1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Kt qu cuc kho sat v cac vn d kinh

18 27 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 408,91 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

http://www.tapchithoidai.org/ThoiDai13/200813_TranHuuQuang.htm VIETNAMESE REVIEW OF STUDIES AND DISCUSSIONS | REVUE VIETNAMIENNE D'ÉTUDE ET DE DÉBAT thời đại mới TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU &

Trang 1

http://www.tapchithoidai.org/ThoiDai13/200813_TranHuuQuang.htm

VIETNAMESE REVIEW OF STUDIES AND DISCUSSIONS | REVUE VIETNAMIENNE D'ÉTUDE ET DE DÉBAT

thời đại mới TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU & THẢO LUẬN

Số 13 Tháng 3/2008

Đề án cải cách giáo dục Việt Nam

Hồ Tú Bảo, Trần Nam Bình, Trần Hữu Dũng Ngô Vĩnh Long, Trần Hữu Quang, Hồng Lê Thọ, Trần Văn Thọ, Hà Dương Tường, Vũ Quang Việt,

Nguyễn Xuân Xanh, Võ Tòng Xuân

Giáo dục Việt Nam:

nguyên nhân của sự xuống cấp

và các cải cách cần thiết

Vũ Quang Việt

Chiều hướng phát triển dân số và học sinh,

hiện tại và tương lai

Vũ Quang Việt

Phát triển giáo dục: vai trò của học phí,

trách nhiệm nhà nước

và khả năng ngân sách nhà nướ c

Vũ Quang Việt

Kết quả cuộc khảo sát

về các vấn đề kinh tế trong giáo dục phổ thông cuối năm 2007

Trần Hữu Quang

Một số ý kiến về nghiên cứu khoa học và giáo dục cao học

ở Việt Nam

Hồ Tú Bảo

Về việc đào tạo và cấp bằng tiến sĩ tại Việt Nam

Trần Văn Thọ

Lao động có kỹ năng:

Lỗ hổng nghiêm trọng

Trang 2

trong phát triển ở Việt Nam

Hồng Lê Thọ

Giáo dục dạy nghề ở Nhật Bản:

Chìa khóa đi vào hiện đại hóa

Hồng Lê Thọ

Không gian đại học châu Âu

Hà Dương Tường

Việt Nam: Giáo dục đại học và

Kỹ năng cho tăng trưởng

Võ Tòng Xuân

Giáo dục tư hay công nhìn từ góc độ lý thuyết kinh tế

Vũ Quang Việt

Phan Khôi và cuộc thi quốc sử của báo Thần Chung, Sài Gòn 1929

Lại Nguyên Ân

Chiến tranh Việt Nam

và kế hoạch “Phòng tuyến ba” của Trung Quốc trước Cách mạng Văn hóa 1964-1966

Lorenz Lüthi

© 2008 Thời Đại Mới

Trang 3

Kết quả cuộc khảo sát

về các vấn đề kinh tế trong giáo dục phổ thông

cuối năm 2007

Trần Hữu Quang

Bài này tóm tắt một số kết quả chính từ cuộc khảo sát do chúng tôi chủ trì, được tiến hành tại năm tỉnh thành miền Nam, từ tháng 11 tới tháng 12-2007.* Mục tiêu của cuộc khảo sát này là nhận diện những vấn đề nổi bật hiện nay

ở cấp độ ngân sách gia đình dành cho việc giáo dục và cấp độ thu nhập của nhà giáo, nhằm từ đó đặt ra những vấn đề liên quan tới chính sách giáo dục và ngân sách giáo dục ở các bậc học phổ thông, và đề xuất những kiến nghị nhằm góp phần vào công cuộc cải tổ nền giáo dục phổ thông

Cuộc khảo sát này do nhóm Thời báo Kinh tế Sài Gòn tài trợ Các kỹ thuật điều tra chủ yếu được sử dụng là hai bản câu hỏi đối với giáo viên và hộ gia đình,

và kỹ thuật phỏng vấn nhóm Phương pháp chọn mẫu là phương pháp kết hợp giữa

kỹ thuật chọn mẫu phân tầng (chọn địa bàn điều tra) với kỹ thuật ngẫu nhiên thống

kê (để chọn giáo viên và hộ gia đình) Lực lượng điều tra có tổng cộng 57 người, chia làm năm tổ điều tra tại năm tỉnh thành, bao gồm các chuyên viên xã hội học, nhân học và sử học, cùng với điều tra viên là các sinh viên đã tốt nghiệp cử nhân hoặc học năm cuối ngành xã hội học và nhân học

Các địa phương được khảo sát bao gồm ba tỉnh Nam bộ là Trà Vinh, Vĩnh Long, An Giang, một tỉnh Tây nguyên là Dak Lak, và thành phố Hồ Chí Minh Tổng số có 43 trường phổ thông được khảo sát, với tổng số mẫu giáo viên được phỏng vấn là 1.027, và 30 xã và phường (tại 10 quận, huyện) được khảo sát, với tổng số mẫu hộ gia đình được phỏng vấn là 1.203 Có tổng cộng 12 cuộc phỏng vấn nhóm có ghi âm đã được thực hiện, trong đó sáu cuộc đối với giáo viên, và sáu cuộc đối với các phụ huynh

1 Đồng lương của nhà giáo

Kết quả cuộc khảo sát cuối năm 2007 cho biết tổng thu nhập bình quân từ

nhà trường của một giáo viên (bao gồm lương chính, phụ cấp và thù lao dạy tăng

tiết, phụ đạo ) xấp xỉ khoảng từ 1,8-2 triệu đồng/tháng ở An Giang, Vĩnh Long và Trà Vinh, 2,2 triệu ở Dak Lak, còn ở TPHCM thì khoảng 2,48 triệu (xem Bảng 1)

Bảng 1 Mức thu nhập của giáo viên từ nhà trường

- dưới 1 triệu 1,5 %

- 1-1,5 triệu 18,8

- 1,5-2 triệu 32,8

- 2-2,5 triệu 25,2

- 2,5-3 triệu 12,9

- 3-4 triệu 5,5

Trang 4

- 4 triệu trở lên 3,0

So với mức sống trung bình ở địa phương, số giáo viên có mức thu nhập từ nhà trường thấp hơn mức này chiếm tỷ lệ khoảng 15% ở Trà Vinh, 25% ở Vĩnh Long, 40% ở An Giang, 39% ở Dak Lak, và 39% ở TPHCM

Số giáo viên có thu nhập từ nhà trường chỉ đáp ứng được dưới một nửa chi tiêu ở gia đình mình chiếm 31% ở Trà Vinh, 9% ở Vĩnh Long, 42% ở An Giang, 50% ở Dak Lak, và lên tới 63% ở TPHCM

Chính vì đồng lương từ nhà trường không đủ sống nên không ít người đã

phải dạy thêm và làm thêm việc khác để có thêm thu nhập Trong mẫu điều tra, có 30% giáo viên có dạy thêm và làm thêm (trong đó 13% dạy thêm và 18% làm thêm việc khác) Tỷ lệ này cao hơn hết tại TPHCM (52% có dạy thêm và làm thêm) Tỷ lệ dạy thêm ở TPHCM cũng đông nhất so với các tỉnh trong mẫu điều tra: 44% nơi giáo viên cấp tiểu học, 27% cấp trung học cơ sở (THCS), và 34% cấp trung học phổ thông (THPT) có dạy thêm ở nhà hoặc tại nơi khác (chưa kể số giáo viên dạy thêm ngay tại trường của mình)

Hầu hết việc làm thêm đều là những việc không liên quan chút gì với nghề giáo: làm ruộng, trồng mía, trồng hoa màu, nuôi gà, nuôi heo, thợ may, bán bánh

mì, phụ bán tạp hóa, bán hàng ở chợ, phụ bán cơm buổi sáng, chạy xe, đánh máy, photocopy, chụp hình, làm nhạc công ở quán cà phê, làm thêm ở nhà hàng vào buổi tối, dạy võ, vẽ tranh, sửa đồ điện gia dụng, v.v

Mặc dù cố gắng bươn chải để có thêm thu nhập ngoài nhà trường, nhưng tổng thu nhập hàng tháng của người giáo viên cũng không nhiều nhặn gì Được hỏi rằng “tổng thu nhập từ tất cả các khoản của thầy/cô hiện nay có đủ cho các chi tiêu trong cuộc sống gia đình của thầy/cô ?”, 52% giáo viên trong mẫu điều tra trả lời

là “thiếu thốn”, 42% nói là “vừa đủ”, và chỉ có 2% nói là “có dư để tích lũy”

Có đến hai phần ba giáo viên trong mẫu điều tra (66%) trả lời là có đi vay mượn trong năm qua Tỷ lệ vay mượn này ở các tỉnh lên tới khoảng ¾ giáo viên, riêng ở TPHCM cũng lên tới 44%

Chỉ có 4-5% giáo viên ở Trà Vinh và Vĩnh Long có Internet ở nhà, con số này là 8% ở An Giang, 12% ở Dak Lak, 42% ở TPHCM Số giáo viên đọc báo hàng ngày chiếm 30-36% ở Trà Vinh, Vĩnh Long, An Giang, và 77% ở TPHCM Khi trả lời cho câu hỏi về những nguyện vọng và tâm tư bức xúc nhất, hai phần ba giáo viên trong mẫu điều tra (66%) nêu lên kiến nghị rằng cần nhanh chóng cải tổ chế độ tiền lương – đây là ý kiến đứng hàng số một và chiếm tỷ lệ cao nhất trong số các nguyện vọng mà họ nêu ra

Theo kết quả cuộc khảo sát, nguyện vọng của giáo viên về một mức tiền lương “đủ để lo cho gia đình” bình quân trong mẫu điều tra là 3,81 triệu đồng một tháng, cụ thể ở từng tỉnh thành như sau:

- Trà Vinh 3,32 triệu đồng/tháng

- Vĩnh Long 3,22

- An Giang 3,33

- Dak Lak 3,99

- TPHCM 5,20

Trang 5

mức lương kỳ vọng này, có thể loại bỏ được hiện tượng dạy thêm để tăng thu

nhập, chỉ có 12% nói là không thể

Như vậy, tổng thu nhập của giáo viên từ nhà trường là không đủ sống hay chỉ đạt mức tối thiểu đối với khá đông giáo viên

Hệ thống thang bậc lương chính thức của giáo viên không mang tính công

bằng, và không mang tính chất kích thích hay khuyến khích nâng cao trình độ

(xem Bảng 2), mặc dù theo qui chế thì vẫn có thể tăng bậc lương 3-4 năm một lần,

và mặc dù đã được hưởng một số khoản phụ cấp

Bảng 2 Lương chính và các loại phụ cấp bình quân một giáo viên phổ thông, phân theo thâm niên trong ngành giáo dục

Thâm niên trong

ngành giáo dục

a Lương chính

b Phụ cấp c Dạy tăng

tiết, dạy thêm trong trường

Tổng thu nhập tại nhà trường

6-10 năm 1.246.151 481.713 117.885 1.820.863

11-15 năm 1.400.985 503.743 227.412 2.120.778

16-20 năm 1.579.897 549.141 210.328 2.343.273

21-30 năm 1.821.368 540.329 248.297 2.602.890

31-40 nam 2.022.796 651.818 264.087 2.954.720

Tổng cộng 1.421.832 483.334 176.733 2.056.816

Nguồn: Kết quả cuộc điều tra tháng 11-12/2007 của chúng tôi

Kết quả khảo sát cho biết chỉ có 45% giáo viên trong mẫu điều tra cho là mức thu nhập của mình từ nhà trường “tương xứng” với công sức mà mình đã bỏ

ra, 49% cho là “không tương xứng” Tỷ lệ trả lời “không tương xứng” ở TPHCM lên tới 72%, ở Dak Lak 51%, An Giang 49%, Vĩnh Long 45%, và Trà Vinh 28% Xét về mặt nghề nghiệp chuyên môn, tình trạng buộc phải đi dạy thêm, đi

làm thêm quả thực là một sự phí phạm xã hội ghê gớm, không phải chỉ lãng phí đối

với năng lượng của người giáo viên, mà quan trọng hơn là sự lãng phí lớn lao đối với hiệu quả đáng lý có thể có của ngành giáo dục Vì còn phải lo chạy vạy cho nồi cơm của gia đình từ những nguồn thu khác ngoài nhà trường, nên không ít giáo viên không còn đâu tâm sức và thời gian tập trung cho lao động chuyên môn của mình và học sinh của mình nữa

Xét về mặt luân lý xã hội, tình cảnh éo le mang tính chất vừa trói buộc vừa

lẩn quẩn này là điều kiện và nguyên nhân dẫn tới nhiều hệ quả bi đát mà công luận than phiền lâu nay: nào là ép học thêm, không công bằng khi cho điểm những học sinh không học thêm, nào là nạn “phong bì”, quà cáp lễ tết, cùng đủ mọi dạng tiêu cực từ nhẹ tới nghiêm trọng như mua bằng bán điểm

Chính chế độ tiền lương bất hợp lý và không công bằng nói riêng, và chính sách tài chính trong giáo dục nói chung, đã dẫn đến những hệ quả xáo trộn trong đời sống nhà giáo (phải vất vả dạy thêm, làm thêm ), những đảo lộn trong mối quan hệ giữa nhà giáo với học sinh, với phụ huynh, cũng như dẫn đến những hệ quả rối rắm trong việc thu đủ mọi khoản lắt nhắt đối với phụ huynh

Trang 6

Vấn đề đặt ra hoàn toàn không phải là cần có chính sách “ưu tiên” hay “đặc ân” gì với nhà giáo, mà trước hết đây là vấn đề khôi phục sự công bằng đối với lao động của họ Chỉ khi có chính sách lương bổng thoả đáng, xứng đáng và mang tính

động viên, thì lúc ấy mới có thể nói tới khả năng thu hút những người giỏi vào ngành giáo chức Có thầy cô giỏi thì mới có học sinh giỏi Kinh nghiệm ở những

nước như Đức, Nhật Bản hay Hàn Quốc là chính nhờ nhà nước thực sự tôn trọng ngành giáo dục và trả lương cao cho giáo chức (cao hơn cả những người làm việc cho các đại công ty) ngay từ những thời kỳ suy tàn và đói khổ sau năm 1945, mà

họ mới có được những vốn liếng học vấn cũng như một tiềm lực xã hội để phát triển kinh tế mạnh mẽ sau này

Cần quan niệm rằng trả lương cho nhà giáo thực ra chính là đầu tư cho tiền

đồ của đất nước

Lương chỉ sống được 20 ngày

● Một thầy giáo dạy cấp THCS, có thâm niên dạy học 23 năm, ở

huyện Tân Châu, An Giang: “Tôi nghĩ là nên xem lại chất lượng

cuộc sống thầy cô giáo để giúp cho bớt đi thành kiến xã hội người ta

nhìn mình Nhiều khi nghèo quá thì phải đi dạy thêm, mà dạy thêm

thì phụ huynh, học trò nhìn cô thầy cũng không có gì thiện cảm, tôn

kính lắm.” (Cuộc phỏng vấn nhóm ngày 7-12-2007)

● Một nam giáo viên THCS ở huyện Krông Năng, Dak Lak, dạy

môn sinh học, có thâm niên nhà giáo 10 năm, nói như sau: “Lương

hiện nay chỉ đảm bảo 70% chi phí trong một tháng của gia đình

Lương như vậy không đảm bảo Hiện nay có tăng lương, nhưng mọi

chi phí giá cả cũng tăng Với lương hiện nay, giáo viên chỉ ăn sống

được khoảng 20 ngày, còn lại 10 ngày trong tháng đó phải làm thêm

hoặc kiếm các khoản thu nhập khác để bù vào đó ” (Cuộc phỏng

vấn nhóm ngày 10-12-2007)

● Một cô giáo 39 tuổi, dạy lớp 1 ở huyện Trà Cú, Trà Vinh: “Giáo

viên mà cứ khó khăn kéo dài như thế này, phụ huynh có con học

giỏi, người ta không cho vô nghề giáo viên dạy học đâu Người ta

cho đi làm nghề khác để kiếm tiền nhiều hơn Nhà khá giả, có điều

kiện, con học giỏi, nếu người ta không quý nghề giáo, người ta cho

con sang nghề khác, mình rất là tiếc những nhân tài đó.” (Cuộc

phỏng vấn nhóm ngày 29-11-2007)

2 Gánh nặng chi phí giáo dục đối với người dân Chuyện chi phí cho việc học hành của con cái hiện nay quả thực là một gánh nặng đối với các phụ huynh, nhất là với những gia đình nghèo, kể cả ở nông thôn lẫn thành thị

a Chi phí cho việc học hành của con cái

Theo kết quả cuộc điều tra cuối năm 2007 của chúng tôi, tổng chi phí của các hộ gia đình bình quân cho một học sinh phổ thông trong một năm ở Trà Vinh

là 525 ngàn đồng/năm, An Giang 499 ngàn, Vĩnh Long 736 ngàn, Dak Lak 1,32 triệu, và ở TPHCM là 2,84 triệu

Trang 7

Tính chung ba tỉnh miền Tây Nam bộ (Trà Vinh, Vĩnh Long, An Giang), chi phí của người dân cho một học sinh tiểu học bình quân là 406 ngàn đồng/năm, trung học cơ sở 504 ngàn đồng/năm, còn ở cấp trung học phổ thông thì cao hơn hẳn, gần 1,02 triệu đồng/năm

Riêng ở TPHCM, phụ huynh chi cao hơn hẳn so với ba tỉnh Nam bộ nêu trên: cấp tiểu học là 2,72 triệu đồng/năm, THCS 2,46 triệu, còn ở cấp THPT gần 3,40 triệu

Chi phí của người dân cho việc học hành của con cái ở Việt Nam hiện nay không nặng về mặt học phí, nhưng lại bao gồm rất nhiều khoản thu khác mà phụ huynh phải chi trả trong nhà trường cũng như bên ngoài nhà trường Riêng trong nhà trường, ở TPHCM chẳng hạn, tính đến năm 2004, Sở GD-ĐT qui định có 14 khoản thu chính thức ở nhà trường ; hay ở Huế, thậm chí có đến 45 khoản thu khác

nhau (Sài Gòn Giải phóng, 12-12-2007, tr 1) Qua cuộc khảo sát này, chúng tôi

thống kê được tổng cộng 42 khoản thu, 16 loại quĩ, và 6 khoản khác nữa mà phụ huynh phải đóng tại nhà trường

Được hỏi rằng “Trong vòng một năm qua, có khi nào đến hạn đóng học phí hoặc những khoản đóng góp khác mà gia đình ông/bà không có sẵn đủ tiền để đóng hay không ?”, có 13% phụ huynh trong mẫu điều tra trả lời là thường xuyên, 5% không thường xuyên, và 36% đôi khi Tỷ lệ ít nhiều không có sẵn tiền lên tới 57% ở Trà Vinh, 59% ở Vĩnh Long, 65% ở An Giang, 50% ở Dak Lak, và 38% ở TPHCM Tỷ lệ này đạt mức cao nhất (73%) ở nhóm hộ gia đình nghèo nhất (tức nhóm 1, theo phương pháp phân tổ ngũ phân đối với mức chi tiêu của gia đình), 65% nơi nhóm 2, và 52% nơi nhóm 3

Có 31% phụ huynh trong mẫu điều tra trả lời là phải “đi vay mượn để đóng học phí”, 14% “xin hoãn với nhà trường” Điều đáng chú ý là tỷ lệ phụ huynh ở TPHCM phải đi vay mượn để đóng học phí không thấp hơn bao nhiêu so với các tỉnh Nơi hai nhóm hộ nghèo nhất (nhóm 1 và nhóm 2), tỷ lệ phải đi vay mượn là 39%, và xin hoãn với nhà trường là 20-22%

Có tới 56% phụ huynh đánh giá các khoản chi cho việc học hành của con em mình hiện nay là “nặng”, trong đó 38% cho là “tương đối nặng”, và 18% phụ huynh cho là “quá nặng”

Dựa trên các số liệu của Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD-ĐT) và Tổng cục Thống kê, theo kết quả tính toán của chúng tôi, phần chi của người dân cho giáo dục vào năm 2006 chiếm 41% trong tổng chi phí xã hội cho giáo dục, còn phần chi của ngân sách nhà nước chiếm 59% Một số liệu nghiên cứu quốc tế khác công bố vào năm 2004 cho biết mức chi phí cho giáo dục của người dân ở Việt Nam lên tới 44% trong tổng chi phí xã hội cho giáo dục, mức cao nhất ở các nước Á châu, chỉ thua Campuchia (1) (4) (xem Biều đồ 1)

Theo tính toán của Vũ Quang Việt, tổng chi phí xã hội cho giáo dục (tức bao gồm cả phần chi của nhà nước và người dân) ở Việt Nam năm 2006 đạt mức 8,4% tổng sản phẩm nội địa (GDP), và năm 2007 lên tới 9,2%, một tỷ lệ rất cao so với các nước trên thế giới, kể cả Mỹ (17) (19)

Biểu đồ 1 Tỷ lệ chi phí cho giáo dục tiểu học của các gia đình người dân và của chính quyền tại một số quốc gia Á châu (ĐVT:%)

Trang 8

Nguồn: Raja Bentaouet Kattan, Nicholas Burnett, User Fees in Primary Education, World

Bank, 7-2004, tr 14

b Bất bình đẳng về điều kiện và cơ hội học tập

Kết quả khảo sát cho thấy có tình trạng bất bình đẳng rõ rệt về điều kiện cũng như cơ hội giáo dục Ngoài sự cách biệt hiển nhiên giữa nông thôn và thành thị, giữa các thành phố lớn như TPHCM với các tỉnh, thì sự bất bình đẳng trong giáo dục còn được thể hiện qua những mặt sau đây

Trước hết là sự chênh lệch về chi phí giáo dục giữa các tầng lớp dân cư Chi

phí bình quân cho một học sinh phổ thông trong một năm nơi nhóm 1 (tức nhóm

hộ nghèo nhất) chỉ bằng 15% (380 ngàn đồng), và nơi nhóm 2 chỉ bằng 29% (710 ngàn) so với mức chi của một gia đình khá giả (nhóm 5: 2,45 triệu) Với một khoản tiền eo hẹp, lẽ tất nhiên con em gia đình nghèo có điều kiện học tập kém hơn, mua sắm sách vở và dụng cụ học tập ít hơn, đi học thêm ít hơn… Từ đó, kết quả học tập có nhiều khả năng thua sút so với con em nhà khá giả

Kế đến là sự chênh lệch về tỷ lệ chi cho giáo dục giữa các tầng lớp dân cư

Kết quả điều tra cho biết những nhóm hộ càng nghèo thì tỷ lệ chi cho giáo dục càng cao hơn, tính trong tổng chi tiêu của gia đình, mặc dù con số tuyệt đối chi cho giáo dục của những hộ này thấp hơn nhiều so với các hộ khá giả Tình hình này đặc biệt rõ rệt ở ba tỉnh Nam bộ là Trà Vinh, Vĩnh Long và An Giang (xem Bảng 3) Nói cách khác, càng nghèo thì việc chi cho giáo dục càng là gánh nặng

Bảng 3 Tỷ lệ chi cho giáo dục tình trong tổng chi tiêu cho đời sống của các hộ gia đình, phân tổ theo nhóm ngũ phân (nhóm 1: nghèo nhất, nhóm 5: khá giả nhất) (ĐVT:%)

Năm nhóm chi

tiêu

Trà Vinh Vĩnh Long An Giang Dak Lak TPHCM

Trang 9

Nhóm 5 2,01 3,03 3,24 6,73 8,42

Nguồn: Kết quả cuộc điều tra tháng 11-12/2007 của chúng tôi Thứ ba là mức chênh lệch về chi phí giữa các cấp học Chi phí một năm cho

một học sinh THPT cao hơn hẳn so với một học sinh tiểu học hay THCS Điều này làm cho các hộ nghèo có tỷ lệ chi cho con em học cấp 3 cao hơn nhiều so với tỷ lệ này nơi những hộ khá giả, mặc dù số tiền chi phí của hộ nghèo vẫn thấp hơn Nói cách khác, đối với những hộ nghèo, càng học lên lớp cao thì cái gánh chi phí lại càng nặng một cách tương đối

Mặt khác, lên lớp học càng cao, thì tỷ lệ học sinh đi học nơi gia đình khá giả, so với tỷ lệ này nơi gia đình nghèo, ngày càng chênh lệch Theo kết quả cuộc khảo sát, nơi nhóm 15-17 tuổi, tức nhóm tuổi học THPT, nơi hai nhóm hộ nghèo nhất (nhóm 1 và nhóm 2), chỉ có 54% và 67% đi học, trong khi tỷ lệ này nơi hai nhóm hộ khá giả nhất (nhóm 4 và nhóm 5) lên tới 87% và 90%

Trong khi đó, chúng ta biết rằng mức chi phí nhà nước đầu tư vào giáo dục tính trên đầu học sinh tương đối ít ở các lớp thấp (cấp tiểu học và THCS), và tương đối nhiều hơn ở các lớp cao hơn (cấp THPT) Như vậy, tình hình này có nghĩa là các hộ gia đình nghèo trong thực tế được thụ hưởng dịch vụ giáo dục ở cấp THPT

ít hơn nhiều hơn so với con em gia đình khá giả !

Như vậy, trong lĩnh vực giáo dục phổ thông hiện nay, đang tồn tại một tình

trạng bất bình đẳng rõ rệt về chi phí giáo dục, cũng như về điều kiện, cơ hội và

mức độ thụ hưởng dịch vụ giáo dục Và chính ngân sách công đã mặc nhiên góp phần duy trì và củng cố xu hướng phân hóa xã hội Nền giáo dục, trong trường hợp này, thay vì là một nhân tố thúc đẩy sự công bằng và sự bình đẳng như mọi người

kỳ vọng, thì lại biến thành một nhân tố góp phần vào quá trình tái sản xuất một

cấu trúc xã hội bất bình đẳng

Theo phân tích của chúng tôi, chính chế độ thu học phí và đủ mọi khoản thu

ở nhà trường công lập phổ thông hiện nay đã trực tiếp tạo ra tình trạng bất bình đẳng này, không chỉ ở cấp THPT mà kể cả từ cấp tiểu học Chế độ thu phí ở nhà trường Việt Nam hiện nay đã và đang tạo ra một rào cản lớn lao đối với các gia đình người dân, nhất là đối với những tầng lớp xã hội thấp kém và thiệt thòi, và do

vậy đi ngược lại với lý tưởng của một nền giáo dục cho mọi người, một nền giáo dục phổ cập mà nhà nước luôn luôn tuyên bố và đề cao trên nguyên tắc

Gánh không nổi !

● Một nông dân trồng cà phê, 48 tuổi, huyện Krông Năng, Dak Lak,

kể lại như sau: “Hiện nay tôi có đứa học cấp 3, đứa cấp 2 Ở cấp 3,

những khoản đóng [tại nhà trường] như xây dựng, học phí, quỹ phụ

huynh, v.v thì một năm một đứa là 500.000 đồng, mức này cũng

không cao lắm đâu, nhưng đó là với mức sống những nhà bình

thường Còn so với điều kiện kinh tế của mình thì yếu quá đi

Riêng bản thân tôi, hai đứa cùng một chiếc xe đạp, đứa đi buổi sáng,

đứa đi buổi chiều Tôi chỉ sắm hai bộ đồ, một để đi học, một để ở

nhà, đồ đi học cứ về mai đi tiếp, đến thứ bảy giặt giũ để thứ hai đi

chào cờ, còn người ta khá thì sắm cho con hai ba bộ đồ.” (Cuộc

phỏng vấn nhóm của chúng tôi vào ngày 9-12-2007)

Trang 10

● Một nông dân 51 tuổi, có hai con học tiểu học, ở huyện Tân Châu,

An Giang, nói: “Với tiền học phí này kia, cần nói ngay là nghiên cứu

làm sao giảm, vì đa số người dân của mình ở đây nông dân là nghèo

nhất Ví dụ như mình có việc gì nhỏ mình làm có thu nhập hàng

ngày thì được, còn đằng này mình làm mướn bữa có, bữa không,

mức thu nhập đâu có đủ Bởi vậy, nguyện vọng ai cũng vậy, ai cũng

muốn lo cho con học tới nơi tới chốn nhưng mà nhìn lại cái gánh

của mình là mình gánh không nổi Gánh không nổi Bây giờ một

tháng bổ đồng chi phí tiền học, chưa tính tiền đau ốm, đó là cũng

300.000 đồng, trong khi một tháng mà mình không có làm được cái

gì thì lấy đâu ra.” (Cuộc phỏng vấn nhóm ngày 6-12-2007)

● Một giáo viên về hưu, 61 tuổi, ở huyện Châu Thành, Trà Vinh, liệt

kê các khoản chi phí cho một học sinh như sau: “Quỹ xây dựng

20.000 đồng, tiền điện 10.000, bảo hiểm Bảo Việt 35.000, tiền giấy

thi 6.000, học phụ đạo 17.000, sách giáo khoa 125.000, tập viết một

cuốn 3.000, 20 cuốn là 60.000 Áo dài hai bộ, một áo dài 75.000,

một cái quần nữa, hai bộ là 210.000, một bộ quần áo thể dục Tôi

thấy cái này cũng hơi mệt rồi Đối với tụi tui mần ruộng, hết lúa

rồi Nếu so chi phí mấy đứa nhỏ tới sơ cấp tiểu học thì còn đỡ, lên

trên thí dụ lớp 7, lớp 8 hay lớp 10 nội thấy cái áo dài cũng tiền, rồi

chiếc xe đạp Mà áo dài một cái không được, ướt mưa thì sao, phải

hai cái Nội cái chi phí đó cũng là cả triệu Còn tiền sách, tiền vở,

tiền ăn, tiền học, rồi không giúp được cho nhà Trong khi có những

nhà nhiều khi có những người đi làm hồ rất khó khăn ” (Cuộc

phỏng vấn nhóm ngày 3-12-2007)

● Một nông dân, 48 tuổi, ở huyện Krông Năng, Dak Lak: “Thực tế ở

đây, hộ nghèo rất nhiều Tôi cũng là hộ nghèo Nhưng mà ngại xác

nhận hộ nghèo, sợ con cái đến trường xấu hổ, tự ái vì mình là hộ

nghèo, nên tôi phải khắc phục chuyện đó Tôi có sổ hộ nghèo đường

hoàng, nhưng tôi không xin miễn giảm vì sợ con cái mặc cảm,

không học được Nó lớn rồi, nó suy nghĩ, nên tôi không tham gia

vào việc đó.” (Cuộc phỏng vấn nhóm ngày 9-12-2007)

3 Những áp lực trong nhà trường Một trong những hiện tượng nổi cộm trong đời sống nhà trường mà cuộc khảo sát của chúng tôi vào cuối năm 2007 ghi nhận được, đó là những áp lực đối với cả giáo viên lẫn học sinh phổ thông

a Áp lực đối với giáo viên

Trước hết, xét về công việc giảng dạy, thì có thể nhận xét ngay rằng số tiết lên lớp hiện nay không phải là điều gây áp lực lên trên giáo viên Theo kết quả điều tra tại năm tỉnh thành miền Nam, tổng số tiết đang dạy hàng tuần bình quân mỗi giáo viên là 22,6 tiết, trong đó 17,5 tiết thực dạy, 2,2 tiết dạy thêm hoặc phụ đạo tại trường, và 3,0 tiết qui đổi (chủ nhiệm lớp, phụ trách đoàn thể )

Giáo viên tiểu học có số tiết dạy hàng tuần nhiều nhất (26,6 tiết), so với giáo viên trung học cơ sở (18,5 tiết) và giáo viên trung học phổ thông (21,7 tiết)

Ngày đăng: 05/09/2019, 20:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w