Trong các quy luật xã hội, thì quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lực lợng sản xuất, là một trong những quy luật cơ bản chi phối sự vận động và phát triển củ
Trang 11 Đặt vấn đề
Xã hội là một bộ phận đặc thù của thế giới vật chất Nó vận động và phát triển theo những luật khách quan vốn có Quy luật xã hội có đợc phải thông qua mối quan
hệ giữa con ngời với nhau trong xã hội Vì vậy xã hội vận động và phát triển không chỉ phụ thuộc vào điều kiện khách quan mà còn phụ thuộc vào ý thức chủ quan của con ngời Tức là nếu con ngời nhận thức và vận dụng đúng quy luật thì sẽ làm cho xã hội phát triển nhanh hơn Ngợc lại, nếu nhận thức và vận dụng sai quy luật thì sẽ kìm hãm xã hội phát triển và bị quy luật phá bỏ
Trong các quy luật xã hội, thì quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lực lợng sản xuất, là một trong những quy luật cơ bản chi phối sự vận
động và phát triển của xã hội loài ngời Mặt khác, đây cũng là quy luật cơ bản trong lý luận hình thái kinh tế xã hội của Mác
Đảng, Nhà nớc ta đã vận dụng một cách sáng tạo quy luật này vào trong điều kiện lịch sử đặc thù của nớc ta, nhằm đổi mới về kinh tế Trong kinh tế, Đảng chủ trơng phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trờng, có sự quản
lý của nhà nớc, theo định hớng xã hội chủ nghĩa Trong đó, kinh tế Nhà nớc giữ vai trò chủ đạo
Để định hớng đợc Xã hội chủ nghĩa thì kinh tế Nhà nớc phải giữ vai trò nòng cốt, dẫn dắt chi phối các thành phần kinh tế khác Bởi vì đây là thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa Nó có vai trò quan trọng đảm bảo cho nền kinh tế phát triển đúng hớng, tránh nguy cơ chệch hớng xã hội chủ nghĩa
Tuy nhiên khi chuyển sang cơ chế thị trờng, kinh tế Nhà nớc còn bộc lộ nhiều yếu kém về năng suất, chất lợng, hiệu quả, đã đánh mất vai trò chủ đạo trong một số lĩnh vực Nhiều doanh nghiệp nhà nớc làm ăn thua lỗ kéo dài, chất lợng sản phẩm còn thua kém nhiều thành phần kinh tế khác, đầu t nhiều nhng hiệu quả kinh tế còn thấp Việc doanh nghiệp Nhà nớc làm ăn kém hiệu quả đã làm suy yếu đi vai trò chủ đạo của thành phần kinh tế quan trọng này đối với việc định hớng đi lên chủ nghĩa xã hội
Do vậy, đổi mới kinh tế Nhà nớc nhằm làm cho quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lực lợng sản xuất là vấn đề bức xúc đang đặt ra nhằm giữ vững
định hớng xã hội chủ nghĩa
2 Lý luận triết học Mác – Lê Nin về mối quan hệ biện chứng giữa lực lợng sản xuất và quan hệ sản xuất
Xã hội đợc hình thành, tồn tại và phát triển đợc là do hoạt động của con ngời có ý thức luôn theo đuổi những mục tiêu nhất định Chính trong quá trình hoạt động đó đã hình thành lên quy luật xã hội Quy luật xã hội chỉ đợc thể hiện thông qua hoạt động thực tiễn, hoạt động xã hội rộng lớn của con ngời, trong đó hoạt động sản xuất vật chất
đóng vai trò quyết định Sản xuất vật chất là cơ sở, là điều kiện để cho xã hội tồn tại và phát triển Lịch sử loài ngời trớc hết là lịch sử của sản xuất vật chất, lịch sử thay thế nhau của các phơng thức sản xuất từ thấp tới cao, suy cho cùng đó là lịch sử phát triển của lực lợng sản xuất
Phơng thức sản xuất là cách thức mà con ngời làm ra của cải vật chất Đây là nhân tố quyết định tính chất, kết cấu của xã hội Với quan điểm duy vật về lịch sử, tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội Mác cho rằng: Chìa khoá để nghiên cứu các quy
luật xã hội, của lịch sử xã hội không phải tìm ở trong óc con ngời, trong t tởng và ý niệm xã hội mà là ở trong phơng thức sản xuất do xã hội tiến hành trên mỗi giai đoạn lịch sử nhất định
Thật vậy, trong quá trình lao động sản xuất con ngời phải sử dụng các phơng tiện, các công cụ thích hợp để tác động vào giới tự nhiên nhằm tạo ra của cải vật chất để thoả mãn nhu cầu của mình Đồng thời trong quá trình sản xuất đó, con ngời phải quan
hệ với nhau, đó là mối quan hệ “song trùng” Tức là con ngời vừa phải quan hệ với giới
tự nhiên nhằm biến đổi tự nhiên, lại vừa phải quan hệ với nhau trong quá trình sản
Trang 2xuất Chính nhờ có quan hệ “song trùng” này đợc biểu hiện ra là lực lợng sản xuất và quan hệ sản xuất Hai mặt này không tách rời nhau mà có mối quan hệ biện chứng với nhau Mối quan hệ đó đợc lặp đi lặp lại nhiều lần qua các thời kỳ của lịch sử tạo thành quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lực lợng sản xuất Đây
là quy luật cơ bản, khách quan chi phối sự vận động và phát triển xã hội loài ngời Phơng thức sản xuất gồm hai mặt: Lực lợng sản xuất và quan hệ sản xuất Trong
đó lực lợng sản xuất biểu hiện mối quan hệ giữa con ngời với giới tự nhiên trong quá trình sản xuất vật chất Trình độ của lực lợng sản xuất thể hiện trình độ chinh phục tự nhiên của con ngời Đó là kết quả của năng lực thực tiễn của con ngời trong quá trình tác động vào giới tự nhiên để tạo ra của cải vật chất
Lực lợng sản xuất đợc cấu thành bởi hai yếu tố:
- T liệu sản xuất do xã hội tạo ra trớc hết là công cụ lao động
- Ngời lao động với những kinh nghiệm sản xuất thói quen lao động, biết sử dụng
t liệu lao động để tạo ra của cải vật chất
Trong các yếu tố đó thì ngời lao động đóng vai trò quyết định Bởi vì, chính con ngời tạo ra t liệu sản xuất và luôn luôn cải biến nó cho phù hợp với yêu cầu của mình Mặt khác, t liệu lao động dù có hiện đại tới đâu, có ý nghĩa lớn lao đến thế nào nếu không đợc con ngời dụng thì không thể phát huy đợc tác dụng Khẳng định vai trò hàng đầu của con ngời lao động Lê Nin viết: ‘Lực lợng sản xuất hàng đầu của toàn thể nhân loại là công nhân và ngời lao động”
T liệu sản xuất bao gồm: Đối tợng lao động và t liệu lao động
T liệu lao động là: Phức hợp các vật thể mà con ngời đặt mình với đối tợng lao
động để biến thành sản phẩm trong quá trình sản xuất Trong t liệu lao động thì công
cụ lao động có vai trò rất quan trọng vì nó là “sức mạnh tri thức đã đ ợc vật thể hoá” có
tác dụng “nối dài bàn tay của con ng ời ”
Công cụ lao động là yếu tố động nhất, cách mạng nhất trong lực lợng sản xuất Trong quá trình sản xuất con ngời không ngừng cải tiến công cụ sản xuất, các phát minh sáng chế không ngừng ra đời, thời gian ra đời các phát minh ngày càng rút ngắn… làm cho lực lợng sản xuất đợc mở rộng, nhiều ngành nghề mới ra đời, cùng với
nó là kinh nghiệm sản xuất, tay nghề ngời lao động không ngừng đợc nâng cao Trình
độ phát triển của t liệu lao động là thớc đo trình độ chinh phục tự nhiên của con ngời
và là tiêu chuẩn để phân biệt sự khác nhau giữa các thời đại kinh tế
Đối tợng lao động là một bộ phận của giới tự nhiên đợc con ngời đa vào sản xuất
Đây là yếu tố cấu thành của t liệu sản xuất Đối tợng lao động trớc hết là đối tợng sẵn
có ở trong tự nhiên nh: Đất, tài nguyên thiên nhiên, khoáng sản… sau đó là những cái
đã đợc trải qua quá trình sản xuất nào đó nhng cha trở thành sản phẩm mà chỉ là nguyên liệu cho quá trình sản xuất tiếp theo nh: Bông, quặng, than… chúng phải trải qua một vài quá trình sản xuất nào đó mới trở thành sản phẩm Sản xuất càng phát triển thì đối tợng lao động càng đợc mở rộng
Các yếu tố cấu thành lên lực lợng sản xuất (ngời lao động, đối tợng lao động, công cụ lao động, phơng tiện lao động và khoa học công nghệ) có sự tác động biện chứng với nhau Sự hoạt động có hiệu quả của t liệu lao động phụ thuộc vào trí thông minh, sự hiểu biết kinh nghiệm của con ngời, đồng thời bản thân con ngời lại phụ thuộc vào t liệu sản xuất hiện có, phụ thuộc vào họ sử dụng t liệu sản xuất nào theo Lê Nin “không có nền đại công nghiệp cơ khí thì cũng không có ng ời công nhân hiện đại”.
Tóm lại sự phát triển của lực lợng sản xuất là sự phát triển của văn hoá, khoa học kỹ thuật của họ Do đó, năng suất lao động xã hội là thớc đo trình độ phát triển của lực l-ợng sản xuất đồng thời là một nhân tố quan trọng nhất cho sự thăng lợi của trật tự xã hội mới
Lực lợng sản xuất do con ngời tạo ra nhng nó lại là một nhân tố khách quan, là nền tảng vật chất cho toàn bộ nhân loại Bởi vì lực lợng sản xuất có sự kế thừa và phát
Trang 3triển liên tục từ chế độ xã hội này sang chế độ xã hội khác Mỗi chế độ xã hội không
đ-ợc tự do lựa chọn lực lợng sản xuất cho mình mà bao giời cũng dựa trên lực lợng sản xuất do chế độ trớc để lại Mác khẳng định “Lực lợng sản xuất là kết quả của năng lực
thực tiễn của con ngời, nhng bản thân năng lực này bị quy định bởi những điều kiện trong đó ngời ta sống bởi những lực lợng sản xuất đã đạt đợc bởi những hình thái xã hội có trớc họ, không phải do họ tạo ra mà do thế hệ trớc tạo ra”.
Mặt thứ hai của phơng thức sản xuất là quan hệ sản xuất
Quan hệ sản xuất đó là quan hệ giữa ngời với ngời trong quá trình sản xuất vật chất Trong quá trình sản xuất con ngời không chỉ quan hệ với tự nhiên mà còn quan hệ với nhau nhằm tạo ra của cải Mác viết “trong sản xuất con ng ời ta không chỉ quan hệ với giới tự nhiên, con ngời ta không thể sản xuất đợc nếu không kết hợp với nhau theo một cách thức nào đó để hoạt động chung và để trao đổi với nhau ”
Cũng nh lực lợng sản xuất, quan hệ sản xuất cũng mang tính khách quan không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con ngời Đó là những quan hệ mang tính vật chất trong đời sống xã hội Quan hệ sản xuất là quan hệ kinh tế cơ bản của một hình thái kinh tế xã hội nhất định Nó quyết định các mối quan hệ khác trong xã hội và là đặc
tr-ng cho hình thái kinh tế đó
Quan hệ sản xuất đợc cấu thành từ ba mặt: Quan hệ sở hữu về t liệu sản xuất, quan hệ tổ chức quản lý và quan hệ phân phối sản phẩm xã hội, trong đó quan hệ sở hữu về t liệu sản xuất đóng vai trò quyết định các quan hệ trong sản xuất
Quan hệ sở hữu về t liệu sản xuất là đặc trng cơ bản của một phơng thức sản xuất
Nó là quan hệ kinh tế cơ bản, trung tâm, chi phối các quan hệ sản xuất khác của xã hội Trong quan hệ sản xuất thì quan hệ tổ chức quản lý có vai trò quan trọng ở chỗ nó
có khả năng quyết định một cách trực tiếp tới quy mô, tốc độ, hiệu quả và xu hớng của một nền sản xuất cụ thể Nếu quan hệ quản lý, tổ chức mà tốt thì làm cho sản phẩm phát triển Ngợc lại, nó sẽ kìm hãm sự phát triển của sản xuất hoặc làm biến dạng quan
hệ sở hữu
Mặt thứ ba cấu thành lên quan hệ sản xuất là quan hệ phân phối sản phẩm Quan
hệ này có ý nghĩa to lớn đối với sự vận động của toàn bộ nền kinh tế – xã hội Vì nó
có khả năng kích thích trực tiếp vào lợi ích của ngời lao động, thúc đẩy sản xuất phát triển khi lợi ích đợc bảo đảm, hoặc kìm hãm quá trình sản xuất khi lợi ích ngời lao
động bị vi phạm
Ba mặt của quan hệ sản xuất không tách rời nhau mà có mối quan hệ biện chứng với nhau Trong đó quan hệ sở hữu đóng vai trò quyết định với các quan hệ khác, nhng quan hệ quản lý và phân phối cùng có sự tác động trở lại nó có thể làm biến dạng quan
hệ sở hữu Do đó, ta không đợc tuyệt đối hoá bất kỳ một quan hệ nào
Quan hệ biện chứng giữa lực lợng sản xuất và quan hệ sản xuất
Lực lợng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai mặt của một phơng thức sản xuất chúng tồn tại không tách rời nhau mà có sự tác động biện chứng với nhau để hình thành lên quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lực l ợng sản xuất
Trong mối quan hệ giữa lực lợng sản xuất và quan hệ sản xuất khi lực lợng sản xuất là nội dung còn quan hệ sản xuất là hình thức xã hội của quá trình sản xuất Nội dung quyết định hình thức
Tính chất và trình độ của lực lợng sản xuất đợc thể hiện đó là tính chất của t liệu sản xuất và của ngời lao động Nó thể hiện tính chất của t liệu sản xuất là sử dụng công
cụ là thủ công hay máy móc Còn tính chất của ngời lao động là riêng lẻ hay hợp tác trong quá trình sản xuất
Trình độ của lực lợng sản xuất thể hiện ở trình độ phát triển của công cụ lao
động của kỹ thuật, trình độ kinh nghiệm, kỹ năng lao động, quy mô sản xuất và trình
độ phân công lao động
Trang 4Tính quyết định của lực lợng sản xuất đối với quan hệ sản xuất
Các Mác cho rằng thích ứng với mỗi trình độ của lực lợng sản xuất chỉ có một kiểu quan hệ sản xuất đặc trng, tính chất và trình độ của lực lợng sản xuất nh thế nào thì nó quy định quan hệ sản xuất nh thế ấy Lực lợng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất cả về nội dung, tính chất và xu hớng vận động của nó Điều này có đợc là xuất phát từ tính luôn vận động biến đổi và tính cách mạng của lực lợng sản xuất Bởi vì trong quá trình sản xuất thì con ngời luôn tìm cách cải tiến, hoàn thiện công cụ lao
động và chế tạo ra những công cụ lao động mới Cùng với sự phát triển biến đổi của công cụ lao động thì kinh nghiệm, thói quen lao động, kỹ năng sản xuất, kiến thức khoa học công nghệ của con ngời càng ngày càng phát triển hơn Do đó lực lợng sản xuất trở thành yếu tố động nhất, cách mạng nhất còn quan hệ sản xuất lại có tính chất
ổn định tơng đối có khuynh hớng lạc hậu hơn so với lực lợng sản xuất
Trong mối quan hệ này thì nội dung quyết định hình thức, hình thức phụ thuộc vào nội dung, nội dung thay đổi trớc, hình thức biến đổi sau Khi lực lợng sản xuất phát triển biến đổi tới một trình độ mới thì quan hệ sản xuất không còn phù hợp với nó nữa, trở thành sự chớng ngại đối với sự phát triển của lực lợng sản xuất, kìm hãm sự phát triển của lực lợng sản xuất Nếu sự phù hợp xảy ra ở giai đoạn cuối của một phơng thức sản xuất thì phải làm cuộc cách mạng xoá bỏ quan hệ sản xuất cũ thay thế bằng một quan hệ sản xuất mới tiến bộ hơn phù hợp với tính chất và trình độ của lực lợng sản xuất Việc xoá bỏ quan hệ sản xuất xác lập quan hệ sản xuất mới có nghĩa là sự diệt vong của một phơng thức cũ đã lỗi thời và ra đời một phơng thức mới thay thế nó
Điều này đã đợc chứng minh trong lịch sử, trong chế độ cộng sản nguyên thuỷ trình độ phát triển của lực lợng rất thấp, lao động bằng thủ công, công cụ sản xuất rất thô sơ, năng suất lao động thấp, thích ứng với nó là quan hệ công hữu về t liệu sản xuất Khi công cụ sản xuất phát triển chuyển từ đồ đá sang kim loại, năng suất lao
động cao hơn của cải d thừa tơng đối thích ứng với nó là sở hữu t nhân về t liệu sản xuất ra đời Xã hội Nô lệ ra đời thay thế xã hội nguyên thuỷ
Sự hình thành và phát triển của quan hệ sản xuất phụ thuộc vào tính chất và trình
độ của lực lợng sản xuất
Nhng quan hệ sản xuất cũng có tác động trở lại đối với lực lợng sản xuất, nó có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển lực lợng sản xuất
Nếu quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lực lợng sản xuất thì
nó trở thành động lực cơ bản thúc đẩy, mở đờng cho lực lợng sản xuất phát triển Tức là quan hệ sản xuất phải tạo địa bàn cho lực lợng sản xuất phát triển, đồng thời quan hệ sản xuất phải đem lại phơng thức tốt nhất cho sự kết hợp giữa ngời lao động và t liệu sản xuất Ngợc lại, khi quan hệ sản xuất đã lỗi thời không phù hợp với tính chất và trình độ của lực lợng sản xuất, hoặc quan hệ sản xuất đi quá xa thì nó kìm hãm sự phát triển của lực lợng sản xuất Song tác dụng kìm hãm của quan hệ sản xuất chỉ mang tính chất tạm thời nhng cuối cùng cũng đợc thay thế bằng một quan hệ sản xuất mới
Tác động biện chứng giữa lực lợng sản xuất và quan hệ sản xuất là sự tác động biện chứng giữa sự “phù hợp” và “không phù hợp” Phù hợp khi quan hệ sản xuất là hình thức phát triển của lực lợng sản xuất, nó phát huy tính tích cực của con ngời khai thác các nguồn lực của sản xuất thúc đẩy quá trình phân công lao động xã hội, kết hợp
có hiệu quả các yếu tố của lực lợng sản xuất Còn không phù hợp khi quan hệ sản xuất trở thành xiềng xích, trói buộc kìm hãm sự phát triển của lực lợng sản xuất Trong quá trình phát triển luôn luôn xảy ra sự không phù hợp do đó ta cần thờng xuyên phát hiện
để giải quyết mâu thuẫn đem lại sự phát triển nhịp nhàng trong sản xuất
3 Sự vận dụng của Đảng CSVN về mối quan hệ biện chứng giữa lực lợng sản xuất và Quan hệ sản xuất trong thời kỳ quá độ đi lên Chủ nghĩa xã hội ở nớc ta
Quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực l-ợng sản xuất là quy luật chung nhất của sự vận động và phát triển Do đó khi vận dụng
Trang 5vào mỗi nớc thì quy luật chung còn có tính đặc thù Bời vì mỗi nớc trên thế giới ngoài cái chung là đều phải tiến hành sản xuất ra của cải vật chất cho xã hội tồn tại và phát triển, phải tuân theo quá trình phát triển của xã hội là quá trình lịch sử tự nhiên Nhng các nớc lại tiến hành sản xuất với những đặc điểm riêng của mình nh: Phong tục, tập quán, nền văn hoá riêng mang tính đặc thù Vì vậy, khi áp dụng quy luật chung vào nớc mình thì không hoàn toàn giống nhau Chẳng hạn cũng là tuân theo sự phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội là quá trinh lịch sử tự nhiên nhng có nớc đi tuần tự từ Nô
lệ – Phong kiến – T bản - Xã hội chủ nghĩa, có nớc lại bỏ qua một hoặc hai hình thái, nớc Mỹ bỏ qua một hình thái từ Nô lệ - T bản, nớc Nga từ Nông nô - T bản
Nớc ta, Đảng xác định bỏ qua chế độ T bản chủ nghĩa tiến lên Chủ nghĩa xã hội Chúng ta đi lên Chủ nghĩa xã hội từ một nớc nông nghiệp lạc hậu, sản xuất nhỏ không qua giai đoạn T bản chủ nghĩa Bởi vậy khi áp dụng quy luật của Mác vào nớc ta lại có những đặc thù riêng Việc áp dụng quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lực lợng sản xuất nhiều khi đã bị hiểu sai, hiểu không đúng, chủ quan, nóng vội, duy ý chí Bên cạnh những thành tựu đã đạt đợc chúng ta đã mắc không ít các sai lầm Song chúng ta đã khắc phục các sai lầm đó, sự nhận thức vận dụng quy luật ngày càng chính xác đầy đủ và có hiệu quả hơn
Sự vận dụng quy luật ở nớc ta đã trải qua hai thời kỳ chính, đó là:
Thời kỳ trớc đổi mới
Từ năm 1954 – 1976, thời kỳ này miền Bắc nớc ta mới đợc giải phóng Do đó, khi tiến lên chủ nghĩa xã hội chúng ta đã mắc phải t tởng chủ quan, nóng vội cho rằng
cứ có quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa là có chủ nghĩa xã hội Trong cải tạo quan hệ sản xuất, chúng ta tiến hành theo hớng, “xoá” và “chuyển”, “xoá” là xoá bỏ quan hệ chiếm hữu t nhân về t liệu sản xuất, xoá bỏ sự tồn tại của các thành phần kinh tế,
“chuyển” là chuyển từ sử hữu t nhân sang sở hữu nhà nớc, sở hữu cá thể thành sở hữu tập thể Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III, Đảng xác định “hoàn thành cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với nông nghiệp, thủ công nghiệp, thơng nghiệp nhỏ và công
th-ơng nghiệp t bản t nhân, tăng cờng mối quan hệ sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể, mở rộng quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân ”
Với phơng châm nh vậy chúng ta đã tiến hành đa nông dân cá thể vào làm ăn tập thể, trong công nghiệp tiến hành quốc hữu hoá các xí nghiệp t bản t nhân chuyển thành
xí nghiệp nhà nớc
Kết quả tiến hành cách mạng quan hệ sản xuất đã đợc khẳng định tại báo cáo Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng: “chế độ sở hữu xã hội chủ nghĩa d ới hai hình thức toàn dân và tập thể đã đợc xác lập một cách phổ biến Đến năm 1975 trong khu vực sản xuất vật chất 99,7% tài sản cố định đã thuộc về kinh tế xã hội chủ nghĩa”.
Tiếp tục quan điểm của Đại hội III, đại hội IV khẳng định: “cải tạo quan hệ sản xuất
cũ, củng cố hoàn thiện quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa” Để đạt đợc mục tiêu trên
đại hội đề ra:
Đối với lực lợng sản xuất phải đẩy mạnh công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa để tăng cờng cơ sở vật chất cho quan hệ sản xuất mới Đồng thời xoá bỏ các thành phần kinh tế, làm sao để củng cố hoàn thiện quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa
Tổ chức lại sản xuất trong nông nghiệp theo hớng mở rộng quy mô sản xuất đối với các hợp tác xã và nông trờng quốc doanh
Đối với các bộ phận cá thể còn lại thì hớng dẫn họ phát triển theo đúng hớng Miền nam Đại hội đề ra: “quốc hữu hoá những cơ sở công th ơng nghiệp của t sản mại bản, của bọn phản quốc và bọn t sản bỏ chạy ra nớc ngoài, tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với t sản t doanh, trong nông nghiệp, thủ công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và thơng nghiệp nhỏ”.
Với mục tiêu nh trên Đảng đề ra:
Trang 6Bằng mọi cách làm cho kinh tế quốc doanh lớn mạnh nhanh chóng, chiếm u thế trong sản xuất và phân phối
Xoá bỏ ngay thơng nghiệp t bản chủ nghĩa trên cơ sở phát triển mậu dịch quốc doanh và các hợp tác xã mua bán
Tới Đại hội toàn quốc làn thứ V ta tiếp tục quan điểm của Đại hội trớc, mục tiêu là: “Hoàn thành công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa ở các tỉnh miền Nam, tiếp tục hoàn thiện quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, củng cố phát triển quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa trong cả nớc ”
Tóm lại, qua ba kỳ Đại hội (từ Đại hội III đến đại hội V của Đảng), chúng ta tiến hành cải tạo quan hệ sản xuất cũ, xây dựng quan hệ sản xuất mới theo hớng xoá bỏ nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần Đây là sự vi phạm quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lực lợng sản xuất Chúng ta đã hiểu sai lý luận quan
hệ sản xuất mở đờng cho sự phát triển của lực lợng sản xuất Theo lối t duy này, cứ có chế độ sở hữu mới thì lực lợng sản xuất tự động phát triển, năng suất lao động tăng nhanh, cho nên có thể thiết lập bất cứ hình thức nào của quan hệ sản xuất mới không cần phụ thuộc vào tính chất và trình độ của lực lợng sản xuất Chúng ta đã lạm dụng quá vai trò “mở đ ờng” của quan hệ sản xuất mới đến mức tùy tiện, chủ quan, tách rời
khỏi thực trạng của lực lợng sản xuất Quan hệ sản xuất chỉ có tác dụng mở đờng khi lực lợng sản xuất phát triển đến mức quan hệ sản xuất trở thành lỗi thời kìm hãm nó, khi đó ta xoá bỏ quan hệ sản xuất cũ xác lập quan hệ sản xuất mới sẽ tạo ra động lực trong sản xuất ở đây chúng ta làm ngợc lại, đi xây dựng quan hệ sản xuất mới tiên tiến vợt quá xa so với lực lợng sản xuất do đó tạo ra sự không phù hợp
Trong cải tạo quan hệ sản xuất cũ lại đồng nhất cải tạo quan hệ sản xuất với quan
hệ sở hữu, lấy việc cải tạo chế độ sở hữu làm tiêu chuẩn duy nhất để đánh giá mức độ thực hiện cải tạo quan hệ sản xuất Trong khi đó lại không chú ý tới quan hệ quản lý và quan hệ phân phối, trong phân phối chúng ta tiến hành phân phối bình quân do vậy không khuyến khích đợc sản xuất Về mặt quản lý tiến hành mở rộng kinh tế quốc doanh nhng trình độ các cán bộ quản lý không đáp ứng đợc yêu cầu dẫn tới làm biến dạng quan hệ sở hữu
Thời kỳ đổi mới
Với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI của
Đảng đánh dấu một mốc quan trọng về t duy đổi mới trong nhận thức, vận dụng quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lực lợng sản xuất
Đại hội chỉ ra sai lầm trớc đây: “ch a nắm chắc và vận dụng đúng quy luật về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lợng sản xuất” Ta biết
rằng quan hệ sản xuất và lực lợng sản xuất là hai mặt hợp thành một phơng thức sản xuất, có sự tác động biện chứng với nhau Tơng ứng với một trình độ phát triển nhất
định của lực lợng sản xuất, có một quan hệ sản xuất nhất định Đồng thời quan hệ sản xuất cũng có sự tác động qua lại đối với lực lợng sản xuất theo hớng thúc đẩy hoặc kìm hãm Nếu quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lực lợng sản xuất thì
nó thúc đẩy lực lợng sản xuất phát triển, ngợc lại nếu không phù hợp thì kìm hãm lực l-ợng sản xuất phát triển
Nớc ta vẫn còn sự không phù hợp giữa lực lợng sản xuất và quan hệ sản xuất
Điều này đòi hỏi chúng ta phải chủ động đợc quá trình vận động của lực lợng sản xuất
và quan hệ sản xuất để thờng xuyên điều chỉnh tạo nên sự gắn bó giữa hai mặt của một phơng thức sản xuất
Những năm sai lầm của ta là đã đẩy quan hệ sản xuất lên quá cao, tách rời thực trạng thấp kém của lực lợng sản xuất Đại hội khẳng định: “lực l ợng sản xuất bị kìm hãm không chỉ trong trờng hợp quan hệ sản xuất lạc hậu Mà còn cả khi quan hệ sản xuất phát triển không đồng bộ, có những yếu tố đi trớc vợt quá xa so với trình độ phát triển của lực lợng sản xuất”.
Trang 7Khắc phục sai lầm trên Đại hội đề ra:
Phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần coi đây là đặc trng trong thời
kỳ quá độ ở nớc ta Điều này bắt nguồn từ cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lê Nin
về thời kỳ quá độ Theo Lê Nin thì thời kỳ quá độ “ có nghĩa là trong chế độ hiện nay
có những thành phần, những bộ phận, những mảng của chủ nghĩa t bản và chủ nghĩa xã hội” Mặt khác theo lý luận hình thái kinh tế – xã hội của Mác thì không có một
hình thái nào là thuần nhất chỉ có một kiểu quan hệ sản xuất mà bao giờ cũng có: Quan
hệ sản xuất thống trị, quan hệ sản xuất tàn d và quan hệ sản xuất mầm mống
Nớc ta đi lên chủ nghĩa xã hội từ một nớc sản xuất nhỏ, nông nghiệp lạc hậu bỏ qua giai đoạn t bản chủ nghĩa, lực lợng sản xuất của ta phát triển không đều, thích ứng với một trình độ của lực lợng sản xuất lại có một kiểu quan hệ sản xuất đặc trng Vì vậy sự tồn tại nhiều thành phần kinh tế, nhiều quan hệ sản xuất là một tất yếu khách quan Nhanh chóng xoá bỏ đi các thành phần kinh tế là một sai lầm Mác khẳng định:
không bao giờ xuất hiện tr
“ ớc khi những điều kiện tồn tại vật chất của những quan hệ
đó chín muồi” Do đó không thể xoá bỏ một hình thức quan hệ sản xuất nào khi lực
l-ợng sản xuất tơng ứng với nó đang còn sức sống, đang còn là tất yếu đối với xã hội
Đại hội VI thừa nhận các thành phần kinh tế tồn tại đó là:
- Kinh tế xã hội chủ nghĩa gồm có quốc doanh và tập thể
- Các thành phần kinh tế khác gồm có: Kinh tế tiểu sản xuất hàng hoá (thợ thủ công, nông dân cá thể, buôn bán và kinh doanh dịch vụ…) kinh tế t bản t nhân, kinh tế
t bản nhà nớc, kinh tế tự nhiên, kinh tế tự cấp, tự túc
Trong xây dựng quan hệ sản xuất mới chúng ta đã tiến hành đồng thời trên cả ba mặt của quan hệ sản xuất: Quan hệ sở hữu, quan hệ tổ chức quản lý và quan hệ phân phối
Trong nông nghiệp, ta đã tiến hành chia ruộng đất cho nông dân khắc phục lối bình quân nhờ đó đã thúc đẩy sản xuất, công tác quản lý hợp tác xã cũng thay đổi, hợp tác xã từ chỗ làm mọi khâu nay chuyển sang làm dịch vụ cho nông dân mà họ không làm đợc
Trong công nghiệp, chúng ta tiến hành đổi mới quản lý đói với các doanh nghiệp quốc doanh, đảm bảo cho các doanh nghiệp quốc doanh đợc tự chủ trong sản xuất kinh doanh, tiến hành sắp xếp lại các doanh nghiệp Đặc biệt là chúng ta đã chuyển từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trờng, đây là bớc đi căn bản tạo ra sự phát triển cho lực lợng sản xuất Trong quan hệ sở hữu, chúng ta tiến hành đa dạng hoá các hình thức sở hữu gồm: Sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể và sở hữu t nhân
Nhờ các chính sách đồng bộ trên đã tạo ra sự phù hợp giữa lực lợng sản xuất và quan hệ sản xuất Đánh giá chính sách trên, báo cáo tại Đại hội VII ghi nhận: “chính sách này đã đợc nhân dân hởng ứng rộng rãi và đi vào cuộc sống nhanh chóng, chính sách ấy đã góp phần phát huy quyền làm chủ của nhân dân, về kinh tế, khơi dậy nhiều tiềm năng sức sáng tạo của nhân dân để phát triển sản xuất, dịch vụ tạo thêm việc làm
và phát triển xã hội”.
Tiếp tục quan điểm của Đại hội VI, Đại hội VII khăng định: “chúng ta chủ tr ơng thực hiện nhất quán chính sách kinh tế nhiều thành phần theo định hớng xã hội chủ nghĩa” Tới Đại hội VII các thành phần kinh tế có sự thay đổi đó là: Thành phần kinh
tế xã hội chủ nghĩa đợc tách ra làm hai thành phần Quốc doanh và Tập thể Đồng thời không phân chia “kinh tế tiểu sản xuất hàng hoá” và “kinh tế tự nhiên, tự cung, tự cấp”
mà gọi là “Kinh tế cá thể”
Các thành phần kinh tế bao gồm: Kinh tế quốc doanh, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể, kinh tế t bản nhà nớc và kinh tế t bản t nhân
Trong đó, kinh tế quốc doanh giữ vai trò chủ đạo Đến Đại hội VIII kinh tế quốc doanh không còn gọi là một thành phần kinh tế nữa mà chỉ là một bộ phận nằm trong kinh tế nhà nớc Kinh tế tập thể thay bằng kinh tế hợp tác
Trang 8Mục tiêu của Đại hội là: “Xây dựng n ớc ta thành một nớc công nghiệp có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp với tính chất và trình độ của lực lợng sản xuất ” Đại hội đề ra cần phải phát triển lực lợng sản xuất để đến năm 2020 phần lớn lao động thủ công đợc thay bằng lao động máy móc Quan hệ sản xuất phải tiến hành trên cả ba mặt tạo ra động lực mạnh mẽ thúc đẩy tăng trởng kinh tế
Tới Đại hội IX, Đảng, Nhà nớc tiếp tục sử dụng chính sách kinh tế nhiều thành phần Đồng thời đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá để phát triển sản xuất Tới
Đại hội IX quan hệ sản xuất tiếp tục đợc đổi mới, đại hội xác định có thêm thành phần kinh tế có vốn đầu t nớc ngoài Với các thành phần kinh tế là: Kinh tế Nhà nớc, kinh tế tập thể, kinh tế các thể, kinh tế t bản t nhân, kinh tế t bản nhà nớc, kinh tế có vốn đầu t nớc ngoài
Nh vậy, qua các kỳ đại hội Đảng quan hệ sản xuất đợc điều chỉnh sao cho có sự phù hợp với tính chất và trình độ của lực lợng sản xuất
Tóm lại sự vận dụng quy luật của chủ nghĩa Mác – Lê Nin ở nớc ta là một quá trình, đi từ nhận thức cha đầy đủ tới nhận thức đầy đủ, từ cha hoàn thiện tới hoàn thiện
và ngày càng phát huy hiệu quả
4 Đổi mới kinh tế nhà nớc là sự vận dụng quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lực lợng sản xuất.
Hiện nay, với những trình độ khác nhau của lực lợng sản xuất, chúng ta đã thực hiện chính sách kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trờng có sự quản lý của nhà nớc theo định hớng xã hội chủ nghĩa Trong đó, kinh tế nhà nớc giữ vai trò chủ đạo thuật ngữ kinh tế nhà nớc mới xuất hiện gần đây và đợc sử dụng rộng rãi từ Đại hội VIII của Đảng
Kinh tế nhà nớc là loại kinh tế do nhà nớc nắm giữ bao gồm quyền sở hữu, quyền quản lý, quyền sử dụng kết quả kinh tế do lực lợng vật chất đó đem lại Kinh tế nhà
n-ớc phải là những hoạt động mà nhà nn-ớc là ngời chủ sở hữu, có quyền tổ chức, chi phối hoạt động theo hớng đã định
Kinh tế nhà nớc bao gồm: Doanh nghiệp nhà nớc, Ngân sách nhà nớc, Ngân hàng nhà nớc, Quỹ quốc gia và Hệ thống bảo hiểm
Mỗi bộ phận trong hệ thống lại có chức năng khác nhau:
Doanh nghiệp nhà nớc: là tổ chức kinh tế do nhà nớc đầu t vốn, thành lập và tổ chức quản lý, hoạt động kinh doanh hoặc hật động công ích nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế – xã hội do nhà nớc giao
Doanh nghiệp nhà nớc có hai loại:
- Doanh nghiệp nhà nớc hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận
- Doanh nghiệp nhà nớc hoạt động vì mục tiêu phúc lợi xã hội
Hai loại hình doanh nghiệp này có đặc trng, tính chất và mục tiêu khác nhau Doanh nghiệp nhà nớc hoạt động sản xuất kinh doanh, tiến hành kinh doanh theo hiến pháp và pháp luật, canh tranh bình đẳng với các thành phần kinh tế khác, mục tiêu
là lợi nhuận
Doanh nghiệp nhà nớc hoạt động công ích có mục đích ổn định chính trị xã hội, phục vụ cho nhu cầu chung của toàn xã hội Đánh giá hiệu quả loại hình doanh nghiệp này căn cứ vào phục vụ lợi ích công cộng tới đâu
Ngân sách nhà nớc: là một bộ phận của kinh tế nhà nớc thực hiện chức năng thu, chi ngân sách và có tác dụng điều chỉnh, quản lý, các hoạt động của kinh tế nhà nớc và các thành phần linh tế khác theo mục tiêu kinh tế xã hội
Ngân hàng nhà nớc có chức năng quản lý, kiểm soát các hoạt động kinh tế của doanh nghiệp nhà nớc và các thành phần kinh tế khác
Trang 9Các quỹ quốc gia có mục đích bảo đảm cho kinh tế nhà nớc, kinh tế quốc dân hoạt động bình thờng trong mọi tình huống, các quỹ quốc gia dùng lực lợng vật chất của mình để điều tiết, quản lý, bình ổn giá cả thị trờng, bảo đảm cho kinh tế xã hội đợc
ổn định
Hệ thống bảo hiểm chịu trách nhiệm thực hiện chế độ bảo hiểm do nhà nớc quy
định để phục vụ kinh tế xã hội, nhằm cho hoạt động kinh tế xã hội hoạt động bình th-ờng trong điều kiện bị tổn thất
Kinh tế nhà nớc là một hệ thống không chỉ bao gồm các doanh nghiệp nhà nớc
mà còn có các bộ phận khác Tuy mỗi bộ phận có chức năng, nhiệm vụ cụ thể khác nhau nhng giữa chúng lại có mối quan hệ gắn bó hữu cơ, chặt chẽ với nhau, hoạt động theo một thể thống nhất do nhà nớc quy định nhằm thực hiện mục tiêu kinh tế – xã hội do nhà nớc đặt ra
Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lực lợng sản xuất
đợc vận dụng vào kinh tế nhà nớc có sự khác nhau qua các thời kỳ của lịch sử
Thời kỳ trớc đổi mới
Do nhận thức sai lệch về chủ nghĩa xã hội, vận dụng sai quy luật của chủ nghĩa Mác – Lê Nin Chúng ta đã tiến hành cách mạng quan hệ sản xuất theo hớng mở rộng thành phần kinh tế nhà nớc, xoá bỏ sự tồn tại các thành phần kinh tế khác Kinh tế nhà nớc đợc mở rộng một cách tràn lan, không chú ý tới chất lợng mà chỉ chú ý mở rộng về
số lợng, vợt quá khả năng về năng lực quản lý, điều hành của nhà nớc
Sau khi miền Bắc đợc giải phóng, năm 1954 miền Bắc đi lên chủ nghĩa xã hội, miền Nam tiến hành kháng chiến Kinh tế nhà nớc đợc mở rộng về quy mô bằng cách quốc hữu hoá các xí nghiệp t bản t nhân, kinh tế nhà nớc nắm giữ những ngành, những lĩnh vực quan trọng nh: Ngân hàng, công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vận tải… Mặt khác, chúng ta đã tiến hành xây dựng một số cơ sở vật chất cho chủ nghĩa xã hội nh: Khu công nghiệp Việt Trì, khu gang thép Thái nguyên, nhà máy công cụ số 1… và một số kết cấu hạ tầng khác, nhờ đó đã làm cho lực lợng sản xuất phát triển lên một tầm cao mới
Sau khi miền Nam đợc hoàn toàn giải phòng, đất nớc thống nhất, ta tiếp tục cuộc cách mạng quan hệ sản xuất, miền Bắc củng cố mở rộng kinh tế quốc doanh, miền Nam tiến hành cải tạo quan hệ sản xuất cũ xây dựng quan hệ sản xuất mới Miền Bắc xây dựng các nông trờng quốc doanh, mở rộng các cửa hàng quốc doanh Miền Nam quốc hữu hoá các xí nghiệp t bản t nhân và t bản nớc ngoài, tăng cờng kinh tế nhà nớc Tóm lại, từ sau Đại hội lần thứ III đến đại hội lần thứ V của Đảng đều tiến hành
mở rộng kinh tế nhà nớc, xoá bỏ các thành phần kinh tế khác Đây là sự vi phạm quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lực lợng sản xuất Kinh tế nhà nớc tuy nhiều về số lợng song chất lợng lại yếu kém Do cơ chế bao cấp cho nên kinh tế nhà nớc mà nòng cốt là các doanh nghiệp nhà nớc làm ăn không có hiệu quả
Kế hoạch đợc đa từ trên xuống, đầu vào, đầu ra có nhà nớc lo, chính điều này đã làm cho các doanh nghiệp không chú ý đến chất lợng sản phẩm và hiệu quả trong công việc xoá bỏ các thành phần kinh tế làm mất tính cạnh tranh, doanh nghiệp nhà nớc giữ độc quyền dẫn tới chất lợng hàng hoá thấp, mẫu mã đơn diệu không có sự cải tiến, hàng hoá khan hiếm không thoả mãn đợc nhu cầu của nhân dân
Sản xuất không phát triển đã làm cho vai trò ổn định kinh tế đối với kinh tế nhà nớc bị giảm sút Hệ thống ngân hàng hoạt động kém hiệu quả, không kiểm soát đợc giá cả Nớc ta thời kỳ đó hình thành hai loại giá là giá chợ đen và giá nhà nớc, lu thông phân phối rối ren, lạm phát leo thang Điều này đã đợc khẳng định tại Đại hội lần thứ
V của Đảng: “hiệu quả sản xuất thấp, các xí nghiệp nói chung chỉ sử dụng đ ợc một nửa công suất thiết kế, năng suất lao động giảm, chất lợng sản phẩm sút kém Lu thông không thông suốt, phân phối rối ren, vật giá tăng nhanh đang tác đọng tiêu cực tới đời sống nhân dân… vai trò chủ đạo của kinh tế quốc doanh suy giảm…
Trang 10Chính vì vậy Đảng và Nhà nớc ta phải tiến hành đổi mới kinh tế nhà nớc nhằm giữ đợc vai trò chủ đạo trong nền kinh tế
Thời kỳ đổi mới
Đại hội toàn quốc lần thứ VI của Đảng đánh dấu một mốc quan trọng đối với nền kinh tế nói chung và kinh tế nhà nớc nói riêng T duy đổi mới bắt đầu từ Đại hội VI, với mục tiêu chung là: Phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần có sự quản lý
của nhà nớc theo định hớng xã hội chủ nghĩa.
Đối với thành phần kinh tế nhà nớc, Đại hội VI cũng khẳng định: “làm cho kinh
tế quốc doanh thật sự giữ vai trò chủ đạo, chi phối đợc các thành phần kinh tế khác”.
Kinh tế quốc doanh tiến hành đồng thời trên cả ba mặt của quan hệ sản xuất là quan hệ
sở hữu, quan hệ quản lý, tổ chức sản xuất và quan hệ phân phối
Trên lĩnh vực quản lý, chúng ta đã tiến hành đổi mới cơ chế quản lý chuyển từ cơ chế bao cấp sang cơ chế hạch toán kinh tế theo cơ chế thị trờng Đại hội xác định:
phải đổi mới cơ chế quản lý, đảm bảo cho các đơn vị kinh tế quốc doanh có quyền tự
“
chủ thật sự, chuyển sang hạc toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa” Về mặt lực lợng sản
xuất, Đại hội xác định: “tăng c ờng cơ sở vật chất kỹ thuật và đẩy mạnh tiến bộ kỹ thuật
để nâng cao chất lợng và hiệu quả ”
Nhờ có các chính sách trên đã làm cho quan hệ sản xuất phù hợp tính chất và trình độ của lực lợng sản xuất, kinh tế nhà nớc vững mạnh trở lại đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế Đại hội VII khẳng định: “kinh tế quốc doanh sang nắm giữ những bộ phận then chốt, có vị trí chi phối nền kinh tế, có tác dụng điều tiết thì trờng giá cả”.
Đồng thời Đảng tiếp tục vận dụng quy luật của Mác vào đổi mới kinh tế nhà nớc trên cả ba lĩnh vực của một quan hệ sản xuất
Quan hệ sản xuất tiếp tục đổi mới bằng cách sắp xếp lại các doanh nghiệp để giảm về số lợng tăng về chất lợng Đại hội khẳng định là: “khẩn tr ơng sắp xếp và đổi mới quản lý kinh tế quốc doanh, bảo đảm kinh tế quốc doanh phát triển có hiệu quả nắm vững những ngành, những lĩnh vực then chốt đẻ phát huy vai trò chủ đạo trong nền kinh tế ”
Đi đôi với đổi mới quản lý, quan hệ sở hữu cũng đợc đổi mới cho phù hợp với tính chất và trình độ của lực lợng sản xuất Trong kinh tế nhà nớc quan hệ sở hữu đợc
đa dạng hoá nhờ chính sách: Cho thuê, cổ phần hoá, hoặc cho phá sản “cho thuê, chuyển hình thức sở hữu hoặc giải thể các cơ sở thua lỗ kéo dài không có khả năng vơn lên” Bên cạnh đó nhà nớc còn tiến hành giao vốn và áp dụng rộng rãi các hình thức“
khoán trong doanh nghiệp quốc doanh” nhằm khắc phục lối bình quân Tới Đại hội
VIII thì kinh tế quốc doanh không còn là một thành phần kinh tế mà chỉ là một bộ phận của kinh tế nhà nớc Mục tiêu của Đại hội VIII và IX là đẩy mạnh Công nghiệp hoá hiện đại hoá nhằm phát triển lực lợng sản xuất Để đảm bảo đợc vai trò chủ đạo kinh tế nhà nớc phải làm đòn bẩy cho tăng trởng kinh tế và giải quyết các vấn đề xã hội, mở đờng dẫn dắt các thành phần kinh tế Muốn vậy, kinh tế nhà nớc phải phát triển nhanh chóng, phát triển lực lợng sản xuất bằng cách ứng dụng các tiến bộ khoa học công nghệ Quan hệ sản xuất đợc đổi mới trên cả ba mặt Về quan hệ quản lý, chúng ta
đã sắp xếp lại các doanh nghiệp làm hai loại: là doanh nghiệp hoạt động công ích và doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh Bên cạnh đó tiến hành cổ phần hoá, giao, bán và cho thuê, cho phá sản với các doanh nghiệp làm ăn thua lỗ để thay đổi về quan
hệ sở hữu
Tóm lại cùng với đổi mới cơ chế chính sách, kinh tế nhà nớc cũng đợc đổi mới để giữ vững định hớng xã hội chủ nghĩa Doanh nghiệp nhà nớc phải nắm giữ các ngành then chốt, đi đầu trong ứng dụng khoa học công nghệ để phát triển lực lợng sản xuất, quan hệ sản xuất đợc thay đổi trên cả ba mặt để quan hệ sản xuất thích ứng với tính chất và trình độ của lực lợng sản xuất Nhờ đó kinh tế nhà nớc mới làm tốt đợc vai trò chủ đạo