1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC VỀ NHO GIÁO

20 144 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 140 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nho giáo đang vươn lên thành những “ con rồng”.. Chương 1: LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA NHO GIÁO 1.1... Phương Tây gọi Tống nho là "Tân Khổng giáo"... Nhân và nghĩa vố

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Nho giáo có một vị thế hết sức to lớn trong đời sống xã hội Trung Quốc trong nhiều thế kỷ Nho giáo như là một thành tố văn hóa góp phần làm phong phú văn hóa Trung Quốc vốn được hình thành trên nền tảng của văn hóa Hán cùng với sự giao lưu tiếp xúc văn hóa với các tộc người khác Tuy nhiên trong suốt chiều dài lịch sử ngàn năm của Trung Quốc, nho giáo được nhìn nhận hết sức khác nhau có những giai đoạn lịch sử người ta đề cao Nho giáo, coi đó như là chuẩn mực để xây dựng đời sống xã hội, lại có thời gian người ta phê phán thậm chí còn phủ nhận Nho giáo Đương nhiên, khi đã coi Nho giáo như là một học thuyết thì việc xem xét, đánh giá trong các giai đoạn lịch sử cũng là việc làm bình thường

Ở việt nam trong những thập niên gần đây thì việc tìm hiểu Nho giáo có chiều hướng gia tăng Bên cạnh, nhiều bộ sách kinh điển Nho giáo được tái bản, nhiều công trình nghiên cứu về Nho giáo lại càng trở nên cần thiết hơn khi mà một số nước trong khu vực chịu ảnh hưởng rất sâu đậm Nho giáo đang vươn lên thành những “ con rồng” Hai cuộc tọa đàm về Nho giáo diễn ra tại trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn giữa các nhà khoa học Mỹ và các nhà khoa học Việt Nam cũng không ngoài mục đích góp phần nghiên cứu một cách toàn diện về hệ thống Nho giáo

Nét đặc thù của triết học Trung Quốc nói chung hay Nho giáo nói riêng là có

xu hướng đi sâu giải quyết những vấn đề thực tiễn chính trị – đạo đức của xã hội có nội dung bao trùm là con người, xây dựng con người, xã hội lý tưởng và con đường trị nước Ngay từ khi xâm nhập vào Việt Nam Nho giáo đã nhanh chóng thích nghi và phát triển mạnh mẽ Sự tác động của của nó đến đời sống của người Việt Nam rất sâu sắc không chỉ trong quá khứ mà còn tiếp tục phát huy đến ngày nay, góp phần phong phú thêm cho nền văn hóa Việt Nam Vì vậy đề tài “ Những tư tưởng cơ bản của Nho giáo và ảnh hưởng của nó đến đời sống văn hóa tinh thần người Việt “ được thực hiện nhằm làm rõ hơn tư tưởng triết học chủ đạo của Nho giáo cũng như tầm ảnh hưởng sâu rộng của nó đến đời sống của người Việt trải qua bao thế hệ

Chương 1: LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN

CỦA NHO GIÁO

1.1 KHÁI QUÁT LỊCH SỬ TRIẾT HỌC TRUNG HOA CỔ ĐẠI

1.1.1 Hoàn Cảnh Ra Đời:

Trung Hoa là một đất nước rộng lớn thuộc vùng Đông Á có hai con sông lớn (Hoàng Hà & Trường Giang) Cư dân phía Bắc Trường Giang là dân tộc Hán, có nguồn gốc Mông Cổ (Hoa/Hạ) sống du mục, (thích săn bắn, chinh phục) Cư dân phía Nam Trường Giang là các dân tộc Bách Việt, sống nông nghiệp (định canh, định cư) có nền văn hóa riêng nhưng dần dần bị dân tộc Hán đồng hóa Xã hội chia làm hai loại người (quân tử và tiểu nhân)…

Lịch sử Trung Hoa cổ đại đầy biến động, với các vương triều khác nhau đã để một nền văn hóa rực rỡ với nhiều trường phái triết học sâu sắc

1.1.2 Đặc Điểm:

• Nền triết học đồ sộ nhưng tập trung giải quyết các vấn đề do thực tiễn đạo đức, chính trị, xã hội của thời đại đặt ra

Trang 2

• Xuất phát từ quan hệ giữa Thiên – Địa – Nhân mà chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm xung đột nhau xung quanh vấn đề cội nguồn, số phận, bản tính, của con người; nhằm xây dựng một quan niệm nhân sinh vững chắc, giúp con người vươn lên trong điều kiện xã hội đầy phức tạp và biến động

• Các trường phái triết học khác nhau, vừa phê phán xung đột, vừa hấp thụ

tư tưởng của nhau để bổ sung, hoàn chỉnh lý luận của chính mình và chịu ảnh hưởng tư tưởng biện chứng trong kinh dịch

1.2 TIẾN TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA NHO GIÁO

1.2.1 Lịch sử hình thành:

Khổng giáo (Nho giáo) là một giáo lý đạo đức cơ bản xuất xứ ở Trung Quốc vào thế kỷ thứ 5 và 6 trước công nguyên Dựa trên những cơ cấu đã phổ biến lâu đời trong xã hội Trung Quốc, chẳng hạn hệ thống gia tộc và sự thờ cúng ông bà, tổ tiên của nó, Khổng giáo đã trở thành hệ thống tư tưởng có ảnh hưởng lớn nhất Trung Quốc, cùng tồn tại với Lão giáo (đạo) và Phật giáo qua nhiều thế kỷ Người sáng lập ra nó đức Khổng Phu Tử (551-479 trước CN) một nhà cải cách chính trị cũng là một nhà giáo dục, ngài bất mãn với sự suy đồi đạo đức trong thời đại của mình và tìm cách khôi phục lại những giá trị mà ngài cho là những phong tục tốt đẹp của thời đại Hoàng Kim Những tư tưởng triết lý, đạo lý và tín ngưỡng đặt nền tảng cho một hệ thống đạo đức đã tồn tại qua nhiều thời gian thử thách Trãi qua hơn hai nghìn năm, tư tưởng Nho giáo ảnh hưởng đối với Trung Quốc không chỉ về chính trị, văn hóa mà còn thể hiện trong hành vi và phương thức tư duy của mỗi con người Trung Quốc Có học giả còn xem Nho giáo là tư tưởng tôn giáo của Trung Quốc Trong thực tế, Nho giáo là một trong rất nhiều trường phái thời cổ Trung Quốc, nó là tư tưởng triết học chứ không phải là tôn giáo và được coi là tư tưởng chính thống trong xã hội phong kiến hơn hai nghìn năm ở Trung Quốc và có ảnh hưởng tới một số nước ở Châu Á

1.2.2 Các giai đoạn phát triển của nho giáo:

Nho giáo nguyên thủy (tiền Tần/Khổng –Mạnh): Thời Xuân Thu, Khổng Tử đã san định, hiệu đính và giải thích bộ Lục kinh gồm có Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Lễ, Kinh Dịch, Kinh Xuân Thu và Kinh Nhạc Về sau Kinh Nhạc bị thất lạc nên chỉ còn năm bộ kinh thường được gọi là Ngũ kinh Sau khi Khổng Tử mất, học trò của ông tập hợp các lời dạy để soạn ra cuốn Luận ngữ Học trò xuất sắc nhất của - Khổng Tử là Tăng Sâm, còn gọi là Tăng Tử, dựa vào lời thầy mà soạn ra sách Đại học Sau đó, cháu nội của Khổng Tử là Khổng Cấp, còn gọi là Tử Tư viết ra cuốn Trung Dung Đến thời Chiến Quốc, Mạnh Tử đưa

ra các tư tưởng mà sau này học trò của ông chép thành sách Mạnh Tử Từ Khổng Tử đến Mạnh Tử hình thành nên Nho giáo nguyên thủy, còn gọi là Nho giáo tiền Tần (trước đời Tần), Khổng giáo hay "tư tưởng Khổng-Mạnh"

Từ đây mới hình thành hai khái niệm, Nho giáo và Nho gia Nho gia mang tính học thuật, nội dung của nó còn được gọi là Nho học; còn Nho giáo mang tính tôn giáo Ở Nho giáo, Văn Miếu trở thành thánh đường và Khổng Tử

Trang 3

trở thành giáo chủ, giáo lý chính là các tín điều mà các nhà Nho cần phải thực hành

Hán Nho: Đến đời Hán, Đại Học và Trung Dung được gộp vào Lễ Ký Hán Vũ Đế đưa Nho giáo lên hàng quốc giáo và dùng nó làm công cụ thống nhất đất nước về tư tưởng Và từ đây, Nho giáo trở thành hệ tư tưởng chính thống bảo vệ chế độ phong kiến Trung Hoa trong suốt hai ngàn năm Nho giáo thời kỳ này được gọi là Hán Nho Điểm khác biệt so với Nho giáo nguyên thủy là Hán Nho đề cao quyền lực của giai cấp thống trị, Thiên Tử là con trời, dùng

"lễ trị" để che đậy "pháp trị”

Tống Nho: Đến đời Tống, Đại Học, Trung Dung được tách ra khỏi Lễ Ký và cùng với Luận ngữ và Mạnh Tử tạo nên bộ Tứ Thư Tứ thư và ngũ kinh là kinh điển nho giáo Nho giáo thời kỳ nay được gọi là Tống nho, với các tên tuổi như Chu Hy (thường gọi là Chu Tử), Trình Hạo, Trình Di (Ở Việt Nam, thế kỷ thứ 16, Nguyễn Bỉnh Khiêm rất giỏi Nho học nên được gọi là "Trạng Trình") Phương Tây gọi Tống nho là "Tân Khổng giáo" Điểm khác biệt của Tống nho với Nho giáo trước đó là việc bổ sung các yếu tố "tâm linh" (lấy từ Phật giáo) và các yếu tố "siêu hình" (lấy từ Đạo giáo phục vụ cho việc đào tạo quan lại và cai trị)

Trang 4

CHƯƠNG 2: TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CỦA NHO GIÁO

2.1 CÁC TÁC PHẨM KINH ĐIỂN CỦA NHO GIÁO

Để hiểu được tư tưởng triết học của nho giáo lúc bấy giờ, cần điểm qua các tác phẩm kinh điển của Nho giáo gồm 02 (hai) bộ Ngũ Kinh và Tứ Thư Đây là hai bộ sách nổi tiếng mà hệ thống kinh điển đó hầu hết viết về xã hội, về những kinh nghiệm lịch sử Trung Hoa, ít viết về tự nhiên Điều này cho thấy rõ

xu hướng biện luận về xã hội, về chính trị, về đạo đức là những tư tưởng cốt lõi của Nho gia

2.1.1 Ngũ Kinh:

Giáo lý của Khổng Tử dựa trên sáu quyển sách cổ: Dịch, Thư, Thi, Lễ, Nhạc Và Xuân Thu Bốn trong sáu quyển này được đề cao với từ “Kinh”- Kinh Dịch, Kinh Thư, Kinh Thi, Nhạc Kinh vào thế kỷ thứ 2 trước CN, do bởi sách nhạc mất đi, năm cuốn còn lại được đặt tên là Ngũ Kinh

Kinh Thi là người bạn đồng hành của ngài Chắc hẳn ông ta đã thuộc lòng nó và hát nó Ngài đề cập hoặc trích dẫn nó khoảng 20 lần trong Luận Ngữ Kinh thi có 305 bài hát, bao gồm các bài hát ca tụng triều đại được hát ở triều đình nhà Chu và những bài dân ca khác biệt với những phần của đế chế nhà Chu Theo truyền thống, nhà vua phái các quan lại đi khắp nơi để thu thập các bài dân ca để ông ta có thể tìm hiểu về những gì người dân nghĩ suy nơi sự cai trị của mình

Khổng Tử giới thiệu Kinh Thi cho các môn sinh của ngài với một vài lý

do Đầu tiên giúp cho họ hiểu được các phong tục, tập quán quốc gia khác nhau Thứ hai, giúp cho họ sống hòa thuận với người khác Thứ ba, nó là phương tiện hòa giải tình cảm của họ Cuối cùng, nó sẽ đưa họ đến với muôn thú và cỏ cây

Về “Kinh Thư” là sách ghi lại các truyền thuyết, biến cố về các đời vua cổ có trước Khổng Tử Khổng Tử san định lại để các ông vua đời sau nên theo gương các minh quân như Nghiêu, Thuấn chứ đừng tàn bạo như Kiệt, Trụ

“Kinh Dịch” là một cẩm nang về sự tiên đoán có từ đời nhà Chu và sau đó được các nhà uyên bác của đạo Khổng mở rộng Bằng cách vận dụng các cây que bằng cọng cỏ thì có thể tạo ra 64 ngôi sao sáu cánh, liên kết tất cả các cấu trúc này và biến đổi thành vũ trụ

Không còn cuốn sách “Lễ” nào tồn tại vào thời Khổng Tử Tuy vậy, cuốn Lễ ký chứa đựng các tư liệu vào đầu thời kỳ nhà Chu nhưng thực tế nó được biên soạn sau này, đưa ra tình huống cổ điển Cuốn sách này quan trọng của Lễ Nghi cũng như tạo cho nó có sự phù hợp với thời thế Ví dụ, khi một người trị vì qua đời, các quan lại và hầu thiếp đều bị chôn theo để linh hồn họ tiếp tục đi theo hầu hạ Sách lễ đã phản đối việc đó bằng cách dùng hàng mã thay thế, vừa đáp ứng cho mục tế lễ, vừa thể hiện tình cảm người sống dành cho người chết

“Kinh Xuân Thu” ghi lại các biến cố xảy ra ở nước Lỗ, quê của Khổng Tử Khổng Tử không chỉ ghi chép như một sử gia mà theo đuổi mục đích trị nước nên ông chọn lọc các sự kiện, ghi kèm các lời bình, sáng tác thêm lời

Trang 5

thoại để giáo dục các bậc vua chúa Đây là cuốn kinh Khổng Tử tâm đắc nhất (Xuân thu có nghĩa là mùa xuân và mùa thu, ý nói những sự việc xảy ra)

2.1.2 Tứ Thư

Là bốn quyển sách kinh điển của văn học Trung Hoa được Chu Hy thời nhà Tống lựa chọn làm nền tảng cho triết học Trung Hoa và Khổng giáo Chúng bao gồm: Đại Học, Trung Dung, Luận ngữ, Mạnh Tử

“Đại học” là sách dùng để dạy cho học trò từ 15 tuổi trở lên, khi bước vào bậc đại học, dạy cho biết cách xử sự ở đời để lớn lên ra gánh vác việc nước Theo các Nho gia, sách Đại Học do Tăng Tử làm ra để diễn giải các lời nói của Khổng Tử

Mục đích và tôn chỉ của sách này là nói về đạo quân tử, trước hết phải sửa cái đức của mình cho sáng tỏ để mọi người noi theo, làm sao cho đến chổ chí thiện Muốn được vậy, phải sử dụng Bát điều mục (tám điều): cánh vật, trí tri, thành ý, chính tâm, tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ Cái gốc của đạo quân tử là sự “tu thân” Cho nên trong sách Đại học có câu : “Tự thiên tữ dĩ chí ư thứ nhân, nhứt thị giai dĩ tu thân vi bổn” (Nghĩa là : “từ vua cho đến thường dân, ai

ai cũng đều lấy sự sửa của mình làm gốc”)

“Trung Dung” là sách Trung Dung do Tử Tư làm ra Tử Tư là học trò của Tăng Tử, cháu nội của Khổng Tử, thọ được cái học tâm truyền của Tăng Tử

Trang 6

Trong sách Trung Dung, Tử Tư dẫn những lời của Không Tử nói về đạo “trung dung”, tức là nói về cách giữ cho ý nghĩ và việc làm luôn luôn ở mức trung hòa, không thái quá, không bất cập và phải cố gắng ở đời theo nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, cho thành người quân tử, để cuối cùng thành thánh nhân

Cả hai quyển sách Đại Học và Trung Dung trước đây là những thiên trong Kinh Lễ, sau các Nho gia đời Tống tách riêng ra làm hai quyển để hợp với sách Luận Ngữ và Mạnh Tử thành bộ Tứ Thư

“Luận Ngữ” là sách sưu tập ghi chép lại những lời dạy của Không Tử và những lời nói của người đương thời Sách Luận Ngữ gồm 20 thiên, mỗi thiên đều lấy chữ đầu mà đặt tên, và các thiên không có liên hệ với nhau Đọc sách này, người ta hiểu được phẩm chất tư cách và tính tình của Khổng Tử, nhất là về giáo dục, ông tỏ ra là người thấu hiểu tâm lý của từng học trò, khéo đem lời giảng dạy thích hợp với từng trình độ, từng hoàn cảnh của mỗi người Như có khi cùng một câu hỏi mà ông trả lời cho mỗi người mỗi cách

Luận Ngữ dạy đạo quân tử một cách thực tiễn, miêu tả tính tình đức độ của Khổng Tử để làm mẫu mực cho người đời sau noi theo

“Mạnh Tử” Sách Mạnh Tử là bộ sách làm ra bởi Mạnh Tử và các môn đệ của ông như : Nhạc Chính Khắc, Công Tôn Sửu, Vạn Chương… ghi chép lại những điều đối đáp của Mạnh Tử với các vua chư hầu, giữa Mạnh Tử và các học trò cùng với những lời phê bình của Mạnh Tử về các học thuyết khác như : học thuyết của Mặc Tử, Dương Chu Sách Mạnh Tử gồm 7 thiên, chia làm 2 phần: tâm học và chính trị học

Tâm học: Mạnh Tử cho rằng mỗi người đều có tính thiện do Trời phú cho Sự giáo dục phải lấy tính thiện đó làm cơ bản, giữ cho nó không mờ tối, trau dồi nó để phát triển thành người lương thiện Tâm là cái thần minh của Trời ban cho người Như vậy, tâm của ta với tâm của Trời đều cùng một thể Học là để giữ cái Tâm, nuôi cái Tính, biết rõ lẽ Trời mà theo chính mệnh Nhân và nghĩa vốn có sẳn trong lương tâm của người Chỉ vì ta đắm đuối vào vòng vật dục nên lương tâm bị mờ tối, thành ra bỏ mất nhân nghĩa Mạnh Tử đề cập đến khí Hạo nhiên, cho rằng nó là cái tinh thần của người đã hợp nhất với Trời

Trang 7

Chính trị học : Mạnh Tử chủ trương: Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh Đây là một tư tưởng rất mới và rất táo bạo trong thời quân chủ chuyên chế đang thịnh hành Mạnh Tử nhìn nhận chế độ quân chủ, nhưng vua không có quyền lấy dân làm của riêng cho mình Phải duy dân và vì dân Muốn vậy, phải có luật pháp công bằng, dẫu vua quan cũng không được vượt ra ngoài pháp luật đó Người trị dân, trị nước phải chăm lo việc dân việc nước, làm cho đời sống của dân được sung túc, phải lo giáo dục dân để hiểu rõ luật pháp mà tuân theo, lấy nhân nghĩa làm cơ bản để thi hành Chủ trương về chính trị của Mạnh Tử vô cùng mới mẽ và táo bạo, nhưng rất hợp lý, làm cho những người chủ trương quân chủ thời đó không thể nào bắt bẻ được Có thể đây là lý thuyết khởi đầu để hình thành chế độ quân chủ lập hiến sau này

2.2 TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CỦA NHO GIÁO

2.2.1 Tư tưởng triết học của Nho giáo nguyên thủy:

Là triết lý của Khổng Tử và Mạnh Tử về Đạo làm người quân tử và cách thức trở thành người quân tử, cách cai trị đất nước Nó được trình bày trong một hệ thống các tư tưởng về đạo đức – chính trị - xã hội có quan hệ chặt chẽ với nhau

Nho gia nguyên thủy cho rằng, nền tảng của xã hội, cơ sở của gia đình không phải là những quan hệ kinh tế xã hội mà là những quan hệ đạo đức -chính trị tam cương là ba quan hệ vua –tôi, cha – con, chồng – vợ Các quan hệ này được Nho Gia gọi là Đạo Khi các quan hệ này chính danh, nghĩa là: vua ra vua, tôi ra tôi; cha ra cha, con ra con; chồng ra chồng, vợ ra vợ ; thì xã hội ổn định, gia đình yên vui; và ngược lại Xã hội thời Xuân Thu – Chiến Quốc loạn lạc, luân thường đạo lý suy đồi, kỹ cương phép nước lỏng lẽo là do ba quan hệ này rối loạn, do danh – thực oán trách nhau, nghĩa là vua chẳng ra vua, tôi chẳng ra tôi; cha chẳng ra cha, con chẳng ra con; chồng chẳng ra chồng, vợ chẳng ra vợ Vì vậy muốn cải loạn thành trị, muốn thực hiện xã hội đại đồng thì phải chấn chỉnh lại ba quan hệ đó và Nho gia nguyên thủy đã lấy giáo dục đạo đức làm cứu cánh

Bên cạnh việc giáo dục để xây dựng một xã hội đại đồng, Khổng Tử và Mạnh Tử còn tìm chỗ dựa vững chắc cho lý luận đạo đức của mình qua thuyết Thiên Mệnh Xuất phát từ vũ trụ quan của kinh Dịch, Khổng Tử cho rằng, vạn vật không ngừng biến hóa theo một trật tự không gì cưỡng lại được, mà nền tảng tận cùng là Thiên Mệnh và hiểu biết được Thiên mệnh là điều kiện tiên quyết để trở thành người hoàn thiện

Dựa trên thuyết Thiên mệnh, Khổng Tử cho rằng: “ thiên mệnh chi vị tính, xuất tính chi vị đạo, tu đạo chi vị giáo, và tính tương cận, tập tương viễn Điều này có nghĩa là: con người có tính người, tính người do trời phú, sự phú cái tính ấy về cơ bản là đồng đều ở mỗi con người Nhưng trong cuộc sống,do điều kiện, hoàn cảnh, môi trường khác nhau, do những tập quán, tập tục không giống nhau mà người này khác xa người kia Vậy, tập là nguyên nhân làm biến tính con người, mất đi bản tính trời phú, làm cho con người vô đạo, thiên hạ vô đạo Vì vậy, muốn giữ được tính người phải lập đạo, làm cho thiên hạ hữu đạo

Trang 8

Đạo phải đi cùng với giáo mới sâu sắc, vững bền Hữu đạo là thể hiện mối quan hệ giữa người với người, giữa người với trời đất – vạn vật một cách đúng đắn phù hợp với Thiên mệnh Khổng Tử cho rằng, nếu lập đạo của trời, nói về

âm dương, nếu lập đạo của đất thì nói về cương nhu, còn lập đạo của người thì nói đến nhân nghĩa Quan niệm về nhân nghĩa là quan niệm trung tâm của đạo đức nho gia nguyên thủy Chúng hợp với các quan niệm khác tạo thành hệ thống phạm trù đạo đức của phái này: nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, dũng

• Quan niệm về Nhân:

- Theo Khổng Tử: nhân là lòng thương người (ái nhân) Muốn thực hiện đạo làm người tức muốn thực hiện đức nhân cần phải: điều gì mà mình không muốn thì cũng đừng đem áp dụng cho người khác; mình muốn lập thân thì cũng giúp người khác lập thân, mình muốn thành đạt thì cũng giúp người khác thành đạt; khống chế mình theo đúng lễ…người có đức nhân thì bên ngoài xã hội luôn cung, khoan, tín mẫn, huệ (cung kính, khoan hòa, tín nhiệm, nhạy bén, rộng rãi)…, bên trong gia đình luôn hiếu, đễ (hiếu thảo, nhường nhịn)…

- Quan niệm về nhân của Khổng Tử có nội dung giai cấp, Ông cho rằng chỉ có người quân tử, kẻ cai trị mới có được đức nhân

• Quan niệm về nghĩa:

- Theo Nho gia, nếu nhân là lòng thương người, đức nhân dùng để đối xử với người và tạo ra người, thì nghĩa là dạ thủy chung, đức nghĩa dùng để đối xử chính và tạo ra ta Đức nhân thể hiện trong mối quan hệ với người thì đức nghĩa thể hiện trong mối quan hệ với mình Khi làm việc gì hoặc nói điều gì ta thấy tâm thảnh thơi, thoải mái và hứng thú thì đó là làm điều nghĩa và nói điều nghĩa Vậy, nghĩa được hiểu là những gì hợp đạo lý mà con người phải làm bất kể điều đó có đem đến lợi ích cho người thực hiện việc đó hay không

- Song, do hạn chế bởi lập trường giai cấp mà khổng Tử cho rằng, bậc quân tử tin tường việc nghĩa, kẻ tiểu nhân rành rẽ việc lợi Tiểu nhân và quân tử là hai loại người đối lập nhau không phải chủ yếu về địa vị xã hội mà chủ yếu là phẩm chất đạo đức

• Quan niệm về Lễ:

- Để đạt được nhân, lập lại trật tự, khôi phục lại kỷ cương cho xã hội Khổng Tử chủ trương phải dùng lễ lễ xác định được vị trí, vai trò của từng người, phân định trật tự, kỷ cương trong gia đình và ngoài xã hội; loại trừ những tật xấu và tạo ra những phẩm chất cá nhân mà xã hội đòi hỏi

- Theo Khổng Tử lễ được hiểu ở hai khía cạnh Thứ nhất, lễ được hiểu là lễ giáo phong kiến như những phong tục, tập quán; những qui tắc, qui định về trật tự xã hội; thể chế, pháp luật nhà nước như: sinh, tử, tang, hôn, tế lễ, luật lệ, hình pháp…; thứ hai, lễ được hiểu là luân lý đạo đức như ý thức, thái độ, hành vi ứng xử, nếp sống của mỗi con người trong cộng đồng xã hội trước lễ nghi, trật tự, kỹ cương phong kiến

- Nhân và lễ có mối quan hệ mật thiết với nhau Khổng tử cho rằng trên đời này không tồn tại người có nhân mà vô lễ

Ngoài Nhân, Lễ, Nghĩa, Nho gia còn nói đến trí là sự sáng suốt để nhận thức mọi vấn đề, hiểu đạo trời, hiểu đạo người, hiểu cả thiên hạ và biết sống

Trang 9

với nhân; tín tức là nói đến lòng ngay, dạ thẳng, lời nói và việc làm nhất trí với nhau

Nếu Khổng Tử chú trọng đến Tam Đức (nhân, trí, dũng) thì Mạnh Tử xem Tứ Đức (nhân, lễ, nghĩa, trí) là những chuẩn mực đạo đức hoàn thiện hơn Dựa vào thuyết Thiên Mệnh Người cho rằng: “ nhân chi sỏ, tính bản thiện” – con người sinh ra đã có sẳn tính thiện trong người, do người có nhân, lễ, nghĩa

& trí Tâm là cội nguồn tính thiện trong con người Vì vậy, con người phải trường kỳ tâm dưỡng kỳ tính nghĩa là giữ gìn cái tâm thiện ấy Mặc dù vậy, trong cuộc sống vẫn tồn tại cái ác mê hoặc lòng người, làm đảo điên trật tự, kỹ cương của xã hội Để giữ được trật tự kỹ cương phải thực hành đường lối nhân nghĩa

Tất cả những điều nêu trên là nguyên tắc cơ bản của đạo đức Nho giáo mà người quân tử phải biết tu thân để đạt đạo Người quân tử phải đạt được chín điều: nhìn cho minh bạch, nghe cho rõ ràng, sắc mặt phải ôn hòa, tướng mạo phải trang nghiêm, khi tức giận phải nghĩ hậu quả, nói năng trung thận, làm việc phải trọng tín cẩn, nghi hoặc phải hỏi han, khi thấy lợi phải nghĩ đến nghĩa Đó là những chuẩn mực xây dựng nên mẫu người quân tử trong xã hội Không riêng bậc quân tử mới biết tu thân, đạt đạo và hành đạo để trở thành mẫu người chuẩn mực Quan niệm về người phụ nữ trong tư tưởng Nho giáo ràng buộc bởi Tam tòng, Tứ đức

“Tam Tòng” là ba điều người phụ nữ phải theo, gồm: ”tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử” Nghĩa là người phụ nữ khi còn ở nhà phải theo cha,lúc lấy chồng phải theo chồng, chồng mất phải theo con

“Tứ Đức” muốn nói đến bốn tính nết tốt mà người phụ nữ phải có, gồm: công, dung, ngôn, hạnh Người phụ nữ phải khéo léo trong việc làm, hòa nhã trong sắc diện, mềm mại trong lời nói và nhu mì trong tính nết

Như vậy, Khổng Tử và Mạnh Tử đều nhất trí coi chuẩn mực đạo đức là tiêu chuẩn của người quân tử, muốn trở thành người quân tử phải biết tu thân Để tu thân cần phải đạt đạo, đạo chính là con đường phải theo, là quan hệ mà con người phải biết ứng xử trong cuộc sống Đó chính là đạo quân – thần, phụ -tử, phu – phụ Bên cạnh đó còn phải đạo đức là những phẩm chất tốt đẹp mà con người thể hiện trong cuộc sống Người quân tử còn phải biết: thi, thư, lễ, nhạc

Tóm lại, xuyên suốt quan điểm đạo đức – chính trị - xã hội của Khổng Mạnh là xây dựng mẫu người quân tử Người quân tử phải biết tam cương, ngũ thường, tam tòng, tứ đức nghĩa là phải biết tu thân và không chỉ có tu thân mà còn phải biết hành động tề gia, trị quốc, bình thiên hạ Muốn hành động hiệu quả phải thực hành đường lối nhân trị - cai trị bằng tình người, yêu thương và xem như bản thân mình; và chính danh

Nho giáo nguyên thủy đã khát khao biến xã hội từ loạn thành trị Điều này toát lên tính nhân bản sâu sắc Nó đòi hỏi người cai trị - người quân tử là người có vốn văn hóa toàn diện Nho giáo nguyên thủy xây dựng xã hội đại đồng không dựa trên nền tảng kinh tế - xã hội, không xuất phát từ nền sản xuất vật chất mà chủ yếu dựa trên mối quan hệ đạo đức – chính trị - xã hội thông qua việc rèn luyện, giáo dục nhân cách cá nhân cho tầng lớp thống trị Dùng tâm, đạo, dùng nhân, nghĩa để thu phục lòng người, để trị quốc, an dân

Trang 10

Mặc dù nó mãi là lý tưởng chính trị cao đẹp của tầng lớp phong kiến thống trị xã hội Trung Quốc nhưng Nho giáo nguyên thủy Khổng – Mạnh toát lên giá trị nhân bản và tinh thần biện chứng sâu sắc

2.2.2 Tư tưởng triết học của Nho giáo thể hiện qua quan niệm về Đạo Đức:

Trong Nho giáo rất chú trọng dạy đạo làm người Phải nói đạo làm người của Khổng Tử dạy là đạo làm người trong xã hội phong kiến Chúng ta đều biết trong xã hội có giai cấp thì những nguyên tắc để đánh giá hành vi của con người, phẩm hạnh của con người trong mối quan hệ với người khác và trong mối quan hệ với nhà nước, Tổ quốc đều mang tính giai cấp rõ rệt và có tính chất lịch sử

Những quan niệm về đạo đức điều thiện, điều ác “thay đổi rất nhiều từ dân tộc này tới dân tộc khác, từ thời đại này đến thời đại khác đến nỗi thường thường trái ngược hẳn nhau” (Enghen) Những quan niệm đạo đức mà Khổng Tử đề ra không phải là vĩnh cửu, nhưng có nhiều phương châm xử thế, tiếp vật đã giúp ông sống giữa bầy lang sói mà vẫn giữ được tâm hồn cao thượng, nhân cách trong sáng Suy đến cùng đạo làm người ấy bao gồm 2 chữ nhân nghĩa Khổng Tử giảng chữ Nhân cho học trò không lúc nào giống lúc nào, nhưng xét cho kỹ, cốt tuỷ của chữ Nhân là lòng thương người và cũng chính là Khổng Tử nói “đối với người như đối với mình, không thi hành với người những điều mà bản thân không muốn ai thi hành với mình cả Hơn nữa cái mình muốn lập cho mình thì phải lập cho người, cái gì mình muốn đạt tới thì cũng phải làm cho đạt tới, phải giúp cho người trở thành tốt hơn mà không làm cho người xấu đi” (luận ngữ) “Nghĩa” là lẽ phải, đường hay, việc đúng

Mạnh Tử nói “nhân là lòng người, nghĩa là đường đi của người”; (Cáo Tử thượng) “Nhân là cái nhà của người, nghĩa là đường đi ngay thẳng của người” (Lâu ly thượng); “ở với đạo nhân, nói theo đường nghĩa, tất cả mọi việc của đại nhân là thế đó” (Tồn Tâm Thương)

Nghĩa thường đối lập với lợi Theo lợi có khi không làm cái việc phải làm nhưng trái lại, theo nghĩa có khi lại rất lợi Có cái nghĩa đối với người xung quanh có cái nghĩa đối với quốc gia xã hội Đến đời Hán Nho, Đổng Trọng Thư đưa nhân nghĩa vào ngũ thường Tam cương ngũ thường trở thành giềng mối trụ cột của lễ giáo phong kiến Sang Tống nho, hai chữ nhân nghĩa càng bị trừu tượng hoá Các nhà Tống nho căn cứ vào thuyết “thiện nhân hợp nhất” khoác cho hai chữ “nhân nghĩa” một màu sắc thần lá siêu hình Trời có “lý” người có

“tính” bẩm thụ ở trời Đức của trời có 4 điều: nguyên, hạnh, lợi, trinh; đức của người có nhân, nghĩa, lễ trí Bốn đức của người tương cảm với 4 đức của trời Hệ thống hoá lại một cách tóm tắt hai chữ “nhân nghĩa” ở một số thời điểm phát triển của Nho giáo như trên, ta có thể kết luận hai chữ “nhân nghĩa” của Nho giáo là khái niệm thuộc phạm trù đạo lý, nội dung từng thời kỳ có thêm bớt những căn bản vẫn là những lễ giáo phong kiến không ngoài mục đích duy nhất là ràng buộc con người vào khuôn khổ pháp lý Nho giáo phục vụ quyền lợi của giai cấp phong kiến Trong quá trình phát triển càng ngày nó càng bị trừu tượng hoá trên quan điểm siêu hình Tuy nhiên quan niệm đạo đức của Nho giáo quả là có rất nhiều điểm tích cực Một trong những đặc điểm đó là đặt rõ vấn đề người quân tử, tức là người lãnh đạo chính trị phải có đạo đức

Ngày đăng: 04/09/2019, 16:28

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w