TIỂU LUẬN TRIẾT HỌCVỀ CẬP PHẠM TRÙ NGUYÊN NHÂN VÀ KẾT QUẢVẬN DỤNG TRONG TÌNH TRẠNG TAI NẠN GIAO THÔNG HIỆN NAYKhái lược về phạm trù triết họcĐịnh nghĩa về phạm trùTrong quá trình suy nghĩ, con người thường xuyên phải sử dụng những khái niệm nhất định như “người”, “động vật”, “kim loại”, vv… Những khái niệm đó là hình thức của tư duy để phản ánh những mặt, những thuộc tính quan trọng nhất của lớp sự vật, hiện tượng nhất định.Tuỳ thuộc vào số lượng của sự vật, hiện tượng được khái niệm phản ánh mà ta có các khái niệm rộng, hẹp khác nhau.Phạm trù là khái niệm rộng nhất, phản ánh những mặt, những thuộc tính, những mối liên hệ chung và cơ bản nhất của các sự vật và hiện tưọng thuộc một lĩnh vực hiện thực nhất định.Mỗi bộ môn khoa học đều có phạm trù riêng của mình. Chẳng hạn, vật lý học có các phạm trù năng lượng, khối lượng…; trong sinh học có phạm trù biến dị, di truyền,…; trong kinh tế học có các phạm trù hàng hóa, giá trị, mỹ học có các phạm trù cái đẹp, cái bi, cái hài… v.v…Phạm trù của phép biện chứng duy vật là những khái niệm chung nhất, phản ánh những mặt, những thuộc tính, những mối liên hệ cơ bản phổ biến nhất của toàn bộ thế giới hiện thực (bao gồm cả tự nhiên, xã hội và tư duy), ví dụ như các phạm trù: vật chất, ý thức, mâu thuẫn, nguyên nhân, kết quả, bản chất, hiện tượng.v.v...Bản chất của phạm trùChủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng: Phạm trù được hình thành trong quá trình hoạt động nhận thức và thực tiễn. Mỗi phạm trù là kết quả của giai đoạn nhận thức trước đó, đồng thời là điểm tựa cho giai đoạn nhận thức kế tiếp để con người đi sâu tìm hiểu bản chất của sự vật. Vì vậy, Lênin cho rằng, các phạm trù là những bậc thang của quá trình nhận thức. Là kết quả của hoạt động nhận thức và hoạt động cải tạo thực tiễn, các phạm trù phản ánh những thuộc tính, những mối liên hệ tương ứng vốn có trong bản thân hiện thực. Vì vậy, nội dung của chúng mang tính khách quan, bị thế giới khách quan quy định (mặc dù hình thức tồn tại của phạm trù là chủ quan). Do đó, phạm trù là những hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan.Phạm trù nguyên nhân, kết quảPhạm trù nguyên nhân dùng để chỉ sự tác động lẫn nhau giữa các mặt trong một sự vật, hiện tượng, hoặc giữa các sự vật, hiện tượng với nhau, từ đó tạo ra sự biến đổi nhất định. Phạm trù kết quả dùng để chỉ những biến đổi xuất hiện do sự tác động giữa các mặt, các yếu tố trong một sự vật, hiện tượng, hoặc giữa các sự vật, hiện tượng.Quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quảMối quan hệ giữa nguyên nhân và kết quả là mối quan hệ khách quan, bao hàm tính tất yếu: không có nguyên nhân nào không dẫn tới kết quả nhất định và ngược lại không có kết quả nào không có nguyên nhân.Nguyên nhân sinh ra kết quả, do vậy nguyên nhân bao giờ cũng có trước kết quả, còn kết quả bao giờ cũng xuất hiện sau nguyên nhân.Một nguyên nhân có thể sinh ra một hoặc nhiều kết quả và một kết quả có thể do một hoặc nhiều nguyên nhân tạo nên.Sự tác động của nhiều nguyên nhân dẫn đến sự hình thành một kết quả có thể diễn ra theo các hướng thuận, nghịch khác nhau và đều có ảnh hưởng đến sự hình thành kết quả, nhưng vị trí, vai trò của chúng là khác nhau: có nguyên nhân trực tiếp, nguyên nhân gián tiếp, nguyên nhân bên trong, nguyên nhân bên ngoài,... Ngược lại, một nguyên nhân có thể dẫn đến nhiều kết quả, trong đó có kết quả chính và phụ, cơ bản và không cơ bản, trực tiếp và gián tiếp,...Trong sự vận động của thế giới vật chất, không có nguyên nhân đầu tiên và kết quả cuối cùng. Ph.Ăngghen viết: Chúng ta cũng thấy rằng nguyên nhân và kết quả là những khái niệm chỉ có ý nghĩa là nguyên nhân và kết quả khi được áp dụng vào một trường hợp riêng biệt nhất định; nhưng một khi chúng ta nghiên cứu trường hợp riêng biệt ấy trong mối liên hộ chung của nó với toàn bộ thế giới thì những khái niệm ấy lại vẫn gần với nhau và xoắn xuýt với nhau trong một khái niệm về sự tác động qua lại lẫn nhau một cách phổ biến, trong đó nguyên nhân và kết quả luôn thay đổi vị trí cho nhau; cái ở đây hoặc trong lúc này là nguyên nhân thì ở chỗ khác hoặc ở lúc khác lại là kết quả, và ngược lại.Nhân quả (nguyên nhân kết quả) là một trong 6 cặp phạm trù cơ bản của triết học Mac Lenin.Nguyên nhân là phạm trù triết học dùng để chỉ sự tác động qua lại giữa các mặt, các bộ phận, các thuộc tính trong một sự vật hoặc giữa các sự vật với nhau gây ra một sự biến đổi nhất định.Kết quả là phạm trù triết học dùng để chỉ những biến đổi xuất hiện do nguyên nhân tạo ra. Ví dụ, sự tương tác lẫn nhau giữa các yếu tố trong hạt ngô là nguyên nhân làm cho từ hạt ngô nảy mầm lên cây ngô. Sự tác động giữa điện, xăng, không khí, áp xuất, v.v (nguyên nhân) gây ra sự nổ (kết quả) cho động cơ.Cần phân biệt nguyên nhân với nguyên cớ và điều kiện. Nguyên cớ là những sự vật, hiện tượng xuất hiện đồng thời cùng nguyên nhân nhưng chỉ có quan hệ bề ngoài, ngẫu nhiên chứ không sinh ra kết quả. Ví dụ, Mỹ lợi dụng nguyên cớ chống khủng bố và cho rằng Irắc có vũ khí huỷ diệt hàng loạt để tiến hành chiến tranh xâm lược Irắc. Thực chất, Irắc không có liên quan tới khủng bố và không có vũ khí huỷ diệt hàng loạt như thanh tra của Liên Hợp quốc đã kết luận. Điều kiện là hiện tượng cần thiết để nguyên nhân phát huy tác động. Trên cơ sở đó gây ra một biến đổi nhất định. Nhưng bản thân điều kiện không phải nguyên nhân. Ví dụ, nguyên nhân của hạt thóc nảy mầm là do những yếu tố bên trong hạt thóc tác động lẫn nhau gây nên, nhưng để nẩy thành mầm thì phải có điều kiện về nhiệt độ, độ ẩm, v.v.Triết học duy vật biện chứng cho rằng, mối liên hệ nhân quả có các tính chất:Tính khách quan. Điều này thể hiện ở chỗ, mối liên hệ nhân quả là vốn có của sự vật, không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người. Dù con người có biết hay không thì giữa các yếu tố trong một sự vật, hoặc giữa các sự vật vẫn liên hệ, tác động để gây ra những biến đổi nhất định.Tính phổ biến thể hiện ở chỗ, mọi sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội, tư duy đều có mối liên hệ nhân quả. Không có hiện tượng nào không có nguyên nhân của nó.Tính tất yếu thể hiện ở chỗ, cùng một nguyên nhân như nhau, trong những điều kiện như nhau thì kết quả gây ra phải như nhau. Nghĩa là nguyên nhân tác động trong những điều kiện càng ít khác nhau thì kết quả do chúng gây ra càng giống nhau.Quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả: Nguyên nhân là cái sinh ra kết quả, nên nguyên nhân luôn có trước kết quả về mặt thời gian. Tuy nhiên, không phải mọi sự nối tiếp nhau về thời gian đều là quan hệ nhân quả. Ví dụ, ngày và đêm không phải là nguyên nhân của nhau. Sấm và chớp không phải nguyên nhân của nhau. Muốn phân biệt nguyên nhân và kết quả thì phải tìm ở quan hệ sản sinh, tức là cái nào sinh ra cái nào. Một nguyên nhân có thể sinh ra nhiều kết quả khác nhau tuỳ thuộc vào điều kiện cụ thể, ví dụ: gạo và nước đun sôi có thể thành cơm, cháo, v.v phụ thuộc vào nhiệt độ, mức nước, v.v. Ngược lại, một kết quả có thể do nhiều nguyên nhân gây ra, ví dụ: sức khoẻ của chúng ta tốt do luyện tập thể dục, do ăn uống điều độ, do chăm sóc y tế tốt v.v chứ không chỉ một nguyên nhân nào. Một học sinh trượt đại học: người cho rằng do học sinh đó lười học, người cho rằng cho học sinh đó học kém, người cho rằng do học sinh đó kém may mắn. Bản thân học sinh đó cũng ko hiểu vì nguyên nhân gì mà mình lại trượt đại học. …etc… Trong những điều kiện nhất định, nguyên nhân và kết quả có thể chuyển hoá lẫn nhau. Nghĩa là cái trong quan hệ này được coi là nguyên nhân thì trong quan hệ khác có thể là kết quả. Ví dụ, chăm chỉ làm việc là nguyên nhân của thu nhập cao. Thu nhập cao lại là nguyên nhân để nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho bản thân. Kết quả, sau khi xuất hiện lại tác động trở lại nguyên nhân (hoặc thúc đẩy nguyên nhân tác động theo hướng tích cực, hoặc ngược lại). Ví dụ, nghèo đói, thất học làm gia tăng dân số, đến lượt nó, gia tăng dân số lại làm tăng nghèo đói, thất học, v.v.Một vài kết luận về mặt phương pháp luận: Trong nhận thức và hoạt động thực tiễn cần tôn trọng tính khách quan của mối liên hệ nhân quả. Không được lấy ý muốn chủ quan thay cho quan hệ nhân quả. Muốn cho hiện tượng nào đó xuất hiện cần tạo ra những nguyên nhân cùng những điều kiện cho những nguyên nhân đó phát huy tác dụng. Ngược lại, muốn cho hiện tượng nào đó mất đi thì phải làm mất nguyên nhân tồn tại của nó cũng như những điều kiện để các nguyên nhân ấy phát huy tác dụng. Phải biết xác định đúng nguyên nhân để giải quyết vấn đề nảy sinh vì các nguyên nhân có vai trò không như nhau. Nguyên nhân có thể tác động trở lại kết quả; do đó, trong hoạt động thực tiễn cần khai thác, tận dụng những kết quả đã đạt được để thúc đẩy nguyên nhân tác động theo hướng tích cực phục vụ cho con người.KẾT LUẬN:Phạm trù triết học là những khái niệm chung nhất, rộng nhất phản ánh những mặt, những mối liện hệ bản chất của các sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội và tư duy. Phạm trù triết học là công cụ của nhận thức, đánh dấu trình độ nhận thức của con người. Là một trong 6 cặp phạm trù cơ bản, điều đó cho thấy vị trí vai trò quan trọng và tính đúng đắn của phạm trù “nguyên nhân kết quả” và việc cần thiết phải vận dụng chúng trong cuộc sống.Trong các tôn giáo (Phật giáo, Thiên Chúa Giáo …) , các thành ngữ, tục ngữ, ca dao, văn học dân gian đều nhắc đến “nhân quả” nhằm khuyên con người nên sống hướng thiện, làm việc gì cũng phải nghĩ trước nghĩ sau, lường trước các hậu quả để không làm điều ác, luôn làm điều tốt để có được những kết quả tốt, góp phần làm cho cuộc sống và xã hội ngày càng tốt đẹp hơn. Điều đó càng cho thấy tầm quan trọng và ý nghĩa của “nhân quả”.Tuy nhiên, trong thực tế, không phải ai cũng nhận rõ được nguyên nhân và nhận thức được kết quả. Vấn đề là chúng ta mong muốn kết quả như thế nào? Kết quả nhận được đôi khi không biết được là tốt hay là xấu? Ví dụ: trượt đại học cho là kết quả xấu, nhưng nhờ đó trong tương lai có thể lại dẫn đến một kết quả tốt…Ví dụ vấn đề nữa là: nguyên nhân nào dẫn đến kết quả đấy thì chưa chắc ai cũng đã phân tích đúng, có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến kết quả, mỗi người có cách nhìn nhận khác nhau sẽ đưa ra nguyên nhân khác nhau, từ đó lại có các hành động tiếp theo khác nhau và lại nhận được kết quả khác nhau…Bởi vậy trong cuộc sống vẫn có người đau khổ, có người hạnh phúc, có người thành công, có người thất bại… Đó là do nhận thức của mỗi người và cách vận dụng quy luật nhân quả của mỗi người đến đâu. A.PHẦN MỞ ĐẦU1.Lý do chọn đề tàiTrong những năm vừa qua, cùng với sự tăng trưởng của Kinh tế, Việt Nam đã và đang nhập những thiết bị tiên tiến nhằm củng cố, phát triển nền công nghiệp. Phương tiện giao thông cũng là một trong những sản phẩm được nhập vào thị trường Việt Nam đáng kể để phục vụ cho nhu cầu đi lại, làm việc và kinh doanh.Bên cạnh sự phát triển không ngừng của phương tiện giao thông, với những hành vi thiếu ý thức, thiếu trách nhiệm mà tai nạn giao thông đã trở thành một trong những vấn nạn lớn nhất hiện nay. Theo thống kê trên báo cảnh sát nhân dân thì vào năm 2013, Việt Nam với số dân 89,7 triệu thì có 9.369 người dân thiệt mạng do tai nạn giao thông. Một con số không hề nhỏ. Vào năm 2014, theo Ủy ban An toàn giao thông Quốc gia cho biết toàn quốc xảy ra 25.322 vụ tai nạn giao thông, làm chết 8.996 người, bị thương 24.417 người. Tuy nhiên, con số này so với năm trước đã giảm, nhưng vẫn còn rất cao.Năm 2015, Cả nước ghi nhận 22.850 vụ tai nạn giao thông, hơn 8.700 người chết và hơn 21.000 người bị thương.Năm 2016 (tính từ 16122015 đến 15122016), cả nước xảy ra 21.589 vụ tai nạn giao thông, làm chết 8.685 người, làm bị thương 19.280 người. So với cùng kỳ năm 2015, giảm 1.261 vụ ( giảm 5,52%), giảm 43 người chết (giảm 0,49%), giảm 1.792 người bị thương (giảm 8,5%). Trong năm 2017, Toàn quốc xảy ra hơn 20.000 vụ tai nạn giao thông, làm chết hơn 8.000 người, bị thương 17.000 người.
Trang 1TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
VỀ CẬP PHẠM TRÙ NGUYÊN NHÂN VÀ KẾT QUẢ
TRONG TÌNH TRẠNG TAI NẠN GIAO THÔNG HIỆN
NAY
Trang 2Khái lược về phạm trù triết học
Định nghĩa về phạm trù
Trong quá trình suy nghĩ, con người thường xuyên phải sử dụng những khái niệmnhất định như “người”, “động vật”, “kim loại”, vv… Những khái niệm đó là hìnhthức của tư duy để phản ánh những mặt, những thuộc tính quan trọng nhất của lớp
Mỗi bộ môn khoa học đều có phạm trù riêng của mình Chẳng hạn, vật lý học có cácphạm trù năng lượng, khối lượng…; trong sinh học có phạm trù biến dị, di truyền,
…; trong kinh tế học có các phạm trù hàng hóa, giá trị, mỹ học có các phạm trù cáiđẹp, cái bi, cái hài… v.v…
Phạm trù của phép biện chứng duy vật là những khái niệm chung nhất, phản ánh những mặt, những thuộc tính, những mối liên hệ cơ bản phổ biến nhất của toàn bộ thế giới hiện thực (bao gồm cả tự nhiên, xã hội và tư duy), ví dụ như các phạm trù:
vật chất, ý thức, mâu thuẫn, nguyên nhân, kết quả, bản chất, hiện tượng.v.v
Bản chất của phạm trù
Chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng:
- Phạm trù được hình thành trong quá trình hoạt động nhận thức và thực tiễn Mỗi
phạm trù là kết quả của giai đoạn nhận thức trước đó, đồng thời là điểm tựa cho giai
Trang 3đoạn nhận thức kế tiếp để con người đi sâu tìm hiểu bản chất của sự vật Vì vậy,Lênin cho rằng, các phạm trù là những bậc thang của quá trình nhận thức.
- Là kết quả của hoạt động nhận thức và hoạt động cải tạo thực tiễn, các phạm trùphản ánh những thuộc tính, những mối liên hệ tương ứng vốn có trong bản thân hiệnthực Vì vậy, nội dung của chúng mang tính khách quan, bị thế giới khách quan quy
định (mặc dù hình thức tồn tại của phạm trù là chủ quan) Do đó, phạm trù là những hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan.
Phạm trù nguyên nhân, kết quả
Phạm trù nguyên nhân dùng để chỉ sự tác động lẫn nhau giữa các mặt trong một sựvật, hiện tượng, hoặc giữa các sự vật, hiện tượng với nhau, từ đó tạo ra sự biến đổinhất định Phạm trù kết quả dùng để chỉ những biến đổi xuất hiện do sự tác độnggiữa các mặt, các yếu tố trong một sự vật, hiện tượng, hoặc giữa các sự vật, hiệntượng
Quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả
Mối quan hệ giữa nguyên nhân và kết quả là mối quan hệ khách quan, bao hàm tínhtất yếu: không có nguyên nhân nào không dẫn tới kết quả nhất định và ngược lạikhông có kết quả nào không có nguyên nhân
Nguyên nhân sinh ra kết quả, do vậy nguyên nhân bao giờ cũng có trước kết quả,còn kết quả bao giờ cũng xuất hiện sau nguyên nhân
Một nguyên nhân có thể sinh ra một hoặc nhiều kết quả và một kết quả có thể domột hoặc nhiều nguyên nhân tạo nên
Sự tác động của nhiều nguyên nhân dẫn đến sự hình thành một kết quả có thể diễn
Trang 4kết quả, nhưng vị trí, vai trò của chúng là khác nhau: có nguyên nhân trực tiếp,nguyên nhân gián tiếp, nguyên nhân bên trong, nguyên nhân bên ngoài, Ngượclại, một nguyên nhân có thể dẫn đến nhiều kết quả, trong đó có kết quả chính vàphụ, cơ bản và không cơ bản, trực tiếp và gián tiếp,
Trong sự vận động của thế giới vật chất, không có nguyên nhân đầu tiên và kết quảcuối cùng Ph.Ăngghen viết: "Chúng ta cũng thấy rằng nguyên nhân và kết quả lànhững khái niệm chỉ có ý nghĩa là nguyên nhân và kết quả khi được áp dụng vàomột trường hợp riêng biệt nhất định; nhưng một khi chúng ta nghiên cứu trường hợpriêng biệt ấy trong mối liên hộ chung của nó với toàn bộ thế giới thì những kháiniệm ấy lại vẫn gần với nhau và xoắn xuýt với nhau trong một khái niệm về sự tácđộng qua lại lẫn nhau một cách phổ biến, trong đó nguyên nhân và kết quả luôn thayđổi vị trí cho nhau; cái ở đây hoặc trong lúc này là nguyên nhân thì ở chỗ khác hoặc
ở lúc khác lại là kết quả, và ngược lại"
Nhân - quả (nguyên nhân - kết quả) là một trong 6 cặp phạm trù cơ bản
của triết học Mac Lenin
Nguyên nhân là phạm trù triết học dùng để chỉ sự tác động qua lại giữa
các mặt, các bộ phận, các thuộc tính trong một sự vật hoặc giữa các sự vật vớinhau gây ra một sự biến đổi nhất định
Kết quả là phạm trù triết học dùng để chỉ những biến đổi xuất hiện do
nguyên nhân tạo ra Ví dụ, sự tương tác lẫn nhau giữa các yếu tố trong hạt ngô
là nguyên nhân làm cho từ hạt ngô nảy mầm lên cây ngô Sự tác động giữađiện, xăng, không khí, áp xuất, v.v (nguyên nhân) gây ra sự nổ (kết quả) chođộng cơ
Cần phân biệt nguyên nhân với nguyên cớ và điều kiện Nguyên cớ
là những sự vật, hiện tượng xuất hiện đồng thời cùng nguyên nhân nhưng chỉ
có quan hệ bề ngoài, ngẫu nhiên chứ không sinh ra kết quả Ví dụ, Mỹ lợi dụngnguyên cớ chống khủng bố và cho rằng Irắc có vũ khí huỷ diệt hàng loạt để
Trang 5tiến hành chiến tranh xâm lược Irắc Thực chất, Irắc không có liên quan tớikhủng bố và không có vũ khí huỷ diệt hàng loạt như thanh tra của Liên Hợpquốc đã kết luận Điều kiện là hiện tượng cần thiết để nguyên nhân phát huytác động Trên cơ sở đó gây ra một biến đổi nhất định Nhưng bản thân điềukiện không phải nguyên nhân Ví dụ, nguyên nhân của hạt thóc nảy mầm là donhững yếu tố bên trong hạt thóc tác động lẫn nhau gây nên, nhưng để nẩythành mầm thì phải có điều kiện về nhiệt độ, độ ẩm, v.v.
Triết học duy vật biện chứng cho rằng, mối liên hệ nhân quả có các tính chất:
Tính khách quan Điều này thể hiện ở chỗ, mối liên hệ nhân quả là vốn
có của sự vật, không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người Dù conngười có biết hay không thì giữa các yếu tố trong một sự vật, hoặc giữa các sựvật vẫn liên hệ, tác động để gây ra những biến đổi nhất định
Tính phổ biến thể hiện ở chỗ, mọi sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã
hội, tư duy đều có mối liên hệ nhân quả Không có hiện tượng nào không cónguyên nhân của nó
Tính tất yếu thể hiện ở chỗ, cùng một nguyên nhân như nhau, trong
những điều kiện như nhau thì kết quả gây ra phải như nhau Nghĩa là nguyênnhân tác động trong những điều kiện càng ít khác nhau thì kết quả do chúnggây ra càng giống nhau
Quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả:
- Nguyên nhân là cái sinh ra kết quả, nên nguyên nhân luôn có trước kếtquả về mặt thời gian Tuy nhiên, không phải mọi sự nối tiếp nhau về thời gianđều là quan hệ nhân quả Ví dụ, ngày và đêm không phải là nguyên nhân củanhau Sấm và chớp không phải nguyên nhân của nhau Muốn phân biệt nguyênnhân và kết quả thì phải tìm ở quan hệ sản sinh, tức là cái nào sinh ra cái nào
- Một nguyên nhân có thể sinh ra nhiều kết quả khác nhau tuỳ thuộc vàođiều kiện cụ thể, ví dụ: gạo và nước đun sôi có thể thành cơm, cháo, v.v phụthuộc vào nhiệt độ, mức nước, v.v
Trang 6- Ngược lại, một kết quả có thể do nhiều nguyên nhân gây ra, ví dụ: sứckhoẻ của chúng ta tốt do luyện tập thể dục, do ăn uống điều độ, do chăm sóc y
tế tốt v.v chứ không chỉ một nguyên nhân nào Một học sinh trượt đại học:người cho rằng do học sinh đó lười học, người cho rằng cho học sinh đó họckém, người cho rằng do học sinh đó kém may mắn Bản thân học sinh đó cũng
ko hiểu vì nguyên nhân gì mà mình lại trượt đại học …etc…
- Trong những điều kiện nhất định, nguyên nhân và kết quả có thểchuyển hoá lẫn nhau Nghĩa là cái trong quan hệ này được coi là nguyên nhânthì trong quan hệ khác có thể là kết quả Ví dụ, chăm chỉ làm việc là nguyênnhân của thu nhập cao Thu nhập cao lại là nguyên nhân để nâng cao đời sốngvật chất, tinh thần cho bản thân
- Kết quả, sau khi xuất hiện lại tác động trở lại nguyên nhân (hoặc thúcđẩy nguyên nhân tác động theo hướng tích cực, hoặc ngược lại) Ví dụ, nghèođói, thất học làm gia tăng dân số, đến lượt nó, gia tăng dân số lại làm tăngnghèo đói, thất học, v.v
Một vài kết luận về mặt phương pháp luận:
- Trong nhận thức và hoạt động thực tiễn cần tôn trọng tính khách quancủa mối liên hệ nhân quả Không được lấy ý muốn chủ quan thay cho quan hệnhân quả
- Muốn cho hiện tượng nào đó xuất hiện cần tạo ra những nguyên nhâncùng những điều kiện cho những nguyên nhân đó phát huy tác dụng Ngượclại, muốn cho hiện tượng nào đó mất đi thì phải làm mất nguyên nhân tồn tạicủa nó cũng như những điều kiện để các nguyên nhân ấy phát huy tác dụng
- Phải biết xác định đúng nguyên nhân để giải quyết vấn đề nảy sinh vìcác nguyên nhân có vai trò không như nhau
- Nguyên nhân có thể tác động trở lại kết quả; do đó, trong hoạt độngthực tiễn cần khai thác, tận dụng những kết quả đã đạt được để thúc đẩynguyên nhân tác động theo hướng tích cực phục vụ cho con người
KẾT LUẬN:
Trang 7Phạm trù triết học là những khái niệm chung nhất, rộng nhất phản ánhnhững mặt, những mối liện hệ bản chất của các sự vật, hiện tượng trong tựnhiên, xã hội và tư duy Phạm trù triết học là công cụ của nhận thức, đánh dấutrình độ nhận thức của con người Là một trong 6 cặp phạm trù cơ bản, điều đócho thấy vị trí vai trò quan trọng và tính đúng đắn của phạm trù “nguyênnhân - kết quả” và việc cần thiết phải vận dụng chúng trong cuộc sống.
Trong các tôn giáo (Phật giáo, Thiên Chúa Giáo …) , các thành ngữ, tụcngữ, ca dao, văn học dân gian đều nhắc đến “nhân - quả” nhằm khuyên conngười nên sống hướng thiện, làm việc gì cũng phải nghĩ trước nghĩ sau, lườngtrước các hậu quả để không làm điều ác, luôn làm điều tốt để có được nhữngkết quả tốt, góp phần làm cho cuộc sống và xã hội ngày càng tốt đẹp hơn Điều
đó càng cho thấy tầm quan trọng và ý nghĩa của “nhân - quả”
Tuy nhiên, trong thực tế, không phải ai cũng nhận rõ được nguyên nhân
và nhận thức được kết quả Vấn đề là chúng ta mong muốn kết quả như thếnào? Kết quả nhận được đôi khi không biết được là tốt hay là xấu? Ví dụ: trượtđại học cho là kết quả xấu, nhưng nhờ đó trong tương lai có thể lại dẫn đếnmột kết quả tốt…
Ví dụ vấn đề nữa là: nguyên nhân nào dẫn đến kết quả đấy thì chưa chắc
ai cũng đã phân tích đúng, có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến kết quả, mỗingười có cách nhìn nhận khác nhau sẽ đưa ra nguyên nhân khác nhau, từ đó lại
có các hành động tiếp theo khác nhau và lại nhận được kết quả khác nhau…
Bởi vậy trong cuộc sống vẫn có người đau khổ, có người hạnh phúc, cóngười thành công, có người thất bại… Đó là do nhận thức của mỗi người vàcách vận dụng quy luật nhân quả của mỗi người đến đâu
Trang 8A PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong những năm vừa qua, cùng với sự tăng trưởng của Kinh tế, Việt Nam đã vàđang nhập những thiết bị tiên tiến nhằm củng cố, phát triển nền công nghiệp.Phương tiện giao thông cũng là một trong những sản phẩm được nhập vào thịtrường Việt Nam đáng kể để phục vụ cho nhu cầu đi lại, làm việc và kinh doanh.Bên cạnh sự phát triển không ngừng của phương tiện giao thông, với những hành
vi thiếu ý thức, thiếu trách nhiệm mà tai nạn giao thông đã trở thành một trongnhững vấn nạn lớn nhất hiện nay
Theo thống kê trên báo cảnh sát nhân dân thì vào năm 2013, Việt Nam với sốdân 89,7 triệu thì có 9.369 người dân thiệt mạng do tai nạn giao thông Một con sốkhông hề nhỏ
Vào năm 2014, theo Ủy ban An toàn giao thông Quốc gia cho biết toàn quốc xảy
ra 25.322 vụ tai nạn giao thông, làm chết 8.996 người, bị thương 24.417 người Tuynhiên, con số này so với năm trước đã giảm, nhưng vẫn còn rất cao
Năm 2015, Cả nước ghi nhận 22.850 vụ tai nạn giao thông, hơn 8.700 người chết
và hơn 21.000 người bị thương
Năm 2016 (tính từ 16-12-2015 đến 15-12-2016), cả nước xảy ra 21.589 vụ tainạn giao thông, làm chết 8.685 người, làm bị thương 19.280 người So với cùng kỳnăm 2015, giảm 1.261 vụ ( giảm 5,52%), giảm 43 người chết (giảm 0,49%), giảm1.792 người bị thương (giảm 8,5%)
Trong năm 2017, Toàn quốc xảy ra hơn 20.000 vụ tai nạn giao thông, làm chếthơn 8.000 người, bị thương 17.000 người
Trang 9Qua điều tra, phân tích của các cơ quan chức năng đều cho rằng đa phần các vụtai nạn giao thông xảy ra là do ý thức của người tham gia giao thông (chiếm 71,6%).Trong các vụ tai nạn giao thông, 66,7% là do mô tô, xe máy; ô tô chiếm 27,07%.Vói số liệu trên chúng ta có thể thấy tầm quan trọng của việc ý thức, trách nhiệmcủa mỗi cá thể, tập thể khi tham gia giao thông
Mặc dù các ban lãnh đạo đã chủ trương đề xuất ra các phương pháp, cũng như ápdụng những chính sách khắt khe về việc vi phạm trật tự, an toàn giao thông nhưng
số lượng tai nạn giao thông vẫn chưa giảm đáng kể
Xuất phát từ thực trạng trên, tôi chọn đề tài “Vận dụng cặp phạm trù nguyên
nhân và kết quả để phân tích thực trạng tai nạn giao thông ở nước ta hiện nay”
để thực hiện tiểu luận triết học của mình
Câu hỏi nghiên cứu của Tiểu luận là: người dân Việt Nam cần làm gì và làm nhưthế nào để góp phần làm giảm tỉ lệ thương vong của tai nạn giao thông ở Việt Nam
2 Mục tiêu nghiên cứu
Đánh giá thực trạng tai nạn giao thông, phân tích, đánh giá ý thức, nhiệm vụ củangười dân trong vấn đề tai nạn giao thông và đề xuất một số giải pháp góp phần cảithiện tỉ lệ tai nạn giao thông ở Việt Nam
3 Đối tượng nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu: người dân Việt Nam và những kiều bào đang sống trênlãnh thổ Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu trong phạm vi nước Việt Nam trong giai đoạn
từ 2016 đến 2018
4 Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Trang 10Đề tài sử dụng tổng hợp các phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng vàchủ nghĩa duy vật lịch sử Trong đó, chú ý một số phương pháp chính là: Logic vàlịch sử, phân tích và tổng hợp, gắn lý luận với thực tiễn để thực hiện nhiệm vụ đề tàiđặt ra.
Trang 11B Phần nội dung
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CẶP PHẠM TRÙNGUYÊN NHÂN VÀ KẾT QUẢ
1.1 Khái niệm cặp phạm trù nguyên nhân và kết quả:
Nguyên nhân là phạm trù triết học dùng để chỉ sự tác động qua lại giữa cácmặt, các bộ phận, các thuộc tính trong một sự vật hoặc giữa các sự vật với nhau gây
ra một sự biến đổi nhất định
Kết quả là phạm trù triết học dùng để chỉ những biến đổi xuất hiện do nguyênnhân tạo ra Ví dụ, sự tương tác lẫn nhau giữa các yếu tố trong hạt ngô là nguyênnhân làm cho từ hạt ngô nảy mầm lên cây ngô Sự tác động giữa điện, xăng, khôngkhí, áp xuất, v.v (nguyên nhân) gây ra sự nổ (kết quả) cho động cơ
Cần phân biệt nguyên nhân với nguyên cớ và điều kiện Nguyên cớ là những
sự vật, hiện tượng xuất hiện đồng thời cùng nguyên nhân nhưng chỉ có quan hệ bềngoài, ngẫu nhiên chứ không sinh ra kết quả Ví dụ, Mỹ lợi dụng nguyên cớ chốngkhủng bố và cho rằng Irắc có vũ khí huỷ diệt hàng loạt để tiến hành chiến tranh xâmlược Irắc Thực chất, Irắc không có liên quan tới khủng bố và không có vũ khí huỷdiệt hàng loạt như thanh tra của Liên Hợp quốc đã kết luận Điều kiện là hiện tượngcần thiết để nguyên nhân phát huy tác động Trên cơ sở đó gây ra một biến đổi nhấtđịnh Nhưng bản thân điều kiện không phải nguyên nhân Ví dụ, nguyên nhân củahạt thóc nảy mầm là do những yếu tố bên trong hạt thóc tác động lẫn nhau gây nên,nhưng để nẩy thành mầm thì phải có điều kiện về nhiệt độ, độ ẩm, v.v
Triết học duy vật biện chứng cho rằng, mối liên hệ nhân quả có các tính chất:Tính khách quan: điều này thể hiện ở chỗ, mối liên hệ nhân quả là vốn có của
sự vật, không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người Dù con người có biết
Trang 12hay không thì giữa các yếu tố trong một sự vật, hoặc giữa các sự vật vẫn liên hệ, tácđộng để gây ra những biến đổi nhất định.
Tính phổ biến: thể hiện ở chỗ, mọi sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội,
tư duy đều có mối liên hệ nhân quả Không có hiện tượng nào không có nguyênnhân của nó
Tính tất yếu: thể hiện ở chỗ, cùng một nguyên nhân như nhau, trong nhữngđiều kiện như nhau thì kết quả gây ra phải như nhau Nghĩa là nguyên nhân tác độngtrong những điều kiện càng ít khác nhau thì kết quả do chúng gây ra càng giống
1.2 Mối quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả
Nguyên nhân là cái sinh ra kết quả, nên nguyên nhân luôn có trước kết quả vềmặt thời gian Tuy nhiên, không phải mọi sự nối tiếp nhau về thời gian đều là quan
hệ nhân quả Ví dụ, ngày và đêm không phải là nguyên nhân của nhau Sấm và chớpkhông phải nguyên nhân của nhau Muốn phân biệt nguyên nhân và kết quả thì phảitìm ở quan hệ sản sinh, tức là cái nào sinh ra cái nào
Một nguyên nhân có thể sinh ra nhiều kết quả khác nhau tuỳ thuộc vào điềukiện cụ thể, ví dụ: gạo và nước đun sôi có thể thành cơm, cháo, v.v phụ thuộc vàonhiệt độ, mức nước, v.v
Ngược lại, một kết quả có thể do nhiều nguyên nhân gây ra, ví dụ: sức khoẻcủa chúng ta tốt do luyện tập thể dục, do ăn uống điều độ, do chăm sóc y tế tốt v.vchứ không chỉ một nguyên nhân nào
b Trong những điều kiện nhất định, nguyên nhân và kết quả có thể chuyểnhoá lẫn nhau Nghĩa là cái trong quan hệ này được coi là nguyên nhân thì trongquan hệ khác có thể là kết quả Ví dụ, chăm chỉ làm việc là nguyên nhân của thu
Trang 13nhập cao Thu nhập cao lại là nguyên nhân để nâng cao đời sống vật chất, tinh thầncho bản thân.
Kết quả, sau khi xuất hiện lại tác động trở lại nguyên nhân (hoặc thúc đẩynguyên nhân tác động theo hướng tích cực, hoặc ngược lại) Ví dụ, nghèo đói, thấthọc làm gia tăng dân số, đến lượt nó, gia tăng dân số lại làm tăng nghèo đói, thấthọc, v.v
1.3 Ý nghĩa phương pháp luận của cặp phạm trù nguyên nhân và kết quả
- Trong nhận thức và hoạt động thực tiễn cần tôn trọng tính khách quan củamối liên hệ nhân quả Không được lấy ý muốn chủ quan thay cho quan hệ nhân quả
- Muốn cho hiện tượng nào đó xuất hiện cần tạo ra những nguyên nhân cùngnhững điều kiện cho những nguyên nhân đó phát huy tác dụng Ngược lại, muốncho hiện tượng nào đó mất đi thì phải làm mất nguyên nhân tồn tại của nó cũng nhưnhững điều kiện để các nguyên nhân ấy phát huy tác dụng
- Phải biết xác định đúng nguyên nhân để giải quyết vấn đề nảy sinh vì cácnguyên nhân có vai trò không như nhau
- Nguyên nhân có thể tác động trở lại kết quả; do đó, trong hoạt động thựctiễn cần khai thác, tận dụng những kết quả đã đạt được để thúc đẩy nguyên nhân tácđộng theo hướng tích cực phục vụ cho con người
Trang 14CHƯƠNG 2: VẬN DỤNG CẶP PHẠM TRÙ NGUYÊN NHÂN VÀ KẾT QUẢ VÀO PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG TAI NẠN GIAO THÔNG Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
2.1 Thực trạng tai nạn giao thông ở nước ta hiện nay
Sáng ngày 05/07/2018, Ủy ban An toàn giao thông quốc gia tổ chức Hội nghịtrực tuyến toàn quốc sơ kết công tác bảo đảm trật tự an toàn giao thông Dự và chỉđạo hội nghị có Phó thủ tướng thường trực Trương Hòa Bình - Chủ tịch Ủy ban Antoàn giao thông quốc gia
Trong đó, đường bộ xảy ra 8.889 vụ, làm chết 4.027 người, bị thương 6.997người So với cùng kỳ năm 2017 giảm 568 vụ (-6.01%), giảm 04 người chết (-0.10%), giảm 893 người bị thương (-11.32%)
Đường sắt xảy ra 62 vụ, làm chết 53 người, bị thương 28 người So với cùng
kỳ năm 2017 giảm 14 vụ (-18.42%), giảm 12 người chết (-18.46%), giảm 02 người
bị thương (-6.67%)
Đường thuỷ nội địa xảy ra 40 vụ, làm chết 22 người, bị thương 02 người Sovới cùng kỳ năm 2017, giảm 10 vụ (-20%), giảm 04 người chết (-15.38%), giảm 12người bị thương (-85.71%)
Lĩnh vực hàng không đã xảy ra 10 sự cố (trong đó có 03 sự cố mức C, 07 sự
cố mức D); so với cùng kỳ năm 2017 tăng 05 sự cố
Lĩnh vực hàng hải đã xảy ra 08 vụ, làm chết 01 người So với cùng kỳ năm
2017, giảm 02 vụ (-20.00%), giảm 11 người chết (-91.67%), giảm 01 người bịthương (-100%)
Theo thống kê của Ủy ban An toàn giao thông quốc gia, có 35 tỉnh, thành phốtrực thuộc Trung ương có số người chết vì tai nạn giao thông giảm so với cùng kỳnăm 2017, trong đó 09 địa phương giảm trên 20% số người chết là: Vĩnh Phúc, Lào
Trang 15Cai, Bạc Liêu, Yên Bái, An Giang, Hải Phòng, Tuyên Quang, Thanh Hóa, Đắc Lắc.Đặc biệt, các tỉnh: Vĩnh Phúc, Lào Cai, Bạc Liêu giảm trên 30% số người chết dotai nạn giao thông.
Tuy nhiên, vẫn còn 26 địa phương có số người chết vì tai nạn giao thông tăng
so với cùng kỳ 2017, trong đó 10 tỉnh tăng trên 20% là: Quảng Nam, Kiên Giang,Điện Biên, Hậu Giang, Cao Bằng, Bắc Kạn, Cà Mau, Hải Dương, Bắc Giang, TâyNinh, trong đó, có 04 tỉnh có số người chết tăng trên 100% là: Cà Mau, Hải Dương,Bắc Giang, Tây Ninh
Về nguyên nhân tai nạn giao thông, Ủy ban An toàn Giao thông Quốc gia chohay, phân tích trên 6.804 vụ tai nạn giao thông đường bộ: 26% do người điều khiểnphương tiện vi phạm làn đường khiển phương tiện vi phạm làn đường, phần đường;8,77% do vi phạm tốc độ xe chạy; 8,86% do chuyển hướng không chú ý; 6,23% dokhông nhường đường; 5,97% do vượt xe sai quy định; 7,82% do vi phạm quy trìnhthao tác lái xe; 2,32% do tránh xe; 4,23% do sử dụng rượu bia; 29,8% do vi phạmbiển báo hiệu đường bộ, dừng đỗ sai quy định, không có Giấy phép lái xe, vi phạmquy trình thao tác lái xe, phương tiện không đảm bảo an toàn kỹ thuật, do người đi
bộ, do công trình giao thông và các nguyên nhân khác
Điều đáng chú ý là tình trạng chống lại cảnh sát giao thông khi thi hànhnhiệm vụ với tính chất, mức độ ngày càng nghiêm trọng Trong 06 tháng đầu năm
2018 xảy ra 15 vụ, làm 16 cán bộ chiến sĩ bị thương, bắt giữ 13 đối tượng vi phạm
Phát biểu tại hội nghị Phó Thủ tướng Trương Hòa Bình yêu cầu các địaphương tăng cường trách nhiệm, đóng góp ý kiến, giải pháp để đảm bảo trật tự antoàn giao thông thời gian tới
Phó Thủ tướng đánh giá Luật xử lý vi phạm hành chính quy định về việc xửphạt trong lĩnh vực giao thông hiện chưa đủ mức răn đe, phòng ngừa những hành vi