1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

GIÁO TRÌNH TÂM LÝ HỌC SƯ PHẠM ĐẠI HỌC

179 7,7K 24

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 179
Dung lượng 719 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dựa trên cơ sở của Tâm lý học Sư phạm Đại học,việc giảng dạy những kiến thức cũng như hình thành những kỹ năng vàchuẩn bị những kỹ xảo cho sinh viên - một đối tượng học tập đặc thù sẽ th

Trang 1

GIÁO TRÌNH TÂM LÝ HỌC SƯ PHẠM ĐẠI HỌC

GIÁO TRÌNH TÂM LÝ HỌC SƯ PHẠM ĐẠI HỌC

TS HUỲNH VĂN SƠN (Chủ biên)

TS TRẦN THỊ THU MAI – TS NGUYỄN THỊ TỨ

LỜI NÓI ĐẦU

Tâm lý học Sư phạm Đại học là một chuyên ngành khá mới của Tâm lýhọc Tuy nhiên, những thành tựu và những ứng dụng thực tiễn đã minhchứng cho sự hữu dụng đích thực của nó trong hoạt động giảng dạy tại nhàtrường Cao đẳng - Đại học Dựa trên cơ sở của Tâm lý học Sư phạm Đại học,việc giảng dạy những kiến thức cũng như hình thành những kỹ năng vàchuẩn bị những kỹ xảo cho sinh viên - một đối tượng học tập đặc thù sẽ thực

sự có đường hướng và mang tính kỹ thuật đích thực

Không thể phủ nhận rằng việc giảng dạy ở bậc Cao đẳng - Đại học vốn

dĩ là một hoạt động phức tạp Cái phức tạp ấy thể hiện trong cái nhìn tươngtác giữa hai chủ thể khi mà cái tôi đã "trưởng thành" và “tỏa sáng” Việc thểhiện đúng nghĩa tính tổ chức trong hoạt động giảng dạy và chủ động tronghoạt động học tập - hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên sẽ là sự lựachọn hoàn hảo Những luận điểm chính này là đối tượng và cũng đồng thời làđích đến của Tâm lý học Sư phạm Đại học

Thực tế luôn yêu cầu cao và chất lượng giảng dạy tại các trường Đạihọc - Cao đẳng cũng không ngừng được yêu cầu cao Song song với việc cảitiến về cơ sở vất chất, chương trình đào tạo, nội dung đào tạo thì việc đầu tư

về "con người" trong giảng dạy là điều hết sức cần thiết Góp phần cùng vớinhiệm vụ chung là hỗ trợ các giảng viên nâng cao kỹ năng nghiệp vụ sưphạm giảng dạy ở Cao đẳng - Đại học thì Tâm lý học Sư phạm dưới góc độcủa mình đã đem đến những hành trang về các kiến thức tâm lý tuổi thanh

Trang 2

niên sinh viên và tuổi trưởng thành, chỉ rõ các cơ sở tâm lý của việc tiến hànhhoạt động dạy và hoạt động cũng như phân tích đặc điểm nghề nghiệp củangười cán bộ giảng dạy và phác thảo mô hình nhân cách của người giảngviên Đó chính là những cơ sở quan trọng của một nghề nghiệp mang tínhkhoa học và ứng dụng.

Giáo trình được biên soạn trên tinh thần kế thừa những tài liệu trước đó

và những công trình khoa học được cập nhật Tuy nhiên, vì hạn chế bởinhững điều kiện khách quan nên thiếu sót là không thể tránh khỏi Quyển giáotrình cũng ra đời dựa trên các cơ hội Dự án của Phát triển Giáo dục Đại họcgiai đoạn hai mà các tác giả được tham gia Kính mong được sự quan tâm vàchia sẻ kinh nghiệm của quý đồng nghiệp về sản phẩm tinh thần mang tínhtập thể này

TS Huỳnh Văn Sơn

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG CỦA TÂM LÝ HỌC SƯ PHẠM ĐẠI HỌC

Tâm lý học Sư phạm Đại học là khoa học được quan tâm trong giaiđoạn gần đây dù rằng những thành tựu của nó đã xuất hiện từ khá lâu Nhằmthực hiện trọn vẹn nhiệm vụ của mình, Tâm lý học Sư phạm Đại học đã vậndụng những thành tựu đặc biệt của Tâm lý học cũng như những khoa học cóliên quan Với những định hướng cụ thể và những yêu cầu đặc trưng, việc tìmhiểu Tâm lý học Sư phạm cần phải mang tính hệ thống Tuy vậy, điều cănbản là cần xác định đối tượng nghiên cứu - nhiệm vụ nghiên cứu cũng nhưvai trò - ý nghĩa của Tâm lý học Sư phạm Đại học

1.1 Đối tượng, nhiệm vụ nghiên cứu và vai trò của Tâm lý học Sư phạm Đại học

1.1.1 Đối tượng nghiên cứu của Tâm lý học Sư phạm Đại học

Đối với bất kỳ một khoa học hay một môn học, việc xác định đối tượngnghiên cứu trở nên hết sức quan trọng vì chính nó sẽ ảnh hưởng rất lớn đến

Trang 3

định hướng nghiên cứu khoa học ấy hay môn học ấy Tâm lý học Sư phạmĐại học cũng có một đối tượng nghiên cứu hết sức đặc biệt và độc đáo Sựđặc biệt và độc đáo ấy bị chi phối bởi khách thể rất đặc thù của Tâm lý học

Sư phạm Đại học cũng như bản chất của quá trình sư phạm đại học gắn chặtvới Tâm lý học Sư phạm Đại học

Có thể nói một cách khái quát nhất thì đối tượng nghiên cứu của Tâm lýhọc Sư phạm Đại học là những quy luật nảy sinh, biến đổi và phát triển tâm lýcủa cá nhân, của nhóm dưới tác động của hoạt động sư phạm (thực chất đó

là những tác động về dạy học và giáo dục của quá trình sư phạm đại học),những quy luật lĩnh hội những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo và những kinh nghiệm

- giá trị sinh viên cần trong quá trình sống và làm nghề trong tương lai

Ở một góc nhìn khác, Tâm lý học Sư phạm Đại học nghiên cứu nhữngquy luật cơ bản trong quá trình Sư phạm Đại học mà cụ thể là nghiên cứunhững quy luật nảy sinh, biến đổi, phát triển của các hiện tượng tâm lý trongquá trình Sư phạm Đại học (bao gồm cả quá trình dạy học và giáo dục) cũngnhư mối liên hệ giữa sự phát triển tâm lý của sinh viên trong các điều kiệnkhác nhau của dạy học và giáo dục Ở đây, đối tượng nghiên cứu hướng đến

là những quy luật cơ bản hay những quy luật mang tính khái quát trong hoạtđộng Sư phạm Đại học phản ánh những mặt cơ bản hay những diễn tiến cơbản của hoạt động ấy

Bên cạnh đó, Tâm lý học Sư phạm Đại học còn tập trung nghiên cứu

sự tương tác giữa hoạt động dạy và hoạt động học của sinh viên diễn ra trongmối quan hệ mật thiết cùng với những quy luật nhất định của nó Những quyluật này chi phối hiệu quả của từng dạng hoạt động cũng như ảnh hưởng trựctiếp đến chất lượng dạy và học ở bậc Đại học

1.1.2 Nhiệm vụ nghiên cứu của Tâm lý học Sư phạm Đại học

Tâm lý học Sư phạm Đại học sẽ góp phần giải quyết nhiệm vụ đặc biệtquan trọng là nâng cao hiệu quả của hoạt động dạy, hoạt động học và hướngđến hiệu quả dạy học ở bậc Đại học đạt ở mức cao nhất

Trang 4

Có thể phân tích chi tiết về nhiệm vụ của Tâm lý học Sư phạm Đại họctheo từng chiều kích như sau:

Thứ nhất, Tâm lý học Sư phạm Đại học phân tích về phương diện tâm

lý của hoạt động học của sinh viên đặc biệt là cơ chế tâm lý của quá trình sinhviên lĩnh hội nền văn hóa xã hội cũng như các tri thức khoa học và các kỹnăng nghề nghiệp Trên cơ sở đó, vạch ra những cơ sở tâm lý cho việc nângcao hiệu quả quá trình học tập và rèn luyện của sinh viên Ngoài ra, Tâm lýhọc Sư phạm Đại học nghiên cứu tâm lý tập thể sinh viên và những biểu hiệncủa nó trong hoạt động xã hội, học tập và nghiên cứu khoa học

Thứ hai, Tâm lý học Sư phạm Đại học phân tích về phương diện tâm lýcủa hoạt động dạy của giảng viên đặc biệt là cơ chế tâm lý của quá trình hìnhthành khái niệm, trang bị và rèn luyện những kỹ năng cho sinh viên cũng nhưtìm ra những cơ sở điều khiển về mặt Tâm lý học của quá trình giảng dạy.Trên cơ sở đó, vạch ra những cơ sở tâm lý cho việc nâng cao hiệu quả quátrình dạy học và giáo dục của giảng viên

Thứ ba, Tâm lý học Sư phạm Đại học còn vạch ra các quy luật hìnhthành nhân cách của sinh viên và những phẩm chất - năng lực quan trọng củamột trí thức có những phẩm chất và năng lực tương ứng với trình độ cử nhân

Thứ tư, Tâm lý học Sư phạm Đại học nghiên cứu nhân cách và hoạtđộng của người cán bộ giảng dạy, nghiên cứu những cơ sở tâm lý nhằm tổchức hoạt động giảng dạy một cách hiệu quả Đặc biệt là những biện phápnhằm định hướng hoạt động giảng dạy của giảng viên đạt ở trình độ kỹ thuậthoặc thậm chí là nghệ thuật

Thứ năm, Tâm lý học Sư phạm Đại học tìm mối quan hệ giữa sự tiếpthu tri thức và sự phát triển các chức năng tâm lý của cá nhân sinh viên.Ngoài ra, Tâm lý học Sư phạm Đại học còn phân tích và đề xuất những cơ sở

để giúp cho giảng viên, giúp sinh viên thích ứng với những yêu cầu đặc trưngcủa hoạt động học ở Đại học - một môi trường mới với những yêu cầu mới.Mặt khác, Tâm lý học Sư phạm Đại học phân tích mối quan hệ về mặt nhân

Trang 5

cách, đặc trưng trong hoạt động giao tiếp giữa giảng viên và sinh viên nhằmgóp phần nâng cao hiệu quả dạy học và giáo dục.

Thứ sáu, Tâm lý học Sư phạm Đại học đưa ra các luận chứng về mặtTâm lý học cho quan điểm hệ thống với việc đào tạo trí thức trẻ có trình độ cửnhân Đặc biệt, điều căn bản nhất là việc phân tích được những biểu hiện, cơchế và quy luật hoạt động học của sinh viên cũng như những cơ sở quantrọng của việc tổ chức hoạt động học ở yêu cầu: nội dung, cách tổ chức, nhịpđiệu, những áp lực, những khó khăn và căng thẳng thường gặp

Tóm lại, nhiệm vụ của Tâm lý học Sư phạm Đại học nhằm tìm ra những

cơ sở tâm lý của việc tổ chức hoạt động dạy của giảng viên và hoạt động họccủa sinh viên cũng như những quy luật cơ bản, những cơ chế tâm lý xảy ratrong mối quan hệ tương tác giữa hoạt động dạy và hoạt động học ở môitrường Sư phạm Đại học

1.1.3 Vai trò của Tâm lý học Sư phạm Đại học

Tâm lý học Sư phạm Đại học đóng một vai trò đặc biệt quan trọng xét

về mặt lý luận và thực tiễn Trên bình diện lý luận, Tâm lý học Sư phạm Đạihọc làm cho lý luận về Tâm lý học mang tính hệ thống và đặc trưng trongnhững lát cắt khác nhau của các chuyên ngành Tâm lý học Mặt khác, Tâm lýhọc Sư phạm Đại học làm cho việc nghiên cứu Tâm lý học mang tính ứngdụng cụ thể trong hoạt động giảng dạy ở bậc Đại học với các cơ sở khoa học

và thành tựu của nó

Trên bình diện thực tiễn, Tâm lý học Sư phạm Đại học chỉ rõ các quyluật hình thành và phát triển tâm lý cũng như các cơ sở khoa học của việcgiảng dạy đại học làm cho hoạt động giảng dạy đại học có cơ sở khoa họcvững chãi cũng như dễ dàng triển khai bằng các kỹ thuật hiện đại mang tínhthích ứng cao hướng đến hiệu quả tích cực Mặt khác, Tâm lý học Sư phạmđóng góp đáng kể vào việc thực hiện những chức năng cơ bản cho hoạt động

ở Trường Cao đẳng, Đại học là đào tạo đội ngũ trí thức cũng như định hướnggiáo dục con người toàn diện thích ứng với cuộc sống thực tiễn và nghềnghiệp

Trang 6

Có thể phân tích vai trò của Tâm lý học Sư phạm Đại học với nhàtrường Cao đẳng - Đại học như sau:

1.1.3.1 Đối với lãnh đạo trường Đại học

Tâm lý học Sư phạm Đại học, đầu tiên giúp cho cán bộ lãnh đạo cáctrường Đại học xây dựng hệ thống để định hướng cho công tác giảng dạy vàgiáo dục sinh viên theo những cơ sở khoa học của công tác đào tạo một nhâncách

Tâm lý học Sư phạm Đại học cũng góp phần giúp các nhà lãnh đạođịnh hướng xây dựng yêu cầu chuẩn trong việc đánh giá người giảng viên,tuyển dụng giảng viên cũng như đưa ra những cơ sở nhằm nâng cao chấtlượng giảng viên của Trường Cao đẳng, Đại học

Bên cạnh đó, Tâm lý học Sư phạm Đại học cung cấp những cơ sở cầnthiết để các nhà quản lý trường Đại học thực hiện chức năng quản lý củamình một cách tốt nhất dành cho hai khách thể chính: giảng viên và sinh viêntrong mối quan hệ tương tác để hướng đến việc nâng cao chất lượng đàotạo Đặc biệt, những cơ sở tâm lý về đặc điểm của sinh viên trưởng thành sẽtrở thành những yêu cầu quan trọng để các nhà quản lý có những định hướngsâu sát đáp ứng yêu cầu của sinh viên trong quá trình đào tạo

Ngoài ra, Tâm lý học Sư phạm Đại học cũng trở thành một thanh công

cụ quan trọng để các nhà quản lý trường Đại học sẽ nhìn nhận về lao độngđặc thù của người giảng viên Đại học với các yêu cầu nhất định để giải quyếttốt vấn đề nguồn nhân lực trong môi trường giáo dục Đại học

1 1 3.2 Đối với giảng viên và các cán bộ khác

Thứ nhất, việc lĩnh hội và nắm chắc các cơ sở về mặt lý thuyết trongTâm lý học Sư phạm Đại học giúp cho giảng viên sẽ tổ chức hoạt động sưphạm đại học một cách khoa học và hiệu quả

Mặt khác, những yêu cầu cơ bản về việc dạy học tích cực và thích ứng

sẽ dựa vào nền tảng những tri thức mà giảng viên đã tích lũy khi tìm hiểu mộtcách chi tiết và thấu đáo về đặc điểm tâm lý của sinh viên Trên cơ sở đó,

Trang 7

việc tổ chức các hoạt động mang tính đặc trưng, việc đáp ứng các yêu cầu vềtâm lý lứa tuổi sinh viên được khai thác triệt để sẽ trở thành một chiến lượcđáp ứng yêu cầu dạy học và giáo dục ở bậc Đại học.

Thứ ba, việc nắm vững mô hình triển khai quá trình hình thành kháiniệm, rèn luyện kỹ năng từ Tâm lý học Sư phạm Đại học sẽ là cơ sở quantrọng để giảng viên rèn luyện tay nghề của mình, nâng cao kỹ năng nghềnghiệp bằng những giải pháp cụ thể: xây dựng kế hoạch dạy học tích cực, sửdụng hiệu quả các phương tiện và kỹ thuật dạy học, cải tiến các biện phápđánh giá kết quả học tập

Thứ tư, Tâm lý học Sư phạm Đại học góp phần trang bị lý thuyết hệthống về giảng dạy Đại học, trang bị những cơ sở về lý luận và sự thích ứng

để giảng viên Đại học sẽ dễ dàng tiếp cận những lý thuyết khác nhau vềgiảng dạy và giáo dục Đại học Bên cạnh đó, giảng viên cũng sẽ thích ứng với

sự thay đổi theo những đòi hỏi thực tiễn nhưng vẫn vững vàng chọn lọc bằngcái nhìn khoa học để giảng dạy hiệu quả cũng như không ngừng cải tiếnnhằm thích ứng cao và đạt hiệu quả cao trong công việc của chính mình

Thứ năm, đối với các cán bộ khác trong Trường Đại học, việc nắmvững Tâm lý học Sư phạm Đại học sẽ làm cho quan điểm hệ thống và khoahọc về quá trình Sư phạm Đại học sẽ hình thành một cách sâu sắc Mặt khácviệc hỗ trợ, đáp ứng những yêu cầu về giảng dạy đại học sẽ hiệu quả hơncũng như việc tổ chức các hoạt động giáo dục cho sinh viên sẽ có điểm tựacũng như đúng định hướng phát triển toàn diện nhân cách và chú trọng kỹnăng nghề

1.1.3.3 Đối với sinh viên các trường Cao đẳng - Đại học

- Tâm lý học Sư phạm Đại học góp phần làm cho sinh viên hiểu hơn vềnhững đặc trưng tâm lý của mình, những đặc trưng về kiểu nhân cách vànhững đặc trưng về hoạt động học tập - nghiên cứu của lứa tuổi để điều chỉnhnhững hoạt động cá nhân mang tính thích nghi

Trang 8

- Thứ nữa, Tâm lý học Sư phạm Đại học cung cấp cơ sở để sinh viênhình thành những kỹ năng học tập - nghiên cứu hướng dẫn đến việc tự học -

tự giáo dục và tự rèn luyện để phát triển nhân cách một cách toàn diện theođịnh hướng tích cực

- Tâm lý học Sư phạm Đại học còn góp phần tạo điều kiện kích thíchnhững sinh viên ưu tú phấn đấu và rèn luyện cũng như hoàn thiện chính mìnhnhằm chuẩn bị hành trình cần thiết để trở thành những ứng viên - giảng viêncung cấp vào đội ngũ giảng viên Đại học trong tương lai không xa

1.2 Những điều kiện làm nảy sinh và hình thành Tâm lý học Sư phạm Đại học

Như đã nói Tâm lý học Sư phạm Đại học không phải là khoa học đượchình thành từ rất sớm với tên gọi chính thống và độc lập của nó Tuy nhiên,nếu xét những tư tưởng sớm của Tâm lý học phát triển và Tâm lý học Sưphạm thì Tâm lý học Sư phạm Đại học cũng có những tư tưởng nền tảng khálâu đời dưới góc nhìn ứng dụng

Ngay từ rất lâu, những tư tưởng về việc tìm hiểu đặc điểm tâm lý củangười học đặc biệt là người học trưởng thành cũng như việc tìm hiểu cáccách thức tương tác với người học trưởng thành đã bắt đầu được quan tâm

Từ thế kỉ XIX, Tâm lý học chính thức tách khỏi Triết học và trở thành mộtkhoa học độc lập thì những tư tưởng nghiên cứu về Tâm lý học ở nhiều phânnhánh cũng bắt đầu được nảy sinh và thực hiện Có thể đề cập đến những tưtưởng này từ thời điểm năm 1890 với các tác giả nổi tiếng như: Juan Vives,Johann Pestalozzi, Friedrich Froebel, Johann Herbart [55] Từ những tưtưởng ban đầu về dạy học tích cực đến các điều kiện vật chất đảm bảo dạyhọc hiệu quả cũng như dạy học tương tác dựa vào người học đều được đềcập một cách khái quát

Kế đến là thời điểm từ năm 1890 đến 1920 với những thành tựu nổi bậtcủa Tâm lý học Giáo dục và Tâm lý học Sư phạm cũng có nhiều khởi sắc từnhững nghiên cứu này Nhiều nhà Tâm lý học và Giáo dục học đã minhchứng cho sự xuất hiện rất hữu dụng của Tâm lý học Sư phạm nói chung

Trang 9

Các nhà khoa học khác và những chuyên gia về giảng dạy cũng đã thừa nhận

sự tồn tại của Tâm lý học Sư phạm với những đóng góp của nó Những cơ sởtâm lý của việc dạy học lý thuyết hay dạy học nhóm hoặc dạy học thực hànhđều được đề cập và phân tích một cách sâu sắc Những khẳng định cho việcdạy học không chỉ là việc hình thành tri thức mà phải rèn luyện cả kỹ năngcũng như hình thành thái độ và tình cảm được phân tích chi tiết và khoa học.Các tác giả có thể đề cập như: James, Alfred Binet, Lewis Terman, EdwardThorndike, John Dewey [55]

Không thể tách riêng Tâm lý học Sư phạm Đại học ra khỏi nhữngchuyên ngành gần và rộng có bao hàm Tâm lý học Sư phạm Đại học như:Tâm lý học lứa tuổi hay Tâm lý học phát triển, Tâm lý học Sư phạm (bao gồmTâm lý học dạy học và Tâm lý học giáo dục) thì những tư tưởng cơ bản vềTâm lý học Sư phạm Dại học xuất hiện nở rộ vào những năm 1920 về sau vớicác nghiên cứu như: dạy học cho người trưởng thành ra sao, con đường tiếpnhận tri thức của người học trưởng thành, dạy học bám sát vào khả năngnhận thức hay cấu trúc nhận thức của người học, dạy học và các kỹ thuậtbiến cho người lớn từ học tập trở thành tự học Những tác giả có thể đề cậpnhư: Jerome Bruner, Benjamin Bloom, Nathaniel Gage [48]

Từ những năm 1980, một số tác giả nghiên cứu về Tâm lý học Sưphạm Đại học tiếp tục đưa ra những cơ sở tâm lý để tổ chức hoạt động dạyhọc ở bậc Đại học Từ những cơ sở của việc nghiên cứu đặc điểm tiếp nhậntri thức, đặc điểm nhận thức, đặc trưng của hoạt động học tập ở bậc Đại học -học tập nghiên cứu đến những mong mỏi và hứng thú học tập của tuổi sinhviên đều được khai thác khá sâu Hơn thế nữa, những cơ sở tâm lý của việc

tổ chức hoạt động dạy và học ở bậc Đại học, những cơ sở khoa học của việclựa chọn các phương pháp dạy học ở bậc Đại học, những yêu cầu về việcchọn lựa các kỹ thuật dạy học, mô hình dạy học phù hợp tâm lý đều đượckhai thác một cách bài bản Có thể đề cập đến những tác giả như:

Trang 10

Xét trên bình diện thực tiễn tại Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, cóthể đề cập đến điều kiện làm nảy sinh và hình thành Tâm lý học Sư phạm Đạihọc như sau:

- Thứ nhất với số lượng giảng viên các Trường Đại học, Cao đẳng hiệnnay trên toàn quốc lên đến con số hơn 5.000 giảng viên (số liệu năm 2010) thìviệc trang bị những kiến thức về tâm lý của hoạt động giảng dạy ở bậc Đạihọc trở nên hết sức quan trọng và cần thiết Điều này đòi hỏi phải có nhữngmôn học mang tính chất nền tảng và định hướng kỹ năng giảng dạy Đại học.Môn học Tâm lý học Sư phạm ra đời như là một nhu cầu khách quan Bắt đầu

từ những năm 1990 với chương trình đào tạo Lý luận dạy học Đại học chogiảng viên Đại học và sau đó trở thành một phân môn trong chương trìnhThạc sĩ Khoa học Giáo dục ở một số trường Đại học thì việc cần thiết nghiêncứu chuyên sâu về những cơ sở tâm lý của việc giảng dạy bắt đầu đượcquan tâm Ban đầu, môn học Lý luận dạy học Đại học trở thành môn học gầnnhư bắt buộc và dần dần những kiến thức có liên quan mà đặc biệt là cơ sởTâm lý học của hoạt động giảng dạy là không thể thiếu Mặt khác, Tâm lý học

Sư phạm Đại học trở thành một môn học (học phần) chuyên ngành đặc biệtquan trọng được giảng dạy cho các học viên Cao học, Tâm lý học từ nhữngnăm 1994 cho các hệ đào tạo Thạc sĩ Tâm lý học ở Viện và Trường có thể

kể đến những chuyên gia giảng dạy môn này như: PGS TS Nguyễn Thạc,PGS TS Phạm Thành Nghị, PGS TS Hoàng Anh

Cũng có thể dễ dàng nhận ra hiện nay, số lượng trường Cao đẳng - Đạihọc toàn quốc lên đến con số trên dưới 300 Trong số đó có những giảng viên

là các cán bộ khoa học ở các ngành khác được đào tạo để làm nghiên cứuhoặc ứng dụng đã trở thành giảng viên giảng dạy ở bậc Cao đẳng và Đại học

Đó là chưa kể số lượng sinh viên ở các Trường Đại học tăng lên đáng kể donhu cầu học tập nâng cao, thôi thúc phải luôn luôn chuẩn hoá đội ngũ, tuyểndụng và bồi dưỡng Việc bồi dưỡng giảng viên có trình độ chuẩn trở thànhnhu cầu không thể thiếu Ngoài những chương trình học bồi dưỡng do cáctrường Cao đẳng và Đại học tự thiết kế mà nội dung Tâm lý học Sư phạm Đại

Trang 11

học thường không thể thiếu thì chương trình bồi dưỡng nghiệp vụ Sư phạmdành cho giảng viên với 7 học phần mà trong đó học phần Tâm lý học Sưphạm Đại học trở thành học phần bắt buộc Song song với việc bồi dưỡng xét

về mặt chương trình, Tâm lý học Sư phạm Đại học với nội dung cốt lõi là tiếpcận hoạt động dạy và hoạt động học bằng những cơ sở Tâm lý học, chỉ rõnhững cách thức tiếp cận dạy học, những yêu cầu của việc tổ chức hoạt độngdạy và hoạt động học bằng những cơ sở Tâm lý học chỉ rõ cách thức tiếpcận dạy học, những yêu cầu của việc tổ chức hoạt động dạy và hoạt độnghọc Nên Tâm lý học Sư phạm Đại học trở thành công cụ rất quan trọng đểphát triển kỹ năng nghề nghiệp của giảng viên theo hướng tiếp cận kỹ thuật.Mặt khác, việc tiếp nhận và lĩnh hội những tri thức Tâm lý học Sư phạm Đạihọc sẽ giúp cho giảng viên nhận ra được những yêu cầu về phẩm chất vànăng lực của người giảng viên Đại học, nhận ra được những đặc điểm củalao động trí tuệ và mang tính đặc thù này nhằm tự đánh giá bản thân, khôngngừng rèn luyện và hoàn thiện chính mình trong tương lai Đó chính là lốitiếp cận mang tính chất nghiên cứu để định hướng tự học và tự phấn đấunhằm giúp cho những giảng viên sẽ phát triển và hoàn thiện nhân cách mẫumực, nhân cách toàn diện và nhân cách sáng tạo

Những yêu cầu của thực tiễn cũng cho thấy việc cung cấp một tri thứckhoa học mang tính định danh như “một bộ môn", “một học phần" hay mộtchuyên đề sẽ khó khả thi khi lượng tri thức thì rất khổng lồ, da dạng và phongphú Hơn thế nữa, thời lượng đào tạo thì được giảm tải theo những địnhhướng mới, sinh viên sẽ tự chọn những học phần mình cảm thấy cần Vìvậy, khó có thể làm tốt việc giảng dạy Đại học nếu không có phương pháp.Thế nên, những cơ sở khoa học về mặt tâm lý để tổ chức hoạt động dạy vàhọc sẽ rất có giá trị để đáp ứng yêu cầu này Khi nội dung càng rộng mở vàthậm chí là bao la, thời lượng thì có hạn, khả năng của sinh viên cũng trongmột chừng mực thì không có gì khác hơn chính những giảng viên phải đủ bảnlĩnh và kỹ thuật để tiết chế chính mình, điều tiết bài giảng, hướng đến việckích thích sinh viên - người học tự nghiên cứu, tự học và tự học suốt đời.Điều mà giảng viên thu nhận được trong Tâm lý học Sư phạm Đại học, đó

Trang 12

chính là cách thức hướng sinh viên tự làm việc độc lập, tự nghiên cứu và tưduy chiến lược để giải quyết vấn đề của môn học, những vấn đề xoay quanhkhoa học chuyên ngành và đặc biệt là phương pháp tư duy và phương pháplàm việc Tâm lý học Sư phạm Đại học thực hiện sứ mệnh của chính mìnhnhư một đòi hỏi cấp thiết.

Dựa trên những yêu cầu của thực tiễn, nền tảng lý luận và những lịch

sử nghiên cứu mang tính hệ thống, Tâm lý học Sư phạm Đại học ra đời nhưmột chuyên ngành của Tâm lý học Tâm lý học Sư phạm Đại học là khoa họcnghiên cứu hệ thống những tri thức, những quan điểm và những nguyên tắccũng như những quy luật giảng dạy và giáo dục ở bậc Đại học trong cái nhìnthích ứng Tâm lý học Sư phạm Đại học trở thành một kiến thức nền tảngkhông thể thiếu trong quá trình giảng dạy ở bậc Đại học cũng như quản lýcông tác giảng dạy ở bậc Đại học trên tầm vĩ mô và vi mô

1.3 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu Tâm lý học Sư phạm Đại học

1.3.1 Phương pháp luận nghiên cứu Tâm lý học Sư phạm Đại học

Trước hết, có thể đề cập đến khái niệm phương pháp luận khoa họcđại cương Phương pháp luận dựa trên những nguyên tắc, những phươngtiện và hình thức nhận thức khoa học mang tính toàn diện Phương pháp luậnkhoa học đại cương nêu ra vấn đề chung để xây dựng nghiên cứu khoa học,những biện pháp tiến hành hoạt động lý luận và thực tiễn, trong đó có nhữngvấn đề chung xây dựng nghiên cứu thực nghiệm, quan sát và mô hình hóa

Phương pháp luận khoa học là học thuyết về các phương pháp nhậnthức khoa học và cải tạo thế giới Phương pháp luận Tâm lý học Sư phạmĐại học là những quan điểm duy vật biện chứng và những quan điểm khoahọc tâm lý về bản chất tâm lý, sự thống nhất ý thức nhân cách và hoạt động,

là những nguyên tắc về tri thức khoa học đã được khái quát mang tính logicđối với quá trình nghiên cứu các hiện tượng tâm lý trong những điều kiện đặcthù về dạy học và giáo dục ở môi trường Đại học

Trang 13

Phương pháp luận của việc nghiên cứu Tâm lý học Sư phạm Đại họcđòi hỏi phải tuân thủ các nguyên tắc cơ bản sau:

1.3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính khách quan khi nghiên cứu Tâm lý học Sư phạm Đại học

Các hiện tượng tâm lý của sinh viên trong đó bao gồm những đặc điểm,quy luật, cơ chế của sự phát triển tâm lý là đối tượng nghiên cứu chính củaTâm lý học Sư phạm Đại học cho nên các hiện tượng này được nghiên cứuphải đảm bảo tính khách quan Điều này, đòi hỏi việc nghiên cứu các vấn đềnày trong trạng thái tự nhiên nhất, thật nhất và tiêu chí trung thực, chính xácphải luôn luôn được đảm bảo

Việc thực hiện nguyên tắc khách quan trong khi nghiên cứu Tâm lý học

Sư phạm Đại học là yêu cầu tối quan trọng vì chỉ khi tuân thủ yêu cầu này haynguyên tắc này thì những đặc điểm tâm lý hay những thông tin khái quát khác

về tuổi sinh viên mới thực sự có tính khách quan và có đủ độ tin cậy Đâycũng là một thách thức để thấy rằng việc nghiên cứu Tâm lý học Sư phạm Đạihọc đòi hỏi phải rất dày công, phải tỉ mỉ, chi tiết và đặc biệt là luôn có nhữngbằng chứng khoa học kể cả về mặt định lượng lẫn định tính

Nguyên tắc tính khách quan được vận dụng một cách cụ thể khi nghiêncứu Tâm lý học Sư phạm Đại học là mọi cứ liệu về tâm lý đều phải được lưugiữ và nó trở thành những bằng chứng về mặt khoa học Dù rằng một biểuhiện tâm lý của sinh viên có thể xảy ra duy nhất một lần hay xảy ra lặp đi lặplại cũng phải được quan tâm vì đây là những cơ sở rất quan trọng để minhhọa cho những thông số phát triển của độ tuổi Đây cũng chính là những luận

cứ rất quan trọng để người nghiên cứu có thể mở đầu cho một sự giả định.Nói khác đi, việc kết luận một cách cảm tính hay chủ quan của người nghiêncứu khi nhìn nhận về sự phát triển tâm lý hay diễn tiến tâm lý của sinh viên sẽkhông thể được chấp nhận vì nó vi phạm nguyên tắc khách quan Mọi biểuhiện về tâm lý của sinh viên đều có những cơ sở và những kết luận trong sựphát triển tâm lý của sinh viên đều phải dựa trên những cứ liệu rõ ràng và chitiết

Trang 14

Nguyên tắc này còn đòi hỏi việc nghiên cứu hoạt động dạy của giảngviên và hoạt động học của sinh viên phải diễn ra một cách chân thật và tựnhiên nhất Cụ thể như, việc nghiên cứu hoạt động học của sinh viên cần nhìnnhận một cách khách quan trong môi trường học đường giảng đường cũngnhư trong môi trường sinh hoạt hàng ngày Hay việc nghiên cứu hoạt độngdạy của giảng viên cần được xem xét khách quan thông qua những diễn tiếnkhách quan của nó trong các khâu khác nhau của quá trình giảng dạy.

1.3.1.2 Nguyên tắc quyết định luận duy vật biện chứng khi nghiên cứu Tâm lý học Sư phạm Đại học

Việc nghiên cứu Tâm lý học Sư phạm Đại học phải nhìn nhận nhữngbiểu hiện tâm lý của tuổi sinh viên luôn chịu ảnh hưởng một cách đồng bộ bởinhững yếu tố khác tác động đến tâm lý người Từ những điều kiện sinh họcđến những điều kiện xã hội hay vai trò đặc biệt quan trọng của chủ thể cùngvới hoạt động của chủ thể đều được xem xét trong việc nghiên cứu Tâm lýhọc Sư phạm đại học Sự tác động tổng hợp và đồng bộ này tồn tại và diễn ranhư một quy luật phổ biến và nó để lại những dấu ấn quan trọng trong tiếntrình phát triển tâm lý của con ngươi Đặc biệt, việc tuân thủ nguyên tắc nàyđòi hỏi cần nhìn nhận sự phát triển tâm lý hay những diễn tiến tâm lý của sinhviên chịu ảnh hưởng đặc biệt quan trọng bởi tác động của giảng viên cùng vớihoạt động dạy nhưng chính hoạt động học của sinh viên lại quyết định sựphát triển cá nhân mình

Ngoài ra, việc nghiên cứu Tâm lý học Sư phạm Đại học luôn luôn nhìnnhận sinh viên trong sự tác động đa chiều cũng như trong mối liên hệ tươngtác giữa điều kiện sinh học với tâm lý, quan hệ giữa môi trường và gia đìnhvới tâm lý của sinh viên Đây cũng chính là yêu cầu để thấy rằng việc nghiêncứu Tâm lý học Sư phạm Đại học không thể tách sinh viên ra khỏi thực tạicũng như tách ra khỏi nhóm cộng đồng sinh viên theo nguyên tắc biệt lập dùchỉ là tương đối

Những biểu hiện tâm lý của sinh viên không thể tự dưng có được.Chính vì vậy, những lý giải về mặt hành vi, thái độ hay những sự lựa chọn giá

Trang 15

trị của sinh viên và bất kỳ biến đổi nào khác đều có căn nguyên của nó Đó lànhững đổi thay luôn có những cơ sở từ môi trường bên ngoài Nguyên tắcquyết định luận duy vật biện chứng giúp cho người nghiên cứu Tâm lý học Sưphạm Đại học không những đặt khách thể nghiên cứu trong mối quan hệ cộngđồng mà cũng nhìn nhận tất cả những tác động ẩn tàng xét trên bình diệntương tác đa chiều trong nghiên cứu về sự đổi thay hay phát triển của sinhviên.

1.3.1.3 Nguyên tắc thống nhất tâm lý, ý thức với hoạt động khi nghiên cứu Tâm lý học Sư phạm Đại học

Nguyên tắc này khẳng định tâm lý, ý thức không tách rời khỏi hoạt độngcon người Tâm lý, ý thức được hình thành, bộc lộ và phát triển trong hoạtđộng đồng thời định hướng, điều khiển, điều chỉnh hoạt động Các đặc điểmtâm lý, quá trình tâm lý của sinh viên đều phải được nghiên cứu thông quahoạt động, diễn biến và các sản phẩm của hoạt động của sinh viên trong thựctế

Bên cạnh đó, việc xem xét các đặc điểm tâm lý của sinh viên cũng phảiđược quan tâm trên bình diện giữa biểu hiện và bản chất Không thể quy gánmột cách vội vàng những biểu hiện tạm thời của sinh viên là đặc điểm tâm lýcũng như không thể kết luận một cách thiếu tỉnh táo nếu những cứ liệu vềviệc nghiên cứu Tâm lý học Sư phạm Đại học chưa thực sự đủ độ "chín" vềmặt ý nghĩa thống kê Cụ thể như việc nghiên cứu những đặc điểm về nhậnthức hay tình cảm của sinh viên không thể không được thực hiện ngay tronghoạt động thường nhật của sinh viên mà đặc biệt là hoạt động học tập -nghiên cứu khoa học của sinh viên

Nguyên tắc này đòi hỏi việc tìm hiểu tâm lý của sinh viên phải dựa trênnền tảng của những biểu hiện tâm lý thông qua thái độ và hành vi của sinhviên Ngay cả việc xem xét sự phát triển đích thực về mặt tâm lý của sinh viêncũng dựa trên những cơ sở rất cụ thể và rõ ràng mà không chỉ dựa vàonhững con số thô đo đạc được Điều này sẽ đưa ra một đòi hỏi rất nghiêmngặt khi nghiên cứu Tâm lý học Sư phạm Đại học là việc dựa trên các chỉ báo

Trang 16

nghiên cứu phải xác thực nhưng phải đồng bộ diễn ra trong hoạt động dạy vàhoạt động học.

1.3.1.4 Nghiên cứu Tâm lý học Sư phạm Đại học trong cái nhìn vận động và phát triển

Tâm lý người có sự nảy sinh, vận động và phát triển Sự phát triển tâm

lý người nói chung và tâm lý ở từng lứa tuổi nói riêng mà cụ thể là ở tuổi sinhviên thanh niên là không ngừng nên khi nghiên cứu Tâm lý học Sư phạm Đạihọc phải đảm bảo một cách nghiêm túc, tính thực tế nhưng có đảm bảo tính

dự kiến, dự phòng Điều này làm cho việc nghiên cứu Tâm lý học Sư phạmĐại học sẽ mang tính thực tiễn và ứng dụng cao

Nguyên tắc này đòi hỏi việc nghiên cứu Tâm lý học Sư phạm Đại họckhông được “cứng nhắc" vào những chỉ số đã có về mặt phát triển tâm lý củasinh viên hay những kết luận mang tính chất cố định Chính những tác động

về mặt xã hội - văn hóa và kể cả những biến đổi có chủ đích của khách thể sẽtạo nên những thay đổi khá lớn trong tiến trình phát triển tâm lý Người nghiêncứu luôn luôn có cái nhìn vận động để xem xét mọi sự đổi thay trong mộtquan điểm rất mới mẻ, tích cực và đặc biệt là theo xu hướng thừa nhận nếu

nó diễn ra theo một quy luật hoặc ít nhất là được lặp đi lặp lại nhiều lần dù chỉ

là tương đối

Ngoài ra, việc nghiên cứu Tâm lý học Sư phạm Đại học cần xem xéthoạt động học và hoạt động dạy trong tiến triển và sự vận động liên tục xét vềmặt tự thân từng hoạt động cũng như xét trên bình diện quá trình Điều nàytrở thành một yêu cầu căn bản để việc nghiên cứu Tâm lý học Sư phạm Đạihọc nhằm tránh những thói quen tiêu cực khi nghiên cứu cũng như cách nhìnmang tính cảm tính, chủ quan, duy ý chí

1.3.2 Phương pháp nghiên cứu Tâm lý học Sư phạm Đại học

1.3.2.1 Khái niệm

- Phương pháp là cách thức để tìm hiểu và nghiên cứu đối tượng củamột khoa học nào đó

Trang 17

- Thực tế nghiên cứu cho thấy các phương pháp lý luận được sử dụngphối kết hợp và tồn tại thành một hệ thống Hệ thống phương pháp này đượclựa chọn dựa trên nhiệm vụ, mục đích nghiên cứu và các yêu cầu cơ bản củacuộc nghiên cứu Khi các phương pháp nghiên cứu cùng tồn tại như một hệthống thì nó được gọi là phương pháp hệ Phương pháp hệ nghiên cứu làtoàn bộ những biện pháp, phương pháp nghiên cứu một vấn đề, một khoahọc nào đó Đây là những cách thức hợp lý, có mục đích dẫn đến một kết quảnhất định, một quá trình nhất định hay thực hiện một nhiệm vụ thực tiễn nào

đó Phương pháp hệ cũng bao gồm những biện pháp kỹ thuật để hiện thựchóa phương pháp nghiên cứu với mục tiêu chứng minh tính chính xác của trithức hay tính thuyết phục của tri thức về khách thể nghiên cứu

1.3.2.2 Phân loại các phương pháp nghiên cứu

Có nhiều cách phân loại khác nhau:

* Hướng 1: Phân loại của các nhà Tâm lý học Liên Xô cũ

Cách phân loại này chia thành ba nhóm phương pháp

Nhóm 1: Nhóm các phương pháp tổ chức

+ Phương pháp cắt ngang (so sánh)

Phương pháp cắt ngang là nhóm các phương pháp tổ chức nghiêncứu Đây là nhóm phương pháp dựa trên một nhóm mẫu theo lát cắt đủ sốlượng nhằm nghiên cứu những khuynh hướng chung nào đó (sử dụng việc sosánh để nhận ra kết quả nghiên cứu)

+ Phương pháp cắt dọc

Phương pháp này là phương pháp nghiên cứu tâm lý của một kháchthể trong một khoảng thời gian dài nào đó nhằm tìm sự biến đổi tâm lý quyluật phát triển tâm lý theo từng giai đoạn

+ Phương pháp phức hợp

Phương pháp phức hợp là sự kết hợp giữa phương pháp cắt dọc vàphương pháp cắt ngang trong nghiên cứu Phương pháp phức hợp đòi hỏi

Trang 18

lượng mẫu nghiên cứu đủ độ thuyết phục về mặt thống kê (khách quan) cũngnhư cần phải nghiên cứu sâu trên một vài khách thể để cung cấp thêm những

cứ liệu nhằm góp phần bổ sung cho nghiên cứu định lượng

- Nhóm 2: Nhóm các phương pháp mang tính kinh nghiệm

Nhóm phương pháp này bao gồm những phương pháp được sử dụng

để thu thập dữ liệu nghiên cứu mà cụ thể là những biểu hiện của các quátrình tâm lý, đặc điểm tâm lý, quy luật tâm lý ở một độ tuổi nhất định nào đó.Trong nhóm phương pháp này có thể đề cập đến những phương pháp cụ thểnhư: phương pháp quan sát, phân tích sản phẩm, phỏng vấn

- Nhóm 3: Nhóm các phương pháp lựa chọn và xử lý các tài liệu đã thuthập được

Nhóm phương pháp này được thực hiện chủ yếu để xử lý những cứliệu, số liệu hoặc luận cứ - luận chứng trong quá trình nghiên cứu Thực ra,đây chính là những phương pháp quyết định chất lượng cuộc nghiên cứu vì

nó cũng chính là những thao tác xét trên bình diện khoa học của cuộc nghiêncứu Có thể thấy có hai phương pháp chính bao gồm: nghiên cứu định lượng

và nghiên cứu định tính

+ Phương pháp nghiên cứu định lượng

Khái niệm định lượng (quanlity) thường gắn liền với số lượng, tần số,cường độ, mật độ Nghiên cứu định lượng thường sử dụng các phươngpháp thu thập số liệu “cứng" dưới dạng con số và với một số lượng mẫu như:phiếu điều tra, phỏng vấn theo mẫu, thực nghiệm và thậm chí là quan sát.Theo nhà nghiên cứu Bryman, nghiên cứu đỉnh lượng thường gắn liền vàhướng đến việc kiểm tra giả thuyết, thiết lập sự kiện, thống kê mô tả, tìm hiểumối quan hệ giữa các biến số và dự đoán Nhà nghiên cứu Goodwin cho rằngnghiên cứu định lượng thường đi theo hướng diễn dịch, có quy trình chặt chẽ

và sử dụng một số dụng cụ đo lường tương đối chi tiết

Phương pháp nghiên cứu định lượng còn được hiểu là phương phápnghiên cứu chủ yếu bằng thống kê toán học để thu thập số liệu nghiên cứu

Trang 19

nhằm tìm ra những đặc điểm tâm lý hoặc những biểu hiện tâm lý chung củamột nhóm mẫu đại diện Nói khác đi, nghiên cứu định lượng là phương phápdựa trên sự phân tích số lượng những dữ liệu thu thập được từ cuộc nghiêncứu.

Phương pháp này cho phép người nghiên cứu thu thập những số liệu

từ một nhóm hoặc vài nhóm lứa tuổi (nếu nghiên cứu so sánh) và sau đó sửdụng những biện pháp định lượng và phương pháp giải thích kết quả nghiêncứu định lượng Phương pháp này đòi hỏi việc chọn mẫu phải thực sự khoahọc cũng như việc xử lý các số liệu thống kê phải thực sự khách quan khiđảm bảo những yêu cầu về độ tin cậy, độ phân cách để có thể đưa ranhững kết luận chính xác Một trong những chương trình xử lý thuật toánthống kê bằng máy tính trong việc nghiên cứu Tâm lý học Sư phạm Đại họckhá hữu hiệu ngày nay là chương trình SPSS đã được ứng dụng phổ biến.Tuy nhiên, điều quan trọng là người nghiên cứu phải thực sự chú ý đầu tiênđến việc mã hóa số liệu cũng như đặt ra những yêu cầu về thông số thống kê

để áp sát nhiệm vụ nghiên cứu Mặt khác, điều rất quan trọng là phải đọcđược những con số thống kê cũng như giải mã những con số thống kê ấy vàbình luận một cách sắc nét Việc sử dụng phương pháp định lượng sẽ khônggiúp người nghiên cứu phân biệt mối liên hệ qua lại giữa những thuộc tínhtâm lý khác nhau về chất lượng nhưng lại có những bằng chứng giống nhau

về số lượng trên con số thống kê Trong trường hợp này, sẽ thực sự là thiếutính thuyết phục nếu chỉ nói với các con số mà thiếu hẳn những cứ liệu khác

để bổ sung Cứ liệu ấy có được nhờ vào phương pháp nghiên cứu định tính

+ Phương pháp nghiên cứu định tính

Khái niệm định tính (quality) chỉ đặc tính của sự vật hay hiện tượng.Nghiên cứu định tính thường chú trọng đến quá trình và ý nghĩa, những cáikhó có thể cân - đong - đo - đếm một cách chính xác để thể hiện bằng sốlượng, tần số hay cường độ Từ giữa thế kỷ XX nhiều nhà nghiên cứu chorằng các phương pháp nghiên cứu định lượng chỉ chú ý đến logic của con số

mà bỏ qua sự phong phú, phức tạp và chằng chịt vẫn có của các hiện tượng

Trang 20

xã hội Các phương pháp định tính chú trọng đến bản chất xã hội của thực tại,những ảnh hưởng của hoàn cảnh lên đối tượng nghiên cứu, mối quan hệ chặtchẽ giữa người nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu Nghiên cứu định tínhthường đi theo hướng gắn liền với việc lập giả thuyết và tiến hành theo lối quynạp Nghiên cứu định tính thường sử dụng những phương pháp thu thập dữliệu như phỏng vấn, quan sát để có được những số liệu đa dạng và chi tiết.Nghiên cứu định tính thường đòi hỏi người nghiên cứu xem xét số liệu ngay

từ giai đoạn đầu của việc nghiên cứu và có những định hướng thích hợp cũngnhư được tái sử dụng những số liệu nghiên cứu ấy để tiếp tục minh họa

Nghiên cứu định tính là phương pháp dùng để phân tích tài liệu thuthập theo nhóm, theo phương án hay nói cách khác đó là phương pháp dựatrên sự phân tích chất lượng những dữ liệu thu thập được, cùng với tính dựđoán được mô tả trong những thuật ngữ khái niệm khoa học đã biết nhằm lýgiải khoa học cho những giả thuyết

Thực tế cho thấy việc nghiên cứu định tính là một đòi hỏi khá quantrọng trong nghiên cứu Tâm lý học Sư phạm Đại học khi mà những yêu cầu

mô tả nghiên cứu định lượng không thể thỏa mãn nhu cầu phác thảo chândung tâm lý của một độ tuổi thì nghiên cứu định tính thực hiện được yêu cầunày một cách khá hiệu quả Phương pháp nghiên cứu định tính không chophép sử dụng những biện pháp và phương pháp định lượng để giải thích kếtquả nghiên cứu, nhận xét về mức độ phát triển của những thuộc tính tâm lýđược dự đoán và trực tiếp tìm ra những mối liên hệ nguyên nhân giữa nhữngđại lượng biến thiên được nghiên cứu Ở đây chính nghiên cứu định tính làmcho những nghiên cứu về Tâm lý học Sư phạm Đại học sẽ mang tính kháiquát nhưng vẫn đảm bảo tính cụ thể với những khách thể khác nhau trongtiến trình nghiên cứu

Nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng dù có sự khác biệtnhưng không loại trừ lẫn nhau mà có mối quan hệ mật thiết với nhau Cả haiphương pháp này đều hướng đến việc tìm kiếm hiểu biết và tri thức khoa họcmặc dù dạng thức thì khác nhau, chúng có thể hỗ trợ lẫn nhau tạo ra một hiểu

Trang 21

biết thấu đáo về đối tượng Bên cạnh đó, cả hai phương pháp hay hai cáchtiếp cận đều đòi hỏi một quá trình nghiên cứu chuẩn xác và chặt chẽ vì vậykết quả của một cách tiếp cận này có thể đủ độ tin cậy để sử dụng cho cáchtiếp cận kia và ngược lại Ngoài ra, cả hai cách tiếp cận đều sử dụng đolường như là một thành phần quan trọng của tiến trình nghiên cứu Kết quả

đo lường đó có thể bổ sung cho nhau Việc áp dụng cả nghiên cứu định tính

và định lượng trong Tâm lý học Sư phạm Đại học sẽ làm cho việc nghiên cứucác đặc điểm tâm lý cụ thể chi tiết nhưng có tính khái quát để tìm ra những cơ

sở khoa học nhằm đưa ra những tác động phù hợp thúc đẩy sự phát triển tối

đa tâm lý của con người theo từng độ tuổi cũng như trong tiến trình phát triển

* Hướng 2: Cách phân loại của một số nhà Tâm lý học Sư phạm Đại học phương Tây.

Theo quan điểm này thì phương pháp nghiên cứu Tâm lý học Sư phạmĐại học cũng tồn tại nhiều phương pháp khác nhau trong sự phân chia tươngđối Cách phân loại này dựa vào hiện trạng việc nghiên cứu ở những chiềukích khác nhau để đưa ra những phương pháp nghiên cứu khác nhau Có thểđiểm qua những phương pháp nghiên cứu sau:

+ Phương pháp nghiên cứu mô tả và nghiên cứu giải thích

+ Phương pháp nghiên cứu trong điều kiện tự nhiên và nghiên cứutrong phòng thí nghiệm

+ Phương pháp nghiên cứu có tính lịch sử

+ Phương pháp nghiên cứu lý thuyết và nghiên cứu dựa trên hìnhtượng

+ Phương pháp nghiên cứu cơ sở và nghiên cứu ứng dụng

+ Phương pháp nghiên cứu cá thể và nghiên cứu nhóm

* Hướng 3: Phân loại các phương pháp nghiên cứu dựa trên cách thức thực hiện.

Trang 22

Dựa trên cách thức thực hiện hiểu theo nghĩa là thực hiện phươngpháp này trong những điều kiện và thao tác nào thì có hai phương phápnghiên cứu chủ yếu sau:

+ Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm

+ Phương pháp nghiên cứu không dùng thực nghiệm

1.3.2.2 Một số phương pháp nghiên cứu thông dụng

a Phương pháp quan sát

* Khái niệm:

Quan sát là hình thức tri giác chủ định bằng cách sử dụng các giácquan để thu thập thông tin về đối tượng, vấn đề nghiên cứu nhằm thực hiệncác mục đích đã đặt ra phục vụ cho công tác nghiên cứu

Quan sát là phương pháp theo dõi có hệ thống, có tổ chức và lý giảinhững điều đang xảy ra Quan sát phải được sử dụng bằng nhiều giác quankết hợp một cách hợp lý và sử dụng các phương tiện kỹ thuật hỗ trợ

Cụ thể hơn, quan sát trong nghiên cứu Tâm lý học Sư phạm Đại học làphương pháp mà nhà nghiên cứu theo dõi, ghi chép những biểu hiện đa dạngcủa hoạt động tâm lý của sinh viên hoặc giảng viên hoặc nhóm sinh viên,nhóm giảng viên cùng với những diễn biến của nó

* Phân loại

Có thể thấy dựa trên khái niệm của phương pháp quan sát thì việcphân loại phương pháp quan sát cũng là việc làm khá phức tạp Có thể đề cậpđến một vài cách phân loại sau:

Cách 1: Quan sát bao gồm quan sát tự nhiên và quan sát theo mụctiêu

- Quan sát tự nhiên:

+ Là loại quan sát được sử dụng nhằm ghi lại tất cả những gì đang xảy

ra trong quá trình nghiên cứu để làm dữ liệu

Trang 23

+ Loại quan sát này được sử dụng để tìm hiểu khái quát về khách thểnghiên cứu và theo dõi các hiện tượng lặp đi lặp lại trong quá trình nghiêncứu thường xuyên.

- Quan sát theo mục tiêu:

+ Là loại quan sát theo các mục tiêu cụ thể được đặt ra từ trước vớicác biểu hiện cụ thể cùng các tiêu chí đánh giá

+ Loại quan sát này được sử dụng để đánh giá một biểu hiện cụ thểnào đó trong tâm lý của sinh viên, một đặc điểm tâm lý cụ thể của sinh viêntrong quá trình nghiên cứu Loại quan sát này có thể sử dụng cách đánh dấuvào bảng liệt kê mức độ phát triển cụ thể của đối tượng quan sát

Cách 2: Quan sát bao gồm quan sát bộ phận và quan sát toàn diện

- Quan sát bộ phận:

Quan sát bộ phận là loại quan sát được thực hiện khi chủ thể quan sáttheo dõi một mặt nào đó trong hành vi, thái độ của khách thể nghiên cứu

- Quan sát toàn diện:

Quan sát toàn diện là loại quan sát được thực hiện nhằm quan sátnhiều mặt trong diễn biến tâm lý của trẻ nếu như không nói là quan sát mộtcách bao quát tất cả những biểu hiện tâm lý của trẻ trong giai đoạn nghiêncứu nào đó ở một bối cảnh nào đó

Ngoài ra, có thể đề cập đến hình thức tự quan sát Tự quan sát là quátrình nghiệm thể lấy chính các hiện tượng quá trình tâm lý của mình làm đốitượng tri giác

* Một số nguyên tắc cụ thể trong quan sát:

Dựa trên loại quan sát mà chủ thể nghiên cứu lựa chọn khi nghiên cứuthì các nguyên tắc quan sát sau đây được vận dụng một cách tương đối linhhoạt và sáng tạo

- Giữ khoảng cách vừa phải, không để khách thể biết mình đang đượcquan sát

Trang 24

- Không trò chuyện với khách thể (kể cả giao tiếp bằng ánh mắt, cử chỉ,điệu bộ ).

- Không gây cản trở đến hoạt động của khách thể, can thiệp vào hoạtđộng của khách thể

- Ghi chép tất cả sự kiện thật khách quan, không nhận xét nhận địnhchủ quan, vội vàng

- Ghi chép sự việc đúng theo trình tự đã quan sát, không ghi những gìkhông nhìn thấy

- Tập trung vào đối tượng quan sát, không dễ bị nhiễu bởi các yếu tốthông tin khác

- Biên bản quan sát phải được chuẩn bị đầy đủ, chu đáo, phản ánhđúng phương pháp và kỹ thuật đánh giá

- Chú ý đến độ tin cậy nếu muốn kết quả quan sát thực sự khách quan

- Phải nắm được các vấn đề trước khi tiến hành quan sát Một trongcác yêu cầu khi tiến hành quan sát là người nghiên cứu phải hiểu biết và nắmchắc vấn đề cần quan sát, có như vậy mới giúp họ chủ động trong quá trìnhnghiên cứu

Trang 25

- Cần phải chuẩn bị chu đáo các phương tiện trước khi quan sát như:bút, giấy, camera, máy ghi âm từ đó có thể ghi nhận được đầy đủ kết quảquan sát.

* Các nước quan sát:

- Bước 1: Xác định mục tiêu quan sát, đối tượng quan sát

- Bước 2: Lập kế hoạch quan sát bao gồm những yêu cầu sau; xác địnhđịa điểm, thời gian, khách thể quan sát, phương tiện hỗ trợ, cách thức quansát, những lưu ý khi quan sát

- Bước 3: Thiết kế mẫu ghi chép quan sát hoặc các loại biên bản quansát

- Bước 4: Quan sát và ghi chép theo mẫu hoặc quan sát tự nhiên kháchthể nghiên cứu đã xác định

- Bước 5: Phân tích dữ liệu thu thập hoặc nghiên cứu định tính hoặcbằng nghiên cứu định lượng (nếu số liệu cho phép)

- Bước 6: Đề ra biện pháp giáo dục trực tiếp hoặc kế hoạch tác độnglâu dài (kế hoạch giáo dục cá nhân)

Các bước quan sát trên được sử dụng một cách linh hoạt tùy theo từngyêu cầu khác nhau của từng cuộc nghiên cứu Tuy nhiên, các bước này đượcthực thi trong sự thỏa mãn những yêu cầu về nguyên tắc quan sát cũng nhưđảm bảo có sự hỗ trợ thêm của những công cụ khác hay phương tiện khác

để quá trình quan sát sẽ khách quan, khoa học cũng như đem lại những cứliệu xác thực nhất

Như đã nói, ở mỗi cuộc nghiên cứu, phương pháp quan sát sẽ đượcvận dụng một cách chuyên biệt Tùy theo yêu cầu về nhiệm vụ nghiên cứu,xác định dữ liệu nghiên cứu, khách thể nghiên cứu và những yêu cầu có liênquan, các loại mẫu quan sát sẽ rất đa dạng và phong phú nhằm đáp ứngnhững yêu cầu trong cuộc nghiên cứu theo mục tiêu đề ra

* ưu và nhược điểm:

Trang 26

vụ cho mục đích nghiên cứu.

* Phân loại:

Có thể phân ra làm hai loại: điều tra trực tiếp và điều tra gián tiếp

+ Điều tra trực tiếp là nhà nghiên cứu trực tiếp thiết kế bảng hỏi, trựctiếp đi điều tra và thu hồi kết quả nghiên cứu cũng như xử lý các kết quảnghiên cứu

+ Điều tra gián tiếp là điều tra qua các phương tiện thông tin đại chúngnhư: báo, đài, internet, ti vi hoặc người nghiên cứu có thể sử dụng người

Trang 27

khác thay mình đi phát phiếu điều tra đã được soạn thảo sẵn theo những chỉbáo nghiên cứu

- Phải tạo được bầu không khí chân thành, hiểu biết lẫn nhau giữangười nghiên cứu và người được nghiên cứu, có như vậy mới thu được cácthông tin khách quan, trung thực về đối tượng nghiên cứu

- Phải chuẩn bị chu đáo, chính xác câu hỏi, phương án trả lời khi soạnbảng hỏi và phải tiến hành nghiên cứu thử trước khi nghiên cứu trên diệnrộng

- Cần phải hướng dẫn khách thể một cách chi tiết cách thức lựa chọnhoặc trả lời cho các câu hỏi

* ưu và nhược điểm:

+ ưu điểm:

- Trong một thời gian ngắn mà thu thập được các thông tin phong phú

về đối tượng

- Có thể nghiên cứu được nhiều khách thể trong cùng một lúc

- Phương pháp này dễ tiến hành, có thể nghiên cứu ở trong hội trường,hay trên đường phố

+ Nhược điểm:

- Đậy là phương pháp với sự đầu tư nhất định về chi phí (cho soạn thảocâu hỏi, phương tiện đi điều tra, in ấn bảng hỏi, xử lý kết quả )

Trang 28

- Các thông tin thu được vẫn còn mang tính chủ quan của nhà nghiêncứu (kết quả của việc thiết kế câu hỏi).

- Thông tin thu được rất phong phú, đa dạng và phức tạp cho nên rấtkhó xử lý

Nên kết hợp với các phương pháp nghiên cứu khác làm tăng độ kháchquan của kết quả nhận được

c Phương pháp phỏng vấn

* Khái niệm:

Phỏng vấn là phương pháp thăm dò ý kiến của nghiệm thể, bằng cáchtrao đổi trực tiếp giữa người phỏng vấn và nghiệm thể, nhằm thu thập ý kiếnchủ quan của nghiệm thể về một vấn đề hoặc hiện tượng tâm lý nào đó phục

vụ cho mục đích nghiên cứu

* phân loại

- Phỏng vấn tiêu chuẩn hóa:

Phỏng vấn tiêu chuẩn hóa là loại phỏng vấn trực tiếp giữa người phỏngvấn và nghiệm thể theo quy trình và nội dung và các câu hỏi đã được chuẩn

bị từ trước

- Phỏng vấn phi tiêu chuẩn hóa:

Phỏng vấn phi tiêu chuẩn hóa là loại phỏng vấn trực tiếp không theomột quy trình và kế hoạch cụ thể, người phỏng vấn có quyền đặt ra các câuhỏi tùy theo tình huống và thời cơ phỏng vấn

- Phỏng vấn sâu:

Phỏng vấn sâu là loại phỏng vấn được tiến hành giữa nhà nghiên cứu

và một nghiệm thể về một vấn đề nào đó Phỏng vấn sâu có thể giúp nhànghiên cứu đi sâu vào các tầng bậc sâu của các hiện tượng tâm lý như: động

cơ, sở thích, niềm tin, lý tưởng Phỏng vấn sâu thường được sử dụng kếthợp với các phương pháp nghiên cứu khác, giúp chúng ta khẳng định vấn đềhoặc hiện tượng nghiên cứu nào đó

Trang 29

* yêu cầu:

- Người phỏng vấn phải hiểu biết tốt vấn đề nghiên cứu Thông thường,trước khi tiến hành phỏng vấn, người tiến hành phải nắm chắc vấn đề nghiêncứu để có thể nắm chắc nội dung phỏng vấn

- Câu hỏi đưa ra phải ngắn gọn, dễ hiểu phù hợp với trình độ củanghiệm thể Khi tiến hành phỏng vấn, người phỏng vấn cần biết trước nghiệmthể là ai, ở lứa tuổi nào và trình độ của họ ra sao để đưa ra câu hỏi cho phùhợp

- Phải tạo ra được bầu không khí thân mật, chân thành và hiểu lẫnnhau giữa người phỏng vấn và nghiệm thể

- Chuẩn bị tốt các phương tiện cần thiết để cho buổi phỏng vấn có kếtquả tốt như máy ghi âm, camera, giấy, bút

- Hạn chế tối đa những yếu tố ảnh hưởng đến sự khách quan cũng như

độ chính xác của cuộc phỏng vấn Ngoài ra, cần chú ý đến các yếu tố nhiễutrong quá trình phỏng vấn để đảm bảo cứ liệu mang tính chính xác

d Phương pháp thực nghiệm

* Khái niệm:

Phương pháp thực nghiệm là phương pháp nghiên cứu tác động vàođối tượng một cách có chủ đích trong những điều kiện tạo ra nhằm làm bộc lộhay làm biến đổi một hoặc một vài đặc tính của đối tượng mà nhà nghiên cứumong muốn

* phân loại:

Có thể phân chia phương pháp thực nghiệm thành hai loại: phươngpháp thực nghiệm tự nhiên và thực nghiệm trong phòng thí nghiệm

- Thực nghiệm trong phòng thí nghiệm:

Thực nghiệm trong phòng thí nghiệm là loại thực nghiệm được tổ chứcsẵn sàng chặt chẽ và lựa chọn những tình huống khó để thực nghiệm

Trang 30

- Thực nghiệm tự nhiên:

Thực nghiệm tự nhiên là loại thực nghiệm tiến hành trong những điềukiện giống như tự nhiên nhưng được sắp đặt sẵn một cách tương đối

* Một số nguyên tắc khi thực nghiệm:

- Phải đảm bảo việc tổ chức thực nghiệm diễn ra một cách hết sức bìnhthường và đừng làm xáo trộn quá lớn đối với nếp sống của khách thể

- Xác định biến thực nghiệm và biến phụ thuộc trong quá trình nghiêncứu thực nghiệm

- Kiểm tra những biến số nhiễu đối với quá trình thực nghiệm nhiềunhất có thể có

- Kiên nhẫn và nghiêm túc đón nhận những kết quả thực nghiệm cũngnhư đảm bảo tính khách quan của nó

* Các bước thực nghiệm:

Thực nghiệm được sử dụng hiện nay trong việc nghiên cứu Tâm lý học

Sư phạm Đại học thông thường là thực nghiệm tác động để nâng cao mộtkhả năng nào đó hay thay đổi một biểu hiện nào đó trong sự phát triển tâm lý

Có thể đề cập đến những bước cơ bản sau:

+ chọn nhóm đối chứng và nhóm thực nghiệm tương đồng (đo đầu vào)+ Tiến hành thực nghiệm các biện pháp đã đề xuất ở nhóm thựcnghiệm, nhóm đối chứng không áp dụng các biện pháp ở nhóm thực nghiệm

+ Tác động và đo kết quả ở hai nhóm (lần hai)

+ Tiếp tục thử nghiệm trên nhóm khác (nếu cần) và đo thêm kết quảmột lần nữa và rút ra kết luận

e Phương pháp phân tích sản phẩm hoạt động

* Khái niệm:

Phương pháp phân tích sản phẩm hoạt động là phương pháp nghiêncứu nhằm tìm hiểu và đánh giá trình độ phát triển khoa học công nghệ và các

Trang 31

giá trị văn hóa, tinh thần của con người hay nhóm người, thông qua các sảnphẩm sáng tạo, nhằm phục vụ mục đích nghiên cứu đặt ra từ trước TrongTâm lý học Sư phạm Đại học việc áp dụng phương pháp này nhằm tìm hiểunhững biểu hiện tâm lý của đối tượng được gửi vào những sản phẩm tronghoạt động thường nhật của chủ thể.

* yêu cầu:

- Người nghiên cứu phải nắm chắc được vấn đề nghiên cứu, trên cơ sở

đó họ có thể trình diễn, phân tích, đánh giá sản phẩm một cách trung thựckhách quan

- Phải phân tích cụ thể, sâu sắc các giai đoạn, thời gian và điều kiệnxuất hiện sản phẩm, đồng thời phải so sánh với các sản phẩm cùng loại đã cótrên thị trường

- Cần phải phân tích, so sánh để tìm ra các đặc điểm trình độ phát triển

và kỹ năng của các nhóm người và các cá nhân tạo ra sản phẩm sáng tạo

f phương pháp trắc nghiệm

* Khái niệm:

Phương pháp trắc nghiệm hay còn gọi là test (phương pháp nghiêncứu theo mô hình) là phương pháp nghiên cứu dựa trên các kết quả đáng tincậy từ một mẫu khá lớn các cá nhân khác nhau từ đó rút ra một mô hìnhmang tính chuẩn hóa làm cơ sở để đánh giá những vấn đề tâm lý nói chunghay những đặc điểm tâm lý của một con người - nhóm người Nói khác đi,trắc nghiệm trong Tâm lý học Sư phạm Đại học là phép thử đã được chuẩnhóa trở thành công cụ để nhà nghiên cứu đo lường các biểu hiện tâm lý củacon người

* Phân loại:

Phương pháp trắc nghiệm được sử dụng theo các hình thức đa dạngnhư trắc nghiệm nhóm, trắc nghiệm cá nhân, trắc nghiệm tiêu chuẩn hóahoặc trắc nghiệm được thiết kế

Trang 32

* yêu cầu:

- Trắc nghiệm đối tượng lựa chọn phải là trắc nghiệm khách quan

- Các câu hỏi - bài tập trong trắc nghiệm phải thực sự khoa học và hợp

lý cũng như bám sát tiêu chí cần đo nghiệm

- Trắc nghiệm phải đo đúng cái cần đo hay nói khác đi các tiêu chí đophải rõ ràng

- Cần chú ý đến tính văn hóa, ngôn ngữ và những yêu cầu đặc trưngtrong quá trình sử dụng trắc nghiệm để nghiên cứu tâm lý ở các độ tuổi khácnhau đặc biệt là với giảng viên và sinh viên

1.4 Mối quan hệ giữa Tâm lý học Sư phạm Đại học và các môn học khác

1.4.1 Với Tâm lý học đại cương

- Tâm lý học đại cương nghiên cứu những vấn đề chung nhất trong sựphát triển tâm lý của con người làm cơ sở định hướng cho việc nghiên cứuTâm lý học Sư Phạm Đại học

- Tâm lý học đại cương nghiên cứu những đặc điểm cơ bản về tâm lýcủa con người còn Tâm lý học Sư phạm Đại học nghiên cứu cụ thể theo độtuổi sinh viên nên Tâm lý học Sư phạm Đại học sẽ bổ sung và làm sáng tỏnhững tri thức của Tâm lý học đại cương

Như vậy, có thể nói những thành tựu nghiên cứu của Tâm lý học đạicương tìm được từ các khái niệm như: quá trình tâm lý trạng thái tâm lý, sẽ

là những khái niệm cơ bản trở thành cơ sở để Tâm lý học Sư phạm Đại họcnghiên cứu từng mặt trong tiến trình phát triển của sinh viên Ngược lại, Tâm

lý học đại cương sẽ khó có thể trở nên gần gũi và thực tế nếu không dựa vàonhững thành tựu của Tâm lý học Sư phạm Đại học và nói như thế nghĩa làTâm lý học đại cương và Tâm lý học Sư phạm Đại học có mối quan hệ chặtchẽ và tác động qua lại với nhau

1.4.2 Với Giáo dục học và Lý luận dạy học bộ môn

Trang 33

- Tâm lý học Sư phạm Đại học là cơ sở lý luận quan trọng của Giáo dụchọc Giáo dục học là ngành khoa học nghiên cứu về quá trình giáo dục conngười Đối tượng nghiên cứu của Giáo dục học chính là quá trình giáo dục,một quá trình hoạt động đặc biệt trong các hoạt động xã hội của con người.

- Ngược lại, Tâm lý học giáo dục cung cấp kết quả nghiên cứu để tổchức hợp lý quá trình giáo dục, một quá trình hoạt động đặc biệt trong cáchoạt động xã hội của con người

Xét về mối quan hệ giữa Tâm lý học Sư phạm Đại học và Lý luận dạyhọc bộ môn, Lý luận dạy học bộ môn giúp cho việc dạy học và giáo dục hiệuquả hơn Chỉ khi nhà giáo dục hiểu khách thể của mình thì mới có thể giáodục sinh viên thích hợp nhất, đề xuất các biện pháp sư phạm hữu hiệu nhấtnên Tâm lý học Sư phạm Đại học trở thành khoa học cơ sở có “sức nặng"đặc biệt đối với Lý luận dạy học Đại học

- Ngoài ra, Giáo dục học định hướng, đặt yêu cầu cho Tâm lý học Sưphạm Đại học nghiên cứu một cách cụ thể, ý nghĩa và mang giá trị vận dụngcao Ngay cả những cơ sở quan trọng nhất của việc lựa chọn các phươngpháp dạy học, phương tiện dạy học, hình thức tổ chức hoạt động cho ngườihọc cũng phải dựa vào những đặc điểm tâm lý - nhận thức của từng độ tuổicho nên những chỉ số về tâm lý của từng độ tuổi do Tâm lý học Sư phạm Đạihọc đem lại là cực kỳ có giá trị với Giáo dục học Hơn hết, Tâm lý học Sưphạm Đại học sẽ giúp giảng viên và các nhà quản lý giáo dục đánh giá đượcthực trạng và mức độ phát triển của sinh viên nhằm đưa ra các biện pháp tácđộng phù hợp và hiệu quả

Câu hỏi thảo luận

1 Tại sao nói đối tượng nghiên cứu của Tâm lý học Sư phạm Đại học

là các quy luật tâm lý diễn ra trong hoạt động dạy của giảng viên và hoạt độnghọc của sinh viên cũng như mối quan hệ tương tác giữa chúng?

2 Vì sao Tâm lý học Sư phạm Đại học trở nên cần thiết với nhưnggiảng viên trong giai đoạn hiện nay?

Trang 34

3 Đâu là những cơ sở làm nảy sinh một môn học chuyên ngành? Minhchứng cho môn Tâm lý học sư phạm Đại học.

4 Đâu là những cách thức để tìm hiểu đặc điểm tâm lý của nhóm sinhviên khi giảng viên chuẩn bị giảng dạy cho tập thể ấy?

Cách thực hiện:

- Xây dựng phiếu câu hỏi lấy ý kiến sinh viên Có thể sử dụng thêm cácphương pháp điều tra khác như phương pháp quan sát, đàm thoại, sưu tầmtài liệu

- Tiến hành xin ý kiến phản biện của đồng nghiệp hoặc học viên cùnghọc

- Thu thập và xử lý số liệu để viết báo cáo

- Rút ra các kiến nghị và đề xuất có liên quan đến nội dung nghiên cứu

Câu hỏi ôn tập

1 Trình bày đối tượng và xác định nhiệm vụ nghiên cứu của Tâm lýhọc Sư phạm đại học

2 Đâu là những cơ sở (tiền đề) làm nảy sinh Tâm lý học Sư phạm Đạihọc?

Trang 35

3 Ý nghĩa và vai trò của Tâm lý học Sư phạm Đại học đối với giảngviên trong giai đoạn hiện nay.

4 Trình bày những yêu cầu khoa học khi xây dựng một bảng điều tranhằm khảo sát ý kiến của sinh viên về một vấn đề nào đó

Chương 2 TÂM LÝ HỌC NGƯỜI TRƯỞNG THÀNH TRẺ TUỔI

2.1 Tuổi trưởng thành

2.1.1 Khái niệm về tuổi trưởng thành

Khi nào thì một người đạt đến trưởng thành? Tính theo năm tuổi khônggiúp ích gì trong trường hợp này, bởi vì một người được xem là trưởng thành

ở tuổi 20 nhưng người khác mãi đến tuổi 40 vẫn không hy vọng gì trưởngthành Người trưởng thành là một khái niệm tổng hợp được xem xét cả trênbình diện Sinh học, Tâm lý học, Xã hội học

Các nhà nghiên cứu dựa trên khả năng tính dục cho rằng, “nhận" và

"trao" tình yêu một cách đích thực và sâu sắc hoặc biết biểu lộ hành vi âuyếm hay nhu cầu bản năng tính dục là biểu hiện sự trưởng thành Họ chorằng những cá nhân trưởng thành phải có ý thức về mục đích cuộc sống củamình và khả năng duy trì nòi giống Các nghiên cứu nhấn mạnh yếu tố xã hộilại cho rằng, kết bạn, bị thu hút bởi người khác hay chăm sóc bản thân trongmối quan hệ tâm lý là biểu hiện của sự trưởng thành

Một cách xem xét sự trưởng thành nữa là sự vận dụng khả năng đểđương đầu tốt với những biến cố hay những quyết định mà hầu hết ai cũngphải đối mặt cụ thể vài lần trong đời Trong những giai đoạn của thuyếtErikson, sự trưởng thành ở tuổi vị thành niên phải bao gồm việc hoàn thànhkhi giải quyết các khủng hoảng tăng trưởng ở tuổi ấu thơ và thiếu niên, khảnăng tiến tới kết thân với người khác (khả năng tính dục), một vài người thì lolắng về vấn đề hướng dẫn con cái hay vấn đề truyền sinh (Whitbourne vàWaterman, 1979) [38]

Trang 36

L Hoffman và Manis (1979) xem xét sự trưởng thành là sự tự nhậnthức Cái gì khiến con người ta cảm thấy mình trưởng thành? L Hoffman vàManis đã khảo sát với hơn 2.000 nam nữ có gia đình về đề tài: Đâu là sự kiệnquan trọng nhất trong đời mà làm họ cảm thấy họ thật sự trưởng thành Trởthành cha mẹ và việc nâng đỡ ai đó là dấu hiệu được họ thừa nhận nhiềunhất cho sự trưởng thành (L Hoffman và Manis, 1979) [38].

Thật khó khi định nghĩa về tuổi trưởng thành vì nó luôn biến đổi vàphức tạp Sự trưởng thành cần đến một tiến trình điều chỉnh liên tục nhữngthay đổi không ngừng nơi ước muốn và tính trách nhiệm Một người có thểtrưởng thành cho dù họ không lập gia đình, không con cái hoặc không côngviệc nghề nghiệp Người trưởng thành biết họ là ai, họ muốn đi đâu, họhướng đến mục đích gì

Theo nghiên cứu của nhiều nhà Tâm lý học, Xã hội học, khái niệm tuổitrưởng thành được xác định dựa theo một tổ hợp các tiêu chí sau đây:

- Sự chín muồi về mặt sinh lý, thể chất nghĩa là sự hội tụ đầy đủ nhữngđiều kiện sinh học để làm vợ, làm chồng, làm cha, làm mẹ, cũng như làm mộtngười lao động thực sự trong gia đình và xã hội

- Có đầy đủ những quyền hạn và nghĩa vụ của một người công dânnhư đi bầu cử, ứng cử, chịu trách nhiệm trước pháp luật về mọi hành vi, hoạtđộng của mình

- Đã kết thúc việc học tập ở những mức độ khác nhau

- Có nghề nghiệp ổn định

- Có lao động để nuôi sống bản thân và gia đình

- Đã xây dựng gia đình riêng (lấy vợ, lấy chồng)

- Có cuộc sống kinh tế độc lập, không phụ thuộc vào cha mẹ hoặcngười đỡ đầu [19]

Người trưởng thành là một khái niệm tổng hợp được xem xét cả trênbình diện Sinh học, Tâm lý học, Xã hội học Những công trình nghiên cứu cho

Trang 37

thấy sự chín muồi sinh học thường đi trước, sớm hơn tuổi chín muồi về tâm lý

và xã hội khá nhiều Bới vậy, dưới góc độ Tâm lý học mà xét, tuổi trưởngthành toàn diện của con người thường đến chậm hơn 2, 3 năm Không nhữngthế, khái niệm tuổi trưởng thành cũng còn tùy thuộc vào thời gian đào tạo vàtrình độ học vấn Đó cũng chính là lý do giai đoạn "người trưởng thành trẻtuổi" thường được lấy mốc từ 20 tuổi trở lên, chậm hơn chút ít so với tuổicông dân (18 tuổi)

Dựa vào những tiêu chuẩn trên, những người không học lên Cao đẳng,Đại học thì độ tuổi trưởng thành của họ thường từ 20 tuổi Giai đoạn ngườitrưởng thành trẻ tuổi từ 18 - 20 đến 40 tuổi Tóm lại, người trưởng thành lànhững người có độ tuổi từ 20 trở lên và hiểu về chính mình một cách tươngđối cũng như xác lập mục tiêu cuộc đời trong một cái nhìn tổng thể

2.1.2 Một số thuyết về tâm lý tuổi trưởng thành

2.1.2.1 Thuyết tâm lý xã hội của Erikson

Theo Erik Erikson (1982), người trưởng thành trẻ tuổi là quãng đờitương ứng với giai đoạn thứ 6 trong 8 giai đoạn phát triển của đời người Đó

là giai đoạn được đặc trưng bằng sự xuất hiện nhu cầu và năng lực gần gũithân thiết về mặt tâm lý với người khác, bao gồm cả sự gần gũi tình dục Đốilập với nó là tình cảm ẩn dật và thích cô độc Khi người thanh niên thắngđược những đối chọi, thì họ có thể tự mình tiến tới đòi hỏi bản thân sự hy sinh

và chấp nhận Họ có thể yêu người khác một cách không vị kỷ nhiều hoặc íthơn Nếu sự “cô lập" thống trị trong sự tương quan với thân mật thì mối quan

hệ tình cảm sẽ trở nên lãnh đạm và gượng ép và cũng chẳng có sự giao lưutình cảm thực sự nào Con người có thể quan hệ tình dục không với mục đíchphát triển sự thân mật, đặc biệt khi người ta sợ rằng sợi dây tình cảm sẽ dẫnđến một quan hệ cam kết gò bó Khi hình thái quan hệ tình dục buông thả nàyđịnh hình nên cuộc sống của một người nào đó thì có lẽ vì họ cảm thấy tự do

Erikson cho rằng những khác biệt văn hóa ảnh hưởng đến tiến trìnhtăng trưởng trong từng giai đoạn gặp phải Tuy nhiên, những nhà nghiên cứu

đã tiến hành cuộc điều tra theo cơ cấu chiều dọc về tiến trình trưởng thành tin

Trang 38

rằng kết quả nghiên cứu của Erikson chỉ ảnh hưởng trên những nền văn hóanơi mà chủ nghĩa cá nhân được đề cao nhưng trách nhiệm công dân thìkhông được xã hội lưu tâm một cách chặt chẽ (Vaillant và Milofsky, 1980)[40].

2.1.2.2 Thuyết về những “mùa vụ” của Levinson

Một thuyết khác về các giai đoạn phát triển trưởng thành đã được lập

ra bởi Daniel Levinson (Levinson và cộng sự, 1978) Ông nói rằng thuyết nàymiêu tả một cách sống động những "mùa của cuộc sống con người" Ôngnhấn mạnh thuyết của mình được xây dựng trên thuyết tâm lý của Erikson.Thuyết Levinson miêu tả sự tăng trưởng của người nam từ khoảng giữa tuổi

17, chú ý tới chuỗi trật tự luân phiên giữa giai đoạn định vị và giai đoạn biếnđổi Trong những giai đoạn định vị, người nam ít nhiều có thể đạt những đíchđiểm (của từng giai đoạn) một cách thanh thản bởi vì quá trình phát triển thíchhợp đã được giải quyết Giai đoạn biến đổi có thể dẫn đến những thay đổichính yếu trong cấu trúc đời sống của họ Vào những thời điểm này, ngườinam đang có những khát vọng đến khuôn mẫu lý tưởng của đời sống họ,cũng như khám phá ra những khả năng mới nơi họ Levinson đặt thuyết củaông trên nền một chuỗi nghiên cứu sâu kín nơi 40 người nam (người Mỹ datrắng cũng như người da đen, tầng lớp lao động cũng như tầng lớp trunglưu)

Levinson thấy rằng lứa tuổi từ 17 đến 22 là giai đoạn của những thayđổi hướng đến sự trưởng thành ban đầu Trong tiến trình tăng trưởng, cũngtựa như sự trưởng thành tính cách của Erikson, người nam không ngừng tiếntới trong việc phát triển tâm lý độc lập với cha mẹ Vào tuổi 22, họ độc lậphoàn toàn và chuyển vào giai đoạn định vị khi họ ra sức đặt mình vào thế giớituổi trưởng thành Cùng lúc này họ quan tâm đến việc thiết lập mối quan hệvới người khác phái và dần kiến thiết một mái ấm; một gia đình - giai đoạnphát triển tương giao thân mật, theo như các giai đoạn của Erikson Trongvòng 6 năm sau, lúc họ khoảng 28 tuổi, họ tiến vào một giai đoạn biến đổikhác Đây là thời khắc họ thấy được những lỗ hổng trong khung hình mẫu

Trang 39

của đời sống họ và họ tiến hành những chọn lựa mới Rồi vào khoảng tuổi 33,

họ sẵn sàng yên vị Có nghề nghiệp vững chắc là mục đích chính của họ vàngười đàn ông tập trung vào phát triển những kỹ năng cũng như đào sâu vốnkinh nghiệm Đồng thời, họ cũng hoạt động để đạt đến những ước vọng lớnlao mà họ đã từng đặt ra cho mình hoặc nỗ lực đạt đến một tổ chức liêndoanh hay làm chủ một công ty nào đó

Những cố gắng trong việc áp dụng thuyết của Levinson cho người nữcũng thu được những kết quả tương tự Một vài thực nghiệm chỉ ra rằngngười phụ nữ cũng trải qua những giai đoạn như người nam ở tuổi thiếu niên

và cũng vào cùng những thời điểm nhưng có một vài khác biệt Sự thay đổicủa phụ nữ ở tuổi 30 thể hiện hình thức một khẳng định mới, khi họ cókhuynh hướng chuyển sang chú tâm đến việc chăm sóc gia đình (hoặc ngượclại) Thay vì yên vị, ở tuổi 30 người phụ nữ nỗ lực hòa hợp những quyết địnhmới vào guồng máy cuộc sống của họ

2.2.3 Thuyết về “những biến động" của Gould

Roger L Gould (1975, 1978) với thuyết phát triển ở tuổi trưởng thànhdành cho cả hai giới dựa trên số liệu nghiên cứu từ 524 người đàn ông vàphụ nữ được thực nghiệm thuộc tầng lớp trung lưu da trắng ở Mỹ Từ nhữngcâu trả lời của họ trong bảng câu hỏi ở mọi khía cạnh, Gould kết luận rằngtiến trình tăng trưởng ở tuổi trưởng thành phải trải qua một chuỗi những biếnđộng Ở mỗi giai đoạn, con người phải khẳng định ý niệm phản thân, đối mặtvới khủng hoảng ấu thơ và giải quyết những xung đột

Trong thuyết của Gould, người thành niên trải qua bốn giai đoạn Ở giaiđoạn thứ nhất, bắt đầu trong khoảng từ lứa tuổi thiếu niên cho đến tuổi 22,con người đang dần hình thành tính cách và dần rời xa vòng tay của bố mẹ.Với ý chí tự khẳng định, con người bước vào giai đoạn thứ hai, trong suốt giaiđoạn này thường chịu ảnh hưởng để đạt đến những mục đích của mình Giữakhoảng tuổi 28 - 34, con người phải trải qua giai đoạn chuyển mình trong giaiđoạn này chúng gợi lại những mục đích khi xưa và thực hiện việc lập giađình Vào tuổi 35, họ có những mâu thuẫn sâu sắc cùng với nhận thức ra

Trang 40

ngưỡng cửa của tuổi trung niên đang tiến gần họ một cách dữ dội Cuộc sốngdường như đầy khó khăn, đau khổ và phiêu lưu Trong suốt giai đoạn bấpbênh - có khi kéo dài cho đến sau tuổi 40, dường như, có cái gì đó đã “xétoang" một phần đời sống của họ và buộc họ phải đặt nó vào một lộ trình mới.Người độc thân có thể lấy vợ, người có gia đình lại muốn ly hôn, người mẹmuốn đến trường hoặc trở lại làm việc, những cặp đôi luống tuổi quyết địnhthành thân Thuyết của Gould tương đương với thuyết “mùa vụ cuộc đời" củaLevinson mà đặc biệt giống nhau khi áp dụng cho người phụ nữ Cả haithuyết đều được triển khai cùng một thời điểm - thập niên 1970 - Levinsonnghiên cứu về người đàn ông ở vùng Tây Bắc Hoa Kỳ còn Gould thì lạinghiên cứu nam nữ ở Califomia [40].

2.1.2.4 Thuyết “nhu cầu làm cha mẹ” của Gutmann

Trong những năm gần đây, một vài nhà nghiên cứu về sự phát triển đãđưa ra một số thuyết về sự tăng trưởng ở thanh niên đặt nền trên mối liên hệgiữa thuyết tiến hóa sinh học và hình thái âu yếm và nuôi nấng con cái Phầnđông việc làm này tập trung vào ý kiến cho rằng sự sống sót của loài phụthuộc vào sự bảo tồn và nuôi nấng thế hệ sau cho tới khi chúng vào tuổi sinhsản, sự tăng trưởng của con người có lẽ cũng ảnh hưởng theo quy luật này.Theo thuyết tăng trưởng của David Gutmann (1987), sự tăng trưởng xét chocùng cũng xoay quanh nhu cầu làm cha mẹ của con người Ông ta cho rằngmọi thế hệ đã tiến hóa sinh ra những trẻ nam nữ với tính cách đảm bảo được

độ hoàn thiện về thể chất và tình cảm nơi con cháu Trong xã hội sơ khai,người cha với uy lực, độc đoán, giáo dục con cái mình theo một cách áp đặt.Với sự chăm sóc, đồng cảm, dịu hiền và thông hiểu khiến cho người mẹ dễgần con cái và luôn đạt được độ tin cậy thân tình

Theo Gutmann, sự tiến triển chỉ thể hiện tiềm năng trong những vai tròcủa từng giới Qua những năm tháng sống trong cộng đồng, người nam hayngười nữ sẽ trở nên tự nhiên với đặc điểm bề ngoài và cảm thấy thú vị vềchính họ Khi họ trở thành tha mẹ thì những ông bố sẽ có nét gia trưởng hơn,quan tâm của họ là sự yên ổn cho gia đình (thể chất và kinh tế) Vì một ông

Ngày đăng: 18/02/2017, 16:55

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
47. Pai Obanya, Juma Shabani, Peter Okebukola với sự giúp đỡ của Văn phòng UNESCO vùng của Châu Phi (2001), "Guide to Teaching and Learning in Higher Education", http://www.breda-auide.tripod.com Sách, tạp chí
Tiêu đề: Guide to Teaching andLearning in Higher Education
Tác giả: Pai Obanya, Juma Shabani, Peter Okebukola với sự giúp đỡ của Văn phòng UNESCO vùng của Châu Phi
Năm: 2001
3. James M. Banner. Jr. & Harold C. Cannon (2009), Những yếu tố cơ bản của nghề day học, NXB VH Sài gòn và Đại học Hoa Sen Khác
4. Nguyên Văn Cường (2010), Một số vấn đề chung về đổi mới phương pháp dạy học ở trường phổ thông, Bộ Giáo dục và Đào tạo - Dự án phát triển giáo dục phổ thông Khác
5. Điều lệ trường đại học 2010, (Ban hành kèm theo Quyết định số 58/201 0/QĐ - TTg ngày 22/9/2010 của Thủ tướng Chính phủ) Khác
6. Nguyễn Văn Đồng (2008), Tâm lý học phát triển, NXB Lao động Xã hội, Hà Nội Khác
7. Feldman Robert S. (2003), Những điều trọng yếu trong Tâm lý học, NXB Thống kê Khác
8. Filene Peter (2008), Niềm vui dạy học, (Tô Diệu Lan, Trần Nữ Mai Tay dịch), NXB Văn hóa Sài gòn Khác
9. Nguyễn Thị Bích Hạnh - Trần Thị Hương (2004), Lý luận dạy học, (tài liệu lưu hành nội bộ), Trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh Khác
10. Lê Văn Hảo (2008), Sổ tay phương pháp giảng dạy và đánh giá, (tài liệu lưu hành nội bộ), Đại học Nha Trang Khác
11. Đặng Vũ Hoạt (chủ biên), 2008, Lý luận day học Đại học. NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội Khác
12. Trần Bá Hoành (2007). Đổi mới phương pháp dạy học, chương trình và sách giáo khoa, NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội Khác
13. Lê Văn Hồng (1999), Tâm lý học Sư phạm, NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội Khác
14. Dương Thị Diệu Hoa (2009), Giáo trình Tâm lý học phát triển, NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội Khác
15. Robert V. khít, John C. Cavanaugh (2006), Nghiên cứu về sự phát thiển con người, NXB Văn hóa Thông tin Khác
17. Trần Thị Thu Mai (2009), Tâm lý học Giáo dục Đai học (Tài liệu tham khảo nội bộ), Trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh Khác
18. Phan Trọng Ngọ (2005), Dạy học và phương pháp dạy học trong nhà trường, NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội Khác
19. Vũ Thị Nho (2008), Tâm lý học phát triển, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Khác
20. Trần Thị Tuyết Oanh (2007), Đánh giá và đo lường kết quả học tập, NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội Khác
21. Hoàng Phê (chủ biên) (2003) Từ điển Tiếng Viết, NXB Đà Nẵng Khác
22. Huỳnh Văn Sơn (2011), Những cơ sở tâm lý của việc tổ chức hoạt động dạy và học tích cực, NXB Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w