1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC

27 94 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 53,62 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dù vậy, phải đến thế kỷ XIX, với sự ra đời của triết học Mác và nhiều học thuyếttập trung vào nghiên cứu về con người cùng với tình hình chính trị đầy sôi động củahai cuộc chiến tra

Trang 1

Lời nói đầu:

Đạo Phật đã từ lâu đã được xem là một tôn giáo gần gũi với cuộc sống người dânViệt Nam nói riêng và phương Đông nói chung Đạo Phật theo thời gianđối với ngườidân Việt Nam và Á Đông đã dần trở thước đo chuẩn mực về đạo đức, từ cách sống,cách giáo dục và tư tưởng, đều gắn liền và thấm nhuần tư tưởng của đạo Phật

Phật giáo ngày nay đã trải qua nhiều giai đoạn lịch sử phát triển và hội nhập, trởthành một trong những tôn giáo lớn trên thế giới với số lượng tín đồ đông đảo, hoạtđộng Phật sự phong phú, đa dạng đang ngày càng thâm nhập vào mọi mặt của đời sống

xã hội ngoài đạo Các nhà sư một mặt tập trung tham cứu Phật pháp khai thác nhữngmặt tích cực của lý luận, tư tưởng Phật giáo có thể phát triển hơn nữa Phật giáo trongbối cảnh hiện đại, mặt khác đồng thời tham gia các hoạt động xã hội, đưa Phật giáo đếngần với các nhu cầu thiết thực mà đời sống xã hội hiện đại còn khổ đau đang tìm kiếmhướng giải quyết

Ở phương Đông, con người, cả ở Trung Quốc lẫn Ấn Độ đã trở thành đề tài trungtâm của triết học lẫn Đạo học Nếu các nhà tư tưởng có nghiên cứu về thế giới tự nhiên,nghiên cứu về quỷ thần…, cũng chỉ nhằm mục đích lý giải cuộc sống và số phận conngười trong thế giới này với vòng quay những hạnh phúc, đau khổ, niềm tin, hy vọngcủa chính con người Ở Ấn Độ, con người là “tiểu vũ trụ”, sống chính là nhằm hòa tancái “tiểu vũ trụ” nhỏ bé vào “đại vũ trụ” rộng lớn như giọt nước hòa vào đại dươngmênh mông Ở Trung Quốc, con người và trời đất là một, xuất lưu từ Đạo và cuối cùngcũng quay trở về với cái Đạo uyên nguyên, bí nhiệm

Ta thấy rằng vấn đề con người không những không có gì mới, mà là một đề tàithường trực, được tất cả các triết gia cả Đông lẫn Tây, cả cổ đại lẫn hiện đại bàn luận

và nghiên cứu rất nhiều

Trang 2

Dù vậy, phải đến thế kỷ XIX, với sự ra đời của triết học Mác và nhiều học thuyếttập trung vào nghiên cứu về con người cùng với tình hình chính trị đầy sôi động củahai cuộc chiến tranh thế giới mà ranh giới giữa sự sống và cái chết càng lúc càng mongmanh, cùng với đó là những cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới khiến cuộc sống conngười bấp bênh hơn thì vấn đề con người, vị trí, bản chất và sự giải phóng con ngườitrong thế giới mới trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết.

Hơn bao giờ hết, tìm hiểu về con người, bản chất và mục tiêu giải phóng conngười nói chung và theo quan niệm của triết học Phật giáo nói riêng có một ý nghĩa vàgiá trị rất thiết thực, không chỉ giúp định hướng một nhân sinh quan sống cho mỗi cánhân mà còn mang đến nhiều ý nghĩa sâu xa

Trang 3

Mục lục:

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ HÌNH THÀNH VÀ QUAN NIỆM VỀ CON NGƯỜI TRONG TRIẾT HỌC

PHẬT GIÁO 4

1.1 Cơ sở hình thành: 4

1.1.1 Kinh tế xã hội: 4

1.1.2 Cơ sở tự nhiên - xã hội 4

1.2 Quan niệm con người trong triết học: 5

1.2.1 Về mặt tư tưởng triết học và đạo lý: 5

1.2.1.1 Về tư tưởng: 5

1.2.1.2 Đạo lý: 6

1.3 Khái niệm con người trong triết học Phật giáo 6

1.3.1 Con người là một Pháp: 6

1.3.2 Các nhân tố hình thành con người: 7

1.3.2.1 Con người là hợp thể của Danh và Sắc 7

1.3.2.2 Con người là hợp thể của Lục giới (Lục đại) 8

1.3.2.3 Con người là một hợp thể của Ngũ uẩn: 8

1.3.3: Quá trình hình thành con người: 9

Chương 2: BẢN CHẤT CON NGƯỜI TRONG PHẬT GIÁO 11

2.1 Bản chất con người trong triết học Phật giáo 11

2.1.1 Quan điểm của triết học Phật giáo về bản chất của con người: 11

2.1.2 Những biểu hiện về bản chất của con người: 11

2.2 Vô minh tính và vai trò của vô minh tính: 12

2.3 Vô minh tính và vai trò của vô minh tính: 123

CHƯƠNG 3: Ý NGHĨA QUAN NIỆM VỀ CON NGƯỜI TRONG TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO ĐỐI VỚI NHẬN THỨC CỦA CON NGƯỜI VỀ CUỘC SỐNG 14

KẾT LUẬN 24

TÀI LIỆU THAM KHẢO 27

Trang 4

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ HÌNH THÀNH VÀ QUAN NIỆM VỀ CON NGƯỜI TRONG TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO

1.1 Cơ sở hình thành:

Phật giáo ra đời như là một trào lưu tư tưởng tôn giáo mới chống lại những ápbức, bóc lột, bất bình đẳng giai cấp của Bà La Môn giáo trong xã hội Ấn Độ cổ đại,đáp ứng mong mỏi của đông đảo quần chúng thuộc các đẳng cấp xã hội bị áp bức.Khởi nguồn của Phật giáo cũng tựa như các tôn giáo khác trong lịch sử, đều là sự phảnánh hiện thực xã hội, từ những phong trào xã hội có tính cách mạng với những conngười hiện thực và những cá nhân cấp tiến đấu tranh vì sự giải phóng con người khỏinhững áp bức, bất công trong hiện thực ấy

1.1.1 Kinh tế xã hội:

Trong bối cảnh kinh tế - xã hội Ấn Độ lúc đó, Phật giáo là sự khởi đầu cho mộtlựa chọn mới tuy chỉ là ước mơ lý tưởng, nhưng có ý nghĩa chỗ dựa tinh thần cho quầnchúng nhân dân bị áp bức, bóc lột, những người đã mất niềm tin trong xã hội hiện thựclúc đó và hướng tới mong muốn, khát vọng về một xã hội bình đẳng, tự do, về mộtcuộc sống tốt đẹp hơn trong tương lai

1.1.2 Cơ sở tự nhiên - xã hội:

C Mác và Ănghen đã khẳng định: “ý thức không bao giờ có thể là cái gì kháchơn là sự tồn tại được ý thức… không phải ý thức quyết định đời sống mà chính đờisống quyết định ý thức” [15, 1, 37-38] Phật giáo và những quan điểm của Đức Phật vềcon người cũng không nằm ngoài quy luật đó Để hiểu rõ hơn về quan niệm của conngười trong triết học Phật giáo, không thể không tìm hiểu những cơ sở tự nhiên - xã hội

và tiền đề hình thành nên những quan niệm ấy

Trang 5

1.2 Quan niệm con người trong triết học:

1.2.1 Về mặt tư tưởng triết học và đạo lý:

1.2.1.1 Về tư tưởng:

Tư tưởng hay đạo lý căn bản của Phật Giáo là đạo lý Duyên Khởi, Tứ Diệu Đế vàBát chánh Đạo Ba đạo lý này là nền tảng cho tất cả các tông phái phật giáo, nguyênthủy cũng như Đại Thừa đã ăn sâu vào lòng của người dân Việt

Đạo lý Duyên Khởi là một cái nhìn khoa học và khách quan về thế giới hiệntại.Duyên khởi nghĩa là sự nương tựa lẫn nhau mà sinh tồn và tồn tại Không nhữngcác sự kiện thuộc thế giới con người như thành, bại, thịnh, suy mà tất cả những hiệntượng về thế giới tự nhiên như cỏ, cây, hoa, lá cũng điều vâng theo luật duyên khởi màsinh thành, tồn tại và tiêu hoại

Có 4 loại duyên cần được phân biệt: thứ nhất là Nhân Duyên Thứ hai là TăngThượng Duyên tức là những điều kiện có tư liệu cho nhân duyên Thứ ba là Sở DuyênDuyên tức là những điều kiện làm đối tượng nhận thức, thứ tư là Đẳng Vô Gián Duyêntức là sự liên tục không gián đoạn, cần thiết cho sự phát sinh trưởng thành và tồn tại.Luật nhân quả cần được quán sát và áp dụng theo nguyên tắc duyên sinh mới cóthể gọi là luật nhân quả của Đạo Phật, theo đạo lý duyên sinh, một nhân đơn độc khôngbao giờ có khả năng sinh ra quả, và một nhân bao giờ cũng đóng vai trò quả, cho mộtnhân khác Về giáo lý nghiệp báo hay nghiệp nhân quả báo của Đạo Phật đã đượctruyền dạy chúng nhân gian từ rất sớm Người ta biết lựa chọn ăn ở hiền lành, dù tốithiểu thì đó cũng là kết quả tự nhiên âm thầm của lý nghiệp báo, nó chẳng những thíchhợp với giới bình dân mà còn ảnh huởng đến giới trí thức Mặt khác họ hiểu rằngnghiệp nhân không phải là định nghiệp mà có thể làm thay đổi, do đó họ tự biết sửachữa, tu tập cải ác tùng thiện Sống ở đời, đột nhiên những tai họa, biến cố xảy ra chohọ, thì họ nghĩ rằng kiếp trước mình vụng đường tu nên mới gặp khổ nạn này

Trang 6

1.2.1.2 Đạo lý:

Ngoài đạo lý Từ Bi, một đạo lý khác của đạo phật là đạo lý Tứ Ân, gồm ân cha

mẹ, ân sư trưởng, ân quốc gia và ân chúng sanh Tình thương ở mọi người bắt đầu từthân đến xa, từ tình thương cha mẹ, họ hàng lan dần đến tình thương trong các mốiquan hệ xã hội

Nhìn chung, đạo lý hiếu ân trong ý nghĩa mở rộng có cùng một đối tượng thựchiện là nhắm vào người thân, cha mẹ, đất nước, nhân dân , chúng sanh, vũ trụ, đó làmôi trường sống của chúng sanh gồm cả mặt tâm linh nữa Đạo lý Tứ Ân còn có chungcái động cơ thúc đẩy là Từ Bi, Hỷ Xã khiến cho ta sống hài hòa với xã hội, với thiênnhiên để tiến đến hạnh phúc chân thực và miên trường

Những đặc điểm trên trở thành kim chỉ nam định hướng xuyên suốt toàn bộ hệthống triết học Phật giáo nói chung và quan niệm về con người nói riêng Trên cơ sởthế giới quan đó, những quan niệm về con người trong triết học Phật giáo chỉ là chi tiết

và cụ thể hóa những đặc điểm nêu trên về đối tượng con người mà thôi

1.3 Khái niệm con người trong triết học Phật giáo:

1.3.1 Con người là một Pháp:

Pháp là chỉ tất cả các sự vật, hiện tượng có tự tính, có bản chất riêng không thayđổi để phân biệt với các sự vật, hiện tượng khác

Pháp là pháp tắc tự nhiên, pháp tính hay quy tắc

Con người là một Pháp nghĩa là con người có tự tính hay có bản chất riêng biệt

để dựa vào đó mà nhận biết, lý giải và phân biệt với các sự vật, hiện tượng khác Mặtkhác, con người là một Pháp còn có nghĩa là con người là một thực thể chịu sự quyđịnh của các pháp tắc tự nhiên và dù Đức Phật có mặt hay không có mặt cũng khôngthay đổi được điều đó

Trang 7

1.3.2 Các nhân tố hình thành con người:

1.3.2.1 Con người là hợp thể của Danh và Sắc:

Có nhiều cách giải thích khác nhau về những nhân tố hình thành nên con người,trong đó có hai nhân tố cơ bản và chung nhất mà Phật giáo đề cập đến: Danh và Sắc(namarupa)

Danh – Sắc là tên gọi chung của Ngũ uẩn Để nói về phương diện tinh thần haytâm còn Sắc chỉ về cơ thể, thể xác hay vật chất Trong một số trường hợp, để nhấnmạnh mặt này hay mặt kia, Đức Phật đã đề cập đến các khái niệm khác như Ngũ uẩn,Lục giới, Tứ thực, Thập nhị xứ, Thập bát giới… Chẳng hạn khi nhấn mạnh về vật chất,Đức Phật nói Lục giới (đất, nước, lửa, gió, không và thức); khi nhấn mạnh về tinh thần,Đức Phật nói Ngũ uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành và thức), Tứ thực (đoạn thực, xác thực, tưthực và thức thực); khi nhấn mạnh đến yếu tố nhận thức, Đức Phật nói Lục xứ(nhãn,nhĩ, tị, thiệt, thân và ý), Nhị thập xứ (lục xứ kết hợp với lục cảnh: sắc, thanh, hương, vị,xúc), Thập bát giới (lục xứ kết hợp lục cảnh hình thành ra lục thức: nhãn thức, nhĩthức, tị thức, thiệt thức, thân thức và ý thức)

Khi nói con người là hợp thể của Danh và Sắc, nghĩa con người chỉ được gọi

là con người khi có sự tương hợp của hai yếu tố: tinh thần và vật chất Nói cách khác,nói con người được sinh thành thuần túy từ vật chất hoặc từ tinh thần đều là sai lầm;thay vào đó, khi có sự phối hợp hay tương hợp của hai yếu tố này cùng lúc thì khi đómới có con người Quan niệm về con người là hợp thể của Danh - Sắc này là quanniệm cơ bản và chung nhất trong tất cả các quan niệm khác về con người, không chỉtiếp tục tái khẳng định con người là Vô ngã vì là hệ quả của Duyên khởi mà còn muốnnhấn mạnh một điều: vật chất và tinh thần hay thể xác và tâm thức chính là hai nhân tốhình thành nên con người

Trang 8

1.3.2.2 Con người là hợp thể của Lục giới (Lục đại):

Lục giới (sad dhatavah) là sáu yếu tố hình thành ra con người gồm đất, nước, gió,lửa, không và thức Gọi là giới vì mỗi thứ đều có giới hạn riêng, có khi còn gọi là đại vìsáu yếu tố này cấu tạo thành thế giới hữu tình và có mặt ở khắp mọi nơi Năm yếu tốđầu: đất, nước, gió, lửa và không thuộc về vật chất hay Sắc trong Danh – Sắc, hìnhthành ra thể tạng hay cơ thể con người ; thức là Tâm, thuộc về Danh trong Danh –Sắc Đức Phật nói con người là hợp thể của Lục giới hay Lục đại chính là nhấn mạnhkhía cạnh vật chất của con người

Theo đó, đất là yếu tố hình thành ra xương, thịt; nước là máu và chất lỏng; gió làhơi thở, sự hô hấp; lửa là độ ấm hay nhiệt độ của cơ thể và không là các khoảng trống ;thức là tinh thần, là sinh khí mà nhờ nó, các đại thuộc vật chất mới có sự sống và cókhả năng hoạt động

Khi quan niệm con người là hợp thể của Lục giới hay Lục đại nghĩa là con ngườisinh thành và hoại diệt tùy thuộc vào sự dung thông của sáu yếu tố trên Mỗi một đạihay một giới cũng không phải là một yếu tố độc lập, biệt lập hay tách rời mà ngược lạichúng chứa đựng trong nhau, một đại có đủ năm đại kia dung nhập trong nhau

Khi đề cập đến con người với tư cách là hợp thể của Lục đại, nhấn mạnh vào yếu

tố thể xác vật chất, Đức Phật vừa muốn hành giả quán chiếu thân thể vốn không cóNgã thể thường hằng mà chỉ là một tập hợp bất tịnh của đất, nước, gió, lửa và không;

từ đó buông bỏ hay xả ly khỏi sự chấp trước vào thân thể, tiến tới tu tập và giải thoát;mặt khác, Ngài cũng muốn hành giả nhìn nhận vào sự viên dung vô ngại, thu nhiếp vàdung hòa lẫn nhau của vạn pháp, cả Tâm và vật, từ đó không còn chấp trước vào bất cứmột yếu tố hay một Ngã thể nào

1.3.2.3 Con người là một hợp thể của Ngũ uẩn:

Ngũ uẩn còn gọi là Ngũ ấm, Ngã chúng hay Ngũ tụ, Ngũ uẩn gồm có: Sắc uẩn,Thọ uẩn, Tướng uẩn, Hành uẩn và Thức uẩn, Sắc uẩn thuộc Sắc, tức thuộc về vật chất:

Trang 9

Thọ uẩn, Tưởng uẩn, Hành uẩn và Thức uẩn thuộc về Danh, tức đề cập đến Tâm thứchay khía cạnh tinh thần Khác với quan niệm Lục đại nhấn mạnh khía cạnh vật chất củacon người, quan niệm về Ngũ uẩn lại nhấn mạnh khía cạnh tinh thần hay Tâm thức củacon người.

1.3.3 Quá trình hình thành con người:

Khi phân tích con người, Đức Phật sử dụng khái niệm Ngũ uẩn Khi quán chiếuquá trình hình thành ra con người, nói đúng hơn là quá trình hình thành Ngũ uẩn, ĐứcPhật sử dụng khái niệm Thập nhị nhân duyên Cả hai quan niệm Ngũ uẩnvà Thập nhịnhân duyên đều nhằm mục đích nhấn mạnh con người vốn dĩ Vô ngã, tức là không cóngã thể thường hằng, thường trụ và bất biến Tuy vậy, mỗi một khái niệm có một chứcnăng riêng biệt nhằm nhấn mạnh các khía cạnh khác nhau Ngũ uẩn nhằm phân tích sựhiện hữu của con người ở khía cạnh hiện hữu, Thập nhị nhân duyên nhằm chỉ rõ tiếntrình sinh thành và hoại diệt của con người Thập nhị nhân duyên gồm 12 chi là: Vôminh, Hành, Thức, Danh Sắc, Lục Nhập, Xúc, Thọ, Ái, Thủ, Hữu, Sinh Và Lão Tử

Ta cũng có thể tóm tắt quá trình ra đời của một con người theo cách như sau:

Do Vô minh khởi lên làm duyên mà có Hành Hành là sự dao động của tâm thức,

Vô minh khi kết hợp với hành là Ý lực tạo tác của tâm thức sinh khởi.Ý lực tạo tác củatâm thức sinh khởi chuyển sinh thành Thức năng Có Thức nên Nghiệp lực tìm đượcmột chỗ để thoát sinh, hoặc noãn sinh, thai sinh, thấp sinh hoặc hóa sinh Thức này cònđược gọi là Kiết sinh thức hay ý niệm tối sơ, đi vào bào thai để trở thành một sinh thể.Cái Kiết sinh thức này kết hợp với tinh cha huyết mẹ hay với những chất khác hìnhthành nên Danh – Sắc Đó là một sinh thể trọn vẹn, là giao thoa của tâm lý (Danh) vàvật lý (Sắc) Tâm lý và vật lý hòa hợp lẫn nhau biểu hiện ra Lục nhập gồm mắt, tai,mũi, thân, ý Khi đã có Lục nhập rồi, đến ngày sinh đứa bé thì lục căn tiếp xúc với lụccảnh là sắc, thanh, hương, vị, xúc và pháp Đức Phật gọi là Xúc, nhưng vì ở đây, trẻmới từ 1 đến 3 tuổi nên xúc còn hoàn toàn vô tư, không phân biệt tốt – xấu , hay - dở

Từ 4 đến 6 tuổi, khi đó sự tiếp xúc mới này sinh phân biệt, mới nhận thấy cái nào đáng

Trang 10

ưa, đáng ghét,… đó gọi là “Xúc duyên Thọ” Khi có Thọ thì tình cảm luyến ai phátsinh, thích cái mình ưa và muốn tránh cái mình ghét.Ái chính là Thọ đi đến một trạngthái chín muồi, khi Ái phát sinh thì từ Ái này sinh ra Thủ, Thủ có nghĩa là níu kéo vàduy trì cái mà mình yêu Cũng chính Ái và Thủ là động lực để duy trì sự tồn tại, đồngthời cũng chính nó tạo nên tiến trình của tồn tại, vì thế “Thú duyên Hữu” chính là nhưvậy Khi Hữu hình thành thì năng lực tạo Nghiệp hình thành.Vì năng lực tạo Nghiệp

mà năng lực Sinh phát sinh, vì sinh mà có Lão – Tử

Trang 11

CHƯƠNG 2: BẢN CHẤT CON NGƯỜI TRONG PHẬT GIÁO

2.1 Bản chất con người trong triết học Phật giáo:

2.1.1 Quan điểm của triết học Phật giáo về bản chất của con người:

Theo triết học Phật giáo bản chất con người chính là Vô ngã, vậy Vô ngã là gì?Khái niệm Ngã được gọi theo nhiều cái tên khác nhau mang hàm ý là sinh khí,hơi thở, Tự tính, Sinh Mệnh, Tự kỷ, Cái tôi, Linh hồn…tùy trong từng hoàn cảnh vàngôn ngữ cụ thể Vậy, theo Phật giáo, Ngã là một phạm trù dùng để chỉ một thực thểvĩnh hằng, độc lập, tuyệt đối, bất biến, có trước con người và quy định bản chất conngười Ngã có những đặc điểm như sau:

+ Ngã là chủ thể độc lập không bị phụ thuộc, ảnh hưởng hay tác động bới bất

cứ nhân tố hay tác động nào

+ Ngã thường vĩnh hằng, bất sinh, bất diệt Ngã không ra đời lúc sinh và mất đilúc chết cùng với cơ thể con người

+ Ngã vốn vô hình, vô ảnh, không thể nắm bắt hay chạm vào được nhưng ởđâu đều cũng có Ngã và vạn vật sinh thành

2.1.2 Những biểu hiện về bản chất của con người:

Tuy quan niệm bản chất con người là Vô ngã nhưng xét trong từng hoàn cảnh cụthể bản chất con người cũng được biểu hiện nhiều hình thái khác nhau Con ngườiđược thể hiện với những hành động ác, xấu xa, cũng có những lúc là những việc thiện,tốt lành Điều đó, chứng tỏ con người không chỉ tồn tại duy nhất cố định một mà trongmỗi con người đều ẩn chứa hai tự tính là Vô minh tính và Phật minh tính Nói cáchkhác, khi con người bắt đầu tham gia vào quá trình sinh – lão – bệnh – tử đã chịu sự tácđộng cũng đồng thời cũng là hệ quả của Vô minh tinh nhưng trong con người còn cóphương diện Phật tính hay khả năng giải thoát khỏi vòng xoay đó nên ta có thể nói rằngbản chất con người cùng song hành tồn tại Vô minh tính và Phật tính

Trang 12

2.2 Vô minh tính và vai trò của vô minh tính:

Vô minh tính là thuật ngữ dùng để chỉ một trong những biểu hiện cụ thể về bảnchất con người trong đời sống hiện thực nhưng khi tìm hiểu về nguồn gốc của Vô minhtính thì chúng thường sử dùng thuật ngữ Vô minh

Quá trình hình thành con người được giải thích dựa trên cơ sở sự vận hành củamười hai chi trong Thập nhị nhân duyên thì chi Vô minh gây ra nhiều thắc mắc vàtranh cãi lớn nhất Liệu Vô minh có phải là nguồn gốc?Là thực tại đầu tiên và duy nhấtcho toàn bộ sự hiện hữu? Nếu thừa nhận Vô minh là nguồn gốc đầu tiên hay thực tạiduy nhất thì khái niệm Duyên sinh có còn đứng vững? Chính vì những khúc mắc mâuthuẫn này khiến khái niệm Vô ngã trở nên nan giải và Phật giáo có thể vấp phải nhữngmâu thuẫn khó tránh khỏi

Tuy nhiên, vấn đề này không phải bây giờ mới được nêu ra mà từ những ngàykhởi đầu từ khi Đức Phật còn tại thế, vấn đề Vô minh từ đâu ra đã được đề cập, và từvấn đề Vô minh này, khái niệm Vô ngã lại một lần nữa được nhắc lại nhưng không phảivới việc phân tích các yếu tố hình thành ra con người mà là xác định bản chất bản tính

cố hữu của con người

Vô minh tuy là động lực nhân kết hợp Ngũ uẩn, Tứ thực, nhưng khi ý chí căn bảnnày là những hoạt động thì cuối cùng nó cũng là từ trong tự thể cơ quan mà triển khai

ra rồi tạm ý theo cái đặc trưng ấy mà chia nhánh để quan sát, phân tích chứ nó quyếtkhông phải vật ngoài tự thân tác dụng khiến cho hiện tượng sinh mệnh phát khởi.Nghĩa là, trong bản thân Vô minh đã có đầy đủ khả năng tính tương đương để trở thànhnhững yếu tố Ngũ uẩn, Tứ thục, nhưng khi vẫn chưa phát triển trên địa vị của tráng tháinguyên thủy đó thì được gọi là Vô minh, còn đương thể khi đã triển khai rồi thì đượcgọi là Ngũ uẩn [46,136]

Nguồn gốc bản chất của vô mình là bất giác, căn bản Vô minh là một niệm giácchợt khởi lên hay thình lình khởi lên Vì niệm Vô minh căn bản bất chợt hiện lên vô

Trang 13

cùng nhỏ nhiệm, là một loạt hoạt động tâm vi tế có nguồn gốc từ vô thủy nên khôngthể xác định được nguồn gốc, là nguyên căn của mọi thứ phiền não nên được gọi là cănbản của Vô minh và Tham ái mà Ngũ ẩn được hình thành, có Ngũ ẩn tạo nên Nghiệp,vì tạo Nghiệp mà sinh ra Luân hồi, phiền não và khổ đau Điều đó, được hiểu như quátrình hình thành và bản chất của con người trong thế giới hiện tượng.

Phật tính:

Như đã nói ở trên, bản chất con người trong đời sống tồn tại song song với Vôminh tính là Phật tính, hay hạt giống đưa con người đến với coi tĩnh tâm, cõi Niết bàn.Kinh Rohitassa Sutta có ghi lại những Phật ngôn sau: “ Như Lai tuyên bố rằng thếgian, nguồn gốc của thế gian và con đường dẫn đến sự chấm dứt thế gian, đều nằmtrong tấm thân một trượng này, cùng với tri giác và tư tưởng”

Khái niệm Phật tính còn gọi là Như Lai tính hay Giác tính là hạt giống hay nguồn

có sẵn từ trong tâm thức mỗi con người Như Lai hay Phật tính có các đặc điểm sau: anổn, rời tham ái, toàn trí, toàn kiến, tự tại, đến như vậy và đi cũng như vậy,…Các đặcđiểm này cũng là đặc điểm đang tiềm ẩn trong tâm thức mỗi chúng sinh Chúng sinhcòn trôi lăn trong sinh tứ luân hồi, còn nhiều phiền não và khổ đau đơn giản vì chưaphát hiện các điểm này của chính mình và sống với nó mà thôi

Tóm lại, về bản chất, con người là Vô ngã tính hay Vô tự tinh hay Vô tính, tức làkhông có bản tính cố định Tuy vậy, dưới khía cạnh Tục đế, khi con người ra đời thìcon người đã là kết quả của một chuỗi các nhân duyên, trong đó Vô minh và Ái là hainhân tố cơ bản nên Vô minh chính là một phần bản chất của con người Nhưng vì conngười có khả năng tu tập và khả năng giải thoát khỏi tấm lưới của Vô minh nên bêncạnh Vô minh tính còn có Phật tính Xét một cách khác, Phật tính chính là bản tínhthường tại của con người còn Vô minh tính chỉ là bề nổi che đi sự sang suốt của Phậttính Vì thế, mỗi con người muốn giải thoát thì cần phải tu tập để đánh thức mặt Phậttính trong mỗi con người thức dậy

Ngày đăng: 04/09/2019, 16:28

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w