1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận Triết học: về vấn đề Nho giáo và ảnh hưởng VN

38 103 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 38
Dung lượng 62,86 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC VỀ VẤN ĐỀ NHO GIÁO NHO GIÁO VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆT NAM LỜI DẪN: Nho giáo, còn gọi là đạo Nho hay đạo Khổng là một hệ thống đạo đức, triết học xã hội, triết lý giáo dục và triết học chính trị do Khổng Tử đề xướng và được các môn đồ của ông phát triển với mục đích xây dựng một xã hội hài hòa1, thái bình, thịnh vượng Nho giáo rất có ảnh hưởng tại ở các nước châu Á là Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Triều Tiên, Hàn Quốc và Việt Nam. Những người thực hành theo các tín điều của Nho giáo được gọi là các nhà Nho, Nho sĩ hay Nho sinh. Nho giáo được xem là hệ tư tưởng có ảnh hưởng sâu rộng và lâu dài đến xã hội Việt Nam, là nền tảng đạo đức xã hội, đóng góp to lớn vào việc tổ chức nhà nước, duy trì trật tự xã hội, phát triển kinh tế, sáng tác văn học trong các triều đại quân chủ như Nhà Lý, Nhà Trần, Nhà Lê, Nhà Nguyễn, trong suốt chiều dài lịch sử1. Nho giáo có nguồn gốc Trung Quốc nhưng phù hợp và dung hòa với đời sống người Việt2. Nho giáo từng bước giúp hình thành nên lối sống, sinh hoạt, đạo đức, cách đối nhân xử thế trong xã hội Việt Nam1. Ảnh hưởng của Nho giáo đối với Việt Nam sâu sắc, là nền tảng của nền văn minh tại Việt Nam khiến Việt Nam được xếp vào các nước chịu ảnh hưởng của nền Văn minh Trung Hoa gọi là Vùng văn hóa Đông Á. Lịch sử Nho giáo LỜI DẪN: Nho giáo, còn gọi là đạo Nho hay đạo Khổng là một hệ thống đạo đức, triết học xã hội, triết lý giáo dục và triết học chính trị do Khổng Tử đề xướng và được các môn đồ của ông phát triển với mục đích xây dựng một xã hội hài hòa, thái bình, thịnh vượng Nho giáo rất có ảnh hưởng tại ở các nước châu Á là Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Triều Tiên, Hàn Quốc và Việt Nam. Những người thực hành theo các tín điều của Nho giáo được gọi là các nhà Nho, Nho sĩ hay Nho sinh. Nho giáo được xem là hệ tư tưởng có ảnh hưởng sâu rộng và lâu dài đến xã hội Việt Nam, là nền tảng đạo đức xã hội, đóng góp to lớn vào việc tổ chức nhà nước, duy trì trật tự xã hội, phát triển kinh tế, sáng tác văn học trong các triều đại quân chủ như Nhà Lý, Nhà Trần, Nhà Lê, Nhà Nguyễn, trong suốt chiều dài lịch sử . Nho giáo có nguồn gốc Trung Quốc nhưng phù hợp và dung hòa với đời sống người Việt .Nho giáo từng bước giúp hình thành nên lối sống, sinh hoạt, đạo đức, cách đối nhân xử thế trong xã hội Việt Nam1. Ảnh hưởng của Nho giáo đối với Việt Nam sâu sắc, là nền tảng của nền văn minh tại Việt Nam khiến Việt Nam được xếp vào các nước chịu ảnh hưởng của nền Văn minh Trung Hoa gọi là Vùng văn hóa Đông Á. LỊCH SỬ NHO GIÁO Thời Bắc Thuộc Đã có một số bằng chứng cho thấy Nho giáo được truyền vào thế kỷ 1 TCN khi ở Trung Quốc nhà Tây Hán đã đánh bại tập đoàn phong kiến họ Triệu và giành lấy quyền thống trị và cho lập 3 quận tại Bắc Bộ, tuy nhiên tầm ảnh hưởng Nho giáo còn rất hạn chế. Việc phổ biến Nho giáo được nhà Tây Hán xem là hành động giáo hóa, khai minh cho các bộ tộc man rợ bị chinh phục. Nho giáo được du nhập vào Việt Nam song song với chữ Hán dần Hán hóa ngôn ngữ của người Việt làm nền tảng cho việc tiếp thu những tri thức về xã hội và tự nhiên, văn học, sử học, triết học, thiên văn học và y học từ người Trung Hoa cổ đại Thời quân chủ Đến thế kỷ X, sau chiến thắng Bạch Đằng của Ngô Quyền, khi người Việt bước sang kỷ nguyên độc lập, tự chủ và bắt đầu xây dựng nền văn minh Đại Việt trong khuôn khổ của

Trang 1

TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC

VỀ VẤN ĐỀ NHO GIÁO

NHO GIÁO VÀ VIỆT NAM

Trang 2

LỜI DẪN:

Nho giáo, còn gọi là đạo Nho hay đạo Khổng là một hệ thống đạo đức, triết học xã

hội, triết lý giáo dục và triết học chính trị do Khổng Tử đề xướng và được các môn đồcủa ông phát triển với mục đích xây dựng một xã hội hài hòa[1], thái bình, thịnh vượngNho giáo rất có ảnh hưởng tại ở các nước châu Á là Trung Quốc, Đài Loan, NhậtBản, Triều Tiên, Hàn Quốc và Việt Nam Những người thực hành theo các tín điều của

Nho giáo được gọi là các nhà Nho, Nho sĩ hay Nho sinh.

Nho giáo được xem là hệ tư tưởng có ảnh hưởng sâu rộng và lâu dài đến xã hội Việt

Nam, là nền tảng đạo đức xã hội, đóng góp to lớn vào việc tổ chức nhà nước, duy trì trật

tự xã hội, phát triển kinh tế, sáng tác văn học trong các triều đại quân chủ như Nhà

Lý, Nhà Trần, Nhà Lê, Nhà Nguyễn, trong suốt chiều dài lịch sử[1] Nho giáo có nguồngốc Trung Quốc nhưng phù hợp và dung hòa với đời sống người Việt[2] Nho giáo từngbước giúp hình thành nên lối sống, sinh hoạt, đạo đức, cách đối nhân xử thế trong xã hộiViệt Nam[1] Ảnh hưởng của Nho giáo đối với Việt Nam sâu sắc, là nền tảng của nền vănminh tại Việt Nam khiến Việt Nam được xếp vào các nước chịu ảnh hưởng của nền Vănminh Trung Hoa gọi là Vùng văn hóa Đông Á

Lịch sử Nho giáo

Thời Bắc Thuộc

Đã có một số bằng chứng cho thấy Nho giáo được truyền vào thế kỷ 1 TCN khi ởTrung Quốc nhà Tây Hán đã đánh bại tập đoàn phong kiến họ Triệu và giành lấyquyền thống trị và cho lập 3 quận tại Bắc Bộ, tuy nhiên tầm ảnh hưởng Nho giáo cònrất hạn chế Việc phổ biến Nho giáo được nhà Tây Hán xem là hành động giáo hóa,khai minh cho các bộ tộc man rợ bị chinh phục Nho giáo được du nhập vào ViệtNam song song với chữ Hán dần Hán hóa ngôn ngữ của người Việt làm nền tảng choviệc tiếp thu những tri thức về xã hội và tự nhiên, văn học, sử học, triết học, thiên vănhọc và y học từ người Trung Hoa cổ đại

Thời quân chủ

Đến thế kỷ X, sau chiến thắng Bạch Đằng của Ngô Quyền, khi người Việt bước sang kỷnguyên độc lập, tự chủ và bắt đầu xây dựng nền văn minh Đại Việt trong khuôn khổ của

Trang 3

một nhà nước quân chủ tập quyền, thì xã hội Việt Nam lúc này mới đặt ra những yêu cầuđối với sự tồn tại và phát triển của Nho giáo ở Việt Nam, đầu tiên phải kể đến là muốnxây dựng nhà nước quân chủ tập quyền thì phải truyền bá Nho giáo đến người dân, nhằmcủng cố quyền lực trung ương, duy trì trật tự xã hội Tuy nhiên, ở các triều đại quân chủđầu tiên sau khi Việt Nam giành độc lập, Nho giáo vẫn chưa có vai trò đáng kể trong đờisống chính trị, tinh thần của xã hội Việt Nam.[5] Trước thế kỷ XI (thành lập Văn Miếu,Quốc Tử Giám) và có lẽ còn muộn hơn đến thế kỷ XIV, ảnh hưởng của Nho giáo còn mờnhạt Từ thời Nhà Hậu Lê, Nho giáo bắt đầu có ảnh hưởng lớn tại Việt Nam Nho giáođược du nhập vào Việt Nam khiến nhà nước được tổ chức theo tinh thần Nho giáo Quan

hệ vua tôi được chi phối bởi triết lý Nho giáo Xã hội cũng chịu ảnh hưởng của Nho giáonhư gia đình, dòng họ theo mô hình cửu tộc, tang tế theo lễ của Nho giáo, quan hệ làng

xã và nhà nước, tôn ti trật tự trong xã hội, chế độ quân điền được thực hiện Ngoài việc tếTrời, thờ cúng thần linh, thờ tổ tiên, người Việt còn thờ Khổng Tử và các bậc tiên hiềncủa Nho giáo Đáng chú ý là có những tín ngưỡng có từ trước nhưng do ảnh hưởng củaNho giáo đã biến đổi như thờ Trời bằng tế Nam Giao ; tế cha mẹ tổ tiên theo thứ bậc và

lễ tiết, nghi thức để tang và cúng dỗ, thần linh được sắp xếp, phá bỏ dâm từ phong sắccho thần linh Tín ngưỡng địa phương vẫn tồn tại dưới dạng nguyên thủy hoặc biến đổitrong sự dung hòa với các tôn giáo du nhập từ bên ngoài Nho giáo là học thuyết rất thực

tế, rất cận nhân tình Nho giáo không bàn luận đến quỷ thần và cuộc sống sau khi chết.Tuy Nho giáo nguyên thủy có khái niệm Thiên mệnh nhưng nó không nói đến Thượng

đế, không bàn luận đến các vấn đề siêu hình học cũng như không có quan niệm về ngàytận thế Nho giáo tác động đến xã hội trong việc tổ chức nhà nước, xã hội; chỉ đạo giáodục, khoa cử; từ đó củng cố luân lý, duy trì trật tự xã hội, làm chỗ dựa cho thể chế và tạo

ra hệ thống triết học làm nền tảng cho nền học thuật Nho giáo ảnh hưởng sâu trong tầnglớp trí thức, giúp tạo ra một tâm lý xem trọng việc học, trọng văn hoá, một tinh thần hiếuhọc, dầu nghèo khổ cũng đi học, cũng lo cho con cái đi học Nho giáo giáo dục con ngườinhân ái, trọng nghĩa, biết tự kìm chế, giữ gìn đạo đức Nho giáo tạo ra một giới tinh hoa

có nền tảng học vấn và đạo đức tốt, nắm vững nghệ thuật cai trị quốc gia Nói tóm lạiNho giáo giúp tạo ra một xã hội văn minh, trật tự, ổn định.[6]

Tuy nhiên người Việt không tiếp thu Nho giáo đến nơi đến chốn Về mặt học thuật không

có sự phát triển của kinh học, của cái học nghĩa lý.[6] Họ cũng không lĩnh hội được chiềusâu của Nho giáo Nho giáo Việt Nam là sự giản lược hóa Nho giáo Trung hoa Nó mangtính giáo điều, rập khuôn và thiếu sáng tạo Đặng Thai Mai nhận xét về điều này "Trong

phạm vi học thuật, các nhà Nho nước ta chưa hề gây dựng được những tác phẩm vĩ đại, hoặc góp được công phu độc đáo vào trong tư tưởng thế giới Vì rằng chỉ suy nghĩ bằng khuôn sáo tư tưởng văn chương nước ngoài thì làm thế nào mà sáng tác được cho văn học quốc gia Các cụ già cụ non vẫn tán dương Khổng học, Hán học và Nho học, mà không biết gì là Nho là Khổng là Hán cả Một nhà Nho nước ta đã phê bình: những người vì từ chương mà nổi tiếng thì gọi là danh Nho, nhưng tìm cho được người hiểu biết cái thực học Nho giáo thì không có[7]" Nho giáo cũng chỉ mới gây được ảnh hưởng trongchính quyền, trong tầng lớp sĩ phu ở một số vùng văn minh nhất Hiện tượng này bắtnguồn từ trình độ phát triển của Việt Nam kém hơn Trung Quốc rất nhiều và khả năng

Trang 4

học hỏi hạn chế của người Việt.[6] Ngoài ra còn phải kể đến phương pháp giáo dục từchương của giới Nho sĩ Việt Nam hoàn toàn trái triết lý giáo dục mà Khổng Tử đềxướng Đào Duy Anh nói về điều này "Phương pháp giáo dục ở ta cẩu thả thô sơ Xong

mấy quyển sách sơ học thì thày đem ngay các sách Bắc sử và Ngũ kinh Tứ thư đại toàn

ra dạy Thày nhắm mắt mà giảng chữ nào nghĩa ấy, chỉ sợ sai mất nghĩa của Tống Nho ; trò cũng nhắm mắt học thuộc lòng để đến khi hành văn nhớ lại mà đặt để Phương pháp giáo huấn vụng về chật hẹp như thế là do một nguyên nhân khác là chế độ khoa cử Chế

độ ấy cốt xô đẩy sĩ tử trong nước vào đường cử nghiệp hư văn Học trò chỉ chăm học thuộc lòng một ít sách vở, và lo lựa lời cho khéo, gọt câu cho chỉnh, miễn là lời văn bóng bảy thì ý tứ là bã cặn của Tống Nho cũng không can gì Cái thói trọng từ chương, ưa hư văn đã thành thiên tính của dân tộc ta Với cách giáo dục ấy thì dù người thiên tư lỗi lạc cũng phải nhụt đi, huống gì người tư chất tầm thường, thực là một thứ giáo dục giết chết nhân cách[8]" Sự rập khuôn, giáo điều, hiểu biết không đến nơi đến chốn của giới Nho sĩthời quân chủ sẽ được truyền sang thời cộng hòa tạo ra những chính trị gia, những nhà lýluận chính trị, những người hoạt động học thuật đầy óc giáo điều, thiếu sáng tạo dokhông hiểu biết tường tận, không tiêu hóa nổi những thứ họ học được Nguyễn TrọngThuật nói về cái hại của việc học không đến nơi đến chốn như sau "Vô luận Tây học hay

Nho học, hễ theo học nó mà không thâm đắc được chỗ tinh thần, không suy diễn làm ra của riêng mình, không truyền thụ được cho đất nước, thì đều là hủ bại cả Mà cái hủ bại

ấy mới là hủ bại tày đình, hủ bại cho cả nòi giống[9]"

Nhà Lý

Năm 1070, nhà Lý cho xây dựng Văn Miếu Năm 1075 mở khoa thi Nho học đầu tiên với

tên gọi “Thi minh kinh bác học” và “Nho học tam trường”, chính thức khai sinh cho lịch

sử thi cử Nho giáo lâu dài ở Việt Nam Năm 1076, nhà Lý cho lập Quốc tử giám ngaygiữa kinh thành và “chọn quan viên văn chức, người nào biết chữ cho vào Quốc tử giám”

Từ đây, con em quý tộc họ Lý chính thức được đào tạo chủ yếu theo Nho giáo Cũng từđây, nền đại học Việt Nam được khai sinh Năm 1156, nhà Lý cho lập miếu riêng thờKhổng Tử (trước đó, Văn Miếu thờ chung cả Chu Công và Khổng Tử) Điều đó thể hiện

“khuynh hướng muốn dựng Nho giáo thành một giáo lý độc tôn, đem Khổng Tử từ bậc tử(thầy) như các Chư Tử lên bậc Thánh Khổng vậy” Với việc tổ chức khoa cử, nhà Lý đã

mở đầu cho lịch sử khoa cử Việt Nam kéo dài hơn 800 năm, qua đây tuyển chọn nhữngnhân tài cho bộ máy nhà nước, nêu cao vị trí Nho học, thúc đẩy việc truyền bá và pháttriển Nho học Tuy vậy, ở thời Lý, việc học tập và thi cử chưa được tổ chức thườngxuyên và chưa có quy chế rõ ràng.[5]

Kể từ thời Lý trở đi, sự phát triển tri thức khoa học và sáng tạo nghệ thuật của người Việt

đã có một bước tiến rõ rệt, biểu hiện trên các lĩnh vực lý luận chính trị và pháp quyền,văn học và sử học Nho giáo với tư cách một học thuyết chính trị - đạo đức từng bướcthâm nhập vào lĩnh vực tư tưởng văn hóa trong đời sống xã hội, tạo ra những tiền đề cầnthiết để tiếp tục phát triển mạnh mẽ dưới thời Trần và các thế kỷ sau Các văn bản cònlưu giữ được từ thời này cho thấy các bậc vua quan và nho sĩ dưới thời Lý sử dụng các

Trang 5

điển tích và khuôn mẫu theo quan niệm của Nho giáo, coi đó như là những bài học kinhnghiệm, những mực thước trong việc trị nước, yên dân để xây dựng một xã hội thái bình,thịnh trị Các phạm trù đạo đức của Nho giáo, như trung, hiếu, nhân, nghĩa đã được vậndụng vào lĩnh vực chính trị và ngày càng trở thành chuẩn mực đạo đức cho hành vi củacon người trong xã hội.[5]

Nhà Trần

Đến thời Trần, do yêu cầu cai trị quốc gia, yêu cầu tuyển lựa nhân tài để bổ dụng cho bộmáy nhà nước, giáo dục Nho học được đẩy mạnh, số người tiến thân bằng con đường cửnghiệp ngày càng nhiều hơn, giới Nho sĩ đông đảo hơn trước Từ giữa thế kỷ XIII, kếtcấu giai cấp lãnh đạo trong xã hội đã có sự thay đổi Nếu trước đây tầng lớp quản lý nhànước bao gồm quý tộc, công thần, quan liêu, cao tăng thì từ đây, kết cấu tầng lớp quản lýnhà nước bao gồm hai bộ phận rõ rệt: thành phần quý tộc nắm giữ những chức vụ caonhất trong triều và thành phần Nho sĩ đông đảo không phải là quý tộc đóng vai trò thừahành trong bộ máy quản lý nhà nước Thời Trần, Phật giáo phát triển khá thịnh, được nhànước suy tôn, chọn làm quốc giáo nhưng Phật giáo không phải là học thuyết chính trị.Dưới thời Trần, Phật giáo mang tính nhập thế, tích cực, nhưng toàn bộ hệ thống giáo lýcủa nó không có sự giải đáp thích đáng nào về các vấn đề có liên quan đến việc cai trịquốc gia và duy trì trật tự xã hội.[5] Vì quyền lực của nhà nước lúc đó nằm trong tay nhàvua, nên chữ "trung" của Nho giáo cần được tiếp thu để củng cố quyền lực của nhà vua.[4] Nho giáo là một học thuyết chính trị - đạo đức chủ trương xây dựng mối quan hệ hàihòa giữa người cai trị và dân chúng Đồng thời, nó còn đưa ra những chuẩn mực đạo đứccho hành vi ứng xử của con người, những yêu cầu đối với các mối quan hệ vua – tôi, cha– con, chồng – vợ, đối với việc tu thân, có tác dụng to lớn trong việc giúp các triều đạicủng cố nền cai trị, tập trung quyền lực vào chính quyền trung ương, ổn định trật tự xãhội mà Phật giáo và Đạo giáo không thể sánh kịp Về cơ bản, nhà Trần vẫn tôn chuộngđạo Phật nhưng để duy trì quyền lực, tổ chức quản lý xã hội, các triều đại này đã lựa chọnNho giáo

Khuynh hướng dung hoà tam giáo mà trước hết, là sự kết hợp giữa Phật và Nho đã đượcbiểu hiện khá rõ nét trong văn học Phật giáo thời Trần Chẳng hạn, trong bài tựa sáchThiền tông chỉ nam, Trần Thái Tông đã trình bày rõ mục đích của Phật và Thánh: “Đạo

Phật không chia Nam Bắc đều có thể tu mà tìm, tính người có trí ngu, cũng nhờ giác ngộ

mà thành đạt Vì vậy phương tiện dẫn dụ đám người mê muội, con đường tắt sáng tỏ lẽ

tử sinh ấy là đại giáo của đức Phật Đặt mực thước cho hậu thế, làm khuôn mẫu cho tương lai, ấy là trách nhiệm của Tiên Thánh vậy” Chính vì thế, dưới thời Trần, nhà cầm

quyền tuy theo Phật giáo, nhưng Nho giáo cũng ngày càng được trọng dụng và có điềukiện để mở rộng tầm ảnh hưởng Càng về sau, Phật giáo mất dần ảnh hưởng còn Nhogiáo, với ưu thế trong việc củng cố nhà nước quân chủ tập quyền và trật tự của xã hộiphong kiến đã dần vươn lên, phát triển khá mạnh mẽ Sự phát triển đó tuy chậm chạp,nhưng chắc chắn vì cùng với yêu cầu về tổ chức quản lý xã hội và tổ chức bộ máy hành

Trang 6

chính nhà nước, sự phát triển của Nho giáo còn gắn liền với nhu cầu phát triển văn hoá,giáo dục.[5]

Một năm sau khi nắm chính quyền, tức năm 1227, nhà Trần mở khoa thi Tam giáo Từ

đó, các khoa thi được tổ chức đều đặn và thường xuyên hơn Năm 1232, nhà Trần mởkhoa thi Thái học sinh (sau đổi thành Tiến sĩ) Từ năm 1246 về sau, tổ chức thi cử quy

củ, cứ 7 năm một kỳ Năm 1304, thi kẻ sĩ trong nước, có tất cả 44 người đỗ Thái học sinh

và lần đầu tiên, triều đình tôn vinh cả về mặt học vấn lẫn danh dự cho những thí sinh

trúng tuyển bằng việc cho "dẫn ba người đỗ đầu ra cửa Long Môn của Phượng Thành đi

du ngoạn đường phố ba ngày" Hệ thống giáo dục cũng phát triển, ngoài các trường do

nhà nước quản lý, như Quốc tử viện, Quốc học viện, Thái học, Nhất toát trai, Tư thiệnđường còn có các trường dân lập, như trường của Trần Ích Tắc, trường của Chu Văn

An Các loại trường này ngày càng mở rộng và thu hút được nhiều đối tượng từ các nơiđến học Năm 1236, nhà Trần đặt chức Thượng thư tri Quốc tử viện, đưa con em văn thần

và tụng thần (chức quan tư pháp) vào học Đến 1397, việc nhà vua xuống chiếu đặt họcquan, tổ chức việc học tập ở cấp châu huyện để hàng năm tiến cử những người ưu tú chotriều đình cho thấy sự phát triển về quy mô đào tạo của nền giáo dục Nho học thời Trần.Tuy vào đầu Trần, ảnh hưởng của Phật giáo vẫn chi phối mọi mặt sinh hoạt của xã hội,trong đó có giáo dục, thi cử, nhưng càng về cuối Trần, Nho giáo càng nâng cao vị thế củamình thông qua con đường học tập, khoa cử Nhà Trần còn cho lập Quốc học viện, đắptượng Khổng Tử, Chu Công và Mạnh Tử, vẽ tranh 72 người hiền để thờ, và còn "xuốngchiếu vời nho sĩ trong nước đến Quốc tử viện giảng tứ thư lục kinh” năm 1253, hay việcvua Trần Thánh Tông "xuống chiếu tìm người tài giỏi, đạo đức, thông hiểu kinh sách làm

tư nghiệp Quốc tử giám, tìm người có thể giảng bàn ý nghĩa của Tứ thư ngũ kinh sungvào hầu nơi vua đọc sách” vào năm 1272 Đặc biệt, vào năm 1304, nhà Trần còn quyđịnh nội dung thi Thái học sinh: "Về phép thi: trước thi ám tả thiên Y quốc và truyệnMục thiên tử để loại bớt Thứ đến kinh nghi, kinh nghĩa, đề thơ (tức thể cổ thi ngũ ngôntrường thiên) hỏi về "vương độ khoan mãnh ", theo luật "tài nan xạ trĩ ", về phú thì dùngthể 8 vần "đế đức hiếu sinh, hiệp vụ dân tâm " Kỳ thứ ba thi chế, chiếu, biểu Kỳ thứ t ưthi đối sách” Cuối Trần, khi Hồ Quý Ly lên nắm quyền bính, đã chú trọng phát triển giáodục Nho học Ông đã sửa đổi về thi cử cho phù hợp yêu cầu thực tế, như đưa môn tính vàviết vào thi Hương, khuyến khích việc dùng chữ Nôm, cho dịch kinh Thư ra chữ Nôm để

dễ học tập Có thể thấy, đến thời Trần, Nho học đã thực sự phát triển, chi phối giáo dục,khoa cử, tạo nên đội ngũ trí thức Nho sĩ đông đảo, thúc đẩy sự phát triển của học vấnnước nhà, tạo ra nền văn hóa mang dấu ấn Nho giáo.[5]

Cuối thế kỷ XIV, Nho giáo phát triển mạnh, chiếm ưu thế trong cung đình và đi sâu vàosinh hoạt tinh thần của Đại Việt trên nhiều mặt Giáo dục Nho học giữ vị trí chủ đạotrong nền giáo dục đất nước Tầng lớp Nho sĩ trở nên đông đảo và tích cực tham gia cáccông việc chính trị của đất nước, phấn đấu cho lý tưởng của Nho giáo, phát triển nhữngquan điểm về các mặt chính trị, xã hội, đạo đức, làm cho sinh hoạt tư tưởng và văn hóanước nhà khá náo nhiệt Bên cạnh đó, vào cuối đời Trần, xã hội Việt Nam bước vàokhủng hoảng, sự phát triển quá mức của đạo Phật đã gây ra những hậu quả xã hội nặng

Trang 7

nề, như tầng lớp quý tộc lợi dụng danh nghĩa tôn giáo ra sức xây chùa, đúc tượng; nhàchùa chiếm hữu nhiều ruộng đất, tiêu phí nhiều tiền của, tăng ni ngày một đông đến mứcchiếm quá nửa dân số Khi đó đã xuất hiện khuynh hướng công kích Phật giáo từ phía cácNho sĩ và ngày một trở nên mạnh mẽ, rầm rộ, phản ánh những mâu thuẫn vốn có trong xãhội giữa một bên là giới quý tộc (thân tộc của nhà vua) có thế lực, có sản nghiệp, cókhuynh hướng ủng hộ Phật giáo với một bên là ngoại tộc đi lên bằng tài năng trí tuệ LêVăn Hưu đã đứng trên lập trường của nhà Nho để lên án việc tiêu phí tiền của, sức lực

của nhân dân vào việc xây dựng chùa chiền, tháp và cho đó là "khơi vét máu mỡ của dân" Trương Hán Siêu thì tố cáo các nhà sư chiếm đoạt ruộng vườn, nhà cửa, ham mê

cảnh đẹp, coi sự phát triển quá mức của đạo Phật là nguyên nhân đã gây ra tác hại cho

sản xuất; rằng, “những nơi u nhã thanh kỳ trong nước, chùa chiền đã chiếm mất một nửa Bọn áo thâm, áo vàng đang tụ tập ở đấy, không cày mà ăn, không dệt mà mặc, những người thất phu, thất phụ thường bỏ cửa nhà, bỏ làng xóm lũ lượt quy theo” Không chỉ

phê phán những tệ nạn và những hậu quả tiêu cực do sự phát triển rầm rộ của Phật giáo,một số nhà Nho còn công kích cả giáo lý của nhà Phật Trong bài văn bia Chùa ThiệnPhúc, Lê Quát đã lên án nhà chùa lấy điều hoạ phúc để mê hoặc lòng người, làm chongười ta tin theo Trong bài ký Tháp Linh tế, Trương Hán Siêu đã mạt sát tín đồ đạo Phật

là yêu ma, gian tà, cho giáo lý Phật giáo chỉ mê hoặc chúng sinh Trong khi công kích,bài xích Phật giáo, các Nho sĩ nhà Trần cũng đề cao Nho giáo Tr ương Hán Siêu cho

rằng, “ngày nay thánh hiền muốn mở mang giáo hóa để sửa đổi phong tục đồi bại Dị đoan đáng phải truất bỏ, chính đạo phải được phục hưng Đã là kẻ sĩ đại phu, không phải đạo Nghiêu Thuấn không bày tỏ trước vua; không phải đạo Khổng – Mạnh không trước thuật" Đặc biệt, trong khi phê phán Phật giáo, Lê Văn Hưu còn đề cao Nho giáo

như là cơ sở lý luận cho mọi hoạt động chính trị của triều đình Vào cuối Trần, giới Nho

sĩ ngày càng có vị trí đáng kể trong xã hội và ngày càng có đủ uy lực để dám công khaiphản đối một số đặc quyền đặc lợi của quý tộc, mà còn công khai phản đối Phật giáo lúcPhật giáo còn là tôn giáo của nhà vua.[5]

Cuộc đấu tranh công kích Phật giáo vừa nhằm khẳng định địa vị cho Nho giáo trong đờisống văn hóa - tư tưởng, vừa được coi là cuộc đấu tranh triệt để để chuẩn bị về mặt lực l-ượng xã hội và tư tưởng cho tầng lớp Nho sĩ bước lên vũ đài chính trị; đồng thời báo hiệu

sự sa sút của Phật giáo không chỉ trong thực tế, mà còn trong lĩnh vực tư tưởng Từ đây,Phật giáo không còn giữ vị trí quan trọng trong lĩnh vực chính trị, tư tưởng như trướcnữa, mà Nho giáo dần tiến đến nắm giữ vị trí chủ đạo trong sinh hoạt tư tưởng tại ViệtNam.[5]

Trang 8

2.2Nho giáo Việt Nam từ thế kỷ thứ XV- đến thế kỷ thứ

XX 8 II TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CỦA NHO GIÁO 10

Trang 9

THẦN CỦA NGƯỜI VIỆT 17

1 Ảnh hưởng của Nho giáo đến xã hội Việt Nam thời kỳ trước cách mạng 17

Có thể nói văn minh Trung Hoa là một trong những cái nôi của văn minhnhân loại Bên cạnh những phát minh về khoa học, văn minh Trung Hoa còn

là nơi sản sinh ra nhiều học thuyết triết học, có ảnh hưởng lớn đến nền vănminh châu Á và thế giới

Trong số các học thuyết triết học đó phải kể đến trường phái triết họcNho giáo Nho giáo xuất hiện rất sớm, lúc đầu nó chỉ là những tư tưởng hoặctrí thức chuyên học văn chương và lục nghệ góp phần trị nước Đến thờiKhổng Tử đã hệ thống hoá những tư tưởng và tri thức trước đây thành họcthuyết, gọi là Nho học- Nho giáo hay “ Khổng học” – gắn với tên người sánglập ra nó

Kể từ lúc xuất hiện từ vài thế kỷ trước công nguyên cho đến thời nhà Hán

Trang 10

(Hán Vũ Đế đã loại bỏ hàng trăm trường phái triết học khác để ủng hộ KhổngTử), thực chất là biến nước Trung Hoa thành một nhà nước Khổng giáo, Nhogiáo đã chính thức trở thành hệ tư tưởng độc tôn và luôn giữ vị trí đó cho đếnngày cuối cùng của chế độ phong kiến Nho giáo rất phát triển ở các nướcchâu Á đó là Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên và Việt Nam Nét đặc thùcủa triết học Nho giáo là đi sâu giải quyết những vấn đề thực tiễn chính trị-đạo đức của xã hội với nội dung bao trùm là vấn đề con người, xây dựng conngười, xã hội lý tưởng và con đường trị nước, thông qua đức trị Ngay từ khiNho giáo xâm nhập vào

Việt Nam, nó đã thích nghi và phát triển mạnh mẽ, nó có ảnh hưởng rất lớn

đến xã hội Việt Nam, đề tài: “Tư tưởng triết học của Nho giáo và sự ảnh hưởng của nó đến đời sống văn hoá tinh thần của người Việt ”, được thực

hiện nhằm hiểu rõ hơn những ảnh hưởng sâu sắc của nó đến xã hội Việt Namxưa và nay

I SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA NHO GIÁO

1 Sự hình thành và phát triển của Nho giáo Trung Quốc

Khổng Tử là người sáng lập học thuyết Nho giáo ở Trung Quốc Hơn hai

2000 năm qua, tư tưởng Nho giáo ảnh hưởng đối với Trung Quốc không chỉ

về chính trị, văn hoá…mà còn thể hiện trong hành vi và phương thức tư duycủa mỗi người dân Trung Quốc, được xem như tư tưởng tôn giáo của TrungQuốc, là tư tưởng chính thống trong xã hội phong kiến hơn hai nghìn năm ởTrung Quốc và có sự ảnh hưởng tới một số nước châu Á (trong đó có ViệtNam), và đến nay sự ảnh hưởng này đã ra toàn thế giới, vì người Trung Quốc

Trang 11

sống khắp nơi trên thế giới Hiện nay đã có hơn 40 học viện Khổng Tử trêntoàn thế giới

Khổng Tử sống trong thời xuân thu, thời kỳ này thể chế quốc gia thốngnhất bị phá vỡ, sản sinh ra nhiều nước Chư hầu lớn nhỏ Khổng Tử sinh sốngtrong nước Lỗ là nước có nền văn hóa tương đối phát triển lúc đó Tại saohọc thuyết của Khổng Tử lại chiếm vị thế thống trị trong thời đại phong kiếnTrung

Quốc? Đây là vấn đề không dễ giải thích trong một vài câu Nói một cáchđơn giản là tư tưởng đẳng cấp nghiêm ngặt và tư tưởng chính trị của ông phùhợp với lợi ích của giai cấp thống trị, có lợi cho ổn định xã hội lúc bấy giờ,xúc tiến xã hội phát triển Khổng Tử nhấn mạnh qui phạm và trật tự luân lýnghiêm ngặt, cho rằng nếu làm trái với cấp trên hoặc trái với cha mẹ đều làtội nghiêm trọng Theo lý luận này, vương quân phải quản lý tốt đất nước,thường dân phải trung thành với vương quân Mỗi người đều có nhiều thânphận, có thể là con, có thể là cha, có thể là thần nhưng đều cần phải duy trìranh giới nghiêm khắc Như vậy nhà nước mới thái bình, nhân dân mới cócuộc sống yên ổn

Thời Xuân Thu, Khổng Tử đã san định, hiệu đính và giải thích bộ Lục

kinh gồm có Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Lễ, Kinh Dịch, Kinh Xuân Thu và Kinh Nhạc Về sau Kinh Nhạc bị thất lạc nên chỉ còn năm bộ kinh thường được gọi là Ngũ kinh Sau khi Khổng Tử mất, học trò của ông tập hợp các lời dạy để soạn ra cuốn Luận ngữ Học trò xuất sắc nhất của Khổng Tử là Tăng Sâm, còn gọi là Tăng Tử, dựa vào lời thầy mà soạn ra sách Đại học Sau đó, cháu nội của Khổng Tử là Khổng Cấp, còn gọi là Tử Tư viết ra cuốn Trung Dung Đến thời Chiến Quốc,

Mạnh Tử đưa ra các tư tưởng mà sau này học trò của ông chép thành sách Mạnh

Tử Thời kỳ này Nho giáo bị chia thành 8 phái, trong đó có phái của Tuân Tử

và phái của Mạnh Tử là mạnh nhất Tuân Tử (315- 230 TCN) phát triển Nho

Trang 12

giáo theo xu hướng duy vật, còn Mạnh Tử (372-298 TCN) phát triển Nho giáotheo hướng duy tâm Họ bất đồng nhau trong việc lý giải bản tính con người.Tuy nhiên, Mạnh Tử đã có nhiều đóng góp đáng kể cho sự phát triển của Nho

giáo nguyên thuỷ Từ Khổng Tử đến Mạnh Tử hình thành nên Nho giáo nguyên thủy, còn gọi là Nho giáo Tiên Tần (trước đời Tần)

Đến triều Hán Vũ Đế (140 – 87 TCN), Nho giáo được đưa lên ngôi vị

"độc tôn" Nhưng về thực chất, đây không còn là thứ Nho giáo thời Tiên Tầnnữa, mà là một thứ "Nho giáo cải biên" do Đổ ng Trọng Thư (179 – 104TCN) thiết kế, nhằm lấy đó làm chỗ dựa để thống nhất tư tưởng hiện đangnăm bè bảy phái của người Trung Quốc hồi bấy giờ Trên đại thể, thứ Nhogiáo mới này bao gồm ba thành tố : "âm dương ngũ hành", "vương quyềnthần thụ" và "tam cương ngũ thường"

Tư tưởng "âm dương ngũ hành" như ta biết, vốn rất thịnh hành vào thời

Hán Lợi dụng tình hình này, Đổng Trọng Thư đã đem tư tưởng "thiênmệnh", tư tưởng "thiên nhân cảm ứng", cùng tư tưởng "tông pháp" của Nhogiáo nguyên thuỷ nhào nặn với tư tưỏng "âm dương ngũ hành" để làm nênthuyết "vương quyền thần thụ" "Vương quyền" (quyền lực nhà vua) ở đâyđược Đổng Trọng Thư luận chứng như là do "Trời" (thần) ban cấp Trời làchủ tể của muôn loài, mà vua (Hoàng đế) là con của Trời (Thiên tử), ngườithể hiện quyền lực và ý chí của Trời, thay mặt Trời để cai trị nhân gian.Quyền lực của nhà vua do vậy cũng được xem như tối thượng, thiêng liêng,bất khả xâm phạm

Mặt khác, Khổng Tử từng nói "quân quân, thần thần, phụ phụ, tử tử".Đổng Trọng Thư đã đem nguyên tắc ứng xử này lồng ghép với quan niệmthần học "dương tôn, âm ti " để thành thuyết "tam cương ngũ thường" "Tamcương" (quân vi thần cương, phụ vi tử cương, phu vi thê cương) là phỏngtheo mối quan hệ giữa trời và đất, âm và dương, trong đó bề tôi, con cái, thêthiếp đều thuộc

Trang 13

"âm" ; còn vua, cha, chồng đều thuộc "dương" ; "âm" tất yếu phải theo "dương".

"Ngũ thường" (nhân, nghĩa, lễ, trí, tín) là năm chuẩn mực về đạo đức tương ứngvới "ngũ hành", lấy "tam cương" làm nền tảng Đổng Trọng Thư coi "tam cươngngũ thường" là "ý trời" (thiên ý), và cho rằng "Trời không thay đổi, đạo cũngkhông thay đổi" (Thiên bất biến, đạo diệc bất biến) Từ đó về sau, "tam cươngngũ thường" đã trở thành gông cùm về mặt tinh thần đối với người dân TrungQuốc

Nho giáo thời kỳ này được gọi là Hán Nho Điểm khác biệt so với Nho

giáo nguyên thủy là Hán Nho đề cao quyền lực của giai cấp thống trị, Thiên

Tử là con trời, dùng "lễ trị" để che đậy "pháp trị"

Thời kỳ, Tống Nho do Chu Đôn Di (1017 – 1073), Thiệu Ung (1011 –

1077), Trình Hiệu (1032 – 1085), Trình Di (1033 – 1107), Trương Tải (1020– 1077) đều là người Bắc Tống khai sáng, và tiếp đó được Chu Hy (1130 –1200) người Nam Tống tập đại thành So với Nho giáo nguyên thuỷ thời TiênTần và

Nho giáo thần hoá thời Lưỡng Hán thì Lý học đời Tống có thể gọi là một thứNho giáo phát triển, mang đậm tính tư biện và triết lý Khi luận chứng về tínhtất yếu của cương thường danh giáo, các nhà Tống Nho đã vất bỏ lập luận

"vương đạo thông tam" có phần đơn giản và thô thiển của Đổng Trọng Thư.Thay vào đó, họ đưa ra khái niệm "thiên lý" siêu hình để nói về tính thốngnhất của thế giới tự nhiên và các hiện tượng xã hội Họ nhấn mạnh thế giớihiện tượng có một nguyên nhân cuối cùng là "thiên lý" Phạm trù cốt lõi này

là một sáng tạo của Tống Nho, như chính một nhân vật quan trọng trong số

họ đã tự nhận : "Cái học của ta tuy có chỗ tiếp thu từ nơi này nơi khác, nhưng

riêng hai chữ "thiên lý" thì thực do tự ta thể nhận ra" (Trình Hạo ngữ Nhị Trình ngoại thư, Q 12)

Sang đời Minh, Vương Thủ Nhân (1472 – 1529) xuất hiện với tư cách mộtnhà triết học "đi ngược lại truyền thống" (phản truyền thống) Khác với Tống

Trang 14

Nho, ông cho rằng cái "lý" của muôn sự muôn vật đều ở trong tâm ta Vàcũng không giống với các nhà Lý học Trình Chu, ông chủ trương : "hiểu biết

và hành động gắn với nhau làm một" Dù vậy, Vương Thủ Nhân vẫn đứngtrong hàng ngũ những nhà "Lý học" nổi tiếng đương thời, các triết thuyết củaông đã góp phần làm cho Nho giáo thời kỳ Tống Minh trở thành hệ tư tưởngchính thống của xã hội Trung Quốc kể từ đầu đời Minh cho đến cuối đờiThanh

2 Sự hình thành và phát triển của Nho giáo Việt Nam

2.1 Nho giáo Việt Nam từ buổi đầu du nhập- đến hết thế kỷ XIV

Vào cuối thời Tây Hán và đầu thời Đông Hán, cùng với chính sách caitrị và "Hán hóa" vùng đất nước cổ Việt Nam thời đó gọi là Giao Chỉ, CửuChân, văn hóa Hán bắt đầu được truyền bá vào Việt Nam, với tên tuổi haiviên quan mà sử sách Việt Nam cũng như sử sách Trung Quốc đều ca ngợi

họ có công lao trong việc "khai hóa" lễ nghĩa, mở mang phong tục mới làTích Quang và Nhâm Diên Nho giáo là một thành phần của văn hóa Hán, tấtnhiên cũng sớm có mặt tại Việt Nam như là một công cụ Hán hóa nước Việt.Nhưng sự hiện diện tương đối rõ nét của Nho giáo ở nước ta có lẽ chỉ thật sựbắt đầu vào cuối đời Đông Hán với vai trò tích cực của Sĩ Nhiếp (187-226Cn) trong việc làm cho nước ta "thông thi thư, tập lễ nhạc" như sử thần Ngô

Sĩ Liên (thế kỷ XV) từng bình luận trong sách Đại Việt sử ký toàn thư

Ở Trung Quốc từ sau loạn Vương Mãng (năm 27 tr.Cn) trở đi tới cuốiđời Đông Hán, rất đông sĩ phu nhà Hán liên tục tránh nội nạn chạy sang cưtrú ở Việt Nam Thí dụ vào thời Sĩ Nhiếp có hàng trăm danh sĩ nhà Hán bỏsang Việt Nam nương nhờ Sĩ Nhiếp Những sĩ phu trí thức này trở thành lựclượng quan trọng trong quá trình truyền bá Nho giáo ở Việt Nam

Từ thời Tích Quang-Nhâm Diên rồi Sĩ Nhiếp đến trước đời Đường(618907Cn), Nho giáo được truyền bá sang Việt Nam là Hán nho

Trang 15

Từ thời Tùy-Đường thống trị Việt Nam đến khi Ngô Quyền giành lại đượcquyền độc lập năm 938, Nho giáo cùng văn hóa Hán vẫn tiếp tục được truyền

bá sang Việt Nam, nhưng trong mấy trăm năm này, diện mạo Nho giáo như thếnào sử sách không ghi chép Trong khi đó ở Giao Châu (tức là ở Việt Nam) mànhà

Đường đổi làm An Nam đô hộ phủ, Phật giáo phát triển mạnh mẽ, kết hợp vớiĐạo giáo phù thủy phổ biến tràn lan

Trong hàng nghìn năm bị lệ thuộc phong kiến phương Bắc, Nho giáođược đưa vào Việt Nam chủ yếu với tư cách là công cụ phục vụ cho chínhsách cai trị và đồng hóa Việt Nam về văn hóa, nghĩa là người Việt Nam tiếpnhận Nho giáo vẫn với thái độ thụ động

Nho giáo chỉ được người Việt Nam chủ động thừa nhận như là một vănhóa chủ thể và xác lập địa vị cao của nó khi nền độc lập dân tộc được hoàntoàn ổn định vững chắc và đi vào phục hưng dân tộc ở vương triều Lý bắt đầu

từ năm 1010 – năm triều Lý dời đô từ Hoa Lư (Ninh Bình) về Thăng Long(Hà Nội ngày nay)

Năm 1070, dưới thời Lý Thánh Tông (1054-1072), triều đình cho xâymiếu thờ Khổng Tử, tức Văn miếu, đắp tượng Khổng Tử, phụ thờ NhanUyên, Tăng Tử, Tử Tư, Mạnh Tử là 4 học trò nổi tiếng của Khổng Tử cùng

72 người học trò giỏi khác của Khổng Tử, định ra nghi lễ bốn mùa cúng tế.Bên cạnh đó là Quốc tử giám, nơi các hoàng thái tử đến học tập

Năm 1075, dưới thời vua Lý Nhân Tông (1072-1128) triều đình cho mởkhoa thi Minh kinh bác sĩ và thi Nho học tam trường

Hai sự việc này trở thành cái mốc quan trọng đánh dấu một bước pháttriển có ý nghĩa lịch sử đối với vai trò của Nho giáo trong đời sống văn hóa,giáo dục ở Việt Nam

Trang 16

Khổng miếu và Quốc tử giám được xây dựng chính thức mở đầu chonền giáo dục và khoa cử Nho học ở Việt Nam, nhưng dưới triều Lý (1010-1225) và triều Trần (1225-1400), Phật giáo giữ vai trò Quốc giáo Bộ mặt vănhóa Việt Nam thời Lý - Trần là văn hóa Phật giáo

Nho giáo ở Việt Nam giai đoạn cuối triều Trần và triều Hồ (1400-1407) làTống Nho, song diện mạo tư tưởng chưa thật rõ nét

Tóm lại, Nho giáo được truyền bá vào Việt Nam trong hàng ngàn nămBắc thuộc, chủ yếu là Hán nho Từ thế kỷ XIII đến đầu thế kỷ XV, Tống Nhochi phối ảnh hưởng ở Việt Nam Nhưng nhìn chung, Nho giáo ở Việt Namtrong suốt thời kỳ dài hơn 1000 năm đó, Hán Nho cũng như Tống Nho, diệnmạo tư tưởng đều chưa được thể hiện rõ nét

2.2 Nho giáo Việt Nam từ thế kỷ XV- đến đầu thế kỷ XX

Năm 1406, đế quốc Minh đem quân xâm lược Việt Nam Năm 1407,cuộc kháng chiến của triều Hồ thất bại Nhà Minh đổi nước Việt thành quậnGiao Chỉ, rồi chia ra phủ, vệ, thiết lập bộ máy cai trị và tiến hành đồng hóamạnh mẽ

Nhằm Hán hóa Việt Nam về văn hóa, tư tưởng, nhà Minh cho lập Văn miếuthờ Khổng Tử ở các phủ, châu, huyện trên toàn quốc và bắt các địa phươngxây nhiều đền miếu thờ cúng, cầu đạo theo nghi lễ Trung Quốc Đạo sĩ thầycúng được khuyến khích hành nghề khắp nơi Để đào tạo ra những người biếtchữ phục vụ bộ máy thống trị của nhà Minh tại Việt Nam, nhà Minh cho mởtrường ở các phủ, châu, huyện Mở trường dạy học nhưng không có thi cử.Hàng năm, quan lại đô hộ nhà Minh chỉ lựa chọn lấy một số học sinh đủ tiêuchuẩn rồi sử dụng

Nội dung chương trình dạy và học hoàn toàn theo sách giáo khoa của nhà

Minh, gồm có Tứ thư (Luận ngữ, Mạnh tử, Trung dung, Đại học), Ngũ kinh(Kinh Dịch, Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Lễ, Kinh Xuân Thu) và Tính lý đại

Trang 17

toàn, tức là bộ sách do nhóm Hồ Quảng theo lệnh vua Minh soạn, gồm 70quyển, thâu thái thuyết Tống Nho bàn về hơn 100 nhà, chia thành môn loạinhư lý khí, quỷ thần, tính lý, thánh hiền

Những sách vở này được chở từ Trung Quốc sang Việt Nam cấp phátcho các thôn, huyện Giảng dạy tại các trường học ở phủ, châu, huyện, chủyếu là thầy cúng, thầy bói, đạo sĩ được nhà Minh tuyển dụng, phong làmGiáo quan

Sau khi đánh đuổi hết quân Minh, giải phóng đất nước, vương triều Lêchính thức được thiết lập (1428) và bắt đầu công việc xây dựng, phát triểnnền văn hóa độc lập dân tộc

Việc đầu tiên Thái Tổ Lê Lợi (1428-1433) làm là sai quan đi tế các thầnlinh ở núi sông, đền miếu ở các xứ trong nước và lăng tẩm của các triều đạitrước Lê Thái Tổ đặc biệt quan tâm đến việc phong thần, muốn mượn uy danhthần linh bảo vệ vương triều và đất nước được bình yên

Năm Đinh Tỵ (1437), Lê Thái Tông (1434-1442) tiến hành gia phongcác thần linh trong nước và tổ chức tế lễ, khấn cáo long trọng Đến thời LêNhân Tông (1443-1459) năm Kỷ Tỵ (1449), triều Lê cho lập các đàn thờ Đạithành hoàng ở kinh thành Thăng Long, thờ thần Gió, thần Mây, thần Mưa,thần Sấm để bảo vệ kinh thành

Một mặt tôn thờ thần linh, mặt khác để thống nhất tư tưởng xã hội,thống nhất văn hóa, củng cố đời sống tinh thần, nhà Lê đã chủ động chọnNho giáo làm ngọn cờ tư tưởng của vương triều phục vụ cho công cuộc xâydựng chế độ phong kiến trung ương tập quyền

Lê Thái Tông lên ngôi năm Giáp Dần (1434) Thái Tông đã họp triềuđình bàn định việc mở khoa thi Tiến sĩ và đưa ra điều lệ thi Hương, thi Hộicùng phép thi ở các kỳ Nhưng phải tới tháng 3 năm Nhâm Tuất (1442), thời

Lê Nhân Tông, triều Lê mới chính thức cho thi đối sách ở sân điện để lấy

Trang 18

Tiến sĩ và cũng bắt đầu cho dựng bia khắc văn nói về việc mở khoa thi Tiến

sĩ, khắc tên những người đỗ Tiến sĩ Khoa thi Tiến sĩ năm Nhâm Tuất là cáimốc quan trọng xác lập vị trí độc tôn của Nho giáo ở Việt Nam hồi thế kỷ

XV Để tỏ rõ lòng tôn sùng Nho giáo, vào tháng 2 mùa xuân năm Ất Mão(1435), vua Lê Thái Tông cho chọn ngày Thượng đinh, sai Thiếu bảo LêQuốc Hưng làm lễ cúng Khổng Tử ở Văn miếu, vị tổ khai sáng ra Nho giáo,

từ đấy về sau định làm thường lệ Văn miếu thờ Khổng Tử tại các lộ đượcNhà nước cấp phu trông nom quét dọn Đạo đức Nho giáo như lòng trung vớivua, sự tiết hạnh của phụ nữ được cổ vũ, tuyên dương

Nho giáo ở thời Lê thế kỷ XV đến triều Thánh Tông Thuần Hoàng đế(14601497) thì đạt tới đỉnh cao thịnh vượng

Đến đời Lê Thánh Tông, diện mạo của Nho giáo đã rõ ràng với nhữngđặc điểm khá cụ thể, dễ nhận biết Người xưa học Nho giáo có hai phép: họcnghĩa lý và học từ chương Học từ chương là học kinh nghĩa, thơ phú, vănsách, cốt để đi thi làm quan Cũng gọi là học khoa cử Còn học nghĩa lý làhọc chuyên sâu vào huấn hỗ học, lý học, Hán học, với mục đích dò tớinguồn gốc của Nho giáo

Để tôn vinh Nho học, tôn vinh người đỗ đạt và để biểu thị lòng quýtrọng kẻ sĩ chân Nho của triều đình, Lê Thánh Tông cho dựng bia khắc tên họnhững người đỗ Tiến sĩ từ khoa thi năm Nhâm Tuất (1442) đời Thái Tông trở

đi đặt tại nhà Quốc học

Có thể thấy từ nửa sau thế kỷ XV, dưới sự bảo trợ của triều đình, hệ tưtưởng Nho giáo ngày càng phát huy tác dụng và trở thành hệ tư tưởng chủđạo trong xã hội Phật giáo, Đạo giáo cũng từ đó bị đẩy xuống hàng thứyếu Và được kéo dài mãi ở Việt Nam cho đến tận cuối thế kỷ XIX đầu thế

kỷ XX

Trang 19

Xét về tính chất, thì Nho giáo Việt Nam từ Lê sơ cho đến cuối Nguyễn chủyếu vẫn là "Lý học" đời Tống

Như vậy Nho giáo truyền nhập vào Việt Nam khoảng 2000 năm, nhưng

có vị trí chi phối và phát triển cao nhất từ thế kỷ thứ 15 đến đầu thế kỷ thứ 20được xem như là quốc giáo ở Việt Nam, đến năm 1919 khoa cử nho học bịbãi bỏ

II TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CỦA NHO GIÁO

1 Các tác phẩm kinh điển của Nho giáo

Các sách kinh điển của Nho giáo đều hình thành từ thời kỳ Nho giáonguyên thủy Sách kinh điển gồm 2 bộ : Ngũ Kinh và Tứ Thư Hệ thống kinhđiển đó hầu hết viết về xã hội, về những kinh nghiệm lịch sử Trung Hoa, ítviết về tự nhiên Điều này cho thấy rõ xu hướng biện luận về xã hội, về chínhtrị, về đạo đức là những tư tưởng cốt lõi của Nho giáo

1.1 Tứ Thư

Là bốn quyển sách kinh điển của văn học Trung Hoa được Chu Hythời nhà Tống lựa chọn làm nền tảng cho triết học Trung Hoa và Khổng giáo.Chúng bao gồm : Đại học, Trung Dung, Luận Ngữ, Mạnh Tử

• Đại học: Sách Đại học dùng để dạy cho học trò từ 15 tuổi trở lên, khi bước

vào bậc đại học, dạy cho biết cách xử sự ở đời để lớn lên ra gánh vác việc nước

Sách Đại Học do Tăng Tử làm ra để diễn giải các lời nói của Khổng Tử Mục đích và tôn chỉ của sách này là nói về đạo quân tử, trước hết phảisửa cái đức của mình cho sáng tỏ để mọi người noi theo, làm sao cho đến chỗchí thiện Muốn được vậy, phải sử dụng Bát điều mục (tám điều): cánh vật,trí tri, thành ý, chính tâm, tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ Cái gốc củađạo quân tử là sự “tu thân” Cho nên trong sách Đại học có câu : “Tự thiên tữ

dĩ chí ư thứ nhân, nhứt thị giai dĩ tu thân vi bổn” (Nghĩa là : “từ vua cho đếnthường dân, ai ai cũng đều lấy sự sửa của mình làm gốc”)

Ngày đăng: 05/09/2019, 19:27

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Giáo trình đại cương lịch sử triết học - TS Nguyễn Ngọc Thu và TS Bùi Văn Mưa (đồng chủ biên)- Nhà xuất bản tổng hợp TP. Hồ Chí Minh, 2003 Khác
2. Khổng tử tinh hoa - Hoàng Phú Phương và Mai Sơn (dịch)- Nhà xuất bản trẻ, 2009 Khác
3. Khổng Tử - Nguyễn Hiến Lê- Nhà xuất bản văn hoá – thông tin, 2001 Khác
4. Nho giáo - Trần Trọng Kim, Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh, 1992 Khác
5. Nho giáo xưa và nay - Vũ Khiêu, Nxb - KHXH – Hà Nội, 1991 Khác
6. Nho giáo và phát triển ở Việt Nam - Vũ Khiêu, Nxb. Khoa học xã hội Hà Nội, 1997 Khác
7. Luận Ngữ - Đoàn Trung Còn (dịch ) NXB Sài Gòn, 1950 Khác
8. Tham khảo một số bài viết và tài liệu về Nho giáo trên diễn đàn www.caohockinhte.info Khác
9. Tham khảo một số bài hội thảo KH về Nho giáo trên www.hannom.org.vn 10. Tham khảo một số tạp chí nói về Nho giáo trên www.vientriethoc.com.vn Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w