Khái niệm Bàn phím là thiết bị nhập thông tin vào cho máy tính xử lý, thông tin từ bàn phím là các ký tự, số và các lệnh điều khiển .b.Cấu tạo bàn phím: + Bàn phím được tổ chức như một
Trang 1Bảo trì hệ thống : Đề cương ôn tập
Câu 1: Cấu tạo , hoạt động và một số lỗi ,cách khắc phục của thiết bị vào :
I Bàn phím
a Khái niệm
Bàn phím là thiết bị nhập thông tin vào cho máy tính xử lý,
thông tin từ bàn phím là các ký tự, số và các lệnh điều khiển b.Cấu tạo bàn phím:
+ Bàn phím được tổ chức như một mạng mạch đan xen nhau mỗi nút mạch là một phím Khi ấn một phím sẽ làm chập mạch điện, tạo ra sung điện tương ứng với phím được ấn ( Mã quét )
Bộ xử lý bàn phím dịch mã quét ra ký tự theo chuẩn ASCII Sau
đó bộ xử lý ngắt bàn phím yêu cầu ngắt và gửi cho CPU xử lý + Phân bố phím : Gồm:Phím gõ văn bản, Phím chức năng,
Phím số numlock và phím điều khiển
Nguyên tắc hoạt động:Bàn phím giống như máy tính thu nhỏ ,
có bộ xử lí riêng , có các mạch điện mang thông tin đến và đi xửlí.Mỗi phím bấm trên bàn phím tương ứng với một công tắc đấu chập giữa một chân ở hàng A với một chân ở cột B.Người
ta lập trình cho các phím này để tạo ra các mã nhị phân 11 bít
để gửi về máy tính khi nhận phím bấm.Trong dữ liệu 11 bít gửi
về có 3 bít mang thong tin điều khiển , 8 bít mang thong tin nhị phân được quy ước theo tiêu chuẩn quốc tế để thống nhất cho các nhà sx bàn phím Mã quét bàn phím được nạp trong bộ nhớđệm của RAM sau đó hệ điều hành sẽ dịch các mã nhị phân thành các kí tự theo bảng mã ASCII.Khi nhấn phím A trên bàn
Trang 2phím máy tính sẽ quét mã nhị phân rồi gửi về bộ nhớ đệm sau
đó hệ điều hành sẽ tiến hành đổi mã nhị phân ASCII và hiển thị
kí tự đó ra màn hình Với tổ hợp phím nóng chức ăng tổ hợp được coi như một lệnh và được xử lí tức thì Riêng tỏ hợp phím Ctrl+Alt+Del luôn được kiểm tra khi có tác động của bàn phím gửi về CPU
c Sửa chữa hư hỏng của bàn phím
c.1: Bàn phím bị đứt dây tín hiệu:
Biểu hiện :Máy không nhận bàn phím, hoăc có các thông báo lỗi
bàn phím Keyboard Erro trên màn hình khi khởi động
Kiểm tra :Bạn hãy tháo các ốc phía sau bàn phím và mở lắp sau
Trang 3dùng nước xà phòng rửa sạch các phím bấm sau đó phơi kho rồi lắp lại
++ Chú ý : Tránh không để nước giây vào phần mạch điện
c.3: Đã thay bàn phím mới nhưng máy vẫn không dùng được bàn phím
Nguyên nhân : Biểu hiện trên là do hỏng IC giao tiếp với bàn
phím trên Mainboard
Khắc phục :
+ Dùng đồng hồ vạn năng để dò từ chân cắm PS/2 của bàn phímtrên Mainboard xem thông mạch với IC nào gần đó => IC thông mạch với đầu cắm PS2 là IC giao tiếp bàn phím
+ Sử dụng mỏ hàn khò để thay IC
II Chuột máy tính
Khái niệm : Chuột là thiết bị trỏ trên màn hình, chuột xuất hiện trong màn hình Windows với giao diện đồ hoa, Các trình điều khiển chuột thường được tích hợp trong các hệ điều hành, hiệnnay thì trường có 2 loại chuột phỏ biến là chuột bi và chuột quang
Diode phát quang phát ra ánh sáng hồng ngoại chiếu qua
Trang 4bánh răng nhựa đục lỗ chiếu vào đèn thu quang, khi bánh răng xoay thì ánh sáng chiếu vào đèn thu quang bị ngắt quãng , đèn thu quang đổi ánh sáng này thành tín hiệu điện đưa về IC giải mã=> tạo thành tín hiệu điều khiển cho con trỏ dịch chuyển trên màn hình.
Trong chuột bi có hai bộ cảm biến , một bộ điều khiển cho chuột dịch chuyển theo phương ngang, một bộ điều khiển dịch chuyển theo phương dọc màn hình Hai bộ cảm biến đưa tín hiệu về IC giải mã ,giải mã thành tín hiệu nhị phân đưa về máy tính Hai bộ phận cảm biến ánh sáng (phát và thu) chiều quay, tốc độ quay tại các đĩa trên thanh lăn
Bên cạnh các bộ cảm biến là các công tắc để nhấn phím chuột trái hay phím chuột phải
b Hư hỏng thường gặp của chuột bi
b.1 Khi di chuyển chuột thấy con trỏ di chuyển giật cục và rất khó khan
Nguyên nhân:Trường hợp trên thường do hai trục lăn áp vào
viên bi bị bẩn vì vậy chúng không xoay được
Khắc phục : + Tháo viên bi ra , vệ sinh sạch sẽ viên bi và hai trục
lăn áp vào viên bi , sau đó lắp lại
b.2 Chuột chỉ di chuyển theo một hướng ngang hoặc dọc
Nguyên nhân :
+ Do một trục lăn không quay , có thể do bụi bẩn
+ Do hỏng một bộ cảm biến
Khắc phục :
+ Vệ sinh các trục lăn bên trong
+ Tháo viên bi ra và dùng tay xoay thử hai trục, khi xoay trục nào mà không thấy con trỏ dịch chuyển là hỏng cảm biến ăn vào trục đó
Trang 5=> Ta có thể sử dụng bộ cảm biến từ một con chuột khác lắp sang thay thế.
b.3 Máy không nhận chuột, di chuột trên bàn con trỏ không dịch chuyển
Nguyên nhân :
+ Trường hợp này thường do đứt cáp tín hiệu
+ Một số trường hợp là do hỏng IC giải mã bên trong chuột
Khắc phục :
+ Kiểm tra sự thông mạch của cáp tín hiệu bằng đồng hồ vạn năng để thang x1Ω , nếu có một sợi dây đứt thì cần thay dây cáp
+ Nếu không phải do cáp thì bạn hãy thay thử IC trong chuột.b.4 Bấm công tắc chuột trái hoặc chuột phải mất tác dụng Nguyên nhân :
+ Nguyên nhân thường do công tắc không tiếp xúc, bạn tháo chuột ra và kiểm tra sự tiếp xúc của công tắc khi bấm, nếu công tắc không tiếp xúc thì thay công tắc
+ Nếu công tắc vẫn tiếp xúc tốt thì nguyên nhân là do hỏng IC, bạn cần thay một IC mới
Các bạn có thể tìm thêm câu trả lời tịa: http://google.com
2.Chuột quang.
a Cấu tạo của chuột quang
Chuột quang hoạt động theo nguyên tắc quang học, chuột
không có bi mà thay vào đó là một lỗ để chiếu và phản chiếu ánh sáng đỏ
+ Bộ phận quan trọng nhất của chuột quang là hệ thống phát quang và cảm quang, Diode phát ra ánh sáng chiếu lên bề mặt bàn, ảnh bề mặt sẽ được thấu kính hội tụ, hội tụ trên bộ phận
Trang 6cảm quang
+ Bên cạnh bộ phận quang học là bi xoay và các công tắc như chuột thông thường
c.Nguyên tắc hoạt động của chuột quang
Diode phát quang phát ra ánh sáng đỏ chiếu lên bề mặt của tấm di chuột , ảnh của bề mặt tấm di chuột được thấu kính hội
tụ lên bề mặt của bộ phận cảm quang, bộ phận cảm quang sẽ phân tích sự dịch chuyển của bức ảnh => tạo thành tín hiệu điện gửi về máy tính
+ Đèn LED phát ánh sáng và ánh sáng từ đèn LED này sẽ đi qua một thấu kính dưới dạng tia ,rọi xuống bề mặt có tính phản xạ Sau đó qua thấu kính nhựa này ánh sáng lại được hội tụ và đưa vào cảm biến Cảm biến này có nhiệm vụ ghi lại hình ảnh(thực hiện rất nhanh ) sau đó hình ảnh này sẽ được gửi về bộ phận chuyên để xử lí Tại đây các hình ảnh được so sánh với nhau đểthấy sự khác biệt dù là rất nhỏ Sự di chuyển của một điểm ảnh bất kì trên bức ảnh lớn liên tiếp sẽ được quy đổi ra thong tin tọa độ X và Y theo phương ngang dọc có quy ước
b.Các nút trên chuột máy tính
- Chuột máy tính thiết kế ban đầu gồm 2 nút : Nút phải chuột vanút trái chuột với chức năng lụa chọn và mở rộng
-Nút ở giữa để mở rộng tính năng của chuột máy tính Nút cuộn
để di nhanh chóng các thanh trượt
b Hư hỏng thường gặp của chuột quang
b.1 Máy không nhận chuột
Nguyên nhân:
+ Trường hợp này thường do chuột bị đứt cáp tín hiệu
+ Một số trường hợp do hỏng IC giao tiếp trên chuột
Khắc phục:
Trang 7+ Dùng đồng hồ vạn năng để thang 1Ω đo sự thông mạch của cáp tín hiệu, nếu thấy đứt một sợi thì bạn cần thay cáp tín hiệu khác
+ Nếu cáp tín hiệu bỉnh thường thì cần thay thử C giao tiếp ( là
IC ở cạnh gần bối dây cáp tín hiệu)
b.2 Chuột không phát ra ánh sáng đỏ , không hoạt động được Nguyên nhân:
+ Đứt cáp tín hiệu làm mất Vcc cho chuột
+ Hỏng Diode phát quang
Khắc phục:
+ Kiểm tra và thay cáp tín hiệu nếu đứt
+ Kiểm tra Diode phát quang ( đo như Diode thường) nếu đứt thì thay một Diode khác
III:Máy quét
Scanner là một thiết bị chuyển ánh sáng (mà chúng ta nhìn
được) thành những mức tín hiệu số dạng 0 và 1 để máy tính có thể đọc được Nói một cách khác Scanner chuyển đổi dữ liệu dạng tương tự (hình ảnh) thành dữ liệu dạng số Tất cả Scanner
làm việc với cùng một nguyên lí phản xạ ánh sáng hoặc truyền dẫn Hình ảnh được đặt úp xuống bên trong Scanner nó có bao gồm nguồn sáng chiếu vào hình ảnh và những thiết bị cảm biến
để thu nhận ánh sáng phản xạ từ nguồn sáng tới hình ảnh
1.Cấu tạo
Một chiếc máy quét thông thường gồm các bộ phận: Mảng cảmbiến CCD ,Gương ,Đầu quét, Tấm kính,Đènkính,Nắp,Bộ lọc,Mô tơ,Thanh thăng bằng,Băng chuyền, Bộ nguồn, Cổng giao diện, Mạch điều khiển
Trang 8Bộ phận trung tâm của máy quét là mảng CCD CCD là công nghệ phổ biến nhất dùng cho việc thu hình ảnh trong máy quét.CCD là một tập hợp gồm các đi ốt nhỏ nhạy cảm với ánh sáng chuyên chuyển các hạt photon thành các hạt điện tử electron Mỗi tấm ảnh đều nhạy cảm với ánh sáng – ánh sáng vào đi ốt càng sáng thì dòng điện tạo ra tại đi ốt đó càng mạnh
Hình ảnh được quét sẽ chạm đến CCD qua một loạt gương, bộ lọc và thấu kính Cụ thể quá trình phản chiếu phụ thuộc vào loạimáy scaner, nhưng quy tắc chung thì vẫn không đổi
2.Quá trình quét
+ Dưới đây là những bước quét một văn bản: Văn bản được đặttrên một tấm kính, đóng nắp lại Mặt trong của nắp hầu hết các máy quét đều có tấm phẳng màu trắng, tuy một số có màu đen.Nắp có tác dụng tạo ra một màu nền đồng nhất để phần mềm quét có thể sử dụng như một điểm tham chiếu để quyết định kích thước văn bản được quét.Hầu hết các máy quét Flatbed đều cho phép tháo nắp để quét các vật thể cồng kềnh, như mộttrang trong cuốn sách dày hàng nghìn trang chẳng hạn Một chiếc đèn sẽ được dùng để chiếu sáng văn bản Trong các máy quét đời mới, đèn này là đèn huỳnh quang cathode lạnh (CCFL – Cold Cathode Fluorescent Lamp) hoặc đèn xenon, còn các máy quét cũ hơn thì dùng đèn huỳnh quang tiêu chuẩn Toàn
bộ hệ thống cơ khí (gương, thấu kính, bộ lọc và mảng CCD) cấu thành Đầu Đọc Đầu Đọc này được di chuyển chậm dọc văn bản bởi một băng chuyền gắn vào mô tơ Đầu Đọc cũng được gắn với thanh thăng bằng để đảm bảo nó không lung lay hoặc chệchhướng trong quá trình chuyển động Hình ảnh trên văn bản
Trang 9được một gương chéo phản chiếu tới một gương khác Một số máy quét chỉ có 2 gương trong khi số khác thường dùng 3
gương Mỗi gương đều hơi cong để tập trung hình ảnh phản chiếu vào một mặt phẳng nhỏ hơn.Chiếc gương cuối cùng phản chiếu hình ảnh tới thấu kính Thấu kính này sẽ tập trung hình ảnh qua một Bộ Lọc vào mảng CCD
+ Cách sắp xếp Bộ Lọc và thấu kính tùy thuộc vào máy quét Một số máy quét phải quét đến 3 lần một văn bản, mỗi lần quét
sử dụng một bộ lọc màu khác nhau (đỏ, lục hoặc xanh) giữa thấu kính và mảng CCD Sau khi hoàn thành 3 lần quét, phần mềm quét sẽ tổng hợp các hình ảnh đã lọc thành một hình ảnh hoàn chỉnh đủ màu Hầu hết các máy quét hiện đại đều sử dụng phương pháp quét một lần Thấu kính sẽ chia hình ảnh thành ba phiên bản nhỏ hơn phiên bản gốc Mỗi phiên bản nhỏ này đi qua một bộ lọc màu (đỏ, lục hoặc xanh) vào một phần riêng trên mảng CCD Máy quét sẽ tổng hợp dữ liệu từ ba phần của mảng CCD thành một hình ảnh chung
Độ phân giải quang học: Được tính bằng điểm/inch (dpi – dots
per inch), tức là số điểm mà máy quét có thể nhận biết được trên 1 inch
Bộ cảm biến:Các máy scanner ngày nay thường có bộ cảm biến
thuộc 2 loại : CCD và CIS Công nghệ cảm biến CCD là cũ hơn, thường được dùng trong các máy camera kĩ thuật số CIS là công nghệ mới hơn, dù cho hình ảnh không tốt bằng CCD,
nhưng các máy scanner sử dụng CIS đang trở nên rất thông dụng vì ít hao năng lượng (cấp điện qua cổng USB) và có kích thước nhỏ gọn
******************************
Trang 10Câu 2: Cấu tạo, nguyên Lý Hoạt Động Của Máy In Laser, Máy In Kim, Máy In Phun
Máy in là một thiết bị đầu ra cho phép hiển thị thông tin trên giấy
1.2 Khối data :
Còn gọi là khối giao tiếp, thực hiện nhiệm vụ sau :
Đầu vào : Nhận lệnh in và dữ liệu từ PC gửi sang
Đầu ra : Xuất tín hiệu cho mạch quang và mạch điều khiển
Tín hiệu điều khiển từ PC bao gồm :
• Lệnh kiểm tra tình trạng máy in (hết giấy, sự cố mạch sấy …)
• Lệnh nạp giấy
Các tín hiệu nói trên (về mặt xử lý) với cổng song song thì
đi chân riêng và được tách trước mạch dữ liệu đến mạch điều khiển, còn ở cổng USB thì tách sau IC giao tiếp để đến mạch điều khiển
Dữ liệu từ PC : Là chuỗi nhị phân (0,1) thể hiện cấp độ xám của từng điểm ảnh trên bản cần in Tín hiệu này được đưa vào
mạch xử lý dữ liệu để chuyển đổi thành điện áp tương tự
(analog) và cấp cho mạch quang Tùy theo biên độ điện áp điều khiển mà diode laser của mạch quang sẽ phát xạ mạnh hay yếu
1.3 Khối quang :
Đầu vào : Bao gồm tín hiệu 2 tín hiệu
Trang 11• Tín hiệu điều khiển motor lệch tia, được gửi đến từ mạch điềukhiển.
• Điện áp điều khiển cường độ phát xạ laser, được gửi đến từ khối data
Đầu ra : Là các tia laser được trải đều trên suốt chiều dài của trống, với mục đích làm suy giảm hoặc triệt tiêu tĩnh điện trên mặt trống trong quá trình tạo bản in
1.4 Khối sấy :
Thực hiện 3 nhiệm vụ :
Tạo ra nhiệt độ cao để nung chảy bột mực Nhiệt độ cao này có thể được tạo ra bằng thanh điện trở hoặc bằng đèn (haloghen)Tạo ra lực ép để ép mực (đã được nung chảy) thấm vào xơ giấy
để cố định điểm ảnh trên giấy Lực ép được tạo ra bằng các trụclăn được nén dưới tác động của lò xo
Tạo ra lực kéo để kéo giấy ra khỏi máy in sau khi đã sấy_ép Lựckéo được tạo ra nhờ hệ thống trục lăn trên/dưới quay ngược chiều nhau
Khối sấy nhận lệnh từ khối điều khiển để thi hành tác vụ Ngượclại, nó cũng gửi tín hiệu thông báo trạng thái nhiệt, trạng thái giấy cho mạch điều khiển để dừng máy khi có sự cố Tín hiệu phản hồi này được lấy ra từ các cảm biến (sensor)
1.5 Khối cơ :
Bao gồm tập hợp các bánh răng, trục lăn_ép thực hiện các hànhtrình sau :
• Nạp giấy : kéo giấy từ khay vào trong máy
• Kéo giấy di chuyển đúng đường đi theo thiết kế, đảm bảo cho giấy được tiếp xúc với trống
• Đẩy giấy (đã hoàn thành bản in) ra khỏi máy
Trang 12Toàn bộ khối cơ được vận hành nhờ lực kéo từ 1 motor chính (capstan motor), motor được điều khiển bằng lệnh hành trình
từ khối điều khiển
Hệ thống cơ cũng gửi tín hiệu phản hồi về khối điều khiển để thực hiện các hành vi thích hợp (ví dụ như lặp lại động tác nạp giấy, dừng in và thông báo cho PC khi hết giấy, dắt giấy …)
1.6 Khối điều khiển :
Điều hành toàn bộ mọi hoạt động của máy Về mặt phương thức chính là điều khiển tùy động (servo)
Đầu vào : Gồm các tín hiệu
Lệnh thông báo tình trạng (từ PC sang).Lệnh in, nhận dữ liệu in.Tín hiệu phản hồi từ các khối
Đầu ra : Gồm các tín hiệu
Thông báo trạng thái (gửi sang PC) Mở cổng, nhận và giải mã
dữ liệu sang analog (gửi tới data).Tạo cao áp (gửi sang
nguồn).Quay capstan motor (gửi sang cơ) Mở nguồn cấp cho mạch sấy (gửi sang sấy).Quay motor lệch tia (gửi sang quang)
Mở diode laser (gửi sang quang) Sẵn sàng (ready – gửi sang tất
cả các khối)
Trang 13Bao gồm một bộ phận quan trọng nhất là trống cảm quang Trống này được phủ một lớp phim nhạy sáng, khi được tích điện cao thế lớp phim này sẽ hút mực từ vào những điểm đượcbắt sáng trên bề mặt trống Khi ta ra lệnh in máy tính sẽ truyền tín hiệu điều khiển sự quét sáng của đèn Laser trong máy in để đèn này quét lên trống cảm quang thông qua gương đa giác quay liên tục (để lấy âm bản) Vì trống cũng quay lên tia Laser lần lượt quét lên toàn bề mặt trống Cường độ tia Laser được điều biến theo độ đậm nhạt của từng điểm ảnh và làm giảm sự hút mực từ của lớp phim phủ trống Khi giấy lăn qua trống, mựctrên mặt trống được truyền lên giấy dưới dạng dương bản và giấy được chuyển qua trục sấy (2600C) để làm “chín” mực và épchặt lên mặt giấy.
Máy in la de có tốc độ in thường cao hơn các loại máy in khác, giá thành mỗi bản in thường tương đối thấp
Bệnh 1: Không nạp giấy hoàn toàn.
Khi ra lệnh in, toàn bộ hệ thống cơ quay, 1 chút sau bạn sẽ
tiếng “cách” đó chính là khi rơ le hoạt động, đầu khay giấy di chuyển, bánh ép nạp giấy quay Bạn hãy chú ý nghe tiếng kêu đó
- Do đặt giấy vào không hết đầu khay, như vậy đầu giấy không vào được khe giữa đầu khay và bánh ép nạp giấy (xảy ra với khay nằm)
Khắc phục: Đẩy giấy vào hết tầm của khay.
Bệnh 2: Nạp giấy vào được chừng 5-10mm thì giấy không vào nữa, hệ cơ chạy thêm tí chút thì dừng, đèn báo lỗi.
Bệnh này là do giảm ma sat giữa bánh ép nạp giấy và tờ giấy Nguyên nhân là do bánh ép có vỏ cao su nhám sau một thời
Trang 14gian hoạt động sẽ “bị lì mặt nhám”, bạn có thể mở cửa trước (có thể tháo cả hộp mực) mà nhìn, bề mặt của bánh ép rất
bóng Bệnh này cũng thường gặp khi bánh ép “hơi lì mặt” và sử dụng giấy quá mỏng
Khắc phục : Dùng giẻ sạch (kiểu sợi bông như khăn mặt) luồn
vào mặt tròn của bánh ép, chà đi chà lại cho tới khi thấy hết bóng là được
Lưu ý : Bánh ép nạp giấy “bị lì mặt” còn gây ra hiện tượng kéo
2, 3 tờ giấy vào 1 lúc dẫn đến “dắt giấy” trong đường tải, lô sấy
Bệnh 4: Nạp giấy, giấy đi lệch và có thể bị kẹt lại trong đường tải do giấy đi lệch.
Nguyên nhân là do lực ép giấy tạo thành giữa bánh ép nạp và bánh ép tải giấy không cân, bạn có thể quan sát minh họa cơ cấu nạp giấy của máy HP5L
II Máy In Kim
1 Cấu tạo: Đầu in ( hoặc Dãy Búa ), Trục lăn, Bảng điều
khiển ,Ribbon mực, Nguồn cấp giấy
2 Nguyên Lý Hoạt Động
+ Serial Dot Matrix
Trang 15Là máy in sử dụng ma trận kim (từ 9 đến 24 kim) trong ma trận kim mỗi kim được điều khiển bởi mạch điện giúp việc phóng từng kim đập vào băng mực theo một trật tự đã lập trình, tờ giấy đặt sau băng mực sẽ nhận được vết mực để lại của các đầukim sau khi phóng và tạo thành hình ảnh trên giấy Trục cuốn giấy cuốn giấy theo chiều dọc còn đầu in kim sẽ di chuyển qua lại dọc theo băng mựu theo chiều ngang
+ Line Dot Matrix
Máy line dot matrix printers sử dụng dãy búa , những búa này được sắp thành một hàng ngang , Dãy búa sử dụng công nghệ nam châm vĩnh cửu để điều chỉnh sự chuyển động khi có lệnh
in, lập tức có 1 dòng điện truyền đến hammer coil (lõi điện tạo
ra từ trường), trường điện từ được tạo ra ngược lại với từ
trường của nam châm vĩnh cửu cho đến khi hai trường này cân bằng nhau tạo ra năng lượng làm cho những búa này chuyển động và đâm đến dãy băng mực in tạo ra những điểm trên giấy.Trong suốt quá trình in những đầu búa (hình con thoi) di
chuyển theo chiếu ngang với tốc độ cao Khi in xong một dòng thì giấy sẽ chuyển động để đầu in xuống dòng kế tiếp
+ Máy in kim sử dụng các kim để chấm qua một băng mực làmhiện mực lên trang giấy cần in
Máy in kim đã trở thành lạc hậu do các nhược điểm: In rất
chậm, độ phân giải của bản in rất thấp (chỉ in được thể loại chữ,không thể in được tranh ảnh) và khi làm việc chúng rất ồn.Ưu điểm : Giá mực in trên 1 bản in thấp , Giá Ribbon mực thấp , Dễ dàng in nhiều loại khổ giấy khác nhau, In nhiều liên
III , Máy In Phun
Trang 16-Motor bước đầu máy in : Motor bước di chuyển bộ phận đầu
in ( đầu in và đầu mực ) đằng sau và từ bên này sang bên kia của giấy
-Dây Curoa : Nó được dùng để gắn bộ phận đầu in với Motor bước
-Thanh cố định : Bộ phận đầu in dùng thanh cố định để chắc chắn để sự di chuyển là chính xác và điều khiển được
- Bộ phận nạp giấy: Khay giấy : Hầu hết máy in phun đều có bộ phận khay giấy để đưa giấy vào bên trong máy in Trục lăn : nó kéo giấy từ khay giấy hoặc phần nạp giấy tiến lên phía trước khi
bộ phận đầu in sẵn sàng cho công việc in tiếp theo
2 Công nghệ "thermal drop on demand" (phun giọt mực bằng nhiệt theo yêu cầu) Các giọt mực nhỏ (droplet of ink) "bị buộc"phải bắn ra qua các lỗ kim (nozzle) bằng cách đốt nóng một điện trở, điện trở này khi nóng lên sẽ gây một bọt khí lớn dần lên và nổ tung, các giọt mực nhỏ vỡ ra và hệ thống trở lại trạng thái ban đầu của nó
Trang 17Máy in phun hoạt động theo theo nguyên lý phun mực vào giấy
in (theo đúng tên gọi của nó) Mực in được phun qua một lỗ nhỏ theo từng giọt với một tốc độ lớn (khoảng 5000 lần/giây) tạo ra các điểm mực đủ nhỏ để thể hiện bản in sắc nét
Đa số các máy in phun thường là các máy in màu (có kết hợp in được các bản đen trắng) Để in ra màu sắc cần tối thiểu 3 loại mực Các màu sắc được thể hiện bằng cách pha trộn ba màu cơ bản với nhau
3 Ưu điểm&Nhược điểm
Ưu điểm: Giá thành thấp,chất lượng ảnh đẹp,ảnh có thể đạt độ phân giải cao mịn nét
Nhược điểm:đầu in dễ bị nghẹt do mực khô,tốc độ in không cao,tốn mực, chữ in ra không đc nét, mờ,Giá thành giấy in mực in cao
Trang 18chùm tia điện tử, cụm thấu kính từ,màn huỳnh quang,chỗ nối anot,cụm màn hình,mặt lạ của màn hình, lớp photpho
b.Các màn hình loại CRT có các ưu nhược điểm:
Ưu điểm: Thể hiện màu sắc rất trung thực, tốc độ đáp ứng cao,
độ phân giải có thể đạt được cao Phù hợp với games thủ và cácnhà thiết kế, xử lý đồ hoạ
Nhược điểm: Chiếm nhiều diện tích, tiêu tốn điện năng hơn các loại màn hình khác, thường gây ảnh hưởng sức khoẻ nhiều hơn với các loại màn hình khác
Nguyên lý hiển thị hình ảnh
Màn hình CRT sử dụng phần màn huỳnh quang dùng để hiển thịcác điểm ảnh, để các điểm ảnh phát sáng theo đúng màu sắc cần hiển thị cần các tia điện tử tác động vào chúng để tạo ra sự phát xạ ánh sáng Ống phóng CRT sẽ tạo ra các tia điện tử đập vào màn huỳnh quang để hiển thị các điểm ảnh theo mong
muốn
+ Nguyên lý hiển thị hình ảnh của màn hình đen-trắng
Ở các màn hình CRT cổ điển: Toàn bộ lớp huỳnh quang trên bề mặt chỉ hiển phát xạ một màu duy nhất với các mức thang xám khác nhau để tạo ra các điểm ảnh đen trắng Một điểm ảnh được phân thành các cường độ sáng khác nhau sẽ được điều khiển bằng chùm tia điện tử có cường độ khác nhau
Trang 19Chùm tia điện tử được xuất phát từ một ống phát của đèn hình.Tại đây có một dây tóc (kiểu giống dây tóc bóng đèn sợi đốt) được nung nóng, các điện tử tự do trong kim loại của sợi dây tóc nhảy khỏi bề mặt và bị hút vào điện trường tạo ra trong ốngCRT Để tạo ra một tia điện tử, ống CRT có các cuộn lái tia theo hai phương (ngang và đứng) điều khiển tia này đến các vị trí trên màn huỳnh quang.
Để đảm bảo các tia điện tử thu hẹp thành dạng điểm theo kích thước điểm ảnh thiết đặt, ống CRT có các thấu kính điện từ (hoàn toàn khác biệt với thấu kính quang học) bằng các cuộn dây để hội tụ chùm tia
Tia điện tử được quét lên bề mặt lớp huỳnh quang theo từng hàng, lần lượt từ trên xuống dưới, từ trái qua phải một cách rất nhanh để tạo ra các khung hình tĩnh, nhiều khung hình tĩnh nhưvậy thay đổi sẽ tạo ra hình ảnh chuyển động
Cường độ các tia này thay đổi theo điểm ảnh cần hiển thị trên màn hình, với các điểm ảnh màu đen các tia này có cường độ thấp nhất (hoặc không có), với các điểm ảnh trắng thì tia này lớn đến giới hạn, với các thang màu xám thì tuỳ theo mức độ sáng mà tia có cường độ khác nhau
+ Nguyên lý hiển thị hình ảnh của màn hình màu
Nguyên lý hiển thị hình ảnh của màn hình màu loại CRT giống với màn hình đen trắng đã trình bày ở trên Các màu sắc được hiển thị theo nguyên tắc phối màu phát xạ: Mỗi một màu xác định được ghép bởi ba màu cơ bản
Trang 20Trên màn hình hiển thị lớp huỳnh quang của màn hình đen trắng được thay bằng các lớp phát xạ màu dọc từ trên xuống dưới màn hình (điều này hoàn toàn có thể quan sát được bằng mắt thường).
2.Màn hình LCD
Tổng quan về màn hình LCD
Màn hình tinh thể lỏng (Liquid Crystal Display - LCD) là loại thiết
bị hiển thị cấu tạo bởi các tế bào (các điểm ảnh) chứa tinh thể lỏng có khả năng thay đổi tính phân cực của ánh sáng và do đó thay đổi cường độ ánh sáng truyền qua khi kết hợp với các kínhlọc phân cực Chúng có ưu điểm là phẳng, cho hình ảnh sáng, chân thật và tiết kiệm năng lượng LCD là một loại vật chất
phản xạ ánh sáng khi điện thế thay đổi Nó hoạt động dựa trên nguyên tắc ánh sáng nền (Back Light) Nó bao gồm một lớp chấtlỏng nằm giữa 2 lớp kính phân cực ánh sáng Bình thường, khi không có điện áp, các tinh thể này được xếp thẳng hàng giữa hai lớp kính cho phép ánh sáng truyền qua theo hình xoắn ốc Hai bộ lọc phân cực, 2 bộ lọc màu và 2 bộ cân chỉnh sẽ xác định cường độ ánh sáng đi qua và màu nào được tạo ra trên một pixel Khi có điện áp cấp vào, lớp canh chỉnh sẽ tạo một vùng điện tích, canh chỉnh lại các tinh thể lỏng đó Nó không cho phép ánh sáng đi qua để hiện thị lên hình ảnh tại vị trí điểm ảnh
đó Các điểm ảnh trong màn hình LCD là một transistor cực nhỏ
ở 1 trong 2 chế độ: cho phép ánh sáng đi qua hoặc không Điểm
Trang 21ảnh bao gồm 3 yếu tố màu: đỏ, xanh lá, xanh dương Các màn hình LCD trước đây thường tiêu thụ điện năng nhiều, độ tương phản thấp cho đến khi các nhà khoa học người Anh tìm ra
"Biphenyl" - vật liệu chính của tinh thể lỏng, thì LCD mới thực
sự phổ biến LCD xuất hiện đầu tiên trong các máy tính cầm tay,trò chơi điện tử cầm tay, đồng hồ điện tử, … LCD ngày nay
được thiết kế nhỏ gọn, nhẹ, chiếm ít không gian, chất lượng hình ảnh tốt, tiêu thụ ít năng lượng và đang thay thế dần màn hình CRT truyền thống
a.Cấu trúc các lớp của một màn hình tinh thể lỏng đen trắng không tự phát sáng (thường thấy trên máy tính bỏ túi)
1.Kính lọc phân cực thẳng đứng để lọc ánh sáng tự nhiên đi vào
2.Lớp kính có các điện cực ITO Hình dáng của điện cực là hình cần hiển thị
3.Lớp tinh thể lỏng
4.Lớp kính có điện cực ITO chung
5.Kính lọc phân cực nằm ngang
6.Gương phản xạ lại ánh sáng cho người quan sát
Có hai kiểu cấu tạo màn hình tinh thể lỏng chính, khác nhau ở thiết kế nguồn sáng
b.Trong kiểu thứ nhất, ánh sáng được phát ra từ một đèn nền,
có vô số phương phân cực như các ánh sáng tự nhiên Ánh sángban đầu kính phân cực 1 :tia sáng có phương thẳng đứng
Trang 22tấm thủy tinhlớp điện cực trong suốtlớp tinh thể
lỏngkính phân cực nằm nganggương phản xạ tới mắt
người xemKiểu màn hình này thường áp dụng cho màn hình màu ở máy tính hay TV Để tạo ra màu sắc, lớp ngoài cùng, trước khi ánh sáng đi ra đến mắt người, có kính lọc màu
Ở loại màn hình tinh thể lỏng thứ hai, chúng sử dụng ánh sáng
tự nhiên đi vào từ mặt trên và có gương phản xạ nằm sau, dội ánh sáng này lại cho người xem Đây là cấu tạo thường gặp ở các loại màn hình tinh thể lỏng đen trắng trong các thiết bị bỏ túi Do không cần nguồn sáng nên chúng tiết kiệm năng lượng
a Cấu tạo: Quạt giải nhiệt, Các loại jack cắm, Công tắc chuyển
điện áp, Jack cắm nguồn
+Bộ nguồn là một thiết bị phần cứng quan trọng, cung cấp nănglượng hoạt động cho toàn hệ thống Bộ nguồn trong máy tính còn được gọi bằng tên khác là PSU ( Power Supply Unit ) là nơi cung cấp năng lượng chính cho hệ thống máy tính Tất cả các
bộ nguồn của máy tính đều hoạt động dựa theo nguyên tắc nguồn chuyển mạch tự động (switching power supply) với cách
Trang 23thức hoạt động như sau:
Đầu tiên : điện xoay chiều từ lưới điện
bộ chỉnh lưu nắn thành dòng điện một chiều chỉnh lưu
các bộ lọc gợn sóng (tụ điện có dung lượng lớn) làm cho bằng phẳng lại thành dòng điện một chiều
cấp cho cuộn sơ cấp của biến áp xung (transformer)
Dòng điện nạp cho biến áp xung này được điều khiển bởi công tắc bán dẩn (transistor switching) Công tắc bán dẩn này hoạt động dưới sự kiểm soát của khối dò sai / hiệu chỉnh, từ trường biến thiên được tạo ra trên biến áp xung nhờ công tắc bán dẫn hoạt động dựa trên nguyên tắc điều biến độ rộng xung Xung điều khiển này có tần số rất cao từ 30~150Khz (tức là có từ 30 ngàn ~150 ngàn chu kỳ trong một giây) Tần số này được giữ ổn định và độ rộng của xung sẽ được thay đổi khi có sự hiệu chỉnh
từ bộ dò sai / hiệu chỉnh Từ trường đó cảm ứng lên các cuộn dây thứ cấp tạo ra các dòng điện xoay chiều cảm ứng (dạng xung) sẽ được các bộ chỉnh lưu sơ cấp nắn lại lần nữa Sau đó, qua các bộ lọc sơ cấp, dòng điện một chiều tại đây đã sẵn sàng cho các thiết bị sử dụng
b.
CÁC ĐƯỜNG ĐIỆN THẾ CHUẨN TRONG BỘ NGUỒN:
-12V: cung cấp chủ yếu cho cổng song song (serial port-COM)
và các chip khuếch đại âm thanh cần đến nguồn đối xứng
Trang 24+/-12V Đường này có dòng điện áp thấp dưới 1A (Ampe).
-5V: hiện nay các thiết bị mới không còn dùng đường điện này
nữa Lúc trước, nó được dùng cung cấp điện cho card mở rộng dùng khe cắm ISA Đường này cũng có dòng thấp dưới 1A
0V:_mức nền
còn được gọi là đường dùng chung (common) hay đường đất (ground) Đường này có hiệu điện thế bằng 0V Đó là mức nền cho các đường điện khác thực hiện trọn vẹn việc cung cấp dòngđiện cho thiết bị
+3.3V: là đường cung cấp chính cho các chip, bộ nhớ (memory),
một số thành phần trên bo mạch chủ, card đồ họa và các card
sử dụng khe cắm PCI
+5V: đường điện được dùng phổ biến nhất trong máy tính cung
cấp điện chủ yếu cho bo mạch chủ, các CPU đời cũ, các chip (trực tiếp hay gián tiếp) và các thiết bị ngoại vi khác Hiện nay các CPU đã chuyển sang dùng đường điện thế 12V
+12V:_chủ yếu sử dụng cho các động cơ
(motor) trong các thiết bị lưu trữ, ổ quang , quạt, các hệ thống giải nhiệt và hầu hết các thiết bị đời mới hiện nay đều sử dụng đường điện 12V CPU PIV, Althlon 64, dual core AMD, Pentium
D, VGA ATI, NVIDIA SLI, ATI Crossfire
+5VSB (5V Standby):_nguồn cấp trước
là nguồn điện được bộ nguồn cấp trước, dùng phục vụ cho việc
Trang 25khởi động máy tính, nguồn điện này có lập tức khi ta nối bộ nguồn vào nguồn điện nhà (AC) Đường điện này thường có dòng cung cấp nhỏ dưới 3A.
c.Phân loại
+ Nguồn AT thường thấy trong các máy đời cũ
.Các bo mạch được sản xuất vài năm gần đây chỉ hỗ trợ bộ
nguồn chuẩn ATX (PIII, PIV, Celeron Tualatin, K7, AXP…)
Lý do nguồn AT không còn sử dụng:Phải dùng công tắc để tắt nguồn thay vì dùng phần mềm để tắt nguồn như ATX Khi muốnnâng cấp máy tính phải xem xét vấn đề công suất
Nguồn AT không có một số tính năng quản lý điện năng thông minh
+ Nguồn ATX cho phép tắt mở nguồn tự động bằng phần mềm/ thông qua mạng mà không phải sử dụng công tắc (với card
mạng có tính năng Wake-on-LAN
d.Ý nghĩa màu dây
Dây màu cam l_ nguồn 3,3V
Dây màu đỏ nguồn 5V
Dây màu vàng nguồn 12V
Dây màu xanh da trời nguồn -12V
Dây màu trắng nguồn -5V
Dây màu tím l nguồn 5VSB ( Đây là nguồn cấp trước ) Dây màu đen Mass
Dây màu xanh lá cây là chân lệnh mở nguồn chính
PS_ON( Power Swich On ), khi điện áp PS_ON = 0V là mở ,
PS_ON> 0V là tắt
Dây màu xám là chân bảo vệ Mainboard, dây này báo cho
Trang 26Mainbaord biết tình trạng của nguồn đã tốt PWR_OK (Power OK), khi dây này có điện áp >3V thì Mainboard mới hoạt động
e.Lỗi
2.Các đời của intel
+ Khái quát CPU: CPU có thể được xem như não bộ, một trong những phần tử cốt lõi nhất của máy vi tính Nhiệm vụ chính của CPU là xử lý các chương trình vi tính và dữ kiện CPU có nhiều kiểu dáng khác nhau.Nó là một mạch tích hợp phức tạp gồm hàng triệu transitor trên một bảng mạch nhỏ Bộ xử lý trung tâm bao gồm
Trang 27+,Bộ điều khiển(Là các vi xử lí có nhiệm vụ thông dịch các lệnh
của chương trình và điều khiển hoạt động xử lí,được điều tiết chính xác bởi xung nhịp đồng hồ hệ thống Mạch xung nhịp đồng hồ hệ thống dùng để đồng bộ các thao tác xử lí trong và ngoài CPU theo các khoảng thời gian không đổi)
+,Bộ làm tính(Có chức năng thực hiện các lệnh của đơn vị điều
khiển và xử lý tín hiệu Theo tên gọi,đơn vị này dùng để thực hiện các phép tính số học(+,-,*,/)hay các phép tính logig(so
sánh lớn hơn,nhỏ hơn )
+ Các thông số của CPU:
Kiểu CPU: CPU đời sau luôn có công nghệ và hiệu năng cao hơn
CPU đời trước
Tần số đồng hồ làm việc (tốc độ): Đối với các CPU cùng loại, tần
số này càng cao thì tốc độ xử lý càng tăng
Bộ nhớ đệm (cache): Bộ nhớ đệm dùng để lưu các lệnh hay
dùng, giúp cho việc nhập dữ liệu xử lý nhanh hơn Dung lượng
bộ nhớ đệm càng nhiều càng giúp CPU làm việc nhanh hơn Bộ nhớ đệm tích hợp vào CPU có hiệu quả cao hơn bộ nhớ đệm nằm rời bên ngoài
Socket: Chỉ loại khe cắm của CPU Đây là đặc điểm để xét sự
tương thích giữa CPU và bo mạch chủ