Tâm lý học tội phạm vận dụng những tri thức củakhoa học tâm lý nhằm lý giải các quy luật nảy sinh, vận hành và biến đổi của cáchiện tượng tâm lý ở người phạm tội trong quá trình họ thực
Trang 1Chương 1 TÂM LÝ HỌC TỘI PHẠM
I KHÁI NIỆM, ĐỐI TƯỢNG, NHIỆM VỤ CỦA TÂM LÝ HỌC TỘI PHẠM
1 Khái niệm tâm lý học tội phạm
Sau khi được sinh ra, đến một giai đoạn nhất định, con người bắt đầu thamgia vào các hoạt động xã hội Với tư cách là một thành viên của xã hội, con ngườitiếp nhận các tri thức, kinh nghiệm và hệ thống các chuẩn mực xã hội Dựa trênhiểu biết đó, con người có thể phân biệt đúng, sai, tốt, xấu, phù hợp, không phùhợp, từ đó hình thành và bộc lộ hệ thống các thái độ tương ứng Cùng với việc tiếpthu các kỹ năng, kỹ xảo cần thiết, con người thực hiện các hành động cụ thể nhằmthay đổi thế giới xung quanh theo ý muốn của mình Như vậy, con người trở thànhmột chủ thể tích cực, một thành viên thật sự của xã hội Đó chính là quá trình xãhội hoá cá nhân Nếu quá trình này thuận lợi, ở cá nhân sẽ hình thành những đặcđiểm tâm lý tích cực, giúp nhân cách phát triển Ngược lại, nếu quá trình xã hộihoá cá nhân không thuận lợi, các đặc điểm tâm lý tiêu cực sẽ xuất hiện, dẫn đến sựsuy thoái nhân cách Các đặc điểm tâm lý tiêu cực ở cá nhân tác động với nhữngđiều kiện, hoàn cảnh cụ thể là nguyên nhân dẫn đến hành vi lệch chuẩn, trong đó
có hành vi phạm tội
Hành vi phạm tội được diễn ra theo một quá trình, gồm nhiều giai đoạn vàchịu sự chi phối của các quy luật tâm lý Ở người phạm tội, trong quá trình này,xuất hiện các hiện tượng tâm lý có vai trò quan trọng trong việc điều khiển, điềuchỉnh hành vi phạm tội của họ Tâm lý học tội phạm vận dụng những tri thức củakhoa học tâm lý nhằm lý giải các quy luật nảy sinh, vận hành và biến đổi của cáchiện tượng tâm lý ở người phạm tội trong quá trình họ thực hiện hành vi phạm tội,phân tích các đặc điểm tâm lý trong nhân cách của người phạm tội và nghiên cứu
Trang 2tâm lý của một số chủ thể đặc trưng như nhóm phạm tội, người chưa thành niênphạm tội…
Tâm lý học tội phạm là một ngành khoa học ứng dụng, là một phân ngành củatâm lý học pháp lý, có mối quan hệ mật thiết với các chuyên ngành khác nhau củakhoa học tâm lý như tâm lý học đại cương, tâm lý học xã hội, tâm lý học nhâncách…
Vậy, Tâm lý học tội phạm là một ngành khoa học nghiên cứu các quy luật nảysinh, vận hành và biến đổi của các hiện tượng tâm lý ở người phạm tội
2 Đối tượng nghiên cứu của tâm lý học tội phạm
Đề cập đến đối tượng nghiên cứu của tâm lý học tội phạm, các nhà tâm lý họccòn có nhiều ý kiến khác nhau Đa số các quan điểm cho rằng đối tượng nghiêncứu của tâm lý học tội phạm là tâm lý người phạm tội, tức là những hiện tượng tâm
lý với tư cách là một hiện tượng tinh thần do hiện thực khách quan tác động vàonão người phạm tội sinh ra Người phạm tội ở đây được hiểu với nghĩa rộng, baogồm cá nhân và nhóm người thực hiện hành vi phạm tội
Như vậy, đối tượng nghiên cứu của tâm lý học tội phạm là các hiện tượng tâm
lý của người phạm tội
3 Nhiệm vụ của tâm lý học tội phạm
a Nhiệm vụ chung của tâm lý học tội phạm
Nhiệm vụ chung là xây dựng và không ngừng hoàn thiện hệ thống lý luận củatâm lý học tội phạm nhằm đáp ứng những yêu cầu đòi hỏi ngày càng cao của thựctiễn hoạt động đấu tranh phòng chống tội phạm, bảo vệ An ninh Quốc gia và giữgìn trật tự an toàn xã hội
b Nhiệm vụ cụ thể của tâm lý học tội phạm
Trên cơ sở nhiệm vụ chung đã được xác định, tâm lý học tội phạm có nhữngnhiệm vụ cụ thể là:
- Nghiên cứu nguồn gốc, nguyên nhân của tâm lý tội phạm;
Trang 3- Cấu trúc tâm lý, cơ chế tâm lý của hành vi phạm tội, diễn biến tâm lý củangười phạm tội;
- Sự hình thành và suy thoái nhân cách của người phạm tội;
- Tâm lý của nhóm phạm tội;
- Tâm lý của người chưa thành niên phạm tội và những loại người phạm tội
cụ thể khác
4 Các phương pháp nghiên cứu của tâm lý học tội phạm
Để thực hiện được các nhiệm vụ trên, tâm lý học tội phạm sử dụng hệ thốngcác phương pháp chung của tâm lý học như: phương pháp quan sát, phương pháptrò chuyện, phương pháp phỏng vấn, phương pháp khái quát hóa các nhận xét độclập…Bên cạnh đó, tâm lý học tội phạm có sử dụng một số phương pháp đặc trưngnhư:
a Phương pháp quan sát
Quan sát là sự tri giác có chủ định các biểu hiện bề ngoài của con người nhưhành động, cử chỉ, ánh mắt, nét mặt, cách nói năng, cách ăn mặc nhằm nhận xét,phán đoán các đặc điểm tâm lý của họ
Phương pháp quan sát được sử dụng một cách phổ biến trong hoạt động tốtụng Phương pháp này giúp bạn có thể phán đoán được các diễn bến nội tâm củađối tượng Chẳng hạn, thông qua quan sát cách biểu cảm trên nét mặt của bị cáo vàcác biểu hiện hành vi của họ, bạn có thể phán đoán thái độ của họ đối với hành vi
mà họ đã thực hiện Phương pháp này cũng có thể sử dụng để phán đoán về đặcđiểm tâm lý của đối tượng Khi ta quan sát hành vi, cách nói năng, ăn mặc của mộtngười, ta có thể đoán, họ là người như thế nào, tính cách, trình độ nhận thức của họ
ra sao
Trong hoạt động pháp lý, phương pháp quan sát có một số đặc điểm đặc thùsau:
Trang 4- Chủ thể tiến hành quan sát cũng có thể trở thành đối tượng bị quan sát Cónghĩa là, khi ta tiếp xúc với một đối tượng để thu thập thông tin, thì họ (đặc biệt là
bị can, bị cáo) cũng rất muốn biết ta đang nghĩ gì, muốn gì ở họ Vì vậy, họ cũngtiến hành quan sát ta để có được những thông tin cần thiết về chủ thể đang quan sátmình
- Việc sử dụng phương pháp quan sát có thể gặp những trở ngại nhất định, vìđối tượng của quan sát có thể có những động tác giả để che đậy nội tâm của mình.Đây là đặc điểm đặc thù của hoạt động tư pháp Đối với người phạm tội hoặcnhững người có thái độ không thành khẩn thì khi tiếp xúc với người cán bộ tưpháp, họ luôn có ý thức che dấu những diễn biến nội tâm của mình Họ có thể dùngnhững động tác giả bên ngoài để đánh lạc hướng chủ thể quan sát Chẳng hạn, một
bị cáo tại phiên toà có thể khóc nức nở và thể hiện sự hối hận một cách rất “nghệ
thuật” mặc dù thật tâm anh ta không hề hối cải.
- Điều kiện của hoạt động tư pháp có thể gây những tác động lớn đối với tâm
lý của các chủ thể tham gia Vì vậy, tâm lý của họ thường bộc lộ dưới rất nhiều sắcthái khác nhau Chẳng hạn, cũng là thái độ khai báo của người làm chứng, khi khaibáo tại cơ quan điều tra, họ có thể tích cực và chủ động Nhưng tại phiên toà, sựchú ý của nhiều người có thể gây cho người làm chứng tâm lý e ngại, làm cho họtrở nên thụ động hơn khi khai báo
Từ những đặc thù trên, khi sử dụng phương pháp này, ta cần chú ý những vấn
đề sau:
- Xác định rõ mục đích, nội dung và kế hoạch quan sát Phương pháp quan sátthường đạt hiệu quả cao khi ta đã có những giả thiết nhất định về đối tượng, vàquan sát là để kiểm tra giả thiết đó
- Không nên để lộ cho đối tượng bị quan sát biết được mục đích của ngườiquan sát Nếu họ biết được mục đích của người quan sát, họ có thể mất tự nhiên,không thoải mái, thậm chí giả tạo, đóng kịch
Trang 5- Sự biểu hiện của tâm lý là rất đa dạng và phụ thuộc vào tình huống Do đó,
ta cần tiến hành quan sát đối tượng nhiều lần trong những tình huống khác nhau
- Ghi chép kết quả quan sát một cách chi tiết, khách quan và không được cóđịnh kiến khi đánh giá đối tượng
b Phương pháp phỏng vấn cá nhân
Phỏng vấn là phương pháp thu thập thông tin về người phạm tội bằng cáchtrưng cầu ý kiến miệng
Hai hình thức phổ biến nhất của phỏng vấn là tự do ( không tuyên bố chủ đề
và hình thức đàm thoại ) và chẩn mực hóa ( về hình thức gần giống với loại điềutra bằng bảng hỏi )
Khi tiến hành phỏng vấn cần cúy ý đến một số yêu cầu như:
- Người tiến hành phỏng vấn nên đưa ra những câu hỏi rành mạch, rõ ràng
- Trong trường hợp cần thiết cần tạo ra một không khí thẳng thắn và tin tưởng
để tranh thủ sự hợp tác của những người được hỏi
c Phương pháp nghiên cứu văn bản, tài liệu, hồ sơ
Trong tâm lý học tội phạm cũng như nhiều khoa học khác thường sử dụngnghiên cứu văn bản, tài liệu, hồ sơ Về thực chất đây là phương pháp tìm hiểu tâm
lý người phạm tội thông qua việc hệ thống hóa các thông tin về quan hệ, về môitrường sống, hoạt động của người phạm tội – yếu tố có ý nghĩa quyết định nộidung, phẩm chất tâm lý người phạm tội.Vì vậy việc nghiên cứu này giúp ta có cơ
sở để phát hiện các phẩm chất tâm lý của người phạm tội như: trình độ học vấn,khinh nghiệm, nghề nghiệp, vốn sống xã hội , quan điểm chống đối …
d Phương pháp thực nghiệm
Thực nghiệm là phương pháp mà chủ thể chủ động tạo ra tình huống nhằmlàm xuất hiện ở đối tượng những hiện tượng tâm lý cần quan tâm, tiến hành đo đạc,định lượng chúng một cách khách quan
Trang 6Ví dụ: Để nghiên cứu sự ảnh hưởng của áp lực nhóm đối với cá nhân, người
ta yêu cầu 5 đối tượng đứng cách đêù hai đoạn thẳng có độ dài khác nhau (sự khácnhau về độ dài của hai đoạn thẳng có thể nhận thấy được từ vị trí của mỗi người).Sau đó yêu cầu họ đưa ra ý kiến của mình về độ dài của hai đoạn thẳng đó Bốnngười trả lời trước, do được nhà nghiên cứu bí mật thống nhất trước, đều nhận xét
là hai đoạn thẳng đó bằng nhau Ngươì thứ 5 trả lời sau cùng, dưới áp lực củanhóm, cũng theo bạn mình nhận xét về sự bằng nhau của hai đoạn thẳng Trongtrường hợp này, chúng ta đã sử dụng phương pháp thực nghiệm
Tình huống được tạo ra trong phương pháp thực nghiệm có vai trò quantrọng Chúng là điều kiện để hình thành những hiện tượng tâm lý mà chúng ta cầnquan tâm Thực chất các tình huống này là những vấn đề, những “bài toán” mà nhànghiên cứu đặt ra cho các đối tượng và căn cứ vào cách giải quyết của họ để xácđịnh đặc điểm của đối tượng nghiên cứu
Người ta phân biệt nhiều loại thực nghiệm khác nhau:
- Thực nghiệm tự nhiên là thực nghiệm dựa vào những điều kiện hoàn cảnhtrong cuộc sống và hoạt động của đối tượng Trong hoạt động tố tụng các thựcnghiệm điều tra chủ yếu thuộc loại này Ví dụ: thực nghiệm diễn lại hành động,việc làm nhằm kiểm tra lời khai của bị can, người bị tạm giữ, người làm chứng
- Thực nghiệm giáo dục là loại thực nghiệm nhằm phát triển, rèn luyện hoặcuốn nắn những phẩm chất tâm lý nào đó ở đối tượng Loại thực nghiệm này đượcdùng trong quá trình giam giữ cải tạo phạm nhân
- Thực nghiệm trong phòng thí nghiệm là những thực nghiệm nhằm nghiêncứu những đặc điểm tâm lý nhất định, được tiến hành trong những phòng được bốtrí đặc biệt với những máy móc, thiết bị tinh vi
Để kết quả rút ra từ phương pháp thực nghiệm có đủ độ tin cậy, cần tiến hànhthực nghiệm nhiều lần và phối hợp với các phương pháp khác
đ Phương pháp điều tra bảng hỏi cá nhân
Trang 7Phương pháp điều tra bảng hỏi cá nhân là dùng một số câu hỏi nhất loạt đặt racho một số lớn đối tượng nghiên cứu nhằm thu thập ý kiến chủ quan của họ về mộtvấn đề nào đó.
Sử dụng phương pháp này có thể trong một thời gian ngắn thu thập được một
số ý kiến của nhiều người, nhưng là ý kiến chủ quan Đẻ có tài liệu tương đối chínhxác, cần soạn kỹ bản hướng dẫn điều tra ( người sẽ phổ biến bảng câu hỏi điều tracho các đối tượng ) vì nếu những người này phổ biến một cách tùy tiện thì kết quả
sẽ rất khác nhau và sẽ không có giá trị khoa học
Dựa vào các phiếu điều tra, sẽ giúp ta nghiên cứu những nguyên nhân tâm lý
xã hội của hành vi phạm tội cụ thể, đặc điểm tâm lý nhân cách của người phạm tội
e Phương pháp nghiên cứu sản phẩm của hoạt động
Tâm lý con người được biểu hiện trong hoạt động, được “chất chứa” vào cácsản phẩm hoạt động, trở thành những hiện tượng tâm lý tiềm tàng, tích đọng trongđó
Vì vậy, dựa vào việc phân tích kết quả, sản phẩm hoạt động có thể rút ranhững kết luận về tâm lý nhân cách của người đã làm ra sản phẩm đó Chẳng hạn,chúng tôi có thể thông qua bài thi của một học viên mà phán đoán một số nét vềtâm lý của họ như: thái độ đối với môn học, hiểu biết xã hội, khả năng tư duy Đây là phương pháp nghiên cứu tâm lý của người phạm tội bằng cách phântích các mặt hoạt động, các công việc nào đó mà người phạm tội đã thực hiện.Hành vi phạm tội và hậu quả của nó cũng cần được phân tích, nghiên cứu đầy đủ.Phân tích hậu quả của hành vi phạm tội, mức độ hoàn thành, diễn biến của quátrình thực hiện hành vi phạm tội…có thể cho biết trình độ, khả năng, kinh nghiệm,các kỹ năng, thói quen, tính cách, động cơ cũng như các phẩm chất ý chí của ngườiphạm tội
g Phương pháp trắc nghiệm
Trang 8Phương pháp trắc nghiệm là phương pháp chẩn đoán tâm lý, có sử dụngnhững câu hỏi và bài tập được chuẩn hóa ( các test ) theo những thang nhất định.Trắc nghiệm cho phép với độ chính xác nhất định, xác định được mức độ hiệntại các hiểu biết và đặc điểm nhân cách của người phạm tội.
Quá trình trắc nghiệm có thể chia ra làm ba giai đoạn:
- Lựa chọn trắc nghiệm ( xác định mục đích trắc nghiệm và mức độ tin cậy và
độ xác thực của test )
- Tiến hành trắc nghiệm
- Xử lý kết quả thu được
h Phương pháp phân tích trường hợp điển hình
Phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình là phương pháp tìm hiểu sâurộng một cá nhân hoặc một nhóm ít người.Theo phương pháp này, người nghiêncứu phải thực hiện một trắc nghiệm tâm lý, trong đó người nghiên cứu sử dụng mộtloạt câu hỏi được soạn thảo cẩn thận để tìm hiểu sâu sắc các đặc điểm tâm lý cầnthiết của người phạm tội
II NGUỒN GỐC CỦA TÂM LÝ TỘI PHẠM
1 Sự tác động tiêu cực của môi trường lớn
a Khái niệm môi trường lớn
Môi trường lớn là tổ hợp những yếu tố thuộc về thượng tầng kiến trúc của xãhội (các quan điểm về chính trị, pháp luật, tôn giáo, nghệ thuật, đạo đức, văn hóagiáo dục và các thể chế tương ứng của chúng; Nhà nước pháp luật, lối sống, nềngiáo dục ) và hệ quả trực tiếp của các yếu tố đó (vận động của các thể chế và kếtquả của nó), những yếu tố đó tác động, ảnh hưởng gián tiếp đến sự hình thành, pháttriển tâm lý của cá nhân Sống và hoạt động trong môi trường này mọi các cá nhân
Trang 9đều chịu sự tác động của tất cả các yếu tố tích cực và tiêu cực với các mức độ khácnhau1.
Các yếu tố tiêu cực của môi trường lớn có ảnh hưởng đến sự hình thành vàphát triển tâm lý tiêu cực của cá nhân- là nguồn gốc, là nguyên nhân sâu xa củatâm lý tội phạm
b Các yếu tố tiêu cực của môi trường lớn
Sự tác động tiêu cực của các thế lực thù địch và nền văn hoá không phù hợp với truyền thống dân tộc
Toàn cầu hoá là xu thế tất yếu cho sự phát triển, quá trình hội nhập vào nềnkinh tế quốc tế đã mang lại những thuận lợi và cũng tiềm ẩn những nguy cơ đe doạđến sự phát triển của các quốc gia Tuy các quốc gia luôn sẵn sàng thiết lập cácmối quan hệ với nhau nhưng đằng sau đó vẫn chứa đựng những âm mưu chính trị,nhất là ở các quốc gia có chế độ chính trị khác nhau Các thế lực thù địch vẫn đangchống phá nước ta bằng mọi cách, với nhiều phương tiện khác nhau nhằm xuyêntạc Chủ nghĩa Mác- Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, Chế độ Xã hội Chủ nghĩanhằm lật đổ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam Trong điều kiện hiện nay,với sự hỗ trợ của khoa học và công nghệ, sự tác động của các thế lực thù địch trởnên nguy hiểm và khôn lường Với hàng loạt các thủ đoạn chiến tranh tâm lý nhưbịa đặt, tung tin đồn, vu khống, làm giảm uy tín của Đảng, Nhà nước, bôi nhọtruyền thống cách mạng, kích thích khôi phục thói quen, tập quán lạc hậu,… sự tácđộng tiêu cực này có thể dẫn đến sự suy thoái kinh tế, bất ổn chính trị, gây tâm lýhoang mang, bất an, mất niềm ở quần chúng nhân dân vào hệ thống chính trị, phápluật, từ đó nảy sinh hành vi vi phạm pháp luật, phạm tội
Quá trình giao lưu, hợp tác quốc tế giúp cho nền văn hoá của Việt Nam thêm
đa dạng, phong phú nhưng cùng lúc sẽ xuất hiện các yếu tố văn hoá không phù hợp
1 Học viện Cảnh sát nhân dân, Giáo trình Những vấn đề cơ bản của tâm lý học tội phạm, tâm lý học điều tra tội
phạm và tâm lý học quản lý, Hà Nội, năm 2005, trang 13
Trang 10với truyền thống của dân tộc ta, ảnh hưởng tiêu cực đến sự hình thành, phát triểnnhân cách, nhất là đối với thế hệ trẻ Những yếu tố tiêu cực mang tính phổ biến là:tôn thờ giá trị vật chất bất chấp đạo đức truyền thống; cách cư xử kích động bạolực; khuynh hướng tự do tình dục; lối sống thực dụng, ích kỷ, vô cảm…
Sự tác động của tàn dư xã hội cũ
Tàn dư xã hội cũ là những yếu tố thuộc về con người hoặc tư tưởng, văn hoá,lối sống, tệ nạn của xã hội trước đây gây cản trở sự phát triển của xã hội hiện tại.Những người phạm tội và các nhóm phạm tội thuộc xã hội cũ, tuy sống trong xãhội hiện tại nhưng họ không chấp nhận các chuẩn mực xã hội nên có hành vi phạmtội Các tư tưởng, văn hoá, lối sống của xã hội trước đây đã trở nên lạc hậu nhưtâm lý địa phương cục bộ; phép vua thua lệ làng, coi thường pháp luật; chuyênquyền, độc đoán; tư tưởng sản xuất nhỏ, cách nhìn thiển cận; hữu danh vô thực…
đã tạo nên rào cản trong lối tư duy, thái độ đối với các quan hệ xã hội, phong cáchứng xử, hành động của cá nhân không phù hợp chuẩn mực xã hội Bên cạnh đó,các tệ nạn tuy đã xuất hiện từ xã hội cũ nhưng đến xã hội hiện tại vẫn chưa thể giảiquyết được như cờ bạc, nghiện hút, mại dâm… đã kìm hãm sự phát triển của xãhội, tạo cơ hội cho hành vi phạm tội xuất hiện
Sự sai lệch của các thể chế xã hội
Thể chế xã hội là tổng hợp những quan hệ xã hội đã được hợp thức hoá thànhchuẩn mực có tính ổn định và được đảm bảo bằng những nguồn lực nhằm thựchiện một chức năng xã hội nhất định2
Sự biến dạng của thể chế xã hội vừa là nguyên nhân, vừa là hậu quả của sựsai lệch của các thành phần trong xã hội Thể chế không thực hiện đúng chức năngcủa nó sẽ gây nên sự bức xúc tâm lý, nếu không được giải toả sẽ dẫn đến sự căngthẳng, mâu thuẫn, xung đột xã hội, từ đó dẫn đến khuynh hướng thay thế các thểchế không phù hợp bằng những quy định mới, trong đó có sự xuất hiện các thể chế
2 Học viện Cảnh sát nhân dân, Giáo trình Tâm lý học pháp lý, Hà Nội, 2006, trang 48.
Trang 11không chính thức Rối loạn các thể chế kéo dài tác động xấu đến sự hình thànhnhân cách cá nhân, sai lệch trong định hướng giá trị xã hội, nguyên nhân dẫn đếnhành vi vi phạm, phạm tội Các thể chế có chức năng kiểm tra xã hội thực hiệnkhông hiệu quả tạo điều kiện thuận lợi cho các hành vi lệch chuẩn xuất hiện vàtheo cái đà đó, nếu không bị phát hiện, xử lý sẽ dẫn đến vi phạm pháp luật, phạmtội Những lệch lạc mang tính cá nhân không được ngăn chặn và định hướng kịpthời sẽ tiếp tục gia tăng về tính chất, mức độ, làm cho sự biến dạng các chuẩn mực
và các thành phần khác của đời sống xã hội ngày càng trở nên trầm trọng
Một số chuẩn mực xã hội không thật sự mang tính chuẩn mực, thể hiện cụ thểnhư:
Chuẩn mực xã hội trở nên lạc hậu, không phù hợp với đời sống hiện thực,kìm hãm sự phát triển Những chuẩn mực này nếu không bị bãi bỏ thì nó sẽ huỷhoại các chuẩn mực khác của đời sống xã hội, nảy sinh các hậu quả nghiêm trọngtrong việc thực thi các chuẩn mực chung của xã hội Các quy phạm pháp luật ra đờikhông vận hành đúng quy luật khách quan của xã hội, lạc hậu so với thực tiễn cuộcsống; sự phức tạp trong nội dung quy phạm gây khó hiểu; sự mâu thuẫn trong nộidung các quy định… Sự sai lệch chuẩn mực pháp luật ảnh hưởng đến hiệu quảtrong việc điều chỉnh hành vi nói chung và tội phạm nói riêng
Tính không rõ ràng, chung chung, không đơn nhất của chuẩn mực dẫn đến sựtuỳ tiện trong cách hiểu, cách giải thích phụ thuộc vào trình độ nhận thức và lợi íchcủa chủ thể Vì thế, một số chuẩn mực không có khả năng thực hiện chức năngđiều tiết xã hội
Chuẩn mực xã hội không được thực thi một cách nghiêm túc, các sai phạmtuy được phát hiện nhưng không được xử lý một cách nghiêm minh dẫn đến niềmtin của người dân vào chuẩn mực bị suy giảm, thậm chí không tin vào tính chínhtrực của chuẩn mực
Trang 12Một số “không phải là chuẩn mực” lại được thực hiện như là chuẩn mực Có
ý kiến gọi đây là những “chuẩn mực che giấu”3 Đó là những thoả thuận ngầm theokiểu hiểu ý nhau hoặc “bật đèn xanh” cho nhau Những “chuẩn mực” dạng này tồntại thực sự trong xã hội nhưng ở dạng ẩn vì điều kiện để hợp thức, công khai chưađược đảm bảo Tuy cũng có những “chuẩn mực che giấu” là tích cực nhưng phầnlớn có tính tiêu cực, thường đi ngược và chống lại các chuẩn mực xã hội thật sự,trong đó có các “chuẩn mực che giấu” chi phối và dẫn đến hành vi phạm tội
Trong quá trình vận hành các thể chế xã hội, những sai lệch sau đây có thể lànguồn gốc của tâm lý tội phạm:
Những sai lệch trong lĩnh vực tổ chức như xác nhập, chia tách cơ cấu bộ máy
cơ quan, đơn vị; cơ chế vận hành của tổ chức không khoa học dẫn đến chồng chéo,trùng dẫm, sơ hở; nội bộ chia rẽ, mất đoàn kết, nảy sinh bè phái, “lợi ích nhóm cụcbộ”; việc kiểm tra, đánh giá thiếu khách quan, công bằng; tiêu cực trong khâutuyển dụng, bố trí, đề bạt cán bộ; cán bộ có trình độ chuyên môn, năng lực khôngđáp ứng được yêu cầu công việc Hậu quả là một số cán bộ nhà nước đã lợi dụngchức vụ, quyền hạn của mình gây sách nhiễu, phiền hà cho nhân dân nhằm trục lợi,gây mất niềm tin của nhân dân vào bộ máy chính quyền nhân dân Không nhữngthế, một bộ phận không nhỏ cán bộ nhà nước kém tu dưỡng bản thân, cùng với sựtác động tiêu cực của môi trường xã hội dần dần bị suy thoái về nhân cách, viphạm các chuẩn mực đạo đức và pháp luật Một nguy cơ khác cũng nguy hiểmkhông kém là khi cán bộ nhà nước có biểu hiện tiêu cực và để được việc cho mình,người dân cũng tìm cách đáp ứng các đòi hỏi phi lý của các cán bộ thoái hoá, biếnchất, điều này đã củng cố thêm những sai phạm của những cán bộ này Khi cáchành vi sai phạm được lặp lại nhiều lần trở thành thói quen thì cá nhân sẽ cókhuynh hướng chấp nhận sự tiêu cực, cho đó là chuyện bình thường và nguy hiểm
3 Xem: Học viện Cảnh sát nhân dân, Giáo trình Tâm lý học pháp lý, Hà Nội, 2006, trang 51.
Trang 13hơn, họ lại sẵn sàng chia sẻ kinh nghiệm cho những người khác khi họ gặp hoàncảnh tương tự
Sự sai lệch có thể nảy sinh từ viêc các cơ quan chức năng, cán bộ nhà nướcgiải quyết không thoả đáng các vấn đề nảy sinh trong các quan hệ xã hội; ban hànhcác văn bản, quy định không phù hợp với tình hình thực tế Hậu quả là sự tụt hậucủa nền kinh tế khi các chính sách không được người dân ủng hộ, không đi vàocuộc sống, ngăn cản sự phát triển của đất nước; các công trình, dự án không khả thihoặc triển khai chậm gây thất thoát, lãng phí tài sản quốc gia Khi người dân mấtniềm tin vào sự quản lý của bộ máy Nhà nước thì họ sẽ tìm đến các cách thức tiêucực để giải quyết các vấn đề nảy sinh
Sự sai lệch đáng quan tâm khác liên quan đến chuẩn mực đạo đức Khi quan
hệ con người ngày càng được mở rộng thì đạo đức không chỉ được hiểu là cácchuẩn mực ứng xử giữa con người với con người, với công việc, với bản thân mình
mà đạo đức còn bao hàm ứng xử với thiên nhiên và môi trường sống Trong xu thếhội nhập với nền kinh tế thế giới, bên cạnh mặt tích cực thì hàng loạt các yếu tốtâm lý tiêu cực nảy sinh cần được giải quyết như: tôn thờ giá trị vật chất, lấy đồngtiền làm thước đo giá trị nhân cách; chủ nghĩa cá nhân, bất chấp lợi ích tập thể và
xã hội; lối sống sa đoạ, sống gấp, sống thử, sống để hưởng thụ; cách cư xử thiếuvăn hoá, mất nhân tính… Do ảnh hưởng bởi các yếu tố tâm lý như vậy, những biểuhiện sai lệch về đạo đức dần trở nên phổ biến ở đội ngũ cán bộ như: quan liêu,hách dịch; trù dập, đùn đẩy trách nhiệm, nói xấu lẫn nhau gây mất đoàn kết nội bộ;chạy theo địa vị, danh lợi; sống thực dụng, chạy theo lợi ích vật chất bất chấp cácgiá trị nhân bản, vô cảm trước nỗi đau của người khác; phai nhạt lý tưởng… Sựsuy thoái về đạo đức trong nhân dân cũng trở nên trầm trọng như buôn gian bánlận, cạnh tranh không lành mạnh; luồn lách, lợi dụng kẻ hở của pháp luật để trụclợi; mua chuộc cán bộ; xâm hại đến sức khoẻ, tính mạng người khác; làm giàubằng con đường phi pháp…
Trang 142 Sự tác động tiêu cực của môi trường nhỏ
a Khái niệm môi trường nhỏ
Ảnh hưởng của môi trường lớn đến cá nhân thường phải thông qua môitrường nhỏ Đặc điểm tính chất của môi trường nhỏ có thể làm biến đổi chiềuhướng, mức độ ảnh hưởng của các thành phần trong môi trường lớn đến cá nhân.Môi trường nhỏ là môi trường sống cụ thể, gần gũi, nơi trực tiếp diễn ra hoạt độngcủa cá nhân: Gia đình, nhà trường, tập thể lao động, nhóm bạn4
Tâm lý tiêu cực trong đó có tâm lý tội phạm là do hoạt động của cá nhân đãlĩnh hội những yếu tố không thuận lợi cho sự phát triển nhân cách có trong môitrường nhỏ
b Các yếu tố tiêu cực của môi trường nhỏ
Sự tác động tiêu cực của gia đình
Ngoài chức năng về thể chất, vật chất, gia đình có chức năng quan trọng vềvăn hoá, tình cảm, xã hội (giáo dục con cái, đảm bảo cho mỗi thành viên có cuộcsống hạnh phúc) Do vậy, gia đình có vai trò rất quan trọng trong việc hình thành
và phát triển nhân cách của mỗi cá nhân Tác động tiêu cực của gia đình xuất phát
từ việc gia đình đã không thực hiện tốt các chức năng của nó
Đối với người chưa thành niên, cha mẹ và những người lớn tuổi hơn trong giađình như ông bà, chú bác, anh chị… có vai trò quan trọng trong việc giáo dục trẻtiếp thu các chuẩn mực đạo đức, pháp luật và các quy tắc ứng xử xã hội Đối vớiđứa trẻ, hành vi của những người lớn, nhất là cha mẹ là mẫu mực, là tấm gương để
họ bắt chước, noi theo Do vậy, hành vi của những người lớn trong gia đình phảimang tính đạo đức và chuẩn mực thì mới tạo điều kiện thuận lợi để trẻ phát triểnnhân cách một cách thuận lợi Những cách thức tác động không phù hợp gây ảnhhưởng không tốt đến người chưa thành niên trong gia đình là5:
4 Học viện Cảnh sát nhân dân, Giáo trình Những vấn đề cơ bản của tâm lý học tội phạm, tâm lý học điều tra tội
phạm và tâm lý học quản lý, Hà Nội, năm 2005, trang 18.
5 Xem: G.Sikhanxev, Tâm lý học pháp lý, Matxcova, 1998, trang 19.
Trang 15- Người lớn bằng lời nói và cả việc làm khẳng định các mẫu hành vi phi đạođức, phản giáo dục, thậm chí là vi phạm pháp luật.
- Người lớn khẳng định bằng lời nói các chuẩn mực hành vi nhưng khi thựchiện lại hành động ngược lại
- Người lớn bằng lời nói và việc làm tuân thủ các chuẩn mực chung nhưnglại không quan tâm và không làm thoả mãn các nhu cầu xúc cảm của trẻ
- Người lớn không đúng đắn hoặc mâu thuẫn nhau trong việc sử dụng cácphương pháp giáo dục
Những loại hình gia đình có tác động tiêu cực đến sự hình thành và pháttriển nhân cách của các thành viên là:
Gia đình có cấu trúc không hoàn hảo (gia đình biến dạng) là gia đình mà bố
mẹ mất hoặc bố mẹ ly dị nhau hoặc vì lý do nào đó mà con cái phải ở cách xa bố
mẹ Con thiếu mẹ thường thiếu đi lòng thương cảm, tính dịu hiền và sự quan tâm,chăm sóc Con thiếu cha thường thiếu đi sự cứng rắn, tính nguyên tắc, nghiêmkhắc, có tổ chức Trẻ em thiếu cha hoặc mẹ thường thiếu sự hài hoà trong quá trìnhgiáo dục con cái và nếu thiếu cả cha lẫn mẹ tức là trẻ bị mất đi cả hai chỗ dựa vôcùng cần thiết Do thiếu thốn tình cảm, các em thường hay nảy sinh tâm lý tự ti,tính khí bất thường, khi gặp những điều kiện bất lợi trong cuộc sống sẽ bị ngườikhác lợi dụng, lôi kéo vào con đường phạm tội
Gia đình có mầm mống tội phạm là gia đình mà một số thành viên có hành viphạm tội hoặc có tiền án, tiền sự Khi trong gia đình có một thành viên có tiền án,tiền sự thì làm tăng khả năng phạm tội của các thành viên khác, nhất là người chưathành niên Hành vi phạm tội của những người lớn trong gia đình đã khẳng địnhmẫu hành vi chống xã hội, làm sâu sắc hơn các xung đột và làm tăng nguy cơphạm tội ở trẻ
Gia đình có sự xuống cấp về đạo đức là gia đình mà các thành viên vi phạmmột cách có hệ thống các chuẩn mực đạo đức, có sự rối loạn bầu không khí trong
Trang 16gia đình: cha mẹ thường xuyên cãi nhau, thậm chí là đánh nhau trước mặt con cái;mọi người coi thường và nói xấu lẫn nhau; mọi tôn ti trật tự bị đảo lộn Ở loại giađình này, giữa cha mẹ và con cái không có hoặc thể hiện rất yếu các mối liên hệxúc cảm Từ sự phản kháng đối với cha mẹ, trẻ có thái độ tiêu cực đối với hệ thốngcác chuẩn mực đạo đức, pháp luật dẫn đến sự phủ nhận các chuẩn mực đó và làmxuất hiện các hành vi phản xã hội.
Gia đình có vấn đề là gia đình có sự tranh đua giữa cha mẹ trong việc giành
vị trí đứng đầu trong gia đình, không có sự cộng tác giữa cha mẹ và có sự tách rờigiữa cha mẹ và con cái Các xung đột thường xuyên xảy ra trong gia đình khiếnbầu không khí trở nên căng thẳng khiến trẻ không chịu đựng được, muốn bỏ nhà ra
đi Loại gia đình này cũng tiềm ẩn nguy cơ phạm tội ở người chưa thành niên doquá trình xã hội hoá bị phá huỷ, không có mối liên hệ xúc cảm giữa cha mẹ và concái
Gia đình yên ấm giả tạo là gia đình có tính chất chuyên chế, gia trưởng, có sựthống trị của người cha hoặc mẹ, buộc các thành viên khác phải tuân thủ vô điềukiện bằng cách áp dụng sự trừng phạt về mặt thể xác như là phương tiện chủ yếu.Cách đối xử tàn nhẫn không bao giờ có thể dạy cho trẻ ý thức kỷ luật mà trái lại,tạo cho trẻ trạng thái cùng quẫn và làm tổn hại khả năng tự đánh giá của họ.A.X.Makarenko đã nhận định về hậu quả của việc thường xuyên trừng phạt về mặtthể xác, ông cho rằng uy tín được xây dựng theo cách này chỉ dạy cho trẻ ngàycàng cách xa người cha đáng sợ, nó tạo ra sự dối trá của trẻ thơ, sự hèn nhát củacon người và đồng thời giáo dục cho trẻ tính tàn nhẫn Từ những đứa trẻ khiếpnhược và mất ý chí chỉ tạo ra những người vô tích sự hoặc là độc đoán và cả đờiluôn tìm cách trả thù tuổi thơ đã bị đè nén của mình6
Đối với người trưởng thành, gia đình là nơi để các thành viên có thể nghỉngơi, giúp họ lấy lại sức khoẻ, tạo sự cân bằng tâm lý (nhất là xúc cảm) do những
6 G.Sikhanxev, Tâm lý học pháp lý, Matxcova, 1998, trang 22.
Trang 17áp lực từ công việc và cuộc sống mang lại Đây là cơ sở để con người thiết lập vàthực hiện các mối quan hệ xã hội, đồng thời, là động lực thúc đẩy mỗi người thểnghiệm các chức năng xã hội của mình Gia đình còn là chất keo gắn bó con ngườivới cuộc sống, với những mục tiêu xã hội Nếu gia đình mất đi những ý nghĩa chânchính của nó thì chính gia đình sẽ trở thành yếu tố thúc đẩy cá nhân tham gia vàocác nhóm xã hội tiêu cực, tiếp thu những ảnh hưởng xấu và làm cho nhân cách trởnên méo mó, lệch lạc.
Sự tác động tiêu cực của nhà trường
Sau gia đình, nhà trường là yếu tố xã hội hoá đóng vai trò quan trọng trongviệc giáo dục đạo đức - pháp luật cho người chưa thành niên Giáo dục gia đình vànhà trường luôn có mối quan hệ mật thiết với nhau Trường học giúp sửa chữanhững sai lầm của việc giáo dục trong gia đình, ngăn chặn quá trình suy thoái nhâncách nếu không may được khởi đầu ở gia đình của trẻ Hoạt động giáo dục hiện tạicủa các nhà trường chủ yếu vẫn là cung cấp kiến thức cho người học, trong khichức năng quan trọng bậc nhất là giúp họ phát triển toàn diện về nhân cách lại chưađược đầu tư đúng mức Những đứa trẻ chịu sự tác động tiêu cực của gia đìnhthường gặp khó khăn trong việc thích ứng với vai trò của người học, do vậy, họ dễtrở thành “đối tượng cá biệt” trong lớp do họ thường có kết quả học tập kém và hayquậy phá Những đứa trẻ này cần được sự quan tâm đặc biệt từ nhà giáo dục trong
sự phối hợp với gia đình và các tổ chức xã hội Tuy nhiên, các thầy cô giáo thườngrất thích những học trò ngoan ngoãn, biết nghe lời, học tập tốt và không gây phiềntoái cho họ; trong khi đó, giáo viên có khuynh hướng dán nhãn “khó dạy”, “quậyphá”, “hư hỏng”, “thiếu giáo dục”… cho những học sinh kém Giáo viên thườngđối xử bất công đối với những “trẻ khó dạy” bằng các biện pháp kích thích tiêu cựcthiên về sự trừng phạt, chế giễu, miệt thị hoặc những cuộc trao đổi giáo điều vềluân lý, đạo đức tẻ nhạt, nhàm chán Những biện pháp như vậy đã khiến trẻ trởthành đối tượng bị châm chọc, cần cách ly khỏi môi trường tích cực và khi đó, sự
Trang 18ức chế đã khiến họ có thái độ bất mãn, chống đối thầy cô, từ đó chuyển sang phảnứng tiêu cực với quá trình giáo dục nói chung Chính phương pháp giáo dục khôngđúng đắn đã gây tổn thương về mặt tinh thần cho người học, khiến họ ác cảm vớithầy cô, với những học sinh giỏi hơn họ và cuối cùng, trẻ ngày càng xa rời tập thểlớp Do không có khả năng đạt được các yêu cầu trong học tập, rèn luyện nên trẻ sẽ
cố gắng gây chú ý, tạo ưu thế trước bạn bè bằng các hành vi tiêu cực như công khaichống đối, quậy phá, phô trương tính hung hãn, hút thuốc, uống rượu, đánh nhau,sử dụng ma tuý… Khi đứa trẻ mất đi những quan hệ tích cực với tập thể lớp, họ sẽtìm kiếm điều đó ở các nhóm không chính thức tiêu cực ngoài trường học
Chương trình, nội dung học không phù hợp với quy luật dạy học, chưa thật sựđáp ứng được yêu cầu thực tiễn của cuộc sống, không tạo được sự hứng thú chongười học, chưa tạo cho các em cách nhìn nhận, đánh giá và giải quyết các vấn đềcủa cuộc sống hàng ngày, chưa xây dựng cho học sinh một nếp sống và làm việctheo pháp luật, chưa có định hướng nghề nghiệp và tương lai cho họ
Công tác quản lý, giáo dục học sinh ở nhà trường chưa chặt chẽ, chưa thực sựđược quan tâm đúng mức Bạo lực học đường đang là vấn đề nhức nhối và chưađược giải quyết một cách hiệu quả gây sự bất an cho người học và gia đình của họ.Một số thầy cô giáo chưa thật sự gương mẫu, có những hành vi thiếu đạo đức đãlàm mất uy tín của nhà giáo, làm giảm chất lượng giáo dục, nhất là giáo dục đạođức cho người học Việc giáo dục pháp luật chậm được đưa vào nhà trường phổthông nên các em chưa thấy được quyền và nghĩa vụ của mình đối với xã hội Mối quan hệ giữa gia đình, nhà trường và các tổ chức xã hội còn lỏng lẻonhất là đối với các em có biểu hiện hư hỏng Do đó, khi các em vi phạm nội quynhà trường nhiều lần hoặc vi phạm pháp luật rồi mới biết thì mọi việc đã quámuộn
Sự tác động tiêu cực của đơn vị, tập thể lao động
Trang 19Đơn vị, tập thể lao động có vai trò đáp ứng các nhu cầu vật chất, tinh thần;kiểm tra, giám sát; gây sức ép và quan trọng nhất là giáo dục, hình thành nhân cáchcho các thành viên trong nhóm7 Trong mỗi đơn vị, tập thể đều tồn tại các chuẩnmực nhóm và luôn diễn ra các mối quan hệ giữa các thành viên Những hiện tượngtâm lý tất yếu nảy sinh trong nhóm như: áp lực nhóm, thủ lĩnh nhóm, xung độtnhóm có thể trở thành động lực thúc đẩy nhưng cũng có thể cản trở sự phát triểncủa nhóm nếu không có cách thức giải quyết tốt Mâu thuẫn nảy sinh giữa ngườilãnh đạo với người dưới quyền, giữa các thành viên trong đơn vị với nhau là điềukhó tránh khỏi Khi yếu tố tiêu cực xuất hiện trong đơn vị, tập thể, nhất là từ ngườilãnh đạo, sẽ có ảnh hưởng đến các thành viên khác thông qua quá trình giao tiếp,tương tác lẫn nhau Sự tác động không thuận lợi này có thể là nguồn gốc của cáchành vi lệch chuẩn, vi phạm pháp luật, phạm tội.
Sự tác động của nhóm không chính thức tiêu cực
Nhóm không chính thức là nhóm được hình thành trên cơ sở các quan hệkhông chính thức (các quan hệ tình cảm, tâm lý) nhằm thoả mãn những nhu cầunào đó của các thành viên8 Khi tham gia vào nhóm không chính thức tích cực, cánhân có điều kiện để chia sẻ, tâm sự, giải toả những bức xúc, căng thẳng của bảnthân và các vấn đề khó khăn trong cuộc sống, giúp họ tìm được sự cân bằng về xúccảm, nhờ đó nhân cách của họ phát triển thuận lợi
Khi tham gia vào nhóm không chính thức tiêu cực, cá nhân sẽ hình thànhnhững thói quen xấu: hút thuốc, uống rượu, sử dụng ma tuý, đánh bạc, nói tục,đánh nhau … Hình thành những nét tâm lý tiêu cực: bốc đồng, dễ bị kích động,thiếu trách nhiệm, vô kỷ luật, coi thường pháp luật, kém ý chí, thích hưởng thụ…
và từ đó xuất hiện hành vi lệch chuẩn, phạm tội
7 Tổng cục xây dựng lực lượng CAND, Giáo trình tâm lý học xã hội, NXB CAND, 2010, trang 58.
8 Tổng cục xây dựng lực lượng CAND, Giáo trình tâm lý học xã hội, NXB CAND, 2010, trang 53.
Trang 20Khi tham gia vào nhóm không chính thức mang sắc thái tội phạm thì cá nhânchịu sự tác động càng nhanh, càng nghiêm trọng hơn Họ sẽ được truyền bá những
tư tưởng lệch lạc, trái đạo dức, truyền thống của dân tộc, tai hại hơn là tiêm nhiễmnhững “ngón nghề, mánh khoé” để có thể hành động phi pháp Đây chính là nguồngốc của tâm lý tội phạm
3 Sự tác động của những tình huống có vấn đề
Tình huống là toàn thể những sự việc xảy ra tại một nơi nào đó, vào một thờigian nhất định buộc con người phải ứng phó Tình huống có vấn đề của hành viphạm tội chứa đựng sự tương tác giữa tâm lý, môi trường đối với hành vi phạm tội.Một tình huống trở nên có vấn đề trong hai trường hợp9:
Một là, chủ thể có đủ điều kiện cần thiết để nhận thức tình huống nhưng gặpkhó khăn khi phải đưa ra quyết định, buộc họ phải đấu tranh nội tâm để lựa chọnthực hiện hay không thực hiện hành vi phạm tội để giải quyết tình huống
Hai là, chủ thể không có điều kiện để ý thức một cách đầy đủ về tình huốngdẫn đến việc sử dụng hành vi phạm tội để giải quyết tình huống
Ở trường hợp thứ nhất, tình huống trở nên có vấn đề không phải do bản thântình huống đó mà là do cách nhìn nhận, đánh giá, thái độ chủ quan của chủ thể vềtình huống
Trường hợp thứ hai thì nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội lại xuất phát từchính tình huống Tính có vấn đề của tình huống được nhìn nhận ở góc độ đặctrưng của tình huống dẫn đến sự ý thức không đầy đủ của chủ thể, từ đó đưa raquyết định không đúng đắn Cụ thể là:
Tình huống tác động khiến chủ thể rơi vào trạng thái bị kích thích mạnh, dẫnđến sự lấn át của cảm xúc đối với lý trí làm nảy sinh những hành vi không kiểmsoát được Thí nghiệm của giáo sư kinh tế học hành vi người Mỹ Dan Ariely vàGeogre Loewenstein tại Đại học Berkeley, Mỹ năm 2001 về hành vi quyết định của
9 Xem: Học viện Cảnh sát nhân dân, Giáo trình Tâm lý học pháp lý, Hà Nội, 2006, trang 54.
Trang 21con người thay đổi như thế nào trong trạng thái hưng phấn đã cho những kết quảrất đáng quan tâm: “Trong trạng thái “lạnh” (tức là khi không bị tác động bởi kíchthích), họ không biết mình sẽ như thế nào khi hưng phấn Sự đề phòng, bảo vệ, sựbảo thủ và đạo đức biến mất hoàn toàn Đơn giản là họ không thể dự đoán mức độ
mà sự ham muốn có thể thay đổi họ”10
Tình huống liên quan đến sự kiện trong quá khứ đã từng gây xúc cảm mãnhliệt ở cá nhân Nhà thần kinh học người Mỹ, Joseph LeDoux nhận định rằng về mặtgiải phẫu, hệ thống chi phối các xúc cảm có thể hành động độc lập với vỏ não mới.Một số phản ứng và ký ức xúc cảm có thể hình thành mà không cần chút can thiệpnào của ý thức và nhận thức11
Tóm lại, trong quá trình xã hội hoá cá nhân có thể tồn tại những yếu tố khôngthuận lợi làm nảy sinh và phát triển các đặc điểm tâm lý tiêu cực ở cá nhân Nhữngđặc điểm tâm lý tiêu cực này trong sự tác động qua lại với các điều kiện, hoàn cảnh
cụ thể là nguồn gốc của tâm lý tội phạm, dẫn đến hành vi phạm tội của cá nhân
III HÀNH VI PHẠM TỘI
1 Khái niệm hành vi phạm tội
Hành vi là khái niệm được tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau, do vậy cónhiều cách hiểu khác nhau Khoa học tâm lý coi hành vi là khái niệm có nội hàmtương tự hành động, theo đó, hành động là bộ phận của hoạt động, một hoạt độngđược tạo thành từ nhiều hành động; hành vi (hành động) là cách ứng xử của conngười đối với một sự kiện, sự vật, hiện tượng trong một hoàn cảnh, tình huống cụthể Khoa học pháp lý, khoa học hình sự hiểu hành vi ở nghĩa rộng hơn, hành vikhông chỉ bao gồm “hành động” mà có cả “không hành động” Khi một người nào
đó không thực hiện một hành động mà theo chuẩn mực buộc họ phải thực hiện thìngười ấy đã thực hiện một hành vi không hành động Dưới góc độ tâm lý học tội
10 Dan Ariely, Phi lý trí (Predictably Irrational), NXB Lao động- xã hội, năm 2012, trang 112.
11 Xem: Daniel Goleman, Trí tuệ xúc cảm (Emotional Intelligence), NXB Lao động- xã hội, năm 2012, trang 35.
Trang 22phạm (được xem là phân ngành của tâm lý học pháp lý) khái niệm hành vi thiên vềnghĩa rộng, bao gồm cả hành động và không hành động Như vậy, có thể hiểu hành
vi là cách ứng xử của con người (hành động hoặc không hành động) đối với một sựkiện, sự vật, hiện tượng trong một hoàn cảnh, tình huống cụ thể Hành vi bao giờcũng có đối tượng, có tính chủ thể và tính mục đích
Trong quá trình thực hiện hành vi của mình, con người luôn đối chiếu với cácchuẩn mực xã hội để điều chỉnh cho phù hợp Nếu hành vi nào phù hợp với chuẩnmực xã hội được gọi là hành vi hợp chuẩn; ngược lại, hành vi nào đi lệch (chệch)
so với chuẩn mực xã hội được gọi là hành vi lệch chuẩn (hay hành vi chệchhướng) Căn cứ vào nguồn gốc của hành vi, hành vi lệch chuẩn được chia thành 2loại:
- Hành vi lệch chuẩn tâm thần: là hành vi của những người do không đủ khảnăng nhận thức và điều khiển hành vi của mình mà vi phạm các chuẩn mực xã hội
- Hành vi lệch chuẩn xã hội: là hành vi của những người có đủ khả năng nhậnthức và điều khiển hành vi mà vi phạm các chuẩn mực xã hội
Tiếp cận dưới góc độ tâm lý học, chúng ta có khái niệm hành vi phạm tội như
sau: Hành vi phạm tội là những hành vi lệch chuẩn xã hội, vi phạm các quy phạm
pháp luật hình sự đến mức phải xử lý bằng hình phạt.
2 Cấu trúc tâm lý của hành vi phạm tội
Hành vi phạm tội là một dạng hành vi có đầy đủ các yếu tố cấu thành theomột cấu trúc nhất định Cấu trúc tâm lý của hành vi phạm tội là hệ thống các thành
tố có liên quan đến hành vi phạm tội ở các khía cạnh như nguồn gốc, động lực thúcđẩy, diễn biến và hậu quả tâm lý của hành vi phạm tội Hành vi phạm tội khác hành
vi bình thường ở xu hướng chống đối xã hội, xu hướng này biểu hiện ở quá trìnhhình thành động cơ phạm tội, đề ra mục đích phạm tội, quyết định thực hiện hành
vi, phương thức nhằm đạt mục đích đề ra và sự thay đổi ý định phạm tội
Trang 23a Động cơ, mục đích, ý định phạm tội, quyết định thực hiện hành vi phạm tội
Động cơ phạm tội
Động cơ phạm tội là các yếu tố tâm lý bên trong tạo thành động lực thúc đẩyngười phạm tội thực hiện hành vi phạm tội Cơ sở của động cơ phạm tội là hệthống nhu cầu nhưng không phải bất cứ nhu cầu nào cũng trở thành động cơ thúcđẩy việc thực hiện hành vi phạm tội
Nhu cầu phản ánh sự phụ thuộc của con người về mặt sinh lý và tâm lý do sựtác động của hiện thực khách quan Sự tác động của hiện thực khách quan lên cánhân trong quá trình hoạt động của họ tạo nên trạng thái thiếu thốn khiến cá nhânphải tìm cách để đáp ứng Nhu cầu là cội nguồn của tính tích cực của con người, lànguyên nhân sâu xa của hành vi Mọi hành vi của con người nói chung và hành viphạm tội nói riêng đều trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan đến sự thoả mãn nhu cầu.Nhu cầu và việc thỏa mãn nhu cầu là động lực thúc đẩy hoạt động, điều chỉnh hành
vi của cá nhân Nhu cầu của con người rất phong phú, đa dạng cả về lĩnh vực vậtchất và lĩnh vực tinh thần
Trong lĩnh vực tâm lý học tội phạm, nhu cầu thực hiện chức năng là động lựcthúc đẩy hành vi của người phạm tội Nhu cầu ở người phạm tội quy định xuhướng lựa chọn động cơ, mục đích phạm tội Hành vi của người phạm tội suy chocùng là để đáp ứng một nhu cầu nào đó, tuy nhiên, nhu cầu của người phạm tộikhác với người bình thường ở những đặc điểm sau:
- Sự nghèo nàn, đơn điệu của hệ thống nhu cầu
- Tính thực dụng thiên về sinh lý và vật chất
- Tính suy đồi và thiếu lành mạnh
- Vượt quá xa khả năng đáp ứng của chủ thể
Trang 24Mặc dù nhu cầu là nguyên nhân tâm lý của hành vi nói chung và hành viphạm tội nói riêng nhưng không có nhu cầu nào gọi là nhu cầu phạm tội Mộtngười phạm tội không phải ở bản thân nhu cầu và sự đáp ứng nhu cầu, mà là ở việclựa chọn phương thức thoả mãn nhu cầu bằng hành vi phạm tội trong khi họ có đủđiều kiện (khách quan và chủ quan) để thực hiện một hành vi khác phù hợp vớichuẩn mực xã hội Sự lựa chọn phương thức hành động được quy định không phảibởi nhu cầu mà do các đặc điểm nhân cách của cá nhân đó.
Khi nhu cầu xuất hiện, được cá nhân nhận thức nhưng không được thoả mãn
và lúc ấy gặp sự tác động tương thích của điều kiện bên ngoài thì nó mới trở thànhđộng cơ Trong trường hợp phạm tội do lỗi cố ý thì bao giờ hành vi phạm tội cũng
do động cơ phạm tội thúc đẩy, còn trong trường hợp lỗi vô ý thì không tồn tại động
cơ phạm tội Trong nhân cách, hệ thống các động cơ được sắp xếp theo thứ bậc,thứ bậc này không phải bất biến mà có tính cơ động, thay đổi tuỳ theo các điềukiện cụ thể Hành vi của con người thường do nhiều động cơ thúc đẩy, nhưng baogiờ cũng có động cơ chiếm ưu thế, động cơ có sức thúc đẩy mạnh nhất quyết địnhhành vi của cá nhân Những yếu tố là thành phần trong hệ thống động cơ của nhâncách bao gồm: nhu cầu, hứng thú, quan điểm sống, lý tưởng sống, niềm tin
Động cơ phạm tội được hình thành, thực sự thúc đẩy hành vi phạm tội của cánhân, bao giờ cũng có sự thống nhất và đấu tranh giữa 2 yếu tố tâm lý: kích thích –điều chỉnh Yếu tố kích thích là những yếu tố nảy sinh ở cá nhân khi đối tượng thoảmãn nhu cầu xuất hiện và sự tác động của tình huống bên ngoài thuận lợi cho việcthực hiện hành vi phạm tội Những yếu tố kích thích thường lôi cuốn mãnh liệt cánhân thực hiện hành vi vì tính chất hấp dẫn do liên quan đến nhu cầu cần thoả mãn,hứng thú, xúc cảm- tình cảm, tính cách, khí chất của họ Yếu tố điều chỉnh lànhững yếu tố đã hình thành trước khi các yếu tố kích thích xuất hiện, các yếu tốnày đã được hình thành trong một thời gian dài qua quá trình xã hội hoá cá nhân.Những yếu tố điều chỉnh bao gồm quan niệm sống, lý tưởng sống, niềm tin của cá
Trang 25nhân về các khía cạnh của đời sống xã hội Sự tương tác giữa yếu tố kích thích vàyếu tố điều chỉnh dẫn đến sự đấu tranh động cơ Nếu yếu tố điều chỉnh cùng chiều,cùng hướng với yếu tố kích thích thì đấu tranh động cơ diễn ra nhanh hơn, làmtăng thêm lực cho việc hình thành động cơ thực hiện hành vi và trong trường hợpcác yếu tố kích thích và điều chỉnh đều tiêu cực thì động cơ phạm tội sẽ được hìnhthành và củng cố, thúc đẩy hành vi xâm phạm các khách thể mà Bộ luật hình sựbảo vệ Nếu các yếu tố kích thích và điều chỉnh không cùng chiều nhau thì quátrình đấu tranh động cơ diễn ra phức tạp, thời gian dài hay ngắn tuỳ thuộc vào “sứcmạnh” của các yếu tố đó Khi một trong hai yếu tố quá mạnh so với yếu tố còn lạithì quá trình đấu tranh động cơ diễn ra nhanh Quá trình đấu tranh động cơ diễn rachậm hơn, gay gắt hơn khi hai yếu tố đó cùng mạnh ngang nhau.
Thật ra rất khó để có thể nhận diện một cách rõ ràng quá trình đấu tranh động
cơ, giữa kích thích và điều chỉnh hay giữa tích cực và tiêu cực Tuy vậy, khi conngười ý thức được quá trình đấu tranh động cơ thì họ sẽ thấy được tầm quan trọngcủa việc tích luỹ các yếu tố tâm lý tích cực, cũng như rèn luyện cách ứng phó trướccác tình huống tiêu cực trong quá trình sống của mình Quá trình đấu tranh động cơ
sẽ không dẫn đến động cơ phạm tội khi con người đã có tâm thế tích cực, vữngvàng đối diện với các tác động từ hiện thực khách quan
Trong quá trình sống của con người, đấu tranh động cơ diễn ra rất nhiều lầnkhi phải đứng trước các sự lựa chọn hành vi Đối với hành vi phạm tội, quá trìnhđấu tranh động cơ không chỉ xuất hiện một lần mà có thể diễn ra nhiều lần trongsuốt quá trình cá nhân thực hiện hành vi phạm tội Động cơ thúc đẩy hành vi phạmtội thường đa dạng và phức tạp, trong đó, không ít trường hợp chính người phạmtội cũng không nhận ra một cách rõ ràng động lực nào khiến họ thực hiện hành viphạm tội Khái quát lại, động cơ phạm tội biểu hiện dưới một số dạng sau: động cơ
Trang 26tự khẳng định, động cơ bảo vệ, động cơ chuyển dịch, động cơ vui chơi, động cơ tựbào chữa12.
Động cơ tự khẳng định là động cơ quan trọng nhất Tự khẳng định được thểhiện ở các mức độ: xã hội, tâm lý xã hội và cá nhân Ở mức độ khẳng định xã hội,
đó là khuynh hướng chiếm lĩnh vị trí xã hội, hướng đến việc cá nhân mong muốnđạt được vị trí, vai trò xã hội nhất định; được công nhận trong hoạt động xã hộihoặc nghề nghiệp; được thừa nhận uy tín, sự thành đạt về mặt vật chất Ở mức độtâm lý xã hội, cá nhân mong muốn đạt được vị trí nhất định trong nhóm sơ cấp nhưgia đình, tập thể, nhóm bạn nhưng cũng có thể nhóm mang tính ước lệ Ở mức độ
cá nhân, họ mong muốn được đánh giá cao về bản thân, sự tự tôn, biểu dương sứcmạnh thể chất, vượt qua các khiếm khuyết về mặt cơ thể và tâm lý
Động cơ bảo vệ xuất phát từ nỗi sợ hãi bị xâm hại mà thực tế có thể không cónên đã kích thích cá nhân có hành vi xâm hại trước Người phạm tội luôn ở trongtâm thế sẵn sàng tấn công, còn sự kích thích từ tình huống bên ngoài chỉ là cái cớ
Động cơ “trò chơi” xuất hiện khi người phạm tội không chỉ vì lợi ích vật chất
mà còn vì muốn có được cảm giác mạnh Họ xem hành vi phạm tội là một hìnhthức thể hiện trí tuệ, kỹ năng, kỹ xảo, sự nhanh nhạy, khéo léo và tinh vi Giốngnhư việc tham gia một trò chơi, phần thưởng họ mong muốn nhận được không phải
là tiền bạc mà đơn giản là được chơi vòng tiếp theo Sự hưng phấn có được do từchiến thắng (không bị phát hiện, xử lý) sẽ kích thích họ tiếp tục thực hiện hành viphạm tội
12 Xem: G.Sikhanxev, Tâm lý học pháp lý, Matxcova, 1998, trang 47.
Trang 27Động cơ tự bào chữa mang tính phổ biến ở tất cả những người phạm tội, xuấtphát từ cơ chế tự bảo vệ tâm lý của con người Khi một người thực hiện một hành
vi nào đó, cho dù đó là hành vi đáng lên án nhất thì họ luôn tìm cách lý giải hợp lýnhất và đổ lỗi cho bất kỳ điều gì có thể để rũ bỏ trách nhiệm của mình Ngườiphạm tội cố giải thích theo góc độ bản thân mình cũng rất đáng thương và cũng lànạn nhân của hoàn cảnh trớ trêu nào đó
Mục đích phạm tội
Cùng với việc xuất hiện động cơ là quá trình nhận thức kết quả hành độngtrong tương lai làm phát sinh mục đích phạm tội Mục đích phạm tội là kết quả màngười phạm tội đặt ra và mong muốn đạt được bằng việc thực hiện hành vi phạmtội Không phải hành vi phạm tội nào cũng có mục đích phạm tội Chỉ có hành viphạm tội nào mà người phạm tội thấy trước hậu quả và thực hiện hành vi phạm tộivới mong muốn cho hậu quả đó xảy ra thì hành vi phạm tội đó mới có mục đíchphạm tội Như vậy, dưới góc độ của khoa học hình sự thì chỉ hành vi được thựchiện do lỗi cố ý trực tiếp mới có mục đích phạm tội Các trường hợp khác như thựchiện hành vi phạm tội do lỗi cố ý gián tiếp, vô ý do cẩu thả, vô ý do quá tự tin thìngười phạm tội cũng có mục đích nhưng đó chỉ là mục đích của hành vi vì ngườiphạm tội hoàn toàn không mong muốn thực hiện tội phạm, họ rơi vào một tronghai tình huống sau: Một là không biết hành vi của mình có thể trở thành tội phạm;Hai là biết nhưng không muốn nó trở thành tội phạm
Mục đích phạm tội không do điều kiện khách quan mà do chính chủ thể đưa
ra, nhận thức được sự cần thiết và khả năng thực hiện trong một điều kiện nhấtđịnh Mục đích phạm tội được hình thành trên cơ sở của động cơ phạm tội Dođộng cơ thúc đẩy nên cá nhân mới đề ra cho mình những mục đích cụ thể Mụcđích thực hiện chức năng nhận thức đối tượng và khách thể của hành vi, địnhhướng và điều khiển hành vi Đến lượt mình, mục đích sau khi được xác định rõràng lại có tác dụng lôi kéo, cuốn hút con người thực hiện hành vi phạm tội
Trang 28Động cơ có chức năng chủ yếu là động lực thúc đẩy hành vi trong khi chứcnăng chính của mục đích là định hướng và điều khiển hành vi Từ một động cơ, cánhân có thể đặt ra nhiều mục đích khác nhau; một mục đích có thể được xác địnhtrên cơ sở những động cơ khác nhau Động cơ và mục đích phạm tội có sự gắn bóchặt chẽ với nhau, chuyển hóa cho nhau
Ý định phạm tội có quan hệ rất chặt chẽ với điều kiện, hoàn cảnh cụ thể thựchiện tội phạm Khi điều kiện, hoàn cảnh thay đổi thì ý định phạm tội cũng thay đổihoặc làm xuất hiện ý định phạm tội mới Ý định phạm tội biến mất khi không cóđiều kiện khách quan thuận lợi cho việc thực hiện hành vi phạm tội Đôi khi, cótrường hợp tuy có đủ điều kiện, hoàn cảnh phạm tội nhưng chủ thể tự nguyện từ bỏ
ý định phạm tội khi động lực thúc đẩy hành vi không còn nữa
Quyết định thực hiện hành vi phạm tội
Khi đã hình thành ý định phạm tội, lập kế hoạch thực hiện nhưng trước khithực hiện hành vi phạm tội, cá nhân sẽ cân nhắc nhiều lần nên hay không nên thựchiện hành vi đã định Quyết định thực hiện hành vi phạm tội là lựa chọn cuối cùngcủa cá nhân về mục đích, phương thức phạm tội, công cụ, phương tiện hỗ trợ, lựclượng tham gia… Quyết định này thể hiện ý chí và lý trí của người phạm tội, thái
độ của họ đối với hành vi phạm tội và hậu quả của nó
Quyết định thực hiện hành vi phạm tội có thể là kết quả của quá trình đấutranh tư tưởng lâu dài, nhưng cũng có thể được đưa ra rất nhanh do tác động trực
Trang 29tiếp của hoàn cảnh, tình huống hoặc xuất phát từ những khuôn mẫu hành động(thói quen) của cá nhân đã được hình thành nhằm ứng phó với các hoàn cảnh tương
tự trong quá khứ Hành vi càng gần với kinh nghiệm hoặc thậm chí đã trở thànhthói quen của cá nhân thì họ đưa ra quyết định càng nhanh Tình huống càng khiếntinh thần của cá nhân bị kích động mạnh bao nhiêu thì quyết định được đưa ra càngnhanh bấy nhiêu vì khi ấy lý trí đã bị xúc cảm lấn át Chỉ trong trường hợp quyếtđịnh được đưa ra trong hoàn cảnh không có sự bức bách về thời gian, chủ thểkhông bị kích thích mạnh bởi xúc cảm, tình huống xa lạ với kinh nghiệm bản thân
và trong sự chi phối của lý trí thì quyết định thực hiện hành vi phạm tội sẽ đượchình thành lâu hơn, phức tạp hơn
Quyết định thực hiện hành vi phạm tội có thể dựa trên sự tính toán kỹ lưỡng,chu đáo nhưng cũng có thể là quyết định nông nổi, thiếu cơ sở và chưa được suyxét cẩn trọng Điều này phụ thuộc vào các đặc điểm tâm lý của người phạm tội.Tuy nhiên, đối chiếu với chuẩn mực xã hội thì quyết định thực hiện phạm tội cho
dù được đưa ra dưới bất kỳ cơ sở nào cũng đều lệch chuẩn, đáng bị lên án và cầnđược ngăn chặn vì nếu không, nó sẽ dẫn đến hành vi phạm tội Khi quyết định thựchiện hành vi phạm tội được cá nhân đưa ra thì cũng là thời điểm nhân cách của họ
đã bị chuyển hoá, mục đích phạm tội nổi lên trên hết, mọi ý nghĩa đều tập trunghướng đến hậu quả của tội phạm
b Phương thức thực hiện hành vi phạm tội
Phương thức thực hiện hành vi phạm tội là cách thức biểu hiện của hành viphạm tội ra bên ngoài mà con người có thể nhận biết được Một cá nhân không thể
bị xử lý cho dù đã có quyết định thực hiện hành vi phạm tội vì nó chỉ là những diễnbiến tâm lý, chưa bộc lộ bằng hành vi, chưa xâm hại đến các khách thể được Luậthình sự bảo vệ Do vậy, chỉ đến khi tâm lý tội phạm được bộc lộ ra bên ngoài,người thực hiện hành vi phạm tội mới có thể được nhận diện và xử lý về mặt phápluật
Trang 30Phương thức thực hiện hành vi phạm tội là một hệ thống phương pháp được lựa chọn, xuất phát từ động cơ, mục đích đã hình thành và do đặc điểm tâm lý của người thực hiện hành vi phạm tội quy định Nó phản ánh ý định phạm tội và quá trình chuẩn bị phạm tội.
Phương thức thực hiện hành vi phạm tội gắn liền với việc sử dụng phươngtiện, công cụ phạm tội và thủ đoạn phạm tội, đồng thời, trong phương thức phạmtội thể hiện đặc điểm tâm - sinh lý, kiểu khí chất, thói quen, trình độ tri thức, kỹnăng, kỹ xảo, các mối quan hệ xã hội, trạng thái tâm lý…của người phạm tội
Phương thức thực hiện hành vi phạm tội có mối liên hệ rất chặt chẽ với động
cơ, mục đích phạm tội Động cơ phạm tội quyết định mục đích phạm tội; mục đíchphạm tội quyết định tính chất và phương thức thực hiện Do vậy, nhận thức rõ vềphương thức thực hiện hành vi phạm tội sẽ nhận diện được động cơ, mục đíchphạm tội
c Diễn biến tâm lý của người phạm tội sau khi thực hiện hành vi phạm tội
Trạng thái tâm lý
Sau khi thực hiện hành vi phạm tội, người phạm tội thường có trạng thái tâm
lý phổ biến theo hai chiều hướng:
- Thoả mãn với kết quả đã đạt được
- Không thoả mãn hoặc hối hận vì đã thực hiện hành vi phạm tội
Khi đã nhận thức được hành vi phạm tội của mình, tâm lý chung của ngườiphạm tội là sợ bị phát hiên, bị trừng phạt và xuất hiện sự căng thẳng Sự thay đổitrạng thái tâm lý sau khi thực hiện hành vi phạm tội phụ thuộc vào những yếu tốsau13:
Một là, tính chất của hành vi phạm tội Yếu tố này liên quan đến: khách thể bịxâm hại; tính chất gay gắt của hành vi phạm tội phải sử dụng nhiều sức lực, trí tuệ
13 Học viện Cảnh sát nhân dân, Giáo trình Những vấn đề cơ bản của tâm lý học tội phạm, tâm lý học điều tra tội
phạm và tâm lý học quản lý, Hà Nội, năm 2005, trang 31.
Trang 31hay sử dụng ít sức lực, trí tuệ; thực hiện hành vi phạm tội lần đầu hay tái phạm; tộiphạm được thực hiện ngẫu nhiên hay có dự mưu từ trước; tội phạm được thực hiệnđúng dự kiến hay ngoài dự kiến; hành động một mình hay có đồng phạm.
Hai là, sự tri giác hậu quả của hành vi phạm tội của người phạm tội như:những thiệt hại về người và tài sản do hành vi phạm tội gây nên; sự tri giác trựctiếp hay không trực tiếp về hậu quả thiệt hại; mức độ thiệt hại có vượt quá dự kiếnban đầu hay không
Ba là, những đánh giá của người phạm tội về việc ngụy trang che giấu hành
vi phạm tội của mình và trách nhiệm hình sự mà mình phải gánh chịu: sự ngụytrang che giấu an toàn hay không; nhận thức về trách nhiệm hình sự phải chịu nặnghay nhẹ
Bốn là, tác động của dư luận xã hội về vụ việc phạm tội Nếu như sau khihành vi phạm tội xảy ra, dư luận xã hội lên án gay gắt, đòi hỏi phải trừng trị đíchđáng người phạm tội thì sẽ làm cho trạng thái tâm lý của người phạm tội gia tăng
sự căng thẳng Ngược lại nếu dư luận xã hội ít lên án thì trạng thái tâm lý củangười phạm tội sẽ ít gia tăng sự căng thẳng
Năm là, hiệu quả hoạt động điều tra của các cơ quan chức năng Nếu hoạtđộng điều tra của các cơ quan chức năng được tiến hành tích cực, ráo riết, huyđộng nhiều lực lượng tiến hành điều tra…sẽ làm gia tăng trạng thái tâm lý căngthẳng của người thực hiện hành vi phạm tội Ngược lại, các cơ quan chức năng làmviệc thiếu tích cực thì người phạm tội cảm thấy bớt căng thẳng, lo lắng
Trạng thái tâm lý của người phạm tội sau khi thực hiện hành vi phạm tội rấtphức tạp và do nhiều nguyên nhân gây ra14, cụ thể là:
- Dấu ấn do việc tri giác diễn biến và hậu quả của tội phạm
14 Xem: Chu Liên Anh- Dương Thị Loan, Giáo trình tâm lý học tư pháp, NXB Giáo dục Việt Nam, năm 2010,
trang 42.
Trang 32Hoạt động tri giác của người phạm tội diễn ra xuyên suốt quá trình thực hiệnhành vi phạm tội của họ đã để lại những dấu ấn tâm lý dưới dạng các hình ảnh tâm
lý, nhất là trong trường hợp: người phạm tội bị sự chống trả quyết liệt của nạnnhân; người phạm tội phạm bỏ ra nhiều công sức mới thực hiện được hành vi phạmtội; cơ thể nạn nhân bị huỷ hoại; thiệt hại gây ra ngoài sức tưởng tượng của ngườiphạm tội Sự xuất hiện thường xuyên những hình ảnh này cùng với cảm nhận vềtội lỗi của mình làm xuất hiện ở người phạm tội các hiện tượng tâm lý sợ hãi, ghêtởm, trầm uất, hoang mang… Những hiện tượng này thường xuất hiện khi ngườiphạm tội tri giác các sự kiện tương tự hoặc có liên quan đến sự việc phạm tội; thậmchí những ám ảnh về sự việc phạm tội có thể làm xuất hiện những cơn ác mộng ởngười phạm tội Chất dẫn truyền thần kinh adrenaline được tiết ra nhiều do sự lolắng, sợ hãi kéo dài khiến người phạm tội căng thẳng, mệt mỏi, ảnh hưởng lớn đếnsức khoẻ
- Người phạm tội nhận thức được ý nghĩa và hậu quả của hành vi phạm tội domình gây ra, hối hận vì đã thực hiện hành vi đó
Cho dù người phạm tội có kế hoạch cho việc thực hiện hành vi phạm tội chuđáo và cẩn trọng đến mức độ nào đi chăng nữa thì cũng sẽ xuất hiện những tìnhhuống ngoài dự kiến của họ trong quá trình họ thực hiện hành vi phạm tội Hơnnữa, đối với những hành vi phạm tội do lỗi cố ý gián tiếp, vô ý, trong trạng tháitinh thần vị kích động mạnh… thì đa phần hành vi phạm tội được thực hiện trongtrạng thái người phạm tội không nhận thức được đầy đủ về hậu quả của tội phạm
và khả năng điều khiển hành vi của họ bị hạn chế Do vậy, thông thường là sau khithực hiện xong hành vi phạm tội, người phạm tội mới thấy hết được ý nghĩa và hậuquả hành vi của mình đối với người khác, đối với xã hội và đối với chính bản thânmình Điều này làm cho người phạm tội cảm thấy có lỗi, ăn năn, hối hận, dằn vặtlương tâm
- Người phạm tội sợ bị phát hiện và trừng phạt