1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Văn hóa ứng xử của các nhân vật nữ trong truyện nôm bác học cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX

93 185 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 1,38 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NGUYỄN THỊ THANH NHỤY VĂN HÓA ỨNG XỬ CỦA CÁC NHÂN VẬT NỮ CHÍNH TRONG HAI TRUYỆN NÔM BÁC HỌC TIÊU BIỂU CUỐI THẾ KỶ XVIII ĐẦU THẾ KỶ XIX Chuyên ngành: Văn học Việt Nam Mã số: 8220121 L

Trang 1

NGUYỄN THỊ THANH NHỤY

VĂN HÓA ỨNG XỬ CỦA CÁC NHÂN VẬT NỮ TRONG TRUYỆN NÔM BÁC HỌC CUỐI THẾ KỶ XVIII ĐẦU THẾ KỶ XIX

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HÓA VÀ VĂN HỌC VIỆT NAM

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Mã số: 8220121

Thái Nguyên – 2018

Trang 2

NGUYỄN THỊ THANH NHỤY

VĂN HÓA ỨNG XỬ CỦA CÁC NHÂN VẬT NỮ CHÍNH TRONG HAI TRUYỆN NÔM BÁC HỌC TIÊU BIỂU CUỐI THẾ KỶ XVIII

ĐẦU THẾ KỶ XIX

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Mã số: 8220121

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HÓA VÀ VĂN HỌC VIỆT NAM

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS DƯƠNG THU HẰNG

Thái Nguyên – 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu trích dẫn đều có nguồn gốc rõ ràng Các kết quả nghiên cứu trong luận văn đều trung thực và chưa từng được công bố ở bất kỳ công trình nào khác

Thái Nguyên, tháng 4 năm 2018

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Thanh Nhụy

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn thạc sĩ này, tác giả xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, Khoa Sau đại học, Trường Đại học Khoa học, Đại học Thái Nguyên và các Thầy, Cô giáo đã trực tiếp giảng dạy, giúp đỡ trong suốt quá trình học tập

Đặc biệt, tác giả xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới giảng viên hướng dẫn PGS TS Dương Thu Hằng đã luôn tận tình hướng dẫn, chỉ bảo trong suốt thời gian tác giả nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Cuối cùng, xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, người thân, bạn bè và đã giúp đỡ, động viên, tạo điều kiện để tác giả hoàn thành luận văn

Thái Nguyên, tháng 4 năm 2018

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Thanh Nhụy

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

3.1 Đối tượng nghiên cứu 4

3.2 Phạm vi nghiên cứu 4

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4

4.1 Mục đích nghiên cứu 4

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 4

5 Phương pháp nghiên cứu 5

6 Cấu trúc của luận văn 6

7 Đóng góp của đề tài 6

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 7

1.1 Một số khái niệm và thuật ngữ liên quan 7

1.1.1 Khái niệm văn hóa 7

1.1.2 Khái niệm văn hóa ứng xử 9

1.2 Văn hóa ứng xử của người Việt dưới ảnh hưởng của Đạo giáo, Phật giáo, Nho giáo 10

1.2.1 Văn hóa truyền thống của người Việt 10

1.2.1 Văn hóa ứng xử người Việt dưới sự ảnh hưởng của Phật giáo, Đạo giáo, Nho giáo 12

1.3 Khái niệm về giới 18

1.3.1 Quan điểm văn hoá về nữ giới ở Việt Nam thời trung đại 19

1.3.2 Nữ giới trong văn học viết Việt Nam thế kỷ XVIII – XIX 26

1.4 Khái quát về tác giả, tác phẩm 30

1.4.1 Phạm Thái và tác phẩm Sơ Kính Tân Trang 30

1.4.2 Nguyễn Du và tác phẩm Truyện Kiều 32

Trang 6

CHƯƠNG 2 : VĂN HÓA ỨNG XỬ TRONG TÌNH YÊU CỦA NHÂN VẬT NỮ CHÍNH TRONG HAI TRUYỆN NÔM BÁC HỌC TIÊU BIỂU CUỐI TK XVIII ĐẦU THẾ KỶ XIX 36 2.1 Tình yêu chủ động, chân thành, mạnh mẽ 36 2.1 1 Tình yêu chủ động, chân thành, mạnh mẽ của nhân vật Quỳnh Thư trong

Sơ kính tân trang 37 2.1.2 Tình yêu chủ động, chân thành, mạnh mẽ của nhân vật Thúy Kiều trong Truyện Kiều 41 2.2 Tình yêu thủy chung, son sắt của nhân vật nữ chính 47 2.2.1 Tình yêu thủy chung của Quỳnh Thư trong Sơ kính tân trang 47 2.2.2 Tình yêu thủy chung son sắt của nhân vật Thúy Kiều trong Truyện Kiều 52 CHƯƠNG 3 : VĂN HÓA ỨNG XỬ TRONG GIA ĐÌNH VÀ XÃ HỘI CỦA NHÂN VẬT NỮ CHÍNH TRONG HAI TRUYỆN NÔM BÁC HỌC TIÊU BIỂU CUỐI TK XVIII ĐẦU THẾ KỶ XIX 61 3.1 Văn hóa ứng xử đề cao chữ hiếu 61 3.1.1 Văn hóa ứng xử đề cao chữ hiếu của nhân vật Quỳnh Thư trong Sơ kính tân trang 62 3.1.2 Văn hóa ứng xử đề cao chữ hiếu của nhân vật Thúy Kiều trong Truyện Kiều 64 3.2 Văn hóa ứng xử đề cao chữ tâm trong ứng xử xã hội của nhân vật nữ trong truyện nôm bác học 70 3.2.1 Văn hóa ứng xử đề cao chữ tâm trong các mối quan hệ xã hội của nhân vật Quỳnh Thư trong Sơ kính tân trang 71 3.2.2 Văn hóa ứng xử đề cao chữ tâm trong các mối quan hệ xã hội của nhân vật Thúy Kiều trong Truyện Kiều 74 KẾT LUẬN 83 TÀI LIỆU THAM KHẢO 85

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Mỗi quốc gia, dân tộc trên thế giới, văn hóa luôn là một trong lĩnh vực được quan tâm hàng đầu Bởi, văn hóa biểu hiện sức sống, sức sáng tạo, sức mạnh tiềm tàng và vị thế, tầm vóc dân tộc Một trong những yếu tố của lĩnh vực văn hóa đó là văn hóa ứng

xử Văn hoá ứng xử của người Việt đã được hình thành, vận động và biến đổi trong suốt thời gian 4000 năm dựng nước và giữ nước Nét đẹp trong văn hoá ứng xử được cha ông

ta lưu truyền lại từ đời này sang đời khác Ngày nay, mặc dù xã hội đã có nhiều thay đổi nhưng văn hóa ứng xử vẫn giữ vai trò đặc biết quan trọng Nó tạo nên các mối quan hệ tốt đẹp có văn hóa, có đạo đức trong cộng đồng dân cư, trong tình bạn, trong tình yêu, trong gia đình, …

Hiện nay, do sự biến động của xã hội, văn hóa ứng xử đã bị xem nhẹ, có biểu hiện sa sút Một số thành phần trong xã hội có lối sống, lối suy nghĩ, ứng xử thiếu văn hóa đi ngược lại truyền thống văn hóa và bản sắc văn hóa tốt đẹp của người Việt Vì vậy, nghiên cứu văn hóa ứng xử trong văn hóa truyền thống là một trong những cách

“ôn cố tri tân” để có thể học tập những nét ứng xử của cổ nhân Từ đó, lưu giữ và phát huy lối ứng xử tinh tế của cha ông từ ngàn xưa và loại bỏ lối ứng xử thiếu văn hóa

Con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội và văn hóa ứng xử thể hiện bản chất con người Trong lịch sử phát triển của văn học dân tộc, truyện Nôm – đặc biệt là truyện Nôm bác học – chiếm một vị trí vô cùng quan trọng Nó đánh dấu sự phát triển đến đỉnh cao của văn học quốc âm nói riêng và văn học trung đại Việt Nam nói chung Truyện Nôm bác học phát triển nở rộ vào cuối thế kỉ XVIII – đầu thế kỉ XIX, trong đó

phải kể đến những tác phẩm tiêu biểu có giá trị như Sơ kính tân trang (Phạm Thái) và Truyện Kiều (Nguyễn Du)

Văn hóa ứng xử của các nhân vật nữ trong truyện Nôm bác học Hoa tiên kí,

Sơ kính tân trang và Truyện Kiều vừa mang những đặc điểm chung của văn hóa ứng

xử truyền thống của người Việt Nam, vừa có những nét riêng độc đáo của từng nhân vật, trong từng tác phẩm Tạo nên sự riêng biệt của các nhân vật nữ phải kể đến nét độc đáo trong nghệ thuật xây dựng nhân vật của mỗi tác giả, văn hóa ứng xử của các nhân vật là một yếu tố quan trọng tạo nên sự độc đáo ấy Văn hóa ứng xử của các

Trang 8

nhân vật là phương thức biểu hiện đậm nét nét tâm lý, cá tính đặc trưng của nhân vật

đó,

Nghiên cứu về văn hóa ứng xử của các nhân vật nữ trong truyện Nôn bác học,

đặc biệt là văn hóa ứng xử của nhân vật Thúy Kiều trong Truyện Kiều không phải vấn

đề mới, tuy nhiên việc nhìn nhận, đánh giá nó trong sự phát triển thể loại truyện Nôm, qua hệ thống các nhân vật nữ trong một số truyện Nôm bác học tiêu biểu, trong tổng thể văn hóa dân tộc là vấn đề chưa được đặt ra trong bất kì công trình nghiên cứu nào Việc nhìn nhận trong dòng chảy văn học, tổng thể văn hóa ấy mới giúp người đọc thấy hết được vai trò, ý nghĩa và tài năng kiệt xuất của các tác giả trong xây dựng hình tượng nhân vật

Lựa chọn đề tài Văn hóa ứng xử của các nhân vật nữ trong truyện Nôm bác học cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX, chúng tôi hi vọng có thể góp thêm một góc nhìn

mới trong việc học tập và nghiên cứu một số tác phẩm truyện Nôm bác học tiêu biểu cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX

2 Lịch sử vấn đề

Là một trong những lĩnh vực rất được quan tâm, vì vậy đã có rất nhiều công trình

nghiên cứu văn hóa, trong đó có thể kể đến các công trình tiêu biểu như; “Việt Nam văn hóa sử cương” in lần đầu tiên năm 1938 được ấn hành bởi Quan Hải Tùng Thư Ngoài

ra, còn rất nhiều công trình nghiên cứu khác như: “Cơ sở văn hóa Việt Nam” của Trần Ngọc Thêm, “Bản sắc văn hóa Việt Nam” của Phan Ngọc, “Văn hóa dân gian Việt Nam trong bối cảnh văn hóa Đông Nam Á” của Đinh Gia Khánh, “Văn hóa Việt Nam đỉnh cao Đại Việt” của Nguyễn Đăng Duy, “Văn hóa gia đình Việt Nam” của Vũ Gia

Khánh…

Về vấn đề văn hóa ứng xử cũng có rất nhiều các công trình đã nghiên cứu như:

“Ứng xử trong gia đình” của Thanh Tâm, “Văn hóa giao tiếp” của Phạm Vũ Dũng, “Văn hóa ứng xử các dân tộc Việt Nam” của Lê Như Hoa chủ biên, “Nghệ thuật ứng xử của người Việt” của Phan Minh Thảo, “Văn hóa ứng xử của người Việt” của La Văn Quán…

Trang 9

Những công trình nghiên cứu trên đã cho thấy văn hóa ứng xử của con người và tầm quan trọng của nó Tuy nhiên, chưa có công trình nào đi sâu tìm hiểu về văn hóa ứng xử của người phụ nữ qua văn học

Gần đây, đã có khá nhiều luận văn quan tâm tới vấn đề văn hóa ứng xử của con người trong văn học.Trong đó, chúng tôi quan tâm tới một số đề tài nghiên cứu khoa học sau:

“Thế ứng xử xã hội cổ truyền của người Việt châu thổ Bắc Bộ qua một số ca dao

- tục ngữ” của Trần Thúy Anh, giảng viên trường Đại học khoa học xã hội và nhân văn

Hà Nội Tác giả đã đi nghiên cứu văn hóa ứng xử cổ truyền của người Việt ở châu thổ Bắc Bộ thông qua ca dao và tục ngữ, từ đó thấy được những nét sinh động trong văn hóa ứng xử của họ

“Văn hóa ứng xử người Việt trong truyện thơ Nôm” của Triệu Thùy Dương, Đại

học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh Tác giả nghiên cứu văn hóa ứng xử của người Việt qua một số truyện thơ Nôm tiêu biểu thế kỷ XVIII – XIX từ đó tìm ra ảnh hưởng của thế ứng xử với tư cách là quan niệm sống, lối sống, nếp sống, lối hành động của một cộng đồng người trong thực tế đời sống đến văn học

“Văn hóa ứng xử trong thơ chữ Hán của Nguyễn Du” của Cao Thị Liên Hương,

Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh Luận văn nghiên cứu tìm hiểu văn hóa ứng

xử, những nét cư xử trong cuộc sống hàng ngày của ông cha ta đã đi vào thơ chữ Hán của Nguyễn Du

Những đề tài khoa học trên đã nghiên cứu rất sâu sắc về văn hóa ứng xử của người Việt được thể hiện trong văn chương Tuy nhiên, các công trình khoa học này chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu về văn hóa ứng xử của các nhân vật nữ trong truyện Nôm bác học giai đoạn cuối thế kỉ XVIII- đầu thế kỉ XIX trong mối quan hệ với bản thân, gia đình, bạn bè và cộng đồng, xã hội

Nghiên cứu văn hóa ứng xử của các nhân vật nữ trong truyện Nôm bác học giai đoạn cuối thế kỉ XVIII- đầu thế kỉ XIX để thấy được sự phát triển đến đỉnh cao của thể loại truyện Nôm bác học, tài năng của các tác giả và đặc biệt là sự phát triển trong quan niệm và cách nhìn nhận về con người đặc biệt là người phụ nữ

Trang 10

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Thực hiện luận văn này, chúng tôi tập trung tìm hiểu văn hóa ứng xử của các nhân vật nữ chính trong hai truyện Nôm bác học tiêu biểu Trong khuôn khổ của luận văn, chúng tôi lựa chọn nghiên cứu các nhân vật nữ là: Trương Quỳnh Thư – Thụy

Châu trong Sơ kính tân trang của Phạm Thái và Thúy Kiều trong Truyện Kiều của

Nguyễn Du

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của luận văn là văn hóa ứng xử của các nhân vật nữ chính

trong một số truyện Nôm tiêu biểu: Trương Quỳnh Thư – Thụy Châu trong Sơ kính tân trang của Phạm Thái và Thúy Kiều trong Truyện Kiều của Nguyễn Du

Chúng tôi sử dụng các văn bản tác phẩm trong: Sơ kính tân trang (Phạm Thái, Hoàng Hữu Yên hiệu đính và chú giải, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2002), Truyện Kiều (Nguyễn Du, Ban văn bản Hội Kiều học Việt Nam hiệu khảo, chú giải, Nxb Trẻ,

2015) để khảo sát nghiên cứu cùng với các tài liệu tham khảo có liên quan đến đề tài

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tế liên quan đến đề tài

- Phân tích chỉ rõ những nét đặc sắc về văn hóa ứng xử với bản thân, gia đình, bạn bè

và cộng đồng xã hội của các nhân vật Trương Quỳnh Thư – Thụy Châu trong Sơ kính tân

trang của Phạm Thái và Thúy Kiều trong Truyện Kiều của Nguyễn Du

Trang 11

5 Phương pháp nghiên cứu

Thực hiện luận văn, chúng tôi vận dụng đồng bộ các phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết

Phương pháp này giúp chúng tôi xác định được những cơ sở lí luận và thực tiễn làm tiền đề trước khi tiến hành triển khai cụ thể vấn đề

Phương pháp thống kê, phân loại

Phương pháp này giúp chúng tôi thống kê những tác phẩm có đề cập đến văn hóa ứng xử của các nhân vật nữ Từ đó phân loại và lựa chọn chính xác đối tượng nghiên cứu Trong quá trình triển khai và giải quyết vấn đề, phương pháp này có tác dụng chỉ

ra và cụ thể hoá các khía cạnh của vấn đề

- Phương pháp so sánh, đối chiếu

Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi đã tiến hành so sánh các tác phẩm viết

về “Văn hóa ứng xử của các nhân vật nữ trong truyện Nôm bác học cuối thế kỉ XVII đầu thế kỉ XIX” với các tác phẩm khác của một số nhân vật trong các tác phẩm truyện

Nôm bác học giai đoạn trước và sau đó Việc so sánh đối chiếu sẽ giúp vấn đề được hiểu cụ thể sâu sắc hơn, đồng thời sẽ làm nổi bật những ứng xử thể hiện rõ bản sắc văn hóa

- Phương pháp cấu trúc – hệ thống:

Trang 12

Phương pháp này sẽ giúp chúng tôi xem xét văn hóa ứng xử của các nhân vật

nữ với tư cách là một chủ thể văn hóa toàn vẹn trong mối quan hệ với bối cảnh bản

thân - gia đình, văn hóa – lịch sử của thời đại, xem xét “Văn hóa ứng xử của các nhân

vật nữ” trong mối quan hệ hệ thống

- Phương pháp liên ngành

Trong quá trình tìm hiểu và nghiên cứu đề tài, chúng tôi có liên hệ và kết hợp

sử dụng một cách đúng mực kiến thức của các ngành lịch sử, xã hội học, văn hoá học,

tâm lý học, triết học…nhằm giúp cho việc đánh giá và nhìn nhận vấn đề nghiên cứu

được toàn diện và sâu sắc hơn

6 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục đề tài được triển

khai thành 3 chương chính:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến đề tài

Chương 2: Văn hóa ứng xử trong tình yêu của các nhân vật nữ trong một số truyện

Nôm bác học tiêu biểu

Chương 3: Văn hóa ứng xử trong gia đình và xã hội của các nhân vật nữ trong

một số truyện Nôm bác học tiêu biểu

7 Đóng góp của đề tài

- Đây là công trình đầu tiên làm rõ văn hóa ứng xử của các nhân vật nữ trong một số

truyện Nôm bác học tiêu biểu Qua đó, góp phần khẳng định tầm quan trọng của văn hóa

ứng xử đối với đời sống văn học nói riêng và với văn hóa Việt Nam nói chung

- Trên cơ sở phân tích lối sống, lối suy nghĩ, hành động với những biểu hiện văn hóa

ứng xử của người Việt từ truyền thống đến hiện đại, đề tài đã góp một phần vào việc giáo dục

con người trong việc gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc của người Việt từ ngàn xưa Đồng thời,

nhắc nhở thế hệ đi sau cần học tập và noi gương các thế hệ đi trước về cách ứng xử có văn

hóa

- Đề tài là một trong những nguồn tư liệu hữu ích phục vụ cho việc học tập, giảng

dạy các tác phẩm truyện Nôm bác học cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX

Trang 13

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN LIÊN QUAN ĐẾN

ĐỀ TÀI 1.1 Một số khái niệm và thuật ngữ liên quan

1.1.1 Khái niệm văn hóa

Văn hóa là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra bằng lao động và hoạt động thực tiễn trong quá trình lịch sử của mình, biểu hiện trình

độ phát triển xã hội trong từng thời kỳ lịch sử nhất định

Khi nghiên cứu quy luật vận động và phát triển của xã hội loài người, C.Mác và Ph.Ăngghen đã khái quát các hoạt động của xã hội thành hai loại hình hoạt động cơ bản

là "sản xuất vật chất" và "sản xuất tinh thần" Do đó, văn hóa bao gồm cả văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần

Văn hóa vật chất là năng lực sáng tạo của con người được thể hiện và kết tinh trong sản phẩm vật chất Văn hóa tinh thần là tổng thể các tư tưởng, lý luận và giá trị được sáng tạo ra trong đời sống tinh thần và hoạt động tinh thần của con người Đó là những giá trị cần thiết cho hoạt động tinh thần, những tiêu chí, nguyên tắc chi phối hoạt động nói chung và hoạt động tinh thần nói riêng, chi phối hoạt động ứng xử, những tri thức, kỹ năng, giá trị khoa học, nghệ thuật được con người sáng tạo và tích lũy trong lịch sử của mình; là nhu cầu tinh thần, thị hiếu của con người và những phương thức thỏa mãn nhu cầu đó

Với vai trò vô cùng quan trọng, văn hóa đã và đang được toàn xã hội quan tâm

và nó đã trở thành một trong những đối tượng nghiên cứu chính của khoa học nhân văn Khái niệm văn hóa là một trong những khái niệm đã tạo nên sự tranh luận hết sức phong phú

Khái niệm văn hóa khởi nguồn từ thế kỉ XIX trong cuốn sách Văn hóa nguyên thủy (1871) của E.Tylor Trong cuốn sách này, ông xác định văn hóa là “một toàn thể phức tạp bao gồm tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, luân lý, luật pháp, phong tục và tất thảy những năng lực khác mà con người hoạt động với tư cách là thành viên của xã hội.” [25, tr.14]

Trang 14

Có nhiều cách phân loại định nghĩa về văn hóa Thứ nhất là phân loại theo các nhóm: về mặt thuật ngữ khoa học, các định nghĩa miêu tả, các định nghĩa lịch sử, các định nghĩa chuẩn mực, các định nghĩa tâm lý học, các định nghĩa cấu trúc và các định nghĩa nguồn gốc Thứ hai là phân loại theo các hướng chính: hướng định nghĩa xã hội học văn hóa, hướng định nghĩa tâm lý học văn hóa, hướng chịu ảnh hưởng của thuyết thông tin và thuyết giá trị, hướng đồng nhất văn hóa với cấu trúc và biểu trưng Tuy nhiên, những cách phân loại và những hướng nghiên cứu định nghĩa văn hóa như trên

có những ưu điểm và hạn chế riêng của nó và chúng tôi cảm thấy hài lòng với định nghĩa

về văn hóa mà UNESCO đưa ra: “Văn hóa là tổng hợp các hệ thống bao gồm các mặt tình cảm, tri thức, vật chất, tinh thần của xã hội Văn hóa không thuần túy bó hẹp trong hoạt động sáng tạo nghệ thuật mà còn bao hàm cả phương thức sống, những quyền cơ bản của con người, truyền thống, tín ngưỡng” [25, tr.18] Đây là định nghĩa mang tính

tổng quát, nó nhấn mạnh đến tính riêng biệt của mỗi nền văn hóa nhưng vẫn đảm bảo mang đầy đủ nội hàm định nghĩa về văn hóa

Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng dành sự quan tâm lớn của mình đối với văn hóa

Năm 1942, Người đã đưa ra định nghĩa về văn hóa: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích

về cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, nghệ thuật, những công cụ sinh hoạt hàng ngày, ăn, mặc,

ở cũng như các phương thức sử dụng Toàn bộ sáng tạo và phát minh tức là văn hóa Văn hóa là tổng thể của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã phải sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống mà đòi hỏi của sự sinh tồn” [28, tr.21]

Trong định nghĩa này, Hồ Chí Minh đã xem văn hóa là toàn bộ các hoạt động diễn ra trong đời sống cộng đồng Nó thể hiện bản sắc dân tộc Việt Đây là một định nghĩa rộng và mang tính khái quát cao

Như vậy, từ các khái niệm trên, chúng ta có thể hiểu văn hóa là sản phẩm của loài người, văn hóa được tạo ra và phát triển trong quan hệ qua lại giữa con người và xã hội Song, chính văn hóa lại tham gia vào việc tạo nên con người, duy trì sự bền vững và trật

tự xã hội Văn hóa được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua quá trình xã hội hóa Nó được tái tạo và phát triển trong quá trình hành động và tương tác xã hội của

Trang 15

con người Văn hóa là trình độ phát triển của con người và của xã hội được biểu hiện trong các kiểu, các hình thức tổ chức đời sống và hành động của con người cũng như trong giá trị vật chất và tinh thần mà do con người tạo ra

1.1.2 Khái niệm văn hóa ứng xử

Ứng xử là từ ghép gồm “ ứng” và “ xử” “ Ứng” là ứng đối nghĩa là lấy cái đẹp để giáo hóa con người Sau đó xuất hiện nhiều định nghĩa văn hóa khác nhau: Theo E.Henriotte, “ứng” là ứng phó, “Xử” là xử thế, xử lí, xử sự Ứng xử là phản ứng của con người đối với sự tác động của người khác đến mình trong một tình huống

cụ thể nhất định Ứng xử là phản ứng có lựa chọn tính toán, là cách nói năng tuỳ thuộc vào tri thức, kinh nghiệm và nhân cách của mỗi người nhằm đạt kết quả cao nhất trong giao tiếp Tác giả Phạm Thế Hùng đã phân tích rất rõ: “Cách ứng xử của người Việt Nam chúng ta khác với người Châu Âu Người Việt Nam chúng ta ứng

xử duy tình (nặng về tình cảm) Một trăm cái lí không bằng một tí cái tình Đó là đặc trưng của nền văn minh nông nghiệp lúa nước, làng nghề thôn dã” [41.32] Họ trọng tình anh em, họ hàng, tình làng nghĩa xóm Xem bữa cơm gia đình như để cởi mở, thân thiện.Từ xa xưa, người Việt luôn coi trọng văn hóa ứng xử bởi nó thể hiện trình

độ văn hóa, văn minh

Hành vi ứng xử của mỗi người được biểu hiện qua lối sống, nếp nghĩ, cách xử lý trước những vấn đề trong cuộc sống Đó là cách con người đối xử với bản thân, với xã hội, cộng đồng xung quanh Mỗi cá nhân đều sử dụng lăng kính chủ quan của mình để nhìn nhận thực tế và đưa ra hành vi ứng xử được cho là phù hợp đúng đắn nhất Tuy nhiên, ứng xử đó có văn hóa hay không lại là một vấn đề khác, nó đòi hỏi sự rèn luyện, học tập, trải nghiệm và trưởng thành của mỗi cá nhân trong xã hội

Hành vi ứng xử văn hóa được coi là các giá trị văn hóa, đạo đức, thẩm mỹ của mỗi cá nhân được thể hiện thông qua thái độ, hành vi, cử chỉ, lời nói của mỗi cá nhân

đó Chính vì tầm quan trọng của nó, văn hóa ứng xử được rất nhiều các nhà nghiên cứu quan tâm Mỗi người lại đưa ra những cách định nghĩa và cách hiểu về văn hóa ứng xử

Theo Đỗ Long trong cuốn Tâm lý học văn hóa ứng xử, ông cho rằng: “Văn hóa ứng xử là một hệ thống thái độ hành vi được xác định để xử lý các mối quan hệ giữa

Trang 16

người với người trên các căn cứ pháp luật đạo lý nhằm thúc đẩy nhanh sự phát triển của cộng đồng người, của xã hội” [31, tr.73]

Còn Trần Thùy Anh thì cho rằng: “Văn hóa ứng xử là toàn bộ những tín điều, truyền thống,…hướng dẫn hành xử mà cá nhân trong xã hội được xã hội đó trao truyền bằng nhiều hình thức học tập” [32, tr.19]

Như vậy, văn hóa ứng xử là khía cạnh giá trị mang yếu tố tích cực, được chắt lọc thành các kinh nghiệm, quy tắc xã hội, chuẩn mực đạo đức thể hiện ở các tình huống ứng xử văn hóa trong đời sống của một cồng đồng, dân tộc

1.2 Văn hóa ứng xử của người Việt dưới ảnh hưởng của Đạo giáo, Phật giáo, Nho giáo

1.2.1 Văn hóa truyền thống của người Việt

Trong cuộc sống hàng ngày, người Việt luôn đề cao vai trò của văn hóa ứng xử Người Việt sống thiên về tình hơn về lý vì vậy ứng xử của người Việt hay người phương Đông nói chung khác với người phương Tây

Truyền thống văn hóa của người Việt trước hết thể hiện ở tinh thần yêu nước nồng nàn Tinh thần đó thấm nhuần và trở thành chuẩn mực đạo đức của cả dân tộc.Lịch

sử dựng nước và giữu nước hào hùng đã trở thành minh chứng rõ nét nhất cho truyền thống đó Ý thức dựng nước và giữ nước ấy lại được nảy sinh và phát triển trong cái khung xã hội Việt Nam cổ truyền, đó là Nhà – Làng – Nước, trên nền kinh tế - xã hội: nông dân – nông thôn – nông nghiệp Trong cái khung đó, người Việt thể hiện được sự văn hóa trong cách ứng xử Yêu nước chính là tín nghĩa đầu tiên của một người con đất Việt, được truyền từ đời này sang đời khác, và trở thành thước đo đạo đức Yêu nước như một thứ tín ngưỡng, mà mỗi đứa trẻ sinh ra, điều đầu tiên được giáo dục đó là ái quốc Truyền thống quý báu đó bám rễ trong tiềm thức của người Việt bắt nguồn từ gia đình quê hương và mở rộng ra cả dân tộc, đất nước Từ đó, hình thành một lối ứng xử theo kiểu “thân tộc hóa” các quan hệ xã hội

Văn hóa ứng xử của người Việt cũng thể hiện rõ ở tính cộng đồng, ở văn hóa làng

xã Họ đề cao tập thể, coi trọng những mỗi quan hệ họ hàng, làng xã, mối quan hệ đó khăng khít bền vững và xây dựng theo quy ước chung Ở Phương Tây, các gia đình sống

Trang 17

gần nhau cũng có quan hệ với nhau, nhưng quan hệ lỏng lẻo, chỉ mang tính chất xã giao

Họ đề cao cá nhân hơn tập thể Còn ở Việt Nam thì khác: “Thứ nhất để đối phó với môi trường tự nhiên, đáp ứng nhu cầu cần đông người của nghề trồng lúa nước mang tính thời vụ, người dân Việt Nam truyền thống không chỉ đẻ nhiều mà còn làm đổi công với nhau Thứ hai, để đối phó với môi trường xã hội (nạn trộm cướp…), cả làng phải hợp sức mới có hiệu quả Chính vì vậy mà người Việt Nam liên kết với nhau chặt chẽ tới mức

“bán anh em xa, mua láng giềng gần” [22, tr.91].Bởi những lý do đó, con người trở nên

gắn kết nhau, tự ý thức tính cộng đồng, tập thể và tôn trọng các quy ước dòng họ, xóm làng Cũng bởi đó mà con người gần gũi, yêu thương, đùm bọc, chia sẻ, giúp đỡ nhau trong mọi vấn đề cuộc sống Mỗi dòng họ, làng xã là một nhà nước thu nhỏ, hợp lại tạo thành một nhà nước lớn với tinh thần đoàn kết và lòng trung quân ái quốc

Nói tới văn hóa Việt là nói tới nền văn hóa nông nghiệp lúa nước Do sống bằng nghề nông nên con người càng gắn bó với thiên nhiên Bởi thế những yếu tố như thời tiết, khí hậu, đất đai, nguồn nước, ánh nắng,… trở thành yếu tố then chốt cho sự thành công của mùa vụ, nên về mặt nhận thức, hình thành nên lối tư duy tổng hợp- biện chứng,

nặng về kinh nghiệm chủ quan cảm tính: sống lâu lên lão làng, trăm hay không bằng tay quen… Từ đó dẫn tới lối sống linh hoạt luôn thay đổi để thích nghi với hoàn cảnh:

Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài; Đi với bụt mặc áo cà sa, đi với ma mặc áo giấy…Tuy

nhiên, mặt trái của tính linh hoạt là thói tùy tiện biểu hiện ở tật co giãn giờ giấc, sự thiếu tôn trọng pháp luật, tệ đi “cửa sau” để giải quyết công việc

Người Việt sống rất coi trọng tình cảm và đề cao tín nghĩa Ba tội lớn nhất của đời người là “bất trung, bất hiếu, bất nghĩa” Có thể thấy, tư tưởng đó đã đề cao lòng yêu nước, hiếu thảo với cha mẹ, bề trên, sống tình nghĩa với người xung quanh, lối sống tình cảm đó dẫn đến thái độ trọng đức, trọng văn Lối sống được ca ngợi là lối sống tập thể đặt lợi ích nhóm lên trên lợi ích cá nhân, đồng thời đặt lý cao hơn tình Truyền thống tôn sư trọng đạo, kính trên nhường dưới, uống nước nhớ nguồn khiến con người trở nên tình nghĩa, đùm bọc và gắn kết nhau hơn Đây là cơ sở để nghị quyết V Ban chấp hành trung ương khóa VIII đưa ra những đặc trưng bản sắc văn hóa dân tộc, những đặc trưng thể hiện rõ văn hóa nói chung và văn hóa ứng xử của người Việt nói riêng đó là: Lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc; Tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng, gắn

Trang 18

kết cá nhân – gia đình – làng xã – tổ quốc; Lòng nhân ái khoan dung, trọng nghĩa tình đạo lý; Đức tình cần cù sáng tạo trong lao động; Sự tinh tế trong cư xử, tính giản dị trong lối sống; Hình thức biểu hiện mang tính dân tộc độc đáo…

1.2.1 Văn hóa ứng xử người Việt dưới sự ảnh hưởng của Phật giáo, Đạo giáo, Nho giáo

Văn hóa Việt là nền văn hóa hội tụ đầy đủ yếu tố hướng nội và hướng ngoại Nền văn hóa đó là quá trình tích lũy tư duy của cả dân tộc, mang trong mình đặc trưng riêng, đồng thời cũng là kết quả của sự giao lưu tiếp biến với những nền văn hóa khác Văn hóa ứng xử cũng chịu sự chi phối đó Cùng với các phong tục như tục thờ Mẫu, thờ Thần, thờ cúng ông bà tổ tiên… và tín ngưỡng bản địa như tín ngưỡng phồn thực, sùng bái tự nhiên…thì các tôn giáo ngoại sinh cũng ngày càng thể hiện được vai trò của mình đối với đời sống tinh thần của người Việt Trong các tôn giáo ấy chúng tôi quan tâm nhiều nhất tới sự ảnh hưởng Phật giáo, Đạo giáo, Nho giáo với nền văn hóa Việt Nam

1.2.1.1 Ảnh hưởng của Phật giáo

Khi vào Việt Nam, Phật giáo đã tìm đến với văn hóa dân gian để kết thành duyên

nợ, từng bước tạo được chỗ đứng trong tâm thức nhân dân Nơi gặp gỡ của Phật giáo và tín ngưỡng dân gian bản địa đã trở thành bảo tàng lịch sử văn hóa dân tộc để từ đó Phật giáo luôn gắn bó và đồng hành với đất nước và con người Việt Nam Tìm đến với văn hóa dân gian, kết hợp với tín ngưỡng dân gian là Phật giáo đã tìm đến với nguồn cội của văn hóa dân tộc, tìm đến với sức sống và bản sắc của văn hóa Việt Nam Phật giáo sẽ

bổ sung cho văn hóa, thúc đẩy văn hóa phát triển, làm xuất hiện một nền văn hóa Phật giáo của Việt Nam, khác với Phật giáo ở Trung Quốc hay Ấn Độ cổ đại Bản chất của Phật giáo, cái tinh túy của Phật giáo là ở chỗ mục đích của đạo Phật chỉ là một, đó là giải thoát Mục đích ấy là bất biến, nhưng tiến trình lịch sử văn hóa lại là một quá trình động cho nên phương pháp và cách thức thể hiện của đạo Phật lại hết sức linh hoạt, uyển chuyển và sáng tạo Phật giáo truyền từ Ấn Độ sang Việt Nam vốn không phải là một

sự kiện đơn độc, mà kéo theo nó (hoặc trước, hoặc sau, hoặc đồng thời với nó) là sự ảnh hưởng của tổng thể văn hóa Ấn Độ đối với văn hóa Việt cổ, ảnh hưởng ấy diễn ra trên nhiều lĩnh vực như: nông nghiệp, y dược, âm nhạc, vũ đạo, ngôn ngữ…Thực chất của

Trang 19

đạo Phật là một học thuyết về nỗi khổ và sự giải thoát Về con người, Phật giáo tập trung

ở học thuyết cấu tạo con người, học thuyết về sự xuất hiện và tái sinh

Những nội dung tư tưởng trên của Phật giáo đã thấm nhuần và ăn sâu vào lối sống của người Việt với những lối ứng xử rất nhân văn theo nhân sinh Phật giáo như:

Thương người như thể thương thân, lá lành đùm lá rách, nhiễu điều phủ lấy giá gương, người trong một nước phải thương nhau cùng, cứu nhân độ thế… và quan niệm ác giả

ác báo, gieo gió gặp bão, ở hiền gặp lành… Đạo Phật hướng con người đến cái thiện,

khơi dậy trong con người những bản năng bị ẩn sâu đó là tình thương, lòng bác ái, đức

khiêm nhường, hi sinh Bởi thế, con người trở nên tĩnh hơn, và cộng đồng gắn kết hơn

Không chỉ vậy, với tinh thần “Từ bi - hỷ xả - vô ngã - vị tha”, năng động hóa bởi đạo lý Bát Chính đạo, là điều giáo dục phổ biến đối với dân tộc ta, dân tộc thường xuyên bị những thế lực xâm lược đem theo sự thống trị đầy những cái ác bất nhân, gieo mầm bất nghĩa, trái đạo lý dân tộc Bởi thế Phật giáo phương xa đến Việt Nam

đã đương nhiên trở thành Phật giáo Việt Nam với tư tưởng yêu nước là chủ yếu Tư tưởng yêu nước này được xác minh qua nhiều thế hệ, suốt dòng lịch sử tranh đấu giữ nước và dựng nước của dân tộc ta

Phật giáo ngày càng có vai trò quan trọng trong đời sống hàng ngày cũng như đời sống tâm linh của người Việt Một số yếu tố của Phật giáo đã trở thành tín ngưỡng bản địa hóa khi mà ngày càng xuất hiện nhiều chùa chiền – nơi gửi gắm niềm tin yêu, những ước nguyện tốt đẹp của người dân với Phật Phật giáo đã góp phần làm phong phú thêm tâm hồn, đạo đức, hành vi cư xử của người Việt, làm phong phú thêm nền văn hóa dân tộc

1.2.1.2 Ảnh hưởng của Đạo giáo

Trong triết lý Đạo giáo, nó quan tâm nhiều tới mối liên hệ mật thiết giữa con

người và tự nhiên, con người sống hòa thuận và nương theo trời đất, tự nhiên,, con ngưởi

cần sống hòa thuận gắn bó với thiên nhiên, tuân theo quy luật của thiên nhiên, tu luyện

để sống lâu và gần với Đạo

Đạo giáo khi du nhập vào Việt Nam đã có sự hòa nhập mạnh mẽ vào các tín

ngưỡng dân gian bản địa Trước hết, nó thể hiện ở việc Đạo giáo phù thủy đã thâm

Trang 20

nhập nhanh chóng và hòa quyện dễ dàng với tín ngưỡng ma thuật cổ truyền Dẫn tới tình trạng nhiều người không phân biệt được đâu là tín ngưỡng dân gian và đâu là yếu

tố của Đạo giáo Tuy nhiên một số tín ngưỡng hiện nay nhìn bề ngoài thì có vẻ là sản phẩm của Đạo giáo nhưng kỳ thực đó là tín ngưỡng dân gian của Việt Nam, với một vài ảnh hưởng của Đạo giáo

Đạo giáo có ảnh hưởng trên mọi lĩnh vực: chính trị, y dược, văn học tới văn hóa

tư tưởng…đặc biệt có ảnh hưởng tới thế ứng xử xã hội của người Việt Người dân đặc biệt tin vào những phép thuật, quyền năng của một thế lực siêu nhiên có thể giao tiếp chi phối cuộc sống của con người Người Việt tin là có thánh thần, vì vậy khi Đạo giáo quảng bá ý thức thờ Thần thì ngay lập tức nhận được sự ủng hộ của đông đảo quần chúng nhân dân Nhưng người Việt vẫn giữ đôi mắt tỉnh táo để không sa đà vào các hoạt động tâm linh mang tính chất cực đoan, tiêu cực của những kẻ mạo danh thần thánh Có thể thấy, Đạo giáo du nhập vào Việt Nam nhưng được chắt lọc, hòa hợp những nét tương đồng với văn hóa Việt chứ không tác động hoàn toàn lên văn hóa Điều đó càng làm văn hóa nước ta trở nên đa dạng và nhiều màu sắc Con người cũng trở nên lạc quan trước thực tế, sống thanh cao, gắn bó với tự nhiên và có ý thức rèn luyện bản thân Đó là nét tích cực mà Đạo giáo mang lại cho văn hóa Việt

1.2.1.3 Ảnh hưởng của Nho giáo

Nghiên cứu về Nho giáo ở Việt Nam không thể tách rời nó với truyền thống Việt Nam Nho giáo là một trong những trường phái triết học chính của Trung Quốc thời cổ đại đó là những tư tưởng triết lý, luân lý đạo đức, thể chế cai trị vốn đã có cơ sở

ở Trung Quốc từ thời Tây Chu, đến cuối thời Xuân Thu (TKXI-TKV TCN) thì được Khổng Tử (551-479TCN) và các môn đệ của Ông là Mạnh Tử (372-289 TCN) và Tuân

Tử ( 313 -238 TCN) hệ thống hóa ổn định lại trong hai bộ kinh điển là Tứ Thư và Ngũ

Kinh Đây là một trong những trường phái tư tưởng, một học thuyết đạo đức chính trị

ảnh hưởng sâu sắc và lâu dài không chỉ ở Trung Quốc mà ở mà còn ở cả các nước phương Đông trong đó có Việt Nam

Nho giáo coi giữa con người và con người có năm quan hệ gọi là ngũ luân: cha-

con, anh- em, vợ- chồng, bè bạn và vua- tôi Về sau được nhấn mạnh ba trong năm quan

hệ đó được coi là cơ bản nhất, tức là tam cương: cha- con, vua- tôi và vợ- chồng Ngoài

Trang 21

ra họ cũng nói đến ba ngôi tôn quý là vua, cha và thầy Theo Khổng Tử thì cách trị nước

là làm cho “vua ra vua, tôi ra tôi, cha ra cha, con ra con” Đó là cách quan niệm của

một xã hội luân thường và một con người chức năng theo luân thường Con người có

giá trị hay không là ở chỗ hoàn thành hay không hoàn thành chức năng là cha hay là con, là vua hay là tôi, là anh hay là em

Đáng chú ý là tuy năm quan hệ đã đề cập đến con người trong đời sống gia đình,

xã hội và với nhà nước; nhưng quan hệ vua- tôi (nhà nước với dân) lại đồng nhất với cha- con, quan hệ bạn bè (xã hội) lại đồng nhất với anh- em Thế là các quan hệ xã hội

và với nhà nước đều quy về các quan hệ gia đình Nho giáo lấy gia đình để hình dung thế giới: những cộng động như họ, làng, nước, thế giới cho đến cả vũ trụ, tuy có phạm

vi rộng hẹp khác nhau nhưng đều được coi giống như gia đình, tức là với các quan hệ cha- con, anh- em và vợ- chồng, có trên có dưới Người trên (cha, anh và chồng) phải thương yêu, chăm sóc người dưới và người dưới (con, em và vợ) phải thương yêu, phục tùng và biết ơn người trên Cách cư xử đúng chức năng như vậy làm cho gia đình thuận hoà, êm ấm Theo Nho giáo áp dụng cách thức như vậy trong quan hệ xã hội và trong quan hệ nhà nước, giữa người cầm quyền và dân cũng tạo ra một cảnh êm ấm thuận hoà

Đó là cách lấy gia đình thuận hoà làm mẫu để xây dựng xã hội thái bình, hoà mục, trật

Trang 22

việc đề cao văn hoá đó lại theo một hướng không hay là khoa cử, học để làm quan, học viết văn chương, không chú trọng kỹ thuật, khoa học, học thuật Ở Việt Nam cũng giống các nước Đông Á khác đã từ rất sớm việc học đã được phổ biến Đến thế kỷ XI đã lập Văn Miếu, Trường Quốc Tử Giám, trường đại học của cả nước Văn học thành văn văn cũng ra đời sớm Đến thế kỷ XV, với Nguyễn Trãi ta đã có thể nói là có nền văn học cổ

điển của dân tộc Những bộ sử như Đại Việt sử ký của Lê Văn Hưu đời Trần, Ngô Sĩ

Liên đời Lê đã để lại cho đời sau hiểu biết hàng chục thế kỷ Đó là những thành tích rực

rỡ về văn hoá, nếu không có sự truyền bá rộng rãi của Nho học thì không thể có sớm như vậy Với Nho giáo, học cũng có nghĩa là tu dưỡng đạo đức Học trước hết là để hiểu các làm người Con người, như trên đã nói là con người trong quan hệ gia đình, họ hàng, trong trật tự trên dưới của xã hội, trong quan hệ với vua quan, với Trời Làm người là

cư xử đúng lễ nghĩa trong các quan hệ như vậy Những người bất hiếu, bất mục trong gia đình, vô lễ, vô phép, ngỗ ngược ngoài làng xóm, sống hám lợi, ít tình nghĩa, không chất phác không những bị chê trách mà còn bị xử phạt các này hay các khác Thái độ chuộng đức và đề cao tu dưỡng của Nho giáo một mặt làm cho con người ngoan ngoãn

dễ chấp nhận quân quyền, phụ quyền, và nam quyền có tính áp bức Nhưng mặt khác cũng làm làm cho con người ở đây có tinh thần hiếu học, cầm kiệm, có trách nhiệm, biết

tự trách mình, vì nghĩa mà hy sinh Họ biết nhường nhịn không tranh hơn trong đời sống cộng đồng, thường biết nghe theo người cầm đầu, dễ có kỷ luật Tất nhiên mỗi điểm như vậy cũng đều phải tính đến cả mặt trái hạn chế sự phát triển của nhân cách

Nho giáo chủ trương một gia đình có chủ và người chủ là đàn ông Họ nói đến ba quan hệ có ý nghĩa đạo lý: cha-con, vợ-chồng, anh-em Trong mỗi cặp có bề trên và bề dưới, người dưới phải phục tùng người trên tức là con nghe cha, em nghe anh, vợ nghe chồng Đàn bà không bao giờ là chủ gia đình bởi xã hội phong kiến quan niệm “tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử” (lúc còn là con gái thì phải nghe cha, lúc lấy chồng thì phải nghe chồng và khi chồng chết thì phải nghe con trai chủ gia đình - người chịu trách nhiệm với mọi người trong nhà) Người đàn ông có quyền quyết định mọi việc trong gia đình, và người phụ nữ chỉ lo những công việc tề gia nội trợ, tất cả lời nói hành động đều có sự cho phép của chồng

Trang 23

Nho giáo quan niệm gia đình là khuôn mẫu thu nhỏ của một nước, bởi lẽ đó“một nhà nhân hậu thì cả nước nhân hậu Một nhà lễ nhượng thì cả nước đều có lễ nhượng”( Đại học, chương 9).Do đó, muốn đất nước bình an thì gia đình cần giữ sự hòa thuận

Nho giáo quan niệm các thành viên trong một gia đình phải yêu thương, đùm bọc, quan tâm đến nhau Cha mẹ có trách nhiệm sinh thành nuôi nấng dạy dỗ con cái nên người Con cái có nghĩa vụ hiếu thảo kính trên nhường dưới với đấng sinh thành, anh chị em đùm bọc bảo vệ nhau, vợ chồng thủy chung hòa thuận Mỗi cá nhân tự làm tròn bổn phận của mình, điều đó khiến gia đình trở nên gắn bó với nhau, gia đình bình yên là đất nước sẽ thanh bình Nho giáo đề cao danh dự của gia đình, dòng tộc, bởi vậy mỗi cá nhân đều phải hành động để giữ gìn danh tiếng, quy ước gia phong

Cùng với đó, Nho giáo đặt ra yêu cầu với mỗi cá nhân phải tuân theo lễ nghĩa, lễ

là chỉ hướng cho mọi hành động của con người Lễ là hiếu kính của con với cha mẹ, là chị ngã em nâng, là tình bằng hữu, xóm giềng Xây dựng một gia đình biết hiếu lễ cũng

là cốt yếu nền móng để xây dựng một đất nước có kỉ cương, pháp luật Nhà là ngôi nhà nhỏ, nằm trong ngôi nhà to là đất nước Giữ vững được ngôi nhà to thì cần xây vững chắc những ngôi nhà nhỏ Quan niệm trên của Nho gia vừa có lợi lại vừa có mặt hạn chế khi giữ gìn được nét tốt đẹp của đất nước, nhưng cũng bảo trì luôn cả tập tục lạc hậu như chế độ nam quyền, chế độ đa thê, trọng nam khinh nữ

Việc đề cao chữ Nhân trong Nho giáo cũng có ý nghĩa tích cực và mang tính nhân bản nhưng mặt khác trong quan niệm của Khổng Tử về chữ Nhân nó bao hàm cả sự thừa nhận về chế độ, đẳng cấp và chế độ tông pháp Chính vì vậy, bên cạnh việc làm cho con người biết yêu thương đùm bọc lẫn nhau thì yêu thương ấy cũng có những cấp độ khác nhau dựa theo quan hệ thân sơ, sang hèn và Nhân không phải là lòng bác ái rộng lớn bao la mà có tiêu chí cụ thể của nó Chính điều này cùng với lối sống nông nghiệp đã dẫn tới cách ứng xử trọng tình của người Việt Trọng tình là lối sống coi trọng tình cảm nhưng nó cũng đem lại hệ lụy là coi trọng người thân, người quen của người Việt

Như vậy, Nho giáo từ khi vào Việt Nam đã có sức lan tỏa rộng rãi không chỉ trong quá khứ mà còn cả ở hiện tại và tương lai đối văn hóa Việt Vấn đề đặt ra là làm sao phải “gạn đục khơi trong” Nho giáo để làm đẹp thêm nét văn hóa Việt và để phục

vụ mục đích tích cực cho đất nước

Trang 24

1.3 Khái niệm về giới

Giới: Là một thuật ngữ xã hội học, nói đến vai trò, trách nhiệm và quan hệ xã hội giữa nam và nữ Giới đề cập đến việc phân công lao động, phân chia nguồn lực và lợi ích giữa nam và nữ trong một bối cảnh xã hội cụ thể Giới được hình thành do học và giáo dục, không đồng nhất, khác nhau ở mỗi nước, mỗi địa phương, thay đổi theo thời

gian, theo quá trình phát triển kinh tế xã hội

M.L Andersen - một giáo sư xã hội học định nghĩa giới như sau: “Giới liên quan đến sự học hỏi hành vi xã hội và những trông đợi được tạo nên với hai giới tính Trong khi con trai và con gái là những yếu tố sinh học thì việc trở thành một phụ nữ hay một

nam giới là một quá trình văn hóa” [38.40]

Các định nghĩa trên đây về giới cho phép ta hình dung cách tiếp cận đa dạng về thuật

ngữ này Tuy nhiên, chúng tôi nhất trí với quan điểm cho rằng: “Khái niệm giới không chỉ

đề cập đến nam và nữ mà cả mối quan hệ giữa nam và nữ Trong mối quan hệ ấy có sự phân biệt về vai trò, trách nhiệm, hành vi hoặc sự mong đợi mà xã hội đã quy định cho mỗi giới Những quy định/mong đợi xã hội này phù hợp với các đặc điểm văn hóa, chính trị, kinh tế, xã hội và tôn giáo; vì thế nó luôn biến đổi theo các giai đoạn lịch sử và có khác biệt giữa các cộng đồng, xã hội” [38.42]

“Giới” là thuật ngữ để chỉ vai trò xã hội, hành vi ứng xử xã hội và những đòi hỏi, yêu cầu đối với nam và nữ Nó là sản phẩm của xã hội - văn hóa.Trong đời sống hằng ngày, thuật ngữ giới (gender) thường bị dùng lẫn lộn với giới tính (sex) Thực chất đây

là hai phạm trù tương hỗ nhưng không đồng nhất Nếu giới tính chỉ nhấn mạnh đến tính (nam/nữ) (Trung văn dịch là tính biệt) thì giới nhấn mạnh đến sự phân biệt nam/nữ trên

cả phương diện xã hội (dịch sang Trung văn có nghĩa là xã hội tính biệt - giới tính nam/nữ xét trên phương diện xã hội Như vậy, khái niệm giới mà chúng tôi sử dụng không những chỉ phương diện giới tính và giải thích người đàn ông và phụ nữ ở khía cạnh sinh lý mà còn quan tâm đến cả phương diện văn hóa - xã hội của họ như trong mối quan hệ gia đình, quan hệ nam nữ

Do hoàn cảnh lịch sử và đặc trưng tư tưởng, hình ảnh người phụ nữ Việt Nam hiện diện ở nhiều vị trí trong cuộc đời và đã để lại nhiều hình ảnh bóng sắc trong văn

Trang 25

thơ hiện đại Nhưng đáng tiếc, trong xã hội phong kiến, người phụ nữ lại phải chịu một

số phận đầy bị kịch:

“Đau đớn thay phận đàn bà

Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung”

(Truyện Kiều – Nguyễn Du)

Câu thơ trên đã hơn một lần xuất hiện trong sáng tác của đại thi hào Nguyễn Du giống như một điệp khúc đau thương Chẳng thế mà người phụ nữ miền núi thì than

rằng "Thân em chỉ bằng thân cọn bọ ngựa, bằng thân con chẫu chuộc thôi", còn phụ nữ

miền xuôi lại ví mình như con ong cái kiến Đây không phải là lời nói quá mà điều này

được thể hiện khá phổ biến trong văn học Việt Nam, trong ca dao than thân, trong Bánh trôi nước của Hồ Xuân Hương, trong Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ, Truyện Kiều của Nguyễn Du, Chinh phụ ngâm khúc (Đặng Trần Côn, Đoàn Thị Điểm)… Nói khác

đi, vấn đề giới giúp cho việc nhận thức nhân vật toàn diện hơn Trước đây, nhân vật nam/nữ thường chỉ được nhìn theo quan điểm giai cấp, áp bức hay bị áp bức, theo quan điểm đạo đức, đáng khen hay đáng chê thì với điểm nhìn giới, chúng ta thấy thêm những phương diện khác của nhân vật

1.3.1 Quan điểm văn hoá về nữ giới ở Việt Nam thời trung đại

1.3.1.1 Quan điểm đề cao “Tam tòng”, “Tứ đức”

Tam tòng có nguồn gốc từ Nghi lễ, Tang phục, Tử Hạ truyện có ghi: “Phụ nhân hữu tam tòng chi nghĩa, vô chuyên dụng chi đạo, cố vị giá tòng phụ, ký giá tòng phu, phu tử tòng tử” Sau này, các nhà Nho vận dụng thuyết tam tòng, tứ đức vào việc giáo

hóa người phụ nữ Vì vậy, theo Nho giáo, phụ nữ có ba điều phải tuân theo, không có quyền tự định đoạt theo ý mình: Tại gia tòng phụ người con gái khi còn ở nhà phải nghe theo cha Xuất giá tòng phu: lúc lấy chồng phải nghe theo chồng Phu tử tòng tử: nếu chồng qua đời phải theo con trai

Tứ đức có nguồn gốc từ Chu lễ (sách ghi những quy định về lễ nghĩa thời nhà

Chu), thiên Quan trủng tể có ghi: Cửu tần chưởng phụ học chi pháp, dĩ cửu giáo ngự: phụ đức, phụ ngôn, phụ dung, phụ công (Nghĩa là: Cái phép học của người vợ cả là lấy

chín điều - tập trung trong bốn đức: công, dung, ngôn, hạnh) Sau này, các nhà Nho vận

Trang 26

dụng vào việc giáo hóa sự tu dưỡng phẩm chất đạo đức của người phụ nữ Theo Nho

giáo, với người phụ nữ, tứ đức gồm phụ công, phụ dung, phụ ngôn và phụ hạnh Công

được hiểu là sự khéo léo của người phụ nữ trong những công việc gia đình như thêu thùa, khâu

vá, nội trợ, nuôi dạy và chăm sóc con cái; dung là vẻ đẹp hình thức đoan trang; ngôn tức là lời nói dịu dàng, khiêm nhường còn hạnh tức là những phẩm chất như yêu thương chồng con, giàu lòng nhân ái, đức hy sinh, son sắt thuỷ chung…

Những quy định này được giai cấp thống trị phong kiến sử dụng để giáo hóa người phụ nữ với mục đích ổn định xã hội, bảo vệ quyền lợi của giai cấp thống trị và

vai trò của nam giới Giáo sư Vũ Khiêu cho rằng: “Phải chăng ở đây cái “ngu trung” lại được vận dụng vào việc giữ gìn tiết hạnh của người phụ nữ, hay là ngược lại, cái giữ gìn tiết hạnh của người phụ nữ lại trở thành tấm gương soi cho các bậc trung thần”

[39.146]

Ở Việt Nam thời trung đại, tư tưởng “Tam tòng” đã ăn sâu vào tiềm thức của toàn

xã hội Ngoài phần tích cực là giúp người phụ nữ tự rèn mình theo tiêu chuẩn để hướng tới cái đẹp thì “Tam tòng” đã tạo ra áp lực buộc chặt người phụ nữ vào những khuôn phép khắc nghiệt, khiến họ phải chịu nhiều khổ đau, bất hạnh

Ở Việt Nam, thuyết tam tòng, tứ đức được pháp luật phong kiến Việt Nam thừa nhận và đề cao giai cấp phong kiến đã sử dụng quyền chuyên chính để đe dọa và trừng trị những người phụ nữ muốn thoát ra khỏi vòng trói buộc của chế độ tông pháp và lễ giáo Nho giáo Họ không chỉ chịu sự đàm tiếu của dư luận mà còn phải chịu những hình phạt hà khắc như đánh bằng gậy, thích vào mặt, lưu đày, tử hình Bên cạnh đó, thuyết tam tòng, tứ đức được xây dựng theo xu hướng Nho giáo hóa và thể hiện dưới hình thức gia huấn ca, hương ước làng xã Việt Nam và văn học dân gian tiêu biểu là ca dao, tục ngữ, dân ca nhằm giáo dục đạo đức cho người phụ nữ

Trong xã hội nam quyền “Tứ đức” đã trở thành tiêu chí quan trọng không thể thiếu ở người phụ nữ đức hạnh:

“Phận làm gái này lời giáo huấn,

Lắng tai nghe cổ truyện mới nên,

Hãy xem xưa những bậc dâu hiền,

Trang 27

Kiêm tứ đức: dung, công, ngôn, hạnh

Công là đủ mùi xôi, thức bánh,

Nhiệm nhặt thay đường chỉ mũi kim

Dung là mặt ngọc trang nghiêm,

Không tha thiết, không chiều lả tả

Ngôn là dạy trình thưa vâng dạ,

Hạnh là đường ngay thảo kính tin

Xưa nay mấy kẻ dâu hiền,

Dung, công, ngôn, hạnh là tiên phàm trần”

(Gia huấn ca)

Trong xã hội Việt Nam truyền thống, vị trí khiêm nhường của phụ nữ trong gia đình và ngoài xã hội cũng được coi là một trong những thuộc tính, phẩm chất của "dung" Cùng với đó, tiêu chí để đánh giá một người người phụ nữ đạt đến "chuẩn" trong xã hội phải bao gồm cả sự chịu đựng, cam chịu, đẹp là để cho chồng, con chứ không phải cho bản thân mình

Nhuộm răng đen, búi tóc đuôi gà, mặc áo tứ thân, chít khăn mỏ quạ, đội nón quai thao cùng với tác phong e lệ, khép nép, liễu yếu đào tơ cũng là những "chuẩn mực"

về hình thức trong cách làm đẹp của người con gái trước đây:

Trang 28

Quan điểm truyền thống luôn đề cao sự nền nã, nhẹ nhàng, giản dị đồng thời phê phán sự cầu kỳ, trau chuốt thái quá ở người phụ nữ Trong "Gia huấn ca", Nguyễn Trãi cũng khuyên con gái:

“Hình dung đừng ve vuốt ngắm trông

Một vừa hai phải thì xong ”

Theo quan niệm truyền thống, vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam thể hiện ở

"duyên ngầm", ở cách đi đứng nói năng “ra thưa vào gửi”, không được nói to, đi mạnh, không được nói trước khi chưa ai hỏi Đối với chồng, dù trong lòng người vợ có giận

dữ hay đau khổ đến mấy vẫn phải nén chặt để gương mặt và mọi cử chỉ luôn nhẹ nhàng, tươi tắn Ngay cả khi chồng quát mắng, thậm chí đánh dập thì vẫn phải cúi đầu nhịn nhục:

“Chồng giận thì vợ làm lành

Miệng cười hớn hở rằng anh giận gì”

Đó là những biểu hiện mặt tiêu cực của Nho giáo, khi đề cao cái đẹp nội dung đạt đến "chuẩn mực" của người phụ nữ phải là sự cam chịu, an phận, không được phản kháng Tuân theo “Tứ đức”, người phụ nữ bị kìm hãm trong không gian gia đình, không

có điều kiện hoạt động trong không gian xã hội Họ chỉ được khen ngợi khi là người nội trợ khéo, là dâu thảo, vợ hiền nhưng không được khuyến khích phát triển tài năng Li-

Hsiang trong công trình nghiên cứu Khổng giáo và người phụ nữ - một cách giải thích triết học đã khẳng định: “Không giống như nam giới, người phụ nữ tài năng và có học thức không được chính thức ra ngoài xã hội để triều đình có thể sử dụng, để tài năng,

và học vấn của họ có thể được khẳng định Do không có cơ hội được chứng minh, trình

độ học thức cao của người phụ nữ thường bị coi là một sự dư thừa và vô dụng không mang tính xã hội, không phù hợp với tính chất giới hoặc những điều tốt đẹp được mọi người chấp nhận” [40.113]

Có thể thấy, quan niệm đề cao “Tam tòng”, “Tứ đức” ở người phụ nữ là một quan niệm ăn sâu vào tiềm thức, và trở thành chuẩn mực đạo đức áp đặt lên người phụ

nữ thời bấy giờ Quan niệm về giới này ảnh hưởng sâu sắc tới tư tưởng và đời sống của người phụ nữ, và trở thành bức tường ngăn cách người phụ nữ với những hạnh

Trang 29

phúc cá nhân Đời sống cá nhân bị coi thường, thậm chí bị đào thải khỏi tư tưởng khi mới bắt đầu hình thành, quan niệm này yêu cầu người phụ nữ sống lệ thuộc vào đàn ông, cố hết sức để sống theo ý muốn của người khác Quan niệm này chỉ mang một vài nét tích cực như giữ gìn được nét duyên dáng ý nhị cho người phụ Việt, về cơ bản là

hệ thống tư tưởng bất công, mang tính chất cực đoan khi gò ép con người một cách cứng nhắc Điều này ảnh hưởng sâu sắc tới các nhà văn nhà thơ trung đại, hình mẫu người phụ nữ được ca ngợi trong văn học là mẫu phụ nữ tuân thủ mọi quy tắc ứng xử, hành động ngôn ngữ đều có lễ nghi, phép tắc, những người phụ nữ phản diện là người

đi ngược mọi phép tắc đó Một số ít nhà thơ đã vượt qua bức tường ngăn cách đó để khắc họa hình tượng người phụ nữ dám đấu tranh để sống hạnh phúc, dám vượt qua rào cản để thể hiện quan điểm cá nhân

1.3.1.2 Quan điểm đề cao trinh tiết của người phụ nữ

Theo quan niệm Nho giáo, “trinh tiết” là sự trung thành của người đàn bà với

chồng, một lòng theo chồng khi chồng chết, không lấy chồng nữa Nếu gặp sự lăng nhục cường bạo, sẽ dùng cái chết mà cự tuyệt Nếu như sau khi chồng chết, tự mình chết theo càng được khen là “liệt”

Trong mắt nhìn của xã hội phong kiến, quả phụ tái giá sẽ được coi là nỗi nhục của gia đình, dòng tộc, và bị coi là tà dâm, chịu sự lên án của cả xã hội Kèm theo đó là những truyền thuyết mê tín dị đoan về hành động này, thuyết pháp phổ biến nhất là là phụ nữ sau khi tái giá, khi đến cõi âm sẽ bị hai người đàn ông cầm cưa mà cưa làm hai đoạn.Cùng tương ứng với nó, dân gian còn xuất hiện hiện tượng quái đản “vọng môn quả” Nếu người đàn ông qua đời chết trước khi cưới, người phụ nữ đó suốt đời không được lấy chồng, mà phải để tang người chồng quá cố Hủ tục này còn ép buộc người con gái đó phải ôm quan tài kết hôn, làm nghi lễ kết hôn giả với người quá cố, rồi trở thành con dâu của những gia đình đó như bình thường, sống cả cuộc đời trong cô độc, lạnh lẽo, dù có thể chưa biết mặt biết tên người chồng đó Tất cả những hành động đó chỉ để nhận lấy đức phong “trinh tiết khả phong” và trở thành danh dự cho cả một gia tộc Ngược lại, nếu xảy ra chuyện người phụ nữ đó yêu và kết hôn với người đàn ông khác, thì được coi nỗi sỉ nhục của cả gia tộc, cần phải trừng trị để làm gương cho kẻ

Trang 30

khác Người đứng đầu gia tộc đó có quyền ban ra hình phạt cao nhất có thể là giết Điều này khiến cho hủ tục này càng trở nên gay gắt, và quan niệm trinh tiết càng trở nên trầm

trọng

Tóm lại, trong xã hội phương Đông, chế độ nam quyền đã đề ra chuẩn mực kép về trinh tiết, đòi hỏi khắt khe người phụ nữ phải giữ gìn “cái tiết” nhưng không yêu cầu ngược lại ở đàn ông Quan niệm bất công này đã cướp đi của người phụ nữ những quyền lợi thuộc về nhân quyền, khiến họ phải chịu nhiều oan khổ, bất hạnh

1.3.1.3 Quan điểm kỳ thị nhan sắc của người phụ nữ

Trong chuẩn mực của xã hội phong kiến, người phụ nữ bị đặt trong những lễ giáo khắt khe, tài năng không được công nhận, và đến vẻ đẹp cũng bị chối từ Người phụ nữ được đề cao là những người sống đúng lễ nghi, vẹn toàn đạo nghĩa vợ chồng, cha mẹ,

vẻ đẹp được ca ngợi là vẻ đẹp về mặt đạo đức, còn vẻ đẹp hình thể, thiên tính nữ lại không được trân trọng Bởi lẽ đó, phụ nữ tài là một tai họa, và phụ nữ đẹp là mầm mống của cám dỗ, bất hạnh, khổ đau

Phật giáo chủ trương “tiết dục”, “diệt dục”, coi sắc là cái cần kiêng kỵ nên nhan sắc phụ nữ bị xem thường trong mắt các tín đồ đạo Phật Phật giáo coi sắc đẹp là nguyên nhân cho mọi khổ đau Do đó, tham dục là thứ lớn nhất ngăn cản con người đến với chân lý, đến với sự giải thoát Đức Phật dạy, Ngài không thấy một sức mạnh nào khuất phục được tâm trí đàn ông bằng hình dáng của phụ nữ Những học thuyết này có quan niệm riêng về phụ nữ, nhưng tựu trung lại, đều không đánh giá cao sắc đẹp, tuổi trẻ và tình yêu

Nho giáo đặt phụ nữ trong những mối quan hệ gia đình và xã hội, trong mối quan

hệ đó phụ nữ ở vị trí người phục tùng (tam tòng) Trong quan hệ vợ chồng, Nho giáo cũng đề cao nghĩa vụ và danh tiết hơn là tình yêu đôi lứa Ngay trong mối quan hệ này vẫn có sự kiểm soát nhất định về mặt thân xác (phê phán những người đẹp làm u mê bậc quân vương) “Đến là vợ chồng, Nho giáo cũng chủ trương “tương kính như khách” không được buông tuồng suồng sã đã đành, cũng không được hoàn toàn vui vẻ trẻ trung” Khi người phụ nữ vượt khỏi cương thường , họ bị phê phán và bị cho là nguyên nhân gây họa Đặt ra tiêu chuẩn cho nữ giới (tứ đức), Nho giáo đề cao đức hơn

là sắc (dung trong “công dung ngôn hạnh” là vẻ ưa nhìn dung dị không trang điểm)

Trang 31

Người phụ nữ khi cần phải hy sinh “thân thể xác” cho “thân danh tiết” “Trong các thứ tình, thứ dục thì Nho giáo sợ nhất là sắc đẹp đàn bà và tình yêu Đó là thứ tình mạnh nhất, thứ dục thiết tha nhất, thứ đam mê da diết nhất, dai dẳng nhất, bất trị nhất Cho nên đối với tình yêu, các nhà nho tỏ ra có nhiều nghi ngại, đặt ra nhiều lễ tiết, lo nghĩ, phòng phạm cẩn thận nhất Họ cho sắc đẹp là một thứ của “làm mất nước tan nhà”, một điềm

“bất tường” (Trần Đình Hượu) “Trong sự đối lập Tài và Đức, Tài bao giờ ít nhất cũng

“kém đức một vài phân”

Phật giáo có cái nhìn bình đẳng hơn về mặt giới tính so với Nho giáo (mặc dù Ấn giáo cổ đại cũng có những sự phân biệt đối xử với phụ nữ rất giống với kiểu “tam tòng” của đạo Nho, nhưng Phật giáo sau này do Đức Bồ Đề sáng lập lại có nguồn gốc từ những

ý tưởng về sự bình đẳng giữa con người với nhau khi đả kích lại các giáo sĩ Bà la môn) Tuy nhiên Phật giáo chủ trương kiểm soát và từ bỏ những ham muốn bình thường về mặt thể xác của con người, trong đó có sắc dục Đạo giáo cũng khuyên con người chớ chạy theo những ham muốn dục vọng bản năng Trong thiên Chí lạc, Trang Tử cho rằng việc chạy theo những nhu cầu thân xác là “ngu xuẩn” Ông chủ trương “vô vi” là điều vui thích nhất (ngô dĩ vô vi thành lạc hĩ) Nhờ nhận thức được những quy luật của sinh mệnh, con người ta không đau buồn trước cái chết Với tâm thức phản ánh bắt nguồn từ những quan niệm như thế thì không chỉ ở các nhân vật nữ, mà cả các nhân vật nam, những giá trị hiện hữu như tuổi trẻ, tình yêu, tài năng, … cũng khó trở thành yếu

tố hàng đầu

Tóm lại, kỳ thị nữ sắc cũng là một quan niệm phổ biến trong hệ thống những quan niệm về nữ giới ở Việt Nam thời trung đại Trong mắt của những học giả theo quan niệm này, sắc đẹp người phụ nữ, đặc biệt là vẻ đẹp quyến rũ, hấp dẫn về phương diện giới không biểu trưng cho cái tốt mà thường gắn với sự đen tối, sự cám dỗ sắc dục

1.3.1.4 Quan điểm coi thường đời sống bản năng của người phụ nữ

Trong xã hội phong kiến, người phụ nữ bị phải chịu nhiều thiệt thòi, không được sống thật với chính mình, và những nhu cầu bản năng là điều tối kị Nếu như người đàn ông có quyền năm thê bảy thiếp, thì người phụ nữ chính chuyên một chồng Đáng nói hơn nữa, với người đàn ông, nhu cầu tính dục được công nhận như một nhu cầu bình

Trang 32

thường thì ở người phụ nữ, nó lại có xu hướng sát nhập tiêu chuẩn kép về đạo đức: “Sự thừa nhận rằng việc giao hợp tính dục là điều kiện tự nhiên và thậm chí đáng tán dương

ở con trai, đàn ông nhưng lại đáng xấu hổ, phá hoại trật tự xã hội ở con gái, đàn bà”

[38.139] Chuẩn mực kép về hành vi tính dục cho phép nam giới có thể quan hệ tình dục ngoài hôn nhân, nhưng lại đòi hỏi phụ nữ phải giữ gìn trinh tiết, trinh tiết của người phụ nữ là cái được xã hội lượng giá “chữ trinh đáng giá ngàn vàng”

Vì vậy, có một hiện tượng bất công là trong quan niệm của những người có tư tưởng nam quyền, nam giới có thể có từ một đến rất nhiều phụ nữ để phục vụ nhu cầu tính dục Ngược lại, người phụ nữ nghĩ đến đời sống bản năng, hành động theo bản năng lại bị xem thường, khinh bỉ Trong khi đó, người phụ nữ có quan hệ ngoài hôn nhân lại

bị gọi là “dâm phụ”, bị xử bằng những nhục hình tàn nhẫn (cạo gáy bôi vôi, thả bè trôi sông, voi giày…) Hoặc ít nhất, những người phụ nữ này cũng bị đánh giá về nhân phẩm bằng con mắt khắt khe và nghiêm ngặt của các nhà Nho bảo thủ Trường hợp nàng Xuý

Vân trong vở chèo Kim Nham và nàng Kiều trong Truyện Kiều của Nguyễn Du là những

ví dụ tiêu biểu

Có thể thấy, trong xã hội phong kiến trọng nam khinh nữ, người phụ nữ bị giới hạn trong những lễ giáo khắt khe, đồng thời cũng bị coi thường, hạ thấp thân phận Những tài năng, khát vọng hạnh phúc, tình yêu, nhu cầu bản năng bị chà đạp, khước từ Không được nâng niu trân trọng và sống thật với chính mình, người phụ nữ thường rơi vào bi kịch khổ đau Quan điểm về “Tam tòng”, “Tứ đức”, quan niệm về trinh tiết, về

vẻ đẹp ngoại hình, về đời sống bản năng của người phụ nữ là những quan điểm tiêu biểu mang đặc trưng này

1.3.2 Nữ giới trong văn học viết Việt Nam thế kỷ XVIII – XIX

Một điều rất dễ nhận thấy là so với thời kỳ trước, loại hình nhân vật phụ nữ giai đoạn này rất đa dạng, phong phú Như trên đã phân tích, số lượng tác phẩm xuất hiện

“nữ nhi” đã ít, mà các loại hình nhân vật cũng không phong phú, đa dạng Nếu phân loại

xã hội học, thì nhân vật nữ của các giai đoạn trước thường tập trung ở tầng lớp trên trong

xã hội, là con cháu danh gia vọng tộc hoặc thê thiếp của quan lại, vua chúa, thông hiểu cầm kì thi họa Nhiều ma nữ trong các truyện vốn là những thê thiếp của các bậc vua chúa, quan lại hoặc phú thương Trong khi đó, ở giai đoạn này, nhân vật nữ thuộc đủ

Trang 33

các tầng lớp khác nhau trong xã hội “Người phụ nữ trong giai đoạn này, có người là phụ nữ quý tộc, có người là phụ nữ bình dân, phụ nữ lao động, có người là ca nhi, kỹ nữ,… Họ hoàn toàn không phải là người phụ nữ theo cái mẫu “công dung ngôn hạnh”,

“tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu”… của lễ giáo phong kiến” [42; 77]

Nếu xét theo các kiểu loại, mô típ phản ánh trong văn học, thì bên cạnh việc vận dụng các điển tích, điển cố truyền thống, nhân vật chức năng trong truyện dân gian (cổ tíchtruyền thuyết), kiểu mẫu của Nho giáo, thì ở giai đoạn này các tác giả còn đưa vào rất nhiều những nhân vật nữ có thực trong cuộc sống hay là sự phản ánh rất gần với cuộc sống thực Những ả đào, kỹ nữ là nhân vật thời đại nổi bật đã đi vào thơ của Phạm Đình

Hổ, Nguyễn Du, … Nàng cung nữ hẳn không xa lạ gì với một người sống trong phủ chúa như Nguyễn Gia Thiều Những số phận, cuộc đời đó đều gần gũi với đời sống hàng ngày, là những người phụ nữ quanh ta, lối khắc họa vẫn của các nhà thơ vẫn còn nét ước lệ tượng trưng, nhưng trong đời tư cảm xúc thì vô cùng chân thật Điều đó khiến hình tượng người phụ nữ trong văn học giai đoạn này phong phú, đa dạng không kém phần đặc sắc, độc đáo

Người phụ nữ ngày xưa xuất hiện trong văn học thường là những người phụ nữ đẹp Vẻ đẹp của người phụ nữ được các tác giả chú ý khắc họa một cách toàn diện ở cả ngoại hình và nội tâm Đó là cái đẹp từ hình thức cho đến tâm hồn, cái đẹp lay động con người từ những giá trị thực, được cảm nhận qua nhiều bình diện Những người phụ nữ trong xã hội có thể có những hoàn cảnh sống khác nhau, thuộc những tầng lớp xã hội khác nhau nhưng phần lớn đều mang những đức tính tốt đẹp, cao quý, có nhân cách và phẩm hạnh đáng được tôn trọng Họ nhận được những cái nhìn thiện cảm, những tình cảm trân trọng của các tác giả Đều là đẹp nhưng mỗi người lại mang một vẻ đẹp khác nhau, mỗi thân phận có một đặc điểm ngoại hình riêng biệt Người phụ nữ bình dân sống một cách thanh đạm, không có nhà cao cửa rộng, không có châu báu ngọc ngà mà khỏe khoắn và gắn liền với môi trường họ đang sống, gắn liền với công việc, với tự nhiên Những người phụ nữ bình dân thường đơn giản, mộc mạc và bình dị Mỗi một môi trường sống tạo cho người phụ nữ một vẻ đẹp bề ngoài phù hợp, không gượng gạo

Chính sự phù hợp ấy đã làm nên nét đẹp riêng của họ: - “Sơn thôn nhi nữ cái vô hoa” (Con gái làng núi mái tóc không cài hoa) (Quá sơn gia - Miên Trinh) “Tân đầu chúng

Trang 34

nữ cán, Chiếu kiến hồng phấn trang Hồng trang nhập hoa lí, Hồ điệp loạn y thường”

(Đầu bến, các cô gái giặt áo, Soi thấy má hồng trang điểm của mình Má hồng son phấn

đi vào hoa, Bướm bay vờn trên xiêm áo) (Nam hồ - Miên Trinh) Trong tác phẩm Bánh trôi nước của nữ sĩ Hồ Xuân Hương, hiện lên hình ảnh người con gái "vừa trắng lại vừa tròn", một người mang vẻ bề ngoài đầy đặn, tròn trịa Từ những cô gái quê chân chất đến tiểu thư đài các con của viên ngoại "gia tư nghĩ cũng thường thường bậc trung" đều

mang vẻ đẹp thật đáng yêu, đáng quý Như Thúy Vân và Thúy Kiều trong tác phẩm lớn

của đại thi hào Nguyễn Du "Truyện Kiều", là hai tiểu thư cành vàng lá ngọc, thông minh

xinh đẹp "mai cốt cách, tuyết tinh thần' Tuy mỗi người một vẻ nhưng ai cũng vô cùng xinh đẹp, dáng vẻ thanh thoát, yêu kiều như nhành mai, còn tâm hồn lại trắng trong như băng tuyết, thanh cao, kiều diễm và quý phái Tuy nhiên, sắc đẹp của đa số nhân vật

nữ trong văn học giai đoạn này thường gắn liền với một phần phẩm chất không thể thiếu được, đó là tài Ở họ, sắc và tài tạo thành một cặp đặc điểm không tách rời nhau Theo quan niệm của các tác giả văn học trung đại, tài gồm bốn mặt sau đây: cầm (đàn), kì (cờ), thi (thơ), hoạ (vẽ), nghĩa là: có tài đánh đàn, chơi cờ, làm thơ và vẽ, đặc biệt với

Thúy Kiều đó còn là tài soạn nhạc “ khúc nhà tay lựa nên xoang/ Một thiên bạc mệnh lại càng não nhân” Có thể coi Thuý Kiều của Nguyễn Du là nhân vật tiêu biểu cho phẩm chất nói trên Tiếng đàn của nàng làm cho Kim Trọng phải “ngơ ngẩn sầu”, làm cho Thúc Sinh “cũng tan nát lòng” và làm cho Hồ Tôn Hiến “nhăn mày, rơi châu” Tài

làm thơ của Kiều nhanh đến khó mà tưởng tượng nổi:

“Tay tiên một vẫy đủ mười khúc ngâm

…Tay tiên gió táp mưa sa…”

Thơ của Kiều có thể cảm thông được quỷ thần, khiến hồn ma Đạm Tiên phải hiện

lên, khiến viên quan phủ “mặt sắt đen sì” phải rủ lòng thương, không những chỉ tha cho

Kiều mà còn đứng ra làm lễ tác hợp cho nàng được lấy Thúc Sinh

Những người phụ nữ đẹp là thế, vậy mà đáng tiếc thay họ lại sống trong một xã hội phong kiến thối nát với bộ máy quan lại mục ruỗng, chế độ trọng nam khinh nữ vùi dập số phận họ Càng xinh đẹp họ lại càng đau khổ, lại càng phải chịu nhiều sự chén ép, bất công Như một quy luật khắc nghiệt của thời bấy giờ "hồng nhan bạc phận".Với đầy

đủ những vẻ đẹp đó, đáng lẽ ra, người phụ nữ phải được sống một cuộc sống hạnh phúc

Trang 35

trọn vẹn nhưng ở giai đoạn này, cả nước Việt chìm trong những ràng buộc, lễ giáo khắc nghiệt tối tăm Và vô hình chung, số phận của người phụ nữ cũng không thể nào vượt

ra khỏi ranh giới của hoàn cảnh xã hội Những người phụ nữ trong xã hội phong kiến thường không được làm chủ cuộc đời mình, không được sống theo cách mình mong muốn mà luôn bị sự chi phối của hàng loạt những quy tắc, chuẩn mực đạo đức được áp đặt ăn sâu bám rễ trong nhận thức của con người thời đại ấy Xã hội phong kiến luôn yêu cầu rất nhiều ở người phụ nữ nhưng lại chẳng cho người phụ nữ một thứ quyền lợi nào xứng đáng với những yêu cầu ấy Hoàn cảnh chung của một tỉ lệ lớn phụ nữ trong thời phong kiến là không được xem trọng, không có chỗ đứng xã hội (có rất ít phụ nữ được đi học và dẫu có đi học cũng không thể tham gia thi cử, đỗ đạt làm quan) và tiếng nói của họ cũng không thực sự có giá trị trong cả gia đình lẫn ngoài xã hội Dưới chế độ phong kiến, mọi thế lực xã hội, kể cả gia đình, đều có thể chà đạp lên thân phận người phụ nữ Đứng đầu các thế lực xã hội thời bấy giờ là vua chúa Để phục vụ cho việc ăn chơi truỵ lạc, bọn chúng đã kén hàng trăm cô gái trẻ trung, xinh đẹp vào cung làm phi tần

Đó là những người cung nữ xinh đẹp, tài hoa, khát khao hạnh phúc thì bị nhà vua

bỏ rơi, sống cô đơn, mòn mỏi, lạnh lẽo nơi cung cấm, chôn vùi tuổi thanh xuân trong

cung điện thâm u trong Cung oán ngâm khúc ( Nguyễn Gia Thiều) Đó là những người

phụ nữ chỉ có một khát vọng rất bình thường là được chung sống cùng với người chồng thân yêu, song lại rơi vào cảnh đau đớn “tử biệt sinh li”, đằng đẵng chờ đợi không biết

có ngày gặp lại trong Chinh phụ ngâm (Đặng Trần Côn) Nàng Kiều của Nguyễn Du xinh đẹp tài hoa là thế, nhưng lại bị dập vùi trong cảnh "Thanh lâu hai lượt, thanh y hai lần", liên tiếp bị đầy đọa cả về thể xác lẫn tinh thần để rồi phải thốt lên (thực tế là sự đầu hàng hoàn cảnh) rằng: "Thân lươn bao quản lấm đầu/ Chút lòng trinh bạch từ sau xin chừa!" Đây không chỉ là bi kịch của riêng nàng Kiều, mà còn là bi kịch chung của

những người phụ nữ trong xã hội phong kiến Mặt khác văn học trung đại Việt Nam, bước đầu đã phản ánh được quan niệm về con người cá nhân trong xã hội Nhiều nhân vật nữ trong giai đoạn này cũng thể hiện sự phản kháng, sự tố cáo xã hội cũ, nêu lên nhiều suy nghĩ, nhiều quan điểm chống đối lại quan điểm của xã hội phong kiến

Trang 36

Từ thế kỉ XVIII đến đầu thế kỉ XIX, trong các thể loại văn học, thơ ca cũng như văn xuôi tự sự, tác phẩm viết bằng chữ Hán cũng như viết bằng chữ Nôm,… dường như

nở rộ đề tài viết về người phụ nữ và hình tượng người phụ nữ nổi bật lên với hai nét cơ bản: hiện thân của cái đẹp và hiện thân của bi kịch đau thương Từ góc nhìn của văn học trong giai đoạn này, người phụ nữ chủ yếu được phản ánh nghiêng về số phận bất hạnh

và vẫy vùng trong lời kêu oán, than thân với khát vọng được giải phóng

1.4 Khái quát về tác giả, tác phẩm

1.4.1 Phạm Thái và tác phẩm Sơ Kính Tân Trang

là huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình), ông đến viếng mộ bạn và cha bạn là Kiến Xuyên hầu Trương Đăng Quý yêu mến, lưu lại ở nhà mình Cũng từ đây, Phạm Thái quen biết rồi yêu em gái bạn là Trương Quỳnh Như Cặp trai tài gái sắc tâm đâu ý hợp đã cùng nhau sáng tác văn thơ để bày tỏ tình cảm với nhau Mối tình đó đã trở thành mối tình theo Phạm Thái đến suốt cuộc đời, thành nguồn cảm hứng trong thơ văn của ông Biến

cố xảy ra khi Quỳnh Như bị ép cưới người đàn ông khác, Quỳnh Như đã tự vẫn để giữ trọn lời thề với người mình yêu Tình yêu ấy là hình mẫu của mối tình Quỳnh Thư – Phạm Kim, là mối day dứt khôn nguôi trong lòng tác giả, khiến những sáng tác sau này của nhà thơ đều ngập cảm xúc cá nhân

Nội dung thơ văn Phạm Thái mang tính chất tự do phóng túng như con người cá nhân của ông Ngòi bút của ông thể hiện quan điểm cá nhân, đôi khi đi ngược với văn hóa thời bấy giờ, đó là một tâm hồn khát khao yêu đương, khát khao hạnh phúc bất chấp mọi lễ giáo chuẩn mực đạo đức phong kiến, đi ngược mọi khuôn phép thời bấy giờ Ông

Trang 37

ca ngợi vẻ đẹp của người phụ nữ bằng bút pháp trữ tình lãng mạn, đề cao vẻ đẹp hình thức bên ngoài, và đề cao khát khao cá nhân

Về mặt nghệ thuật, Ông là người góp tiếng nói trong việc phát triển truyện thơ nôm bằng ngôn ngữ dân tộc

1.4.1.2 Tác phẩm Sơ kính tân trang

Sơ kính tân trang ra đời vào giai đoạn hưng thịnh của truyện thơ Nôm, đang có

sự phát triển vượt bậc về cả chất lượng và số lượng các tác phẩm Bên cạnh đó dòng văn

học trữ tình ca ngợi tình yêu lứa đôi đang nở rộ, bởi thế Sơ kính tân trang phần nào đã

kế thừa những tinh hóa giá trị văn học thời bấy giờ Tuy nhiên đây là tác phẩm thuần Việt vì cốt truyện hoàn toàn thuần Việt không có sự vay mượn từ Trung Quốc

Sơ kính tân trang là câu chuyện về cuộc đời Phạm Thái giống như một tự truyện

cá nhân của ông kể về mối tình sâu sắc với Quỳnh Như Thấp thoáng trong hình bóng nhân vật chính là cuộc đời và tình yêu của tác giả Tác phẩm ca ngợi tình yêu tự do táo bạo vượt mọi rào cản của cặp đôi Phạm Kim – Quỳnh Thư Trái với cái kết đau buồn của hiện thực, Phạm Thái đã sáng tạo để chuyện tình đó mang cái kết hậu, qua giai đoạn tái thế tương phùng Điều này phù hợp với khát khao của tác giả, vừa phù hợp với quan niệm ở hiền gặp lành của người Việt Mặc dù phương diện nghệ thuật tác phẩm còn nhiều hạn chế nhưng chính tính chất tự truyện và nét thuần túy Việt Nam từ quê hương,

cảnh sắc, con người đã tạo những đặc sắc, độc đáo riêng cho Sơ kính tân trang trong

dòng truyện Nôm bác học đương thời Đồng thời bằng đôi mắt đồng cảm và trân trọng nhân vật, Phạm Thái đã khắc họa nên chân dung người phụ nữ Việt với những ý nhị, duyên dáng, sâu sắc nhưng không kém phần chủ động, quyết liệt trong tình yêu Người đọc thấy ở đó hình ảnh người con gái Việt truyền thống thủy chung tha thiết trong tình yêu, hiếu thảo lễ phép với cha mẹ, dịu dàng ý nhị trong ứng xử khuôn phép, nhưng vẫn

có nét riêng bộc lộ cá tính bản thân, một điều hiếm hoi ở các nhân vật văn học trung đại

Có thể nói, Phạm Thái đã rất tinh tế trong việc khắc họa nội tâm, ứng xử của nhân vật

Luận văn đi sâu khảo sát lối ứng xử truyền thống và những nét mới mẻ, sự chủ động, mạnh mẽ trong ứng xử của nhân vật Quỳnh Thư (Thụy Châu) trong các mối quan

hệ gia đình, tình yêu, xã hội Từ đó, đưa đến một hướng tiếp cận mới cho tác phẩm, giúp người đọc có cái nhìn đa chiều về nhân vật trung đại

Trang 38

1.4.2 Nguyễn Du và tác phẩm Truyện Kiều

1.4.2.1 Tác giả Nguyễn Du

Nguyễn Du (1765 – 1820), tên chữ Tố Như, hiệu Thanh Hiên quê ở làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh Giữa Nguyễn Du và Nguyễn Huy Tự có thể tìm thấy mối quan hệ trước hết về quê hương Đây nổi tiếng là vùng đất địa linh nhân kiệt,

là mảnh đất đã sản sinh những nhân tài lỗi lạc suốt các thế kỷ Nguyễn Du xuất thân trong một gia đình đại quý tộc phong kiến Thân phụ Nguyễn Du là Nguyễn Nghiễm, đậu nhị giáp tiến sĩ, từng giữ chức Tể tướng trong triều đình Anh cả là Nguyễn Khản, đậu đồng tiến sĩ, làm quan đến chức tham tụng Không chỉ có vậy, gia đình Nguyễn Du còn có nhiều người cùng làm quan to dưới triều Lê

Nói đến ảnh hưởng từ yếu tố gia đình đến tác giả Đoạn trường tân thanh, không

thể không nhắc đến ảnh hưởng của người mẹ Thân mẫu Nguyễn Du là người con gái

xứ Kinh Bắc, mảnh đất vốn có tiếng phong lưu tao nhã, dịu dàng với những làn điệu dân

ca quan họ đằm thắm, đậm chất trữ tình Nguyễn Du từ nhỏ đã được biết đến là người khôi ngô, thông minh lại ham đọc sách Thời thơ ấu và niên thiếu, Nguyễn Du sống trong vàng son, nhung lụa của cuộc sống quý tộc giàu sang Nguyễn Du đã được chứng kiến tất cả những hào hoa, tráng lệ của mảnh đất kinh kì và cuộc sống xa hoa vào buổi

xế chiều của triều đình Lê – Trịnh Trong thời gian này, nhà thơ có điều kiện thuận lợi

để dùi mài kinh sử, có dịp hiểu biết về cuộc sống của giới quý tộc phong kiến Những yếu tố này đã để lại dấu ấn trong sáng tác của Nguyễn Du sau này

Giữa buổi loan ly, cuộc sống quý tộc giàu sang của Nguyễn Du đã bị cơn bão táp của thời đại đẩy lùi vào quá khứ Mưu đồ khôi phục nhà Lê thất bại, ông chán nản trở

về Tiên Điền “Mười năm gió bụi” trong cảnh sống thiếu thốn, chật vật nhưng chính giai

đoạn này đã giúp Nguyễn Du có điều kiện hiểu biết quần chúng và ngôn ngữ nghệ thuật dân gian Đến năm 1802 khi Nguyễn Ánh lên ngôi, Nguyễn Du ra làm quan dưới triều Gia Long Trong thời gian này, Nguyễn Du có dịp đi sứ Trung Quốc Đây là cơ hội để nhà thơ có dịp tiếp xúc với nền văn hóa Trung Hoa đã quen thuộc qua sử sách, văn chương, mở rộng vốn hiểu biết và tầm khái quát những vấn đề xã hội

Trang 39

Từ ảnh hưởng của quê hương, gia đình, từ cuộc đời của chính Nguyễn Du trong một hoàn cảnh lịch sử đặc biệt, tất cả những yếu tố đó đã làm nên tài năng, nhân cách nhà đại thi hào và tập đại thành của văn học dân tộc: Truyện Kiều

tạo đó Nhưng sáng tạo của Nguyễn Du không đơn thuần nằm ở việc thêm hay bớt so với

cốt truyện vay mượn Truyện Kiều trở thành kiệt tác cũng bởi vì “Nguyễn Du đã sáng tạo lại chủ yếu là với những nguyên liệu của mình, những điều nghe thấy, cảm xúc suy nghĩ của mình trong hoàn cảnh xã hội Việt Nam, ở thời đại Nguyễn Du Linh hồn câu chuyện trước hết là những tình cảm của Nguyễn Du” [17, tr.363]

Lòng thương xót, sự cảm thông, việc đề cao nhân cách, tài năng của người phụ

nữ được Nguyễn Du kế thừa từ tinh thần nhân văn của văn hóa dân tộc mà truyền thống tôn trọng người phụ nữ, tín ngưỡng thờ mẫu đề cao vai trò người mẹ là những giá trị tiêu biểu Những giá trị nhân văn trong các tác phẩm của Nguyễn Du còn được Đại thi hào kế thừa từ tinh thần nhân đạo và dân chủ của văn hóa, văn học dân gian, từ các giá trị nhân bản của Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo và từ tín ngưỡng, phong tục, tập quán dân tộc Tuy nhiên, nhà thơ không chỉ kế thừa mà đã nâng các giá trị nhân văn đó lên một bước mới, đem lại cho nó giá trị nhân loại Nhân vật Thúy Kiều trong Truyện Kiều của Nguyễn Du đã thể hiện vẻ đẹp tâm hồn và những phẩm chất truyền thống cao quý của người phụ nữ Việt Nam như tấm lòng thủy chung son sắt, sự nết na, thùy mỵ, bản lĩnh và nghị lực, thái độ coi trọng nhân cách, coi trọng sự trắng trong của tâm hồn và thể xác Nguyễn Du ca ngợi tài năng đặc biệt của Kiều - những thứ tài không những không được người đời chấp nhận mà còn bị khinh rẻ, dập vùi Sự tài hoa đã trở thành tiêu chí của cái đẹp, cái thẩm mỹ Ông không xây dựng nhân vật của mình thành một thánh nữ

Trang 40

Thúy Kiều của Nguyễn Du hết sức đời thường, gần gũi, như bước vào trang sách từ chính cuộc đời thực

Xét trên phương diện văn hóa ứng xử mà luận văn khảo sát, nhân vật Thúy Kiều vừa mang những nét ứng xử duyên dáng ý nhị của một cô gái khuê phòng, nhưng cũng

có sự táo bạo, chủ động vượt lên trên nét ứng xử truyền thống Nhìn nhận Thúy Kiều

từ một hướng tiếp cận mới này, khiến hình tượng nhân vật đa chiều hơn, khảo sát sâu

hơn, qua đó thấy được sự tài tình của Nguyễn Du Thế giới trong Truyện Kiều rộng lớn

với hệ thống nhân vật đa dạng đủ tầng lớp, thành phần, với mỗi đối tượng khác nhau lại bộc lộ ở Kiều những cách đối nhân xử thế khác nhau Nhưng tựu chung lại, chữ “tâm”, chữ “tình” vẫn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong văn hóa ứng xử của nhân vật, để mỗi quyết định đưa ra đều thấu tình đạt lý, thấm đượm tư tưởng nhân nghĩa nhân văn sâu sắc của người Việt

Ngày đăng: 12/10/2018, 08:46

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w