 [1] So với sản phụ có cân nặng bình thường trước khi mang thai thì những sản phụ béo phì có nguy cơ sẩy thai, đái tháo đường thai kì, tiền sản giật
và các nguy cơ có hại đến kết cục của thai nhi cao hơn Do đó việc hiểu rõ phương pháp quản lý béo phì trong thai
kì là cần thiết và nên được theo dõi từ trước khi mang thai cho đến sau khi sinh Béo phì thường được phân độ dựa vào chỉ số BMI (kg/m2) Theo WHO, béo phì được định nghĩa là BMI ≥ 30 kg/m2 Tuy nhiên hiện nay, để đáp ứng với đặc
Trang 2điểm từng vùng, WHO đã đưa ra một
tiêu chuẩn chẩn đoán béo phì áp dụng ở
người châu Á là BMI ≥ 25 kg/m2
Bảng 1: Phân loại béo phì cho người trưởng thành ở châu Á theo IDI & WPRO (Hiệp hội đái
đường các nước châu Á) và WHO Phân loại IDI & WPRO BMI (kg/m2) WHO BMI (kg/m2)
● Béo phì độ I: nguy cơ thấp
● Béo phì độ II: nguy cơ trung bình
● Béo phì độ III: nguy cơ cao
Sinh bệnh học
Quá trình mang thai của sản phụ
béo phì có nhiều sự khác biệt so với
người bình thường do gia tăng khối lượng
mô mỡ Mô mỡ có khả năng sản xuất
một lượng đáng kể các cytokines tiền
viêm như là TNF-α, IL6 và adipokine
hormones như leptin và adiponectin Sự tăng lên tương đối về kích thước và số lượng mô mỡ ở sản phụ béo phì dẫn tới rối loạn tiết các adipokines, acid béo tự
do và cytokines viêm Adiponectin được sản xuất duy nhất bởi tế bào mỡ, làm tăng nhạy cảm insulin, ức chế giải phóng glucose ở gan, bảo vệ hệ tim mạch chống lại các lipid lưu hành trong huyết tương
Sự thiếu hụt adiponectin làm gia tăng béo phì, tăng huyết áp, hoạt hóa tế bào nội mô và bệnh lý tim mạch Adiponectin
sẽ giảm khi có sự gia tăng khối lượng chất béo Ngược lại, các cytokine đề kháng
Trang 3insulin là leptin, TNF-α và IL-6 gia tăng
trong thai kỳ cùng với sự gia tăng số
lượng và phì đại mô mỡ ở sản phụ béo
phì Như vậy sự giảm adiponectin và tăng
leptin, TNF-α, IL-6 ở sản phụ béo phì gây
tình trạng đề kháng insulin
Nhau thai là một nguồn quan trọng
tiết leptin, TNF-α và IL-6 Nhau thai ở sản
phụ béo phì có sự xâm nhập đại thực bào
và tăng xuất hiện các chất gây viêm Tình
trạng này gia tăng sự tiếp xúc của thai nhi
với các chất gây viêm trong tử cung có
thể gây các nguy cơ xấu
Sự phát triển của thai nhi đòi hỏi sự
vận chuyển liên tục các chất dinh dưỡng
qua nhau thai Glucose là chất dinh
dưỡng chính cần thiết cho sự phát triển
của thai nhi, tiếp theo là amino acid và
lipid Có sự gia tăng nồng độ glucose
trong thai kỳ do đề kháng insulin và tăng
cortisol trong máu mẹ Ngoài ra, đề
kháng insulin dẫn tới tăng phân giải mô
mỡ, tăng nồng độ acid béo tự do và lipid
máu Những thay đổi trên dẫn tới tăng
vận chuyển glucose, lipid và acid béo tới
thai nhi
Một nghiên cứu gần đây cho thấy hoạt động của hệ thống vận chuyển acid amin A trong nhau thai có mối tương quan tích cực với cân nặng khi sinh Ở sản phụ béo phì, nồng độ IL-6 và TNF-α tăng lên trong nhau thai có thể kích thích hệ thống vận chuyển acid amin A hoạt động mạnh, do đó làm tăng acid amin vận chuyển đến thai nhi, góp phần vào sự phát triển quá mức của thai nhi trong thai kỳ béo phì
Thay đổi bánh nhau ở phụ nữ béo phì
Các thay đổi ở bánh nhau phụ nữ béo phì bao gồm: gia tăng số lượng tế bào, thay đổi chức năng mạch máu nhau thai và tổn thương viêm Bánh nhau có
sự giảm hiện tượng chết theo chương trình của tế bào do giảm marker Cytokeratin M30 do đó làm kích thước bánh nhau tăng quá mức Khi khảo sát
mô học bánh nhau ở các sản phụ béo phì, người ta tìm thấy nhiều tổn thương viêm hơn bình thường do tăng tiết cytokine viêm Ngoài ra sự dày lên của lớp cơ mạch máu làm giảm khả năng giãn mạch Chức năng mạch máu nhau thai bị thay đổi có thể ảnh hưởng xấu đến việc
Trang 4vận chuyển oxy và dinh dưỡng của nhau
thai và gây các nguy cơ cho thai nhi
2 ẢNH HƯỞNG CỦA BÉO PHÌ LÊN THAI
NGHÉN
Béo phì trong thai kỳ gây ra các ảnh
hưởng xấu cho mẹ và thai nhi trước,
trong và sau sinh
2.1 Ảnh hưởng cho mẹ
Khả năng sinh sản và thụ thai: so với
phụ nữ có chỉ số BMI bình thường, phụ
nữ béo phì có nhiều vấn đề về khả năng
sinh sản hơn, phần lớn liên quan đến rối
loạn rụng trứng và hội chứng buồng
trứng đa nang, dẫn đến yêu cầu các kỹ
thuật hỗ trợ sinh sản để mang thai Theo
một tổng quan hệ thống và phân tích
tổng hợp của 13 nghiên cứu, béo phì và
đề kháng insulin là nguyên nhân dẫn đến
kết quả điều trị kém ở phụ nữ vô sinh
không rụng trứng do rối loạn vùng dưới
đồi tuyến yên và sẩy thai tự nhiên tăng
gấp 3.05 lần ở phụ nữ béo phì so với phụ
nữ không béo phì [12]
Đái tháo đường thai kỳ (GDM -
Gestational diabetes): béo phì và đái tháo
đường thai kỳ có mối quan hệ chặt chẽ
với nhau Béo phì gây ra tình trạng đề
kháng insulin từ đó làm tăng nguy cơ đái tháo đường thai kỳ
Tiền sản giật: béo phì là một yếu tố
nguy cơ của tiền sản giật Trong một đánh giá của các nghiên cứu bao gồm hơn 1.4 triệu phụ nữ, OhèBrien và cộng
sự (2003) đã phát hiện ra rằng nguy cơ tiền sản giật tăng gấp đôi với mỗi lần tăng BMI lên 5 đến 7 kg/m2
Huyết khối tĩnh mạch: có một mối
liên quan đáng kể giữa BMI và nguy cơ huyết khối tĩnh mạch (VTE - Venous Thromboembolism) Tại Anh, 57% sản phụ bị béo phì tử vong vì VTE [2] Theo UKOSS, chỉ số BMI ≥ 30 làm tăng nguy cơ thuyên tắc phổi do huyết khối trước sinh lên 2.65 lần [3] Nguy cơ huyết khối còn liên quan đến giảm khả năng vận động, các bệnh đồng mắc như tiền sản giật, các yếu tố đông máu VIII và IX tăng cao [4]
Chuyển dạ và sinh con: các nghiên
cứu quan sát đã chỉ ra rằng béo phì làm tăng tỷ lệ biến chứng trong chuyển
dạ Chuyển dạ pha tích cực kéo dài hơn ở những phụ nữ béo phì so với những người có chỉ số BMI ≤ 26 (trung bình 7.9
giờ so với 6.2 giờ, P < 0.001) [5] Những
Trang 5dữ liệu này cho thấy béo phì làm giảm
hoạt động tử cung trong chuyển dạ
Gây tê: sản phụ béo phì có nguy cơ
chuyển dạ bất thường và sinh mổ, do đó
tăng chỉ định gây tê và các biến chứng
liên quan đến gây tê Sản phụ béo phì có
tỷ lệ gây tê ngoài màng cứng thất bại cao
hơn so với phụ nữ có BMI < 25 [6], có
nguy cơ sặc khi gây mê toàn thân do tăng
thể tích dạ dày, đặt nội khí quản
khó, giảm hiệu quả gây tê vùng, xẹp phổi
và nguy cơ thiếu oxy máu sau phẫu thuật
[7] Phụ nữ béo phì có nhiều khả năng
mắc các bệnh đồng mắc như tăng huyết
áp, bệnh tim thiếu máu cục bộ và suy
tim, do đó làm tăng nguy cơ liên quan
đến gây tê
Biến chứng sau sinh: sản phụ béo
phì có nguy cơ cao băng huyết sau sinh,
một số nghiên cứu cũng cho thấy tăng tỷ
lệ nhiễm trùng đường sinh dục, tiết niệu
và nhiễm trùng vết thương [8][9] Béo phì
của mẹ có liên quan đến việc giảm tỷ lệ
cho con bú, làm chậm thời điểm bú sữa
đầu và thời gian cho con bú bị rút ngắn
[10] Lý do có thể do thể trạng béo phì
gây khó khăn cho việc đặt tư thế đúng
khi cho con bú, các vấn đề tâm lý xã hội
hoặc nội tiết như phản ứng prolactin thấp hơn khi cho con bú [11]
Tử vong mẹ: béo phì làm tăng nguy
cơ tử vong mẹ Tử vong ở phụ nữ béo phì
có liên quan đến nhiều nguyên nhân trực tiếp và gián tiếp, ví dụ như tiền sản giật
và tắc mạch phổi
2.2 Ảnh hưởng cho thai nhi và trẻ sơ sinh
Thai lưu: béo phì làm tăng nguy cơ
thai lưu Tăng huyết áp mãn tính và tiền sản giật liên quan đến béo phì là một trong những nguyên nhân làm tăng nguy
cơ thai chết lưu Một nghiên cứu của Scotland với hơn 186,000 sản phụ báo cáo tỷ lệ thai lưu tăng gấp 4 lần ở phụ nữ
có BMI ≥ 35 so với phụ nữ bình thường
Dị tật bẩm sinh: nguy cơ dị tật cho
thai nhi tăng ở thai phụ béo phì Một số nghiên cứu đã cho thấy nguy cơ mắc bệnh gai đôi cột sống, dị tật ống thần kinh và dị tật tim ở trẻ sơ sinh có mẹ béo phì tăng gấp ba lần [13][14] Một số nghiên cứu tương tự đã xác nhận mối liên quan giữa béo phì ở mẹ và tật nứt đốt sống, khuyết tật tim, viêm hậu môn trực tràng, khuyết tật giảm chi và thoát vị hoành
Trang 6Thai to: tình trạng béo phì của mẹ
làm tăng nguy cơ thai to (đây là yếu tố
nguy cơ cần được chỉ định sinh mổ),
điểm Apgar thấp và pH động mạch rốn
thấp cũng như đẻ khó do vai và tổn thương đáng kể cho em bé như gãy xương và liệt dây thần kinh
Bảng 2: Những ảnh hưởng bất lợi lên thai kỳ ở sản phụ thừa cân béo phì
Các ảnh hưởng
Tỷ lệ gặp ở Sản phụ có BMI bình thường (%)
(20 - 24.9)
n = 176,923
Biến chứng tăng lên (lần)
Sản phụ thừa cân BMI 25 - 29.9
n = 79,014
Sản phụ béo phì BMI > 30
Trang 73 CÂN NHẮC VÀ KHUYẾN CÁO LÂM SÀNG
3.1 Giai đoạn trước sinh
3.1.1 Mức tăng cân phù hợp
Khuyến cáo tăng cân nhằm mục
đích tối ưu hóa kết quả cuối cùng cho
thai phụ và trẻ sơ sinh Tại thời điểm
khám thai đầu tiên, cân nặng và chiều
cao trước khi mang thai nên được khai
thác ở tất cả phụ nữ để tính BMI, nếu
không biết có thể dựa vào cân nặng và
chiều cao hiện tại BMI tại thời điểm
khám thai đầu tiên được sử dụng để đưa
ra lời khuyên về chế độ ăn và bài tập
theo khuyến cáo của Viện Y học Hoa Kỳ
(IOM) về tăng cân trong thai kỳ
Bảng 3: Mức tăng cân trong thai kì
theo khuyến cáo của IOM
Phân độ (kg/m2) Mức tăng cân (kg)
trở lên IOM cũng không khuyến cáo mục
tiêu tăng cân thấp hơn Tăng cân dưới mức IOM khuyến cáo trong nhóm thai phụ thừa cân có nhiều ảnh hưởng tới sự phát triển của thai nhi và kết cục của trẻ
sơ sinh Trong những thai phụ béo phì nghiêm trọng (BMI > 35) giảm cân hoặc hạn chế tăng cân trong thai kỳ, nguy cơ trẻ sinh ra nhỏ hơn so với tuổi thai (SGA - Small for gestational age) tỷ lệ nghịch với những lợi ích nhận được như là giảm tỷ lệ sinh mổ, giảm nguy cơ thai lớn hơn so với tuổi thai và duy trì cân nặng sau sinh Một nghiên cứu sử dụng dữ liệu từ hệ thống giám sát dinh dưỡng thai kì của Trung tâm dự phòng và kiểm soát dịch bệnh (CDC) đã đánh giá mối liên quan của tăng cân trong thai kỳ và tỷ lệ mắc phải SGA khi sinh so với mức độ béo phì Đối với thai phụ béo phì mức độ I, không tăng hoặc giảm 4.9 kg có liên quan đến tăng nguy cơ SGA (OR hiệu chỉnh, 1.2; 95% CI, 1.24–2.12) Một nghiên cứu sau này về tăng cân không đầy đủ (tăng dưới 5kg) so với tăng hơn 5 kg ở thai phụ thừa cân và béo phì cũng cho thấy kết quả tương tự Trẻ sơ sinh có mẹ tăng dưới 5kg so với tăng trên 5kg có khả năng bị SGA cao hơn (9.6% so với 4.9%) (OR hiệu
Trang 8chỉnh, 2.6; 95% CI, 1.4–4.7; P = 0.003),
cân nặng lúc sinh thấp hơn, ngắn hơn, tỷ
lệ mỡ và nạc thấp hơn, chu vi vòng đầu
nhỏ hơn [15] Tóm lại, tăng cân không đủ
hoặc giảm cân trong thai kỳ không được
khuyến khích đối với thai phụ béo phì
3.1.2 Chẩn đoán dị tật bẩm sinh trước
sinh
Phụ nữ béo phì tăng nguy cơ dị tật
bẩm sinh cho thai nhi [16] Tuy nhiên,
việc phát hiện bất thường bẩm sinh trên
siêu âm lại giảm đáng kể (ít nhất 20%) khi
BMI của thai phụ tăng lên (P < 0.001)
(Bảng 4) Thai phụ béo phì nên được tư
vấn về những hạn chế của siêu âm khi
xác định các bất thường cấu trúc thai nhi
Một nghiên cứu đoàn hệ hồi cứu đã
kiểm tra hình ảnh siêu âm cho phụ nữ
mang thai 18 - 24 tuần đã từng được siêu
âm chuẩn hoặc siêu âm đích Trong đó,
để tối ưu hóa chất lượng hình ảnh có thể
sử dụng siêu âm đường âm đạo trong 3
tháng đầu thai kỳ hay sử dụng đường rốn
của mẹ như một cửa sổ siêu âm, cũng
như siêu âm hòa âm mô [17] Trong thử
nghiệm phân tích ảnh hưởng của BMI lên
siêu âm phát hiện nguy cơ bất thường
NST ở quý I và quý II thai cho thấy chỉ các hình ảnh tăng nếp gấp da gáy, tăng hồi
âm ruột, tăng hồi âm tim không bị thay đổi bởi BMI Tỷ lệ phát hiện dị tật tim trên thai phụ BMI < 25 cao hơn (21.6%)
so với thai phụ béo phì (8.3%), tương ứng với tỷ lệ dương tính giả lần lượt là (78.4%) và (91.7%) Mẹ béo phì cũng ảnh hưởng tới các xét nghiệm huyết thanh vì thể tích huyết tương tăng Mặc dù việc điều chỉnh theo cân nặng cải thiện phát hiện dị tật ống thần kinh và tam bội NST
số 18 nhưng không cải thiện phát hiện hội chứng Down [18] Ngoài ra, MRI tốt hơn siêu âm nhưng giá thành cao và không có sẵn nên không được khuyến cáo dùng để sàng lọc định kỳ
3.1.3 Hội chứng chuyển hóa thai kỳ
Phụ nữ béo phì tăng nguy cơ mắc hội chứng chuyển hóa Tăng đề kháng insulin trong thai kỳ có thể làm nặng thêm các hội chứng chuyển hóa tim mạch đã tồn tại trước đó nhưng không
có biểu hiện lâm sàng trở thành tiền sản giật, đái tháo đường thai kỳ, ngưng thở khi ngủ do tắc nghẽn (OSA - Obstructive Sleep Apnea) [19] Những biến chứng này
có liên quan tới kết cục bất lợi cho thai kỳ
Trang 9[20-21] Thai phụ béo phì nên được sàng
lọc rối loạn dung nạp glucose và OSA
trong lần khám thai đầu tiên Phụ nữ nghi
ngờ OSA (ngủ ngáy, buồn ngủ quá mức
trong ngày, khó thở rõ, hay hạ oxy máu
không giải thích được) nên được chuyên
gia nội khoa về giấc ngủ đánh giá và điều
trị [22] So với phụ nữ không mắc OSA,
phụ nữ mắc OSA có khả năng cao hơn bị
tiền sản giật (OR hiệu chỉnh 2.5; 95% CI,
2.2–2.9), sản giật (OR, 5.4; 95% CI, 3.3–
8.9), bệnh cơ tim, tắc mạch phổi (OR hiệu
chỉnh, 4.5; 95% CI, 2.3–8.9) và tử vong
nội viện (OR hiệu chỉnh, 5.28; 95% CI,
2.45–11.53) [23]
Tất cả thai phụ nên sàng lọc đái
tháo đường thai kỳ dựa vào tiền sử nội
khoa, các yếu tố nguy cơ trên lâm sàng
hay kết quả cận lâm sàng để xác định
mức độ glucose máu Nhìn chung, sàng lọc định kỳ được thực hiện lúc 24 – 28 tuần tuổi thai Ở những sản phụ có yếu
tố nguy cơ, bao gồm BMI mẹ từ 30 trở lên, rối loạn chuyển hóa glucose đã biết hoặc tiền sử đái tháo đường thai kỳ nên được sàng lọc sớm rối loạn glucose máu, nếu âm tính, xét nghiệm lại vào tuần 24 -
28 của thai kỳ
3.1.4 Thai lưu và theo dõi thai trước sinh
Béo phì thai nghén làm tăng nguy
cơ sẩy thai sớm và thai lưu Tuy nhiên, mặc dù tỷ lệ thai chết lưu cao hơn ở phụ
nữ béo phì, nhưng không có bằng chứng giám sát trước sinh làm cải thiện rõ rệt kết cục thai kỳ, và không thể đưa ra khuyến cáo hoặc bác bỏ giám sát thai nhi định kỳ ở phụ nữ mang thai béo phì
Bảng 4: So sánh phát hiện bất thường thai nhi bằng siêu âm chuẩn và siêu âm đích
Trang 103.2 Giai đoạn chuyển dạ
3.2.1 Các thay đổi trong quá trình chuyển
dạ
Nhiều báo cáo cho thấy nguy cơ
mổ lấy thai ở những phụ nữ thừa cân béo
phì cao hơn so với những phụ nữ có cân
nặng bình thường Một phân tích tổng
hợp chỉ ra rằng OR không hiệu chỉnh của
chỉ định mổ lấy thai là 1.46 (95% CI,
1.34–1.60), 2.05 (95% CI, 1.86–2.27) và
2.89 (95% CI, 2.28–3.79) lần lượt ở
những phụ nữ thừa cân, béo phì, béo phì
độ III khi so sánh với những phụ nữ có
cân nặng bình thường [24] Tình trạng
béo phì đơn độc ở mẹ không phải là chỉ
định của khởi phát chuyển dạ [25] Tuy
nhiên, những phụ nữ béo phì tăng nguy
cơ thai già tháng và tăng tỷ lệ khởi phát
chuyển dạ [26] Quá trình chuyển dạ kéo
dài hơn ở những sản phụ có BMI tăng,
đặc biệt ở sản phụ chưa từng sinh đẻ
Trong một nghiên cứu cho thấy thời gian
trung bình của chuyển dạ pha tích cực
dài hơn đối với những sản phụ thừa cân
béo phì [27] Một nghiên cứu khác chỉ ra
BMI mẹ tăng không có ảnh hưởng gì đến
giai đoạn 2 của chuyển dạ [28] Do vậy,
có thể chấp nhận thời gian chuyển dạ giai
đoạn 1 dài hơn trước khi quyết định mổ lấy thai ở sản phụ béo phì Sản phụ có BMI càng cao thì tỷ lệ thành công của sinh ngả âm đạo trên một trường hợp có vết mổ lấy thai cũ (VBAC - Vaginal Birth After Cesarean) càng thấp (bảng 5) Khi
so sánh với nhóm phụ nữ có cân nặng bình thường, phụ nữ béo phì độ III có nguy cơ cao bị băng huyết sau sinh khi sinh thường (5.2%) nhưng không tăng khi
mổ lấy thai [29]
Bảng 5: Tỷ lệ thành công của sinh ngả âm đạo trên một trường hợp có vết mổ lấy thai cũ theo BMI
3.2.2 Những chỉ định cân nhắc trong và sau mổ lấy thai
Phụ nữ nên được tư vấn lợi ích của giảm cân giữa các lần mang thai như
Trang 11giảm nguy cơ chết non, biến chứng tăng
huyết áp, thai to và tăng cơ hội sinh
đường âm đạo thành công sau sinh mổ
trước đó
Sản phụ béo phì hay gặp những
biến chứng liên quan đến gây tê, tăng
nguy cơ diễn biến phức tạp và khẩn cấp
khi mổ lấy thai Vì những lí do này, các
sản phụ béo phì nên có sự tư vấn về gây
tê trước sinh để trang bị sẵn sàng các
thiết bị kiểm soát huyết áp, đường
truyền tĩnh mạch và kiểm soát tình trạng
ngưng thở khi ngủ [30][31] Nên tư vấn
về các lợi ích và nguy cơ của gây tê cho
các bà mẹ béo phì mang thai với OSA, vì
họ có nguy cơ cao giảm O2 máu, tăng
CO2 máu và đột tử
3.2.2.1 Phương pháp vô cảm
Việc sử dụng gây tê ngoài màng
cứng hay gây tê tủy sống để giảm đau
trong lúc sinh được đề nghị, nhưng có
thể sẽ gặp khó khăn về mặt kĩ thuật vì
khó xác định điểm gây tê do thể trạng
Gây tê ngoài màng cứng có nguy cơ thất
bại cao hơn ở các sản phụ béo phì so với
những sản phụ có cân nặng bình thường
hoặc thừa cân [32]; vì vậy nên cân nhắc
đặt catheter gây tê ngoài màng cứng trước sinh, sau khi đã thảo luận các lợi ích và nguy cơ có thể xảy ra với bệnh nhân Đặt catheter gây tê ngoài màng cứng có thể rút ngắn thời gian gây tê trong trường hợp mổ đẻ khẩn cấp Ngoài
ra, phụ nữ mang thai béo phì độ III thường bị hạ huyết áp và tình trạng nhịp tim thai giảm kéo dài Sự kết hợp của gây
tê ngoài màng cứng và béo phì làm giảm chức năng hô hấp một cách rõ rệt, có khi kéo dài đến 2 giờ sau mổ
Gây mê toàn thân có thể gây nguy
cơ cho sản phụ béo phì vì khó khăn khi luồn ống nội khí quản do tình trạng các
tổ chức bị che lấp và phù nề niêm mạc Không có chống chỉ định gây mê toàn thân trên sản phụ béo phì, nhưng cần cân nhắc cho sản phụ thở O2 dự phòng, đặt tư thế đúng và trang bị sẵn những dụng cụ cần thiết cho đặt nội khí quản
3.2.2.2 Kháng sinh
Sử dụng dự phòng với kháng sinh phổ rộng được cân nhắc cho mọi trường hợp mổ lấy thai, trừ khi sản phụ đã được chỉ định kháng sinh trước đó như viêm màng não Đối với những sản phụ béo