Chính sách kế toán là các nguyên tắc, cơ sở, qui định, qui luật và phương pháp kế toán cụ thể được đơn vị áp dụng trong việc lập và trình bày các báo cáo tài chính.Cơ sở dồn tích là một
Trang 1IPSAS 1 - TRÌNH BÀY BÁO CÁO TÀI CHÍNH
Lời nói đầu
Chuẩn mực kế toán công quốc tế này được soạn thảo dựa trên chuẩn mực kế toánquốc tế (IAS) số 1, “Trình bày báo cáo tài chính”, do Uỷ ban chuẩn mực kế toánquốc tế (IASC) ban hành Hội đồng chuẩn mực kế toán quốc tế (IASB) và Uỷ banchuẩn mực kế toán quốc tế (IASCF) được thành lập năm 2001 để thay thế IASC.Các chuẩn mực kế toán quốc tế (IASs) do IASC ban hành vẫn còn hiệu lực cho đếnkhi nó được sửa đổi hoặc huỷ bỏ bởi IASB Các đoạn trích từ IAS 1 được sao chéplại trong ấn phẩm này của Uỷ ban lĩnh vực công thuộc Liên đoàn kế toán quốc tếvới sự cho phép của IASB
Tài liệu về IASs được IASB xuất bản bằng tiếng Anh và các bản copy có thể nhậnđược trực tiếp từ bộ phận xuất bản của IASB theo địa chỉ: tầng 7, 166 Fleet Street,London EC4A2DY, Anh quốc
Địa chỉ email: publications@iasb.orgTrang website: http://www.iasb.orgIASs, các bản thảo và những ấn phẩm khác của IASC và IASB thuộc bản quyền củaIASCF
“IAS”, “IASB”, “IASC”, “IASCF” và “Chuẩn mực kế toán quốc tế” là nhữngthương hiệu của IASCF và không được phép sử dụng nếu không được sự nhất trícủa IASCF
Trang 2Tháng 5 năm 2000IPSAS 1 - TRÌNH BÀY BÁO CÁO TÀI CHÍNH
NỘI DUNG
ĐoạnMục đích
Phạm vi 1-5Các khái niệm 6-12
Đơn vị kinh tế 7-9Lợi ích kinh tế tương lai hoặc dịch vụ tiềm tàng 10Đơn vị kinh doanh bằng vốn Nhà nước……… … 11Tài sản thuần/vốn chủ sở hữu 12Mục đích của báo cáo tài chính 13-16Trách nhiệm lập báo cáo tài chính 17-18Các thành phần của báo cáo tài chính 19-24Xem xét tổng thể 25-63
Trình bày hợp lý và tuân thủ các chuẩn mực kế toán công quốc tế 25-36Chính sách kế toán 37-42Hoạt động liên tục 43-46Trình bày nhất quán 47-49Trọng yếu và tồng hợp 50-53
Bù trừ… ………… 54-59Thông tin có thể so sánh ……… 60-63Cấu trúc và nội dung 64-133
Giới thiệu 64-74Đặc điểm của các báo cáo tài chính 66-70
Kỳ kế toán…… 71-73Thời hạn báo cáo 74Báo cáo tình hình tài chính 75-100
Sự khác nhau giữa ngắn hạn và dài hạn 75-78Tài sản ngắn hạn 79-82
Nợ ngắn hạn 83-88Thông tin được trình bày trong báo cáo tình hình tài chính…… 89-94Thông tin hoặc được trình bày trong báo cáo tình hình tài chính
hoặc trong giải trình báo cáo tài chính………… 95-100
Trang 3Báo cáo kết quả hoạt động 101-113
Thông tin được trình bày trong báo cáo kết quả hoạt động 101-103Thông tin hoặc được trình bày trong báo cáo kết quả hoạt động
hoặc trong giải trình báo cáo tài chính……… 104-113Báo cáo thay đổi về tài sản thuần/vốn chủ sở hữu 114-120Báo cáo về luồng tiền 121Giải trình báo cáo tài chính…… 122-133
Cấu trúc 122-127Trình bày chính sách kế toán 128-132Giải trình khác 133Điều khoản thi hành 34-135Ngày hiệu lực 36-137Phụ lục 1- Minh hoạ cấu trúc báo cáo tài chính
Phụ lục 2- Đặc điểm định tính của việc báo cáo tài chính
So sánh với IAS 1
Trang 4Những chuẩn mực viết bằng kiểu chữ in đậm, phải được đọc trong ngữ cảnh của các đoạn dẫn giải viết bằng chữ thường trong Chuẩn mực này, và trong ngữ cảnh của
“Lời tựa cho chuẩn mực kế toán công quốc tế” Các chuẩn mực kế toán công quốc
tế không áp dụng cho những khoản mục không trọng yếu.
Phạm vi:
1 Chuẩn mực này được áp dụng cho các báo cáo tài chính được lập dựa
trên cơ sở kế toán dồn tích, phù hợp với các chuẩn mực kế toán công quốc tế.
2 Mục đích chung của các báo cáo tài chính là đáp ứng nhu cầu cung cấp thông
tin cho những người cần sử dụng những thông tin cụ thể Những đối tượngcần cung cấp thông tin tài chính bao gồm người nộp thuế, người tính thuế,các thành viên của cơ quan lập pháp, những người cho vay, nhà cung cấp, nhàmôi giới và người lao động Mục đích chung của báo cáo tài chính được thểhiện ở các báo cáo định kỳ hoặc trong báo cáo tài chính hàng năm Chuẩnmực này không áp dụng cho việc tổng hợp thông tin tài chính tạm thời
3 Chuẩn mực này áp dụng cho các báo cáo tài chính của một đơn vị và hợp
nhất các báo cáo tài chính của các đơn vị thành báo cáo tài chính của Chínhphủ
4 Chuẩn mực này chỉ áp dụng cho các đơn vị thuộc lĩnh vực công, không
áp dụng cho các đơn vị kinh doanh bằng vốn Nhà nước.
5 Các đơn vị kinh doanh bằng vốn Nhà nước (GBEs) phải tuân thủ các chuẩn
mực kế toán quốc tế (IASs) do Uỷ ban chuẩn mực kế toán quốc tế ban hành.Theo hướng dẫn số 01 của Uỷ ban lĩnh vực công “ Báo cáo tài chính của cácđơn vị kinh doanh bằng vốn Nhà nước” lưu ý rằng IASs phù hợp với tất cảcác doanh nghiệp không phân biệt đó là doanh nghiệp công hay doanh nghiệp
tư Vì vậy hướng dẫn số 1 khuyến nghị rằng các DNNN cần phải tuân thủIASs khi lập và trình bày báo cáo tài chính trên mọi khía cạnh trọng yếu
Các khái niệm:
6 Các thuật ngữ được sử dụng trong chuẩn mực này được hiểu như sau:
Trang 5Chính sách kế toán là các nguyên tắc, cơ sở, qui định, qui luật và phương pháp kế toán cụ thể được đơn vị áp dụng trong việc lập và trình bày các báo cáo tài chính.
Cơ sở dồn tích là một cơ sở kế toán theo đó các giao dịch và các sự kiện khác được ghi nhận khi chúng phát sinh (không phụ thuộc vào thực tế thu hoặc chi tiền hoặc các khoản tương đương tiền) Vì vậy, các giao dịch
và sự kiện được ghi chép vào sổ kế toán và được ghi nhận trên các báo cáo tài chính của các kỳ kế toán tương ứng Những yếu tố được ghi nhận trên cơ sở kế toán dồn tích là tài sản, nợ phải trả, tài sản thuần (vốn chủ
sở hữu), doanh thu và chi phí.
Tài sản là các nguồn lực được kiểm soát bởi đơn vị như là kết quả của các sự kiện trong quá khứ và từ các lợi ích kinh tế trong tương lai hoặc lợi ích tiềm tàng mà đơn vị có thể thu được.
Đơn vị liên kết là đơn vị trong đó nhà đầu tư có ảnh hưởng đáng kể nhưng không phải là đơn vị bị kiểm soát hoặc đơn vị liên doanh của nhà đầu tư.
Chi phí đi vay là lãi tiền vay và các chi phí khác đơn vị phải gánh chịu phát sinh liên quan trực tiếp đến các khoản vay của đơn vị
Tiền mặt bao gồm tiền tại quỹ và các khoản tiền gửi không kỳ hạn Các khoản tương đương tiền là các khoản đầu tư ngắn hạn có tính thanh toán cao, có khả năng chuyển đổi dễ dàng thành một lượng tiền xác định
và không có nhiều rủi ro trong chuyển đổi thành tiền.
Luồng tiền là luồng vào và luồng ra của tiền và các khoản tương đương tiền.
Báo cáo tài chính hợp nhất là các báo cáo tài chính của một đơn vị kinh
tế được trình bày như những báo cáo tài chính của một đơn vị độc lập Vốn góp của chủ sở hữu là những lợi ích kinh tế trong tương lai đơn vị nhận được từ bên ngoài nhưng không làm phát sinh nợ phải trả của đơn
vị mà góp phần tạo ra tài sản thuần/vốn chủ sở hữu của đơn vị Những khoản này có đặc điểm :
(a) Có quyền phân phối các lợi ích kinh tế trong tương lai trong suốt
thời gian góp vốn, việc phân phối đó được thực hiện theo quyết định của chủ sở hữu hoặc người đại diện của họ và có quyền phân phối phần chênh lệch tài sản lớn hơn nợ phải trả; và/hoặc
(b) Có thể bán, trao đổi, chuyển nhượng hoặc mua lại.
Trang 6Kiểm soát là quyền chi phối các chính sách tài chính và chính sách hoạt động của đơn vị khác nhằm thu được lợi ích từ hoạt động các của đơn vị đó.
Đơn vị bị kiểm soát là đơn vị nằm dưới quyền kiểm soát của một đơn vị khác (được gọi là đơn vị kiểm soát).
Đơn vị kiểm soát là đơn vị có một hoặc nhiều đơn vị bị kiểm soát.
Phân phối cho các chủ sở hữu vốn là lợi ích kinh tế trong tương lai hoặc lợi ích tiềm tàng mà đơn vị phân phối cho tất cả hoặc một số chủ sở hữu như là thu nhập từ khoản đầu tư của chủ sở hữu hoặc trả lại vốn đầu tư cho chủ sở hữu
Đơn vị kinh tế là một nhóm gồm đơn vị kiểm soát và một hoặc nhiều đơn
vị bị kiểm soát.
Ph
ương pháp vốn chủ sở hữu là một phương pháp kế toán mà khoản đầu tư được ghi nhận ban đầu theo giá gốc, sau đó được điều chỉnh theo những thay đổi của phần sở hữu của nhà đầu tư trong tài sản thuần/vốn chủ sở hữu của bên nhận đầu tư Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh phải phản ánh phần sở hữu của nhà đầu tư trong kết quả hoạt động của bên nhận đầu tư.
Chi phí là những khoản giảm sút về lợi ích kinh tế hoặc dịch vụ tiềm tàng trong suốt thời kỳ báo cáo dưới hình thức là dòng tiền ra hoặc tiêu dùng các tài sản hoặc việc gánh chịu các khoản nợ phải trả dẫn đến kết quả giảm tài sản thuần/vốn chủ sở hữu, chứ không phải là các khoản phân phối cho chủ sở hữu.
Chênh lệch tỷ giá hối đoái là chênh lệch phát sinh từ việc quy đổi cùng một số lượng lượng ngoại tệ sang đơn vị tiền tệ kế toán theo các tỷ giá hối đoái khác nhau.
Những khoản mục bất thường là các khoản doanh thu hoặc chi phí phát sinh từ những giao dịch hoặc sự kiện khác với hoạt động thông thường của đơn vị, không diễn ra thường xuyên và nằm ngoài tầm kiểm soát hoặc ảnh hưởng của đơn vị.
Giá trị hợp lý là giá trị tài sản có thể trao đổi hoặc giá trị một khoản nợ được được thanh toán một cách tự nguyện giữa các bên có đầy đủ hiểu biết trong sự trao đổi ngang giá.
Tài sản tài chính bao gồm:
(a) Tiền;
(b) Quyền theo hợp đồng để nhận tiền hoặc tài sản tài chính khác từ
một đơn vị khác;
Trang 7(c) Quyền theo hợp đồng để trao đổi các công cụ tài chính với một
đơn vị khác trong điều kiện có lợi tiềm tàng; và (d) Công cụ vốn của các đơn vị khác.
Ngoại tệ là đơn vị tiền tệ khác với đơn vị tiền tệ kế toán của đơn vị.
Hoạt động ở nước ngoài, là các chi nhánh, đơn vị bị kiểm soát, đơn vị liên kết, liên doanh của đơn vị lập báo cáo, mà hoạt động của các đơn vị này thực hiện ở một nước khác ngoài nước sở tại của đơn vị báo cáo Sai sót cơ bản là những sai sót được phát hiện trong kỳ hiện tại làm sai lệch đáng kể báo cáo tài chính của một hoặc nhiều kỳ trước khiến chúng không còn được coi là đáng tin cậy tại ngày phát hành.
Đơn vị kinh doanh bằng vốn Nhà nước là một đơn vị có tất cả các đặc tính sau:
(a) Là một đơn vị có quyền ký hợp đồng dưới tên của đơn vị mình; (b) Được phép hoạt động và sử dụng nguồn tài chính để thực hiện
kinh doanh;
(c) Bán hàng hoá và dịch vụ trong một chu kỳ hoạt động kinh doanh
thông thường cho các đơn vị khác với mức có lợi nhuận hoặc thu hồi toàn bộ chi phí bỏ ra;
(d) Không dựa vào tài trợ của Chính phủ để hoạt động liên tục
(Không dựa vào các giao dịch trao đổi không ngang giá); và (e) Được kiểm soát bởi đơn vị kế toán công.
Liên doanh là thoả thuận có tính ràng buộc của hai hoặc nhiều bên cam kết cùng thực hiện hoạt động kinh tế, mà hoạt động này được đồng kiểm soát.
Nợ phải trả là nghĩa vụ hiện tại của đơn vị phát sinh từ các sự kiện trong quá khứ mà việc thanh toán nghĩa vụ đó sẽ làm giảm sút các nguồn lợi ích kinh tế của đơn vị.
Trọng yếu: Thông tin được coi là trọng yếu nếu vịêc bỏ sót hoặc báo cáo sai thông tin có thể làm sai lệch đáng kể báo cáo tài chính, làm ảnh hưởng đến quyết định kinh tế của người sử dụng báo cáo tài chính Tính trọng yếu phụ thuộc vào quy mô và tính chất của thông tin hoặc các sai sót được đánh giá trong hoàn cảnh cụ thể.
Lợi ích của cổ đông thiểu số là một phần của kết quả hoạt động thuần và gía trị tài sản thuần của một đơn vị bị kiểm soát liên quan đến phần lợi
Trang 8ích không phải do đơn vị kiểm soát sở hữu trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua các đơn vị bị kiểm soát
Tài sản thuần/Vốn chủ sở hữu là phần lợi ích còn lại của giá trị các tài sản trong đơn vị sau khi trừ nợ phải trả.
Thặng dư/thâm hụt thuần bao gồm:
(a) Thặng dư hoặc thâm hụt từ hoạt động thông thường; và
(b) Các khoản mục bất thường.
Hoạt động thông thường là các hoạt động được thực hiện bởi một đơn vị như là một phần của các hoạt đồng thương mại hoặc cung cấp dịch vụ Hoạt động thông thường bao gồm những hoạt động mà đơn vị cam kết thực hiện hoặc các hoạt động này có thể xảy ra hoặc phát sinh từ các cam kết này.
Tài sản dở dang là tài sản cần có một thời gian đủ dài để có thể đưa vào
sử dụng theo mục đích định trước hoặc để bán.
Đơn vị tiền tệ sử dụng trong báo cáo tài chính là đơn vị tiền tệ được sử dụng trong việc lập và trình bày báo cáo tài chình.
Ngày báo cáo là ngày cuối cùng của kỳ báo cáo mà báo cáo tài chính có liên quan
Doanh thu là tổng giá trị lợi ích kinh tế đơn vị thu được trong kỳ báo cáo làm tăng tài sản thuần/vốn chủ sở hữu chứ không phải là khoản vốn góp của chủ sở hữu.
Thăng dư/thâm hụt từ hoạt động thông thường là giá trị còn lại sau khi chi phí phát sinh từ hoạt động thông thường được khấu trừ với doanh thu phát sinh từ hoạt động thông thường.
Đơn vị kinh tế
7 Thuật ngữ “đơn vị kinh tế” được sử dụng trong chuẩn mực này để định nghĩa
cho một nhóm các thực thể bao gồm đơn vị kiểm soát và các đơn vị bị kiểmsoát phục vụ mục đích lập báo cáo tài chính
8 Các thuật ngữ khác đôi khi được sử dụng để chỉ một đơn vị kinh tế như:
“Đơn vị hành chính”, “đơn vị tài chính”, “đơn vị hợp nhất” và “nhóm”
9 Một đơn vị kinh tế có thể bao gồm các đơn vị nhỏ hoạt động vì mục tiêu
chính sách xã hội và vì mục đích thương mại Ví dụ như một Vụ nhà ở củaChính phủ có thể là một đơn vị kinh tế bao gồm cả các đơn vị cung cấp nhà ởvới giá ưu đãi thấp và đơn vị cung cấp nhà với giá cao phục vụ cho mụcđích thương mại
Trang 9Lợi ích kinh tế tương lai hoặc dịch vụ tiềm tàng
10 Tài sản cung cấp phương tiện cho các đơn vị để đạt được mục tiêu của nó
Tài sản được sử dụng để cung cấp hàng hoá, dịch vụ gắn liền với mục tiêucủa một đơn vị nhưng nó không trực tiếp tạo ra luồng tiền vào thuần thìthường được mô tả như là “Dịch vụ tiềm tàng” Những tài sản sử dụng tạo raluồng tiền vào thuần được mô tả như là “Lợi ích kinh tế tương lai” Để có thểbao quát được tất cả các mục đích đối với các tài sản có thể được đưa ra sửdụng, chuẩn mực này sử dụng thuật ngữ “Lợi ích kinh tế trong tương lai vàdịch vụ tiềm tàng” để mô tả đặc điểm cơ bản của tài sản
Đơn vị kinh doanh bằng vốn Nhà nước
11 Đơn vị kinh doanh bằng vốn Nhà nước bao gồm cả đơn vị kinh doanh bằng
vốn thương mại như doanh nghiệp công ích và đơn vị kinh doanh bằng vốntài chính như các tổ chức tài chính Đơn vị kinh doanh bằng vốn Nhà nước về
cơ bản không khác những đơn vị có những hoạt động tương tự trong lĩnh vực
tư nhân Nói chung, các đơn vị kinh doanh bằng vốn Nhà nước cũng hoạtđộng vì mục đích lợi nhuận mặc dù có một số đơn vị có trách nhiệm phục vụcộng đồng theo đó chúng buộc phải cung cấp một số hàng hoá, dịch vụ cho cánhân và các tổ chức trong công đồng miễn phí hoặc với mức phí rất thấp.Chuẩn mực số 6 “Báo cáo tài chính hợp nhất và kế toán đối với các đơn vị bịkiểm soát” sẽ hướng dẫn việc xác định liệu có tồn tại kiểm soát đối với cácmục đích báo cáo tài chính hay không và cần xem xét trong việc xác định liệumột đơn vị kinh doanh bằng vốn Nhà nước có bị một đơn vị thuộc lĩnh vựccông kiểm soát hay không
Tài sản thuần/vốn chủ sở hữu
12 Tài sản thuần/vốn chủ sở hữu, là thuật ngữ được sử dụng trong chuẩn mực
này để chỉ phần giá trị còn lại của tài sản trong báo cáo về tình hình tài chínhcủa đơn vị (tài sản trừ nợ phải trả) Tài sản thuần/vốn chủ sở hữu có thểdương hoặc âm Một số thuật ngữ khác có thể được sử dụng để thay thế thuậtngữ trên với ý nghĩa rõ ràng hơn
Mục đích của báo cáo tài chính
13 Các báo cáo tài chính được trình bày theo một cấu trúc chặt chẽ về tình hình
tài chính của đơn vị và các giao dịch được thực hiện bởi một đơn vị Mụcđích của báo cáo tài chính là cung cấp những thông tin về tình hình tài chính,các hoạt động và các luồng tiền của một đơn vị Những thông tin này rất bổích cho việc xem xét ra các quyết định trong việc phân bổ các nguồn lực Đặcbiệt, mục tiêu của các báo cáo tài chính trong lĩnh vực công phải cung cấpđược thông tin hữu ích cho việc ra quyết định và thể hiện khả năng tính toánphân bổ sử dụng các nguồn lực được giao cho nó bằng cách:
(a) Cung cấp các thông tin về nguồn lực, phân bổ và sử dụng các nguồn lựctài chính;
Trang 10(b) Cung cấp thông tin làm thế nào để đơn vị đó đảm bảo đủ vốn cho nhữnghoạt động của nó và giải quyết được các nhu cầu về tiền mặt;
(c) Cung cấp thông tin hữu ích cho việc đánh giá khả năng của đơn vị trongviệc tài trợ cho những hoạt động của nó, đáp ứng được nhu cầu trả nợ vàthực hiện các cam kết của đơn vị;
(d) Cung cấp thông tin về điều kiện tài chính và những thay đổi về điều kiệntài chính của đơn vị;
(e) Cung cấp thông tin hữu ích giúp cho việc xác định đúng chi phí dịch vụ,hiệu quả hoạt động của đơn vị
14 Mục đích chung của báo cáo tài chính còn có vai trò dự đoán trong tương lai,
cung cấp thông tin hữu ích cho việc dự kiến mức độ nguồn lực yêu cầu đểtiến hành các hoạt động trong tương lai, nguồn lực được tạo ra bởi các hoạtđộng trong tương lai cũng như rủi ro hoặc sự bất ổn định xảy ra trong tươnglai Ngoài ra báo cáo tài chính còn có thể cung cấp cho người sử dụng nhữngthông tin sau:
(a) Chỉ ra nguồn lực đã thu được và đã được sử dụng hợp pháp theo dự toáncủa Nhà nước; và
(b) Chỉ ra nguồn lực đã thu được và đã được sử dụng cho những nhu cầu chitiêu theo hợp đồng đã ký tính cả những nhu cầu chi tiêu tài chính cho các
cơ quan lập pháp tương ứng
15 Để đạt được các mục đích trên, các báo cáo tài chính cung cấp được các
thông tin sau của đơn vị:
Trang 11Trách nhiệm lập báo cáo tài chính.
17 Trách nhiệm lập và trình bày các báo cáo tài chính rất khác nhau tuỳ theo
phạm vi và nhiệm vụ của từng bộ phận trong đơn vị Thêm vào đó là sự khácnhau giữa trách nhiệm của người chuẩn bị thông tin cho việc lập báo cáo vàngười lập hoặc phê duyệt báo cáo Ví dụ người ở vị trí có nhiệm vụ chuẩn bịcho việc lập báo cáo tài chính của một đơn vị (chẳng hạn như một vụ trongmột Bộ nào đó cuả Chính phủ hoặc tương đương) bao gồm người đứng đầucủa vụ đó (Vụ trưởng hoặc người lãnh đạo cao nhất) và người đứng đầu phụtrách về tài chính kế toán của vụ đó (hoặc chuyên viên chính về tài chính như
là kiểm soát viên hoặc kế toán)
18 Trách nhiệm chuẩn bị lập báo cáo tài chính tổng hợp của Chính phủ thường là
Vụ trưởng vụ phụ trách tài chính và Bộ trưởng Bộ tài chính (hoặc ngườitương đương)
Các thành phần của báo cáo tài chính
19 Một bộ báo cáo tài chính hoàn chỉnh bao gồm :
(a) Báo cáo tình hình tài chính của đơn vị;
(b) Báo cáo kết quả hoạt động;
(c) Báo cáo sự thay đổi về tài sản thuần/vốn chủ sở hữu;
(d) Báo cáo lưu chuyển tiền tệ; và
(e) Chính sách kế toán và giải trình báo cáo tài chính.
20 Các báo cáo nêu ở đoạn 19 có thể mang những cái tên khác nhau Báo cáo
tình hình tài chính của đơn vị có thể là một bảng cân đối kế toán hoặc báo cáotài sản và các khoản nợ phải trả Báo cáo kết quả hoạt động là báo cáo về thunhập và chi phí, báo cáo các khoản thu, báo cáo hoạt động hoặc báo cáo lãi
lỗ Giải trình báo cáo tài chính có thể bao gồm các phụ lục đính kèm như làcác bản liệt kê trong một số trường hợp nhất định
21 Báo cáo tài chính cung cấp cho người sử dụng báo cáo những thông tin về
nguồn lực và trách nhiệm tài chính của đơn vị tính đến ngày kết thúc kỳ kếtoán, những thông tin này rất hữu ích cho việc đánh giá khả năng của đơn vịtrong việc cung cấp các hàng hoá dịch vụ ở một mức độ nhất định và mức độnguồn lực cần có trong tương lai để nó có thể đáp ứng được nhu cầu cung cấpdịch vụ cho công chúng
22 Các đơn vị trong khu vực công cũng phải tuân theo một giới hạn ngân sách
đã định trước (hoặc) theo sự chỉ đạo của cơ quan quản lý, là cơ quan có ảnhhưởng rất lớn đến quá trình lập pháp Mục đích chung của báo cáo tài chínhcủa các đơn vị ở khu vực công là cung cấp thông tin về các nguồn lực đã thuđược và việc sử dụng chúng theo dự toán đã được phê duyệt Trong trường
Trang 12hợp các báo cáo tài chính và dự toán thu chi được lập dựa trên cùng một cơ
sở kế toán thì chuẩn mực này tạo điều kiện cho việc so sánh số liệu giữa báocáo tài chính và dự toán thu, chi trong kỳ kế toán Việc báo cáo dự toán có thểđược trình bày bằng nhiều cách khác nhau, bao gồm:
(a) Sử dụng các biểu hình cột cho các báo cáo tài chính, có cột riêng cho số
dự toán và cột riêng cho số thực hiện Một cột so sánh với dự toán hoặc
số đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt có thể cũng được trình bàytrong báo cáo tài chính; và
(b) Các số liệu báo cáo riêng lẻ phục vụ cho việc lập báo cáo tài chính khôngđược phép vượt quá số đã được lập trong dự toán Nếu xảy ra tình trạngvượt quá dự toán hoặc chi phí phát sinh tăng thêm không được cơ quan
có thẩm quyền phê duyệt thì số vượt đó chỉ được chỉ ra bằng cách gạchchân chỉ tiêu vượt trong báo cáo tài chính
23 Các đơn vị được khuyến khích đưa thêm các thông tin bổ sung vào báo cáo
tài chính để trợ giúp thêm cho người sử dụng thông tin đánh giá sát hơn hoạtđộng của đơn vị và tình hình quản lý tài sản cũng như đưa ra hoặc đánh giáquyết định phân bổ nguồn lực của nó Những thông tin bổ sung này có thểbao gồm số liệu chi tiết về tổng số lượng đầu vào, đầu ra trong hoạt động, sốlượng dịch vụ cung cấp, chương trình hoạt động và các báo cáo khác của bộphận quản lý về kết quả đạt được của đơn vị trong kỳ kế toán
24 Các đơn vị được khuyến khích công khai thông tin về việc tuân thủ luật pháp,
chế độ, hoặc các quy định từ bên ngoài Khi những thông tin về việc tuân thủkhông được đưa ra trong báo cáo tài chính thì cần có giải trình chỉ ra thôngtin đó ở tài liệu nào Việc không tuân thủ chắc chắn liên quan đến mục đích
kế toán và có thể ảnh hưởng đến việc đánh giá định hướng và kết quả hoạtđộng của đơn vị trong tương lai Ngoài ra nó còn ảnh hưởng đến việc phân bổnguồn lực cho đơn vị đó trong tương lai
Xem xét tổng thể
Trình bày hợp lý và tuân thủ các chuẩn mực kế toán công
25 Báo cáo tài chính phải trình bày một cách trung thực và hợp lý tình hình
tài chính, kết quả hoạt động và các luồng tiền của đơn vị Viêc vận dụng hợp lý các chuẩn mực kế toán công làm cho kết quả trong báo cáo tài chính được trình bày trung thực và hợp lý trong mọi điều kiện hoàn cảnh cụ thể.
26 Một đơn vị có báo cáo tài chính tuân thủ các chuẩn mực kế toán công
cần phải trình bày rõ Các báo cáo tài chính được coi là tuân thủ chuẩn mực kế toán công khi nó chấp hành đầy đủ mọi yêu cầu mà chuẩn mực
kế toán công đặt ra.
Trang 1327 Các phương pháp kế toán không phù hợp không được sửa chữa bằng
cách trình bày các chính sách kế toán áp dụng hoặc đưa ra giải trình hoặc đưa ra tài liệu giải thích.
28 Trong một số ít các trường hợp khi Ban lãnh đạo kết luận rằng các yêu
cầu của chuẩn mực chưa được đáp ứng và vì vậy việc bỏ qua yêu cầu của chuẩn mực là cần thiết để đạt được sự trung thực và hợp lý thì đơn vị cần phải chỉ rõ rằng:
(a) Ban lãnh đạo khẳng định rằng báo cáo tài chính phản ánh trung
thực và hợp lý tình hình tài chính, kết quả hoạt động, các luồng tiền của đơn vị;
(b) Đơn vị đã tuân theo tất cả các tài liệu hướng dẫn áp dụng các
chuẩn mực kế toán công quốc tế ngoại trừ trường hợp đơn vị bỏ qua chuẩn mực để đạt được sự trung thực và hợp lý;
(c) Chuẩn mực mà đơn vị bỏ qua, bản chất của sự bỏ qua đó, bao
gồm việc xử lý theo yêu cầu của chuẩn mực , lý do vì sao khi xử lý lại bỏ qua trong từng hoàn cảnh cụ thể và việc vận dụng đó được chấp thuận; và
(d) Ảnh hưởng về mặt tài chính của sự bỏ qua đó đến thặng dư hoặc
thâm hụt thuần, tài sản, nợ phải trả, tài sản thuần/vốn chủ sở hữu
và các luồng tiền trong mỗi giai đoạn.
29 Các báo cáo tài chính được coi là “dựa trên” hoặc “tuân thủ các yêu cầu đáng
kể ” hoặc “Tuân theo các yêu cầu kế toán” của các chuẩn mực kế toán côngquốc tế Thường thì có thể không có thêm các thông tin bổ sung mặc dù rõràng là đơn vị đã không thực hiện yêu cầu công khai đáng kể, kể cả yêu cầu
về hạch toán kế toán Những báo cáo như vậy sẽ gây ra sự hiểu lầm bởi vìchúng làm giảm tính đáng tin cậy và dễ hiểu của các báo cáo tài chính
30 Để có thể đảm bảo rằng các báo cáo tài chính tuân theo các chuẩn mực kế
toán công quốc tế, đáp ứng được yêu cầu của người sử dụng thông tin toàncầu, chuẩn mực này đưa ra yêu cầu tổng thể mà các báo cáo tài chính phải đạtđược là sự trung thực, khách quan và hướng dẫn làm thế nào để đạt được yêucầu trung thực, khách quan đó và hướng dẫn thêm sự vận dụng nó trong một
số trường hợp cần thiết nhất định Ngoài ra nó còn yêu cầu chỉ rõ điều kiệnhoàn cảnh, liên quan đến sự vận dụng Tuy nhiên khi một đơn vị thực hiệntheo các chuẩn mực kế toán công quốc tế sẽ có sự mâu thuẫn với yêu cầu củaquốc gia (ví dụ khi yêu cầu báo cáo tài chính được đặt ra bởi Chính phủ sẽmâu thuẫn với những chuẩn mực này) là điều không tránh khỏi cho nên phảitiến hành điều chỉnh sự vận dụng trong báo cáo tài chính cho phù hợp với cácchuẩn mực kế toán công quốc tế
31 Việc bỏ qua các yêu cầu của chuẩn mực kế toán công quốc tế để tuân theo
yêu cầu báo cáo tài chính theo quy định của một quốc gia thì không thể tạo ra
Trang 14sự vận dụng cần thiết để đạt được việc trình bày trung thực và hợp lý nhưđược đưa ra ở đoạn 28 Nếu sự vận dụng đó là trọng yếu thì một đơn vị khôngphải yêu cầu tuân theo các “Chuẩn mực kế toán công quốc tế”.
32 Trong bất kỳ hoàn cảnh nào, việc trình bày trung thực và hợp lý, cần phải đạt
được bằng cách tuân theo tất cả các tài liệu hướng dẫn áp dụng các chuẩnmực kế toán công quốc tế Việc trình bày trung thực và hợp lý yêu cầu:(a) Lựa chọn và áp dụng các chính sách kế toán tương ứng với đoạn 37;(b) Cung cấp thông tin, bao gồm cả thông tin về chính sách kế toán trong
điều kiện mà nó có thể cung cấp những thông tin tương ứng phù hợp,
có thể so sánh và dễ hiểu; và(c) Cung cấp các thông tin bổ sung khi yêu cầu trong các chuẩn mực kế
toán công quốc tế không đầy đủ để giúp cho người sử dụng thông tinhiểu được tác động của những giao dịch cụ thể nhất định hoặc các sựkiện liên quan đến kết quả hoạt động và tình hình tài chính của đơn vị
33 Trong một số trường hợp nhất định, việc áp dụng một yêu cầu cụ thể của
chuẩn mực kế toán công quốc tế có thể dẫn đến sự sai lệch trong báo cáo tàichính Điều này chỉ xuất hiện khi việc thực hiện yêu cầu của chuẩn mựckhông phù hợp và vì thế tính trung thực của báo cáo không đạt được khi ápdụng chuẩn mực hoặc chỉ thông qua hướng dẫn bổ sung Sự bỏ qua là khôngphù hợp bởi vì các xử lý khác cũng có thể đưa ra đựợc sự trình bày trung thực
và hợp lý
34 Khi cân nhắc việc có cần thiết phải bỏ qua một quy định cụ thể trong các
chuẩn mực kế toán công quốc tế phải xem xét các vấn đề sau:
(a) Mục đích của quy định và vì sao mục đích đó không đạt được hoặc
không phù hợp trong một hoàn cảnh cụ thể, và (b) Sự khác giữa những hoàn cảnh cụ thể của đơn vị đó so với đơn vị
khác đã tuân thủ quy định này
35 Bởi vì hoàn cảnh buộc phải bỏ qua quy định nào đó là rất hiếm khi xảy ra và
việc bỏ qua là một vấn đề cần thảo luận rộng rãi với các xét đoán chủ quan,điều quan trọng là người sử dụng thông tin cần nhận ra rằng đơn vị khôngtuân theo các chuẩn mực kế toán công quốc tế trên mọi khía cạnh trọng yếu.Một điều quan trọng khác họ cần phải được cung cấp đầy đủ thông tin để họ
có thể đánh giá việc bỏ qua là có cần thiết hay không và tính toán sự chênhlệch cần phải điều chỉnh so với việc tuân theo chuẩn mực
36 Phù hợp với các điều khoản cụ thể trong chuẩn mực này, khi một chuẩn
mực kế toán công quốc tế được áp dụng trước ngày có hiệu lực thì điều này cần được trình bày.
Trang 15Chính sách kế toán
37 Ban lãnh đạo cần lựa chọn và áp dụng chính sách kế toán phù hợp trong
đơn vị sao cho các báo cáo tài chính tuân thủ được tất cả các yêu cầu của chuẩn mực kế toán công được áp dụng Trường hợp không có yêu cầu cụ thể, ban lãnh đạo cần phải đưa ra được chính sách để đảm bảo rằng các báo cáo tài chính cung cấp được những thông tin mà những thông tin đó là:
a- Thích hợp với nhu cầu ra quyết định của người sử dụng thông
tin; và b- Đáng tin cậy mà chúng có thể:
i- Phản ánh trung thực và hợp lý kết quả hoạt động và tình
hình tài chính của đơn vị;
ii- Phản ảnh các sự kiện kinh tế quan trọng và các giao dịch
không chỉ đơn thuần là bằng hình thức hợp pháp;
iii- Trung lập theo khuynh hướng tự do;
iv- Thận trọng; và v- Tổng hợp đầy đủ.
38 Theo chuẩn mực kế toán công quốc tế nếu có một hoặc một số chính sách
kế toán có thể sử dụng thay thế cho nhau được thì một đơn vị nên chọn
và áp dụng cố định một trong các chính sách kế toán đó, trừ khi chuẩn mực yêu cầu hoặc cho phép phân loại các khoản mục (các giao dịch, các
sự kiện, cân đối, số lượng ) Thì các chính sách có thể được lựa chọn cùng áp dụng và một chính sách kế toán cần được lựa chọn để áp dụng riêng cho khoản mục đó.
39 Khi một chính sách kế toán đã được lựa chọn thì cần phải có sự điều
chỉnh cho phù hợp với chuẩn mực kế toán công quốc tế (IPSAS) số 3
“Thặng dư hoặc thâm hụt thuần trong kỳ kế toán, những sai sót và những thay đổi cơ bản trong chính sách kế toán” được áp dụng với tất cả các khoản mục trong hoàn cảnh cụ thể như đã được đề cập ở đoạn 38.
40 Chính sách kế toán là những nguyên tắc, cơ sở , các quy ước, quy tắc và
thông lệ cụ thể được một đơn vị chấp nhận tuận theo trong quá trình lập vàtrình bày các báo cáo tài chính
41 Chất lượng thông tin được cung cấp trong các báo cáo tài chính quyết định
tính hữu ích của báo cáo chính đối với người sử dụng Đoạn 37 yêu cầu phảivận dụng các chính sách kế toán để đảm bảo rằng các báo cáo tài chính cungcấp được thông tin mà nó đáp ứng được những đặc điểm định tính khác nhau
Trang 16Phụ lục 2 của chuẩn mực này sẽ tổng kết những đặc điểm định tính của việcbáo cáo tài chính.
42 Trong trường hợp không có chuẩn mực kế toán công cụ thể để áp dụng vào
một tình huống cụ thể thì nhà quản lý sử dụng sự xét đoán điều chỉnh chínhsách kế toán để có thể cung cấp hầu hết những thông tin có ích cho người sửdụng báo cáo tài chính của đơn vị Khi điều chỉnh chính sách kế toán nhàquản lý cần phải xem xét kỹ các vấn đề sau:
(a) Những yêu cầu và hướng dẫn của các chuẩn mực kế toán công quốc tế
đối với những vấn đề tương tự và liên quan;
(b) Những định nghĩa, chỉ tiêu ghi nhận và xác định tài sản, nợ phải trả,
thu nhập và chi phí được đề cập ở các tài liệu khác của liên đoàn kếtoán quốc tế – Uỷ ban lĩnh vực công; và
(c) Những tuyên bố của chuẩn mực khác được thiết lập cho thực tiễn của
khu vực tư hoặc khu vực công ở chừng mực phù hợp với điểm a vừanêu ở trên Ví dụ như tuyên bố của Uỷ ban chuẩn mực kế toán quốc tế(IASC), bao gồm khuôn mẫu cho việc lập và trình bày các báo cáo tàichính, những chuẩn mực kế toán quốc tế và tài liệu hướng dẫn do Hộiđồng hướng dẫn chuẩn mực kế toán quốc tế phát hành
Hoạt động liên tục
43 Khi lập báo cáo tài chính cần phải đánh giá được khả năng hoạt động
liên tục của đơn vị Sự đánh giá này cần phải được tiến hành bởi những người có trách nhiệm lập báo caó tài chính Các báo cáo tài chính cần phải được lập trên cơ sở đơn vị đang hoạt đồng liên tục trừ khi đơn vị có
ý định giải thể hoặc ngừng hoạt động Những người có trách nhiệm lập báo cáo tài chính phải nhận biết được sự bất ổn định liên quan đến các
sự kiện hoặc điều kiện ảnh hưởng đến khả năng hoạt động liên tục của đơn vị Khi các báo cáo tài chính không được lập dựa trên cơ sở hoạt động liên tục thì điều này cần phải được trình bày rõ cùng với cơ sở dùng để lập các báo cáo tài chính và lý do vì sao đơn vị không được coi là hoạt động liên tục.
44 Các báo cáo tài chính thường được lập dựa trên giả định rằng đơn vị đó hoạt
động liên tục và sẽ tiếp tục hoạt động kinh doanh bình thường trong tương lai
Để đánh giá giả định hoạt động liên tục là hợp lý những người có trách nhiệmchuẩn bị lập báo cáo phải xem xét tất cả những thông tin sẵn có liên quan đếnhoạt động trong tương lai Ít nhất là 12 tháng sau khi các báo cáo tài chínhđược phê chuẩn
45 Mức độ xem xét tuỳ thuộc vào từng trường hợp cụ thể và sự đánh giá giả định
hoạt động liên tục hay không được khẳng định dựa trên kết quả kiểm tra khảnăng có thể trả nợ được áp dụng đối với các doanh nghiệp kinh doanh Có thể
có những trường hợp kết quả kiểm tra tình trạng khả năng trả nợ là bất lợi
Trang 17nhưng những nhân tố khác chỉ ra rằng đơn vị đó có thể hoạt động liên tục Ví
dụ như:
(a) Theo đánh giá một Chính phủ hoạt động liên tục khi quyền để ấn định
mức thu thuế đối với một số đơn vị được xem là hoạt động liên tụcthậm chí chúng có thể hoạt động được trong tình trạng bất lợi về tàisản thuần/vốn chủ sở hữu
(b) Đối với một đơn vị độc lập, việc đánh giá báo cáo tình hình tài chính
của nó ở ngày kết thúc kỳ kế toán có thể chỉ ra rằng nó không có khảnăng hoạt động liên tục, tuy nhiên có thể có những hợp đồng tài trợnhiều năm hoặc hợp đồng khác mà nó sẽ đảm bảo cho đơn vị đó tiếptục hoạt động được
46 Khi đề cập đến tình trạng không có khả năng hoạt động liên tục chỉ liên quan
đến từng đơn vị riêng lẻ chứ không liên quan đến cả Chính phủ Đối với từngđơn vị riêng lẻ khi đánh giá cơ sở hoạt động liên tục của nó, những người cótrách nhiệm lập báo cáo tài chính cần phải xem xét nhiều yếu tố xung quanhhoạt động của đơn vị ở hiện tại cũng như tương lai, tiềm tàng cũng như tuyên
bố tái cơ cấu đơn vị, ước tính thu nhập hoặc tài trợ của Chính phủ và nguồnlực tiềm tàng đem lại từ việc cải tổ công tác tài chính để khẳng định rằng đơn
vị hoạt động liên tục
Trình bày nhất quán.
47 Việc trình bày và phân loại các khoản mục trong báo tài chính càn phải
có sự nhất quán từ kỳ kế toán này sang kỳ kế toán khác trừ khi:
(a) Có sự thay đổi đáng kể về bản chất các hoạt động của đơn vị hoặc
khi xem xét lại việc trình bày báo cáo tài chính cho thấy rằng cần phải thay đổi để có thể trình bày một cách hợp lý hơn các giao dịch và các sự kiện phát sinh; hoặc
(b) Có sự thay đổi trong việc trình bày do yêu cầu của một chuẩn
mực kế toán công quốc tế
48 Trong trường hợp mua hoặc thanh lý, hoặc xem xét lại việc trình bày báo cáo
tài chính, đơn vị có thể trình bày báo cáo tài chính theo một cách khác Ví dụ,một đơn vị có thể thanh lý tài khoản tiền gửi ngân hàng của đơn vị bị kiểmsoát đáng kể mà vẫn giữ nguyên quyền kiểm soát về hoạt động của nó Trongtrường hợp này, việc trình bày của báo cáo tài chính dựa trên hoạt động cơbản của đơn vị kinh tế như là một đơn vị tài chính không giống như một đơn
vị kinh tế mới thành lập
49 Nếu một đơn vị chỉ điều chỉnh lại cơ cấu đơn vị của nó và tiếp tục hoạt động
hoặc có phương án hoạt động thay thế có lợi thì cần thay đổi cách lập báo cáotài chính của nó Khi thay đổi cách lập báo cáo tài chính, đơn vị phải thựchiện việc phân loại lại các thông tin được lập trong báo cáo để có thể so sánh
Trang 18được cho phù hợp với đoạn 62 Nếu đơn vị chấp nhận tuân theo các chuẩnmực kế toán công quốc tế thì cần phải điều chỉnh các yêu cầu của quốc giatrong việc lập báo cáo cho đến khi nào nó phù hợp với yêu cầu của các chuẩnmực này
Trọng yếu và tổng hợp
50 Những khoản mục có tính chất trọng yếu được trình bày riêng biệt trên
báo cáo tài chính Những khoản mục trọng yếu phản ánh quy mô khác nhau nhưng có cùng tính chất có thể được tập hợp lại Những khoản mục không trọng yếu được tập hợp lại với những khoản mục có cùng tính chất hoặc chức năng.
51 Báo cáo tài chính là kết quả của quá trình phân loại tập hợp một số lượng lớn
các giao dịch theo tính chất hoặc chức năng của chúng Giai đoạn cuối cùngtrong quá trình phân loại tổng hợp số liệu theo các khoản mục là việc đưa các
số liệu đã được tập hợp theo các khoản mục ở các dòng tương ứng trên báocáo tài chính hoặc giải trình báo cáo tài chính Nếu khoản mục nào đó khôngtrọng yếu thì được cộng gộp với các khoản mục khác ở trong báo cáo tàichính hoặc giải trình báo cáo tài chính Một khoản mục không được coi làtrọng yếu để được trình bày riêng biệt trên báo cáo tài chính nhưng có thểđược coi là trọng yếu để trình bày riêng biệt trên giải trình báo cáo tài chính
52 Những thông tin được coi là trọng yếu trong trường hợp thiếu thông tin có
ảnh hưởng lớn đến việc đánh giá và ra quyết định của người sử dụng báo cáotrong việc quản lý, phân bổ nguồn lực và hoạt động của đơn vị Tính trọngyếu phụ thuộc vào quy mô và tính chất của các khoản mục trong từng tìnhhuống cụ thể Để quyết định một khoản mục hoặc một tập hợp các khoản mục
là trọng yếu thì cần phải xem xét cả về quy mô và tính chất của các khoảnmục đó Tuỳ theo từng tình huống cụ thể, quy mô hoặc tính chất của cáckhoản mục có thể là nhân tố quyết định tính trọng yếu Ví dụ, thu nhập của cánhân hoặc các khoản họ nhận được có cùng tính chất và chức năng được tậphợp thành một khoản mục thậm chí giá trị của nó rất lớn Tuy vậy nhữngkhoản mục lớn mà khác nhau về tính chất hoặc chức năng phải được phảnánh riêng biệt trên báo cáo tài chính
53 Nguyên tắc trọng yếu chỉ ra rằng, không nhất thiết phải tuân theo những yêu
cầu của các chuẩn mực kế toán công quốc tế nếu thông tin không trọng yếu
Bù trừ
54 Tài sản và các khoản nợ phải trả không được bù trừ với nhau trừ khi
chuẩn mực kế toán công quốc tế khác yêu cầu hoặc cho phép.
55 Các mục thu nhập và chi phí không được bù trừ với nhau, trừ khi:
(a) Một chuẩn mực kế toán công yêu cầu hoặc cho phép; hoặc
Trang 19(b) Các khoản lãi, lỗ và chi phí liên quan đến các giao dịch, sự kiện có
cùng tính chất và không tách riêng được Số liệu đó được phản ánh tổng hợp theo đoạn 50.
56 Cần phải lưu ý rằng các khoản mục tài sản và các khoản nợ phải trả, thu nhập
và chi phí phải được phản ánh riêng biệt trên báo cáo tài chính Việc bù trừthực hiện trên báo cáo tình hình tài chính hoặc báo cáo kết quả hoạt động(ngoại trừ việc bù trừ phản ánh bản chất của các giao dịch hoặc các sự kiện)
sẽ làm giảm khả năng hiểu biết của người sử dụng thông tin trong việc đánhgiá các giao dịch của đơn vị đã thực hiện và đánh giá luồng tiền trong tươnglai của đơn vị đó Báo cáo về giá trị tài sản thuần không được điều chỉnh, ví
dụ như hàng tồn kho đã lỗi mốt và các khoản nợ khó đòi
57 Thu nhập liên quan đến các giao dịch trao đổi được thực hiện ở mức giá hợp
lý đã nhận hoặc sẽ nhận sẽ phải trừ đi số lượng chiết khấu hoặc giảm giá màđơn vị đã thoả thuận Trong quá trình hoạt động thông thường, đơn vị thựchiện những giao dịch khác mà nó không sinh ra thu nhập nhưng nó liên quanđến hoạt động chính sinh ra thu nhập thì kết quả của các giao dịch đó cầnphải được trình bày, nếu cách trình bày phản ánh bản chất của giao dịch hoặc
sự kiện bằng cách khấu trừ vào thu nhập các chi phí liên quan phát sinh trongcùng một giao dịch Ví dụ:
(a) Những khoản lãi, lỗ được trình bày ở phần tài sản ngắn hạn, bao gồm
các khoản đầu tư và tài sản hoạt động được trình bày bằng cách lấy sốtổng giá trị tài sản trừ đi các chi phí thanh lý và bán hàng liên quan;(b) Những chi phí hoàn trả theo hợp đồng thoả thuận với bên thứ ba được
trình bày theo giá trị thuần sau khi trừ đi các khoản hoàn trả tươngứng (ví dụ là một hợp đồng phụ thêm); và
(c) Những khoản mục bất thường có thể được trình bày theo giá trị thuần
của các khoản thuế liên quan và lợi ích của cổ đông thiểu số, còn sốtổng cộng được trình bày trên giải trình báo cáo tài chính
58 Bên cạnh đó, những khoản lãi, lỗ phát sinh từ một nhóm các giao dịch tương
đương cũng được trình bày theo giá trị thuần, ví dụ lãi lỗ chênh lệch tỷ giá vàmua bán các công cụ tài chính vì mục đích thương mại Tuy nhiên các khoảnlãi, lỗ như vậy cũng có thể phải trình bày riêng biệt trên báo cáo nếu quy mô
và tính chất hoặc tác động của các hoạt động đó được chỉ rõ theo yêu cầu củachuẩn mực số 3
59 Việc bù trừ giữa các luồng tiền sẽ được đề cập ở chuẩn mực số 2 “Báo cáo
lưu chuyển tiền tệ”
Thông tin có thể so sánh
60 Trừ khi một chuẩn mực kế toán công Quốc tế cho phép hoặc có yêu cầu
khác, những thông tin bằng số có thể so sánh được của kỳ kế toán trước
Trang 20phải được trình bày trên báo cáo trừ trường hợp đó là kỳ kế toán đầu tiên đơn vị mới áp dụng chuẩn mực này Những thông tin có thể so sánh được bao gồm cả những thông tin miêu tả bằng lời khi nó liên quan đến việc xem xét báo cáo tài chính của kỳ kế toán hiện tại.
61 Trong một số trường hợp thông tin miêu tả bằng lời ở báo cáo tài chính trong
kỳ kế toán trước tiếp tục liên quan đến kỳ kế toán hiện tại Ví dụ những thôngtin của những cuộc tranh luận hợp pháp ở những ngày cuối cùng của kỳ kếtoán trước chưa được giải quyết thì những thông tin đó vẫn còn phải đượcgiải quyết và được đưa vào báo cáo của kỳ kế toán hiện tại Đó là nhữngthông tin rất hữu ích cho người sử dụng
62 Khi điều chỉnh cách trình bày hoặc phân loại các khoản mục trong báo
cáo tài chính thì số liệu so sánh cũng phải được phân loại điều chỉnh cho phù hợp với nội dung các khoản mục; (trừ trường hợp không thể phân loại lại được) để đảm bảo việc so sánh với kỳ kế toán hiện tại và phải chỉ
rõ tính chất, số lượng, lý do phân loại lại Trong trường hợp không thể phân loại lại được số liệu thì cũng phải nêu rõ lý do và tính chất của những thay đổi nếu việc phân loại lại được thực hiện.
63 Trường hợp không thể phân loại lại các thông tin mang tính so sánh để có thể
so sánh được với kỳ kế toán hiện tại vẫn có thể xảy ra Ví dụ không có được
số liệu của các kỳ kế toán trước để phục vụ cho việc phân loại lại các số liệu.Trong trường hợp như vậy tính chất của việc điều chỉnh số liệu có thể so sánhđược đáng lẽ phải thực hiện cần được trình bày Chuẩn mực số 3 sẽ hướngdẫn việc trình bày các thông tin có thể so sánh được trong trường hợp thayđổi chính sách kế toán so với trước đó
Cấu trúc và nội dung
Giới thiệu
64 Chuẩn mực này yêu cầu trình bày các khoản mục nhất định trên báo cáo tài
chính, yêu cầu trình bày các khoản mục khác hoặc trên báo cáo tài chính hoặctrên giải trình báo cáo tài chính và thiết lập một bảng phụ lục kèm theo chuẩnmực để các đơn vị có thể theo đó áp dụng cho phù hợp với điều kiện cụ thểcủa mình
65 Chuẩn mực này sử dụng thuật ngữ “Trình bày” với nghĩa rộng là bao hàm các
khoản mục được trình bày trong báo cáo tài chính cũng như trong phần giảitrình báo cáo tài chính Các chuẩn mực khác của kế toán công quốc tế cũng
sử dụng thuật ngữ này với ý nghĩa tương tự Trừ khi chuẩn mực này hoặc mộtchuẩn mực đặc biệt khác là trái ngược thì việc trình bày là hoặc trong báo cáotài chính hoặc trên giải trình báo cáo tài chính
Trang 21Đặc điểm của báo cáo tài chính.
66 Thông tin trong các báo cáo tài chính cần phải được xác định rõ và phân
biệt chúng với những thông tin ở các tài liệu khác được phát hành.
67 Các chuẩn mực kế toán công quốc tế chỉ áp dụng cho việc lập các báo cáo tài
chính, không áp dụng cho việc lập các thông tin trên báo cáo hàng năm hoặccác báo cáo khác Vì vậy người sử dụng thông tin có thể phân biệt được sựkhác biệt giữa thông tin được lập dựa trên những chuẩn mực kế toán côngquốc tế với những thông tin khác mà nó có thể hữu ích với người sử dụngnhưng không được trình bày dựa theo các chuẩn mực kế toán
68 Mỗi bộ phận của báo cáo tài chính phải xác định rõ ràng Thêm vào đó
những thông tin sau cần phải được trình bày rõ và nếu cần thiết có thể nhắc đi nhắc lại để mọi người có thể hiểu được các thông tin trình bày trong báo cáo như:
(a) Tên của đơn vị báo cáo;
(b) Là báo cáo tài chính của một đơn vị độc lập hay một đơn vị kinh
tế;
(c) Ngày kết thúc kỳ kế toán hoặc kỳ kế toán tương ứng với các
thông tin đưa ra trong báo cáo;
(d) Đơn vị tiền tệ sử dụng trong báo cáo; và
(e) Mức độ chính xác của các số liệu đưa ra ở trong báo cáo.
69 Những yêu cầu đưa ra ở đoạn 68 nêu trên thông thường được trình bày ở đầu
mỗi trang trong báo cáo tài chính khi cần thiết có thể điều chỉnh cách trìnhbày thông tin trên báo cáo để đảm bảo tính liên tục của thông tin, giúp chongười đọc hiểu được thông tin đã đưa ra Ví dụ các trang tách rời không được
sử dụng khi đọc báo cáo tài chính trên trang điện tử, các khoản mục nêu trêncần được trình bày đầy đủ để đảm bảo người đọc hiểu được các thông tinđược cung cấp
70 Để cho đơn giản và dễ hiểu, đơn vị tính sử dụng trong các báo cáo tài chính
thường dùng ở mức nghìn hoặc triệu của đơn vị tiền tệ sử dụng trong báo cáo.Những đơn vị tính này có thể chấp nhận được vì nó đảm bảo được tính chínhxác cơ bản và cung cấp được các thông tin quan trọng
Kỳ kế toán
71 Các báo cáo tài chính được lập ít nhất là hàng năm Trong một số trường
hợp có thể thay đổi ngày lập báo cáo và báo cáo được lập cho một kỳ kế toán dài hơn hoặc ngắn hơn một năm, một đơn vị phải giải trình, ngoài thời gian trong báo cáo tài chính, những mục sau:
Trang 22(a) Lý do của việc lập báo cáo tài chính dài hoặc ngắn hơn một năm;
và (b) Thực tế số liệu có thể so sánh được với các báo cáo trước đó,
những sự thay đổi về tài sản thuần, các luồng tiền và những điểm chú ý liên quan đến việc không so sánh được.
72 Trong một số trường hợp, một đơn vị có thể thay đổi ngày kết thúc kỳ kế toán
để cho kỳ kế toán phù hợp với kỳ ngân sách Trong trường hợp này người sửdụng thông tin cần phải biết được rằng số liệu ở báo cáo của kỳ kế toán hiệntại là số liệu không so sánh được vì thay đổi ngày kết thúc kỳ kế toán Bêncạnh đó khi thực hiện giao dịch từ kế toán tiền mặt sang kế toán dồn tích thìphải thay đổi ngày kết thúc kỳ kế toán đối với các đơn vị trong phạm vi mộtđơn vị kinh tế để phục vụ cho việc lập báo cáo tài chính hợp nhất
73 Thông thường báo cáo tài chính được lập theo năm Ngoài ra có một số đơn
vị thích lập báo cáo cho giai đoạn 52 tuần vì lý do thực tiễn Chuẩn mực nàykhông loại trừ thực tế trên và kết quả là báo cáo tài chính này chưa chắc đãkhác với báo cáo được lập cho một năm
Thời hạn báo cáo
74 Sự hữu ích của báo cáo tài chính sẽ bị giảm nếu như chúng không tới được
người sử dụng theo đúng thời gian hợp lý sau ngày kết thúc kỳ kế toán Mộtđơn vị cần phải phát hành báo cáo tài chính của nó trong vòng 6 tháng saungày kết thúc kỳ kế toán Những nhân tố như sự phức tạp của các hoạt độngcủa đơn vị không phải là lý do chính đáng của việc lập báo cáo chậm Thờihạn cụ thể hơn của việc lập báo cáo tài chính được thể hiện ở các văn bản luậtpháp và các quy định của các cơ quan có thẩm quyền
Báo cáo tình hình tài chính
Sự khác nhau giữa ngắn hạn và dài hạn
75 Dựa vào tính chất các hoạt động diễn ra mỗi đơn vị phải phân loại được
tài sản ngắn hạn, tài sản dài hạn cũng như nợ ngắn hạn và nợ dài hạn trên báo cáo tình hình tài chính Từ đoạn 79 đến 88 trong chuẩn mực này sẽ đề cập đến các loại tài sản cũng như nợ ngắn hạn và dài hạn Khi một đơn vị không phân biệt được các khoản tài sản và các khoản nợ phải trả thành ngắn hạn, dài hạn có nghĩa là tài sản và các khoản nợ của
nó đều có tính chuyển đổi rất lớn.
76 Bất kỳ phương pháp lập báo cáo nào cũng được chấp nhận, đơn vị cần
trình bày rõ được mỗi khoản mục tài sản và nợ phải trả trước và sau 12 tháng kể từ ngày kết thúc kỳ kế toán.
77 Khi một đơn vị cung cấp hàng hoá hoặc dịch vụ trong phạm vi một chu kỳ
hoạt động thì sự phân biệt rõ tài sản cũng như nợ ngắn hạn và dài hạn trong
Trang 23báo cáo tình hình tài chính sẽ cung cấp những thông tin hữu ích để phân biệttài sản thuần tiếp tục được luân chuyển như là vốn lưu động với vốn được sửdụng cho những hoạt động dài hạn của đơn vị Ngoài ra, nó còn chỉ rõ số tàisản thu được trong chu kỳ hoạt động hiện tại và những khoản nợ phải trảtrong cùng kỳ đó.
78 Thông tin về ngày hết hạn của tài sản và các khoản nợ rất hữu ích trong việc
đánh giá khả năng trả nợ của đơn vị Cách trình bày về ngày hết hạn của tàisản tài chính và nợ tài chính được hướng dẫn ở chuẩn mực kế toán quốc tế(IAS) số 32 Các tài sản tài chính bao gồm số phải thu về bán hàng và cáckhoản thu khác, các khoản nợ tài chính bao gồm số phải trả cho việc muahàng và các khoản phải trả khác Những thông tin về ngày thu được và phảitrả các khoản tài sản và các khoản nợ phi tiền tệ như hàng hoá và vật tư cũngrất có ích cho việc phân loại giữa ngắn hạn và dài hạn
Tài sản ngắn hạn.
79 Một tài sản được phân loại là tài sản ngắn hạn khi nó:
(a) Được dự tính thu hồi hoặc được giữ để bán hoặc tiêu dùng trong
chu kỳ hoạt động bình thường của đơn vị; hoặc (b) Được nắm giữ cho mục đích thương mại hoặc mục đích ngắn hạn,
hoặc dự tính thu hồi được trong phạm vi 12 tháng của kỳ kế toán; hoặc
(c) Là tiền mặt hoặc các tài sản tương đương tiền mặt.
Tất cả các tài sản khác được phân loại vào tài sản dài hạn
80 Chuẩn mực này sử dụng thuật ngữ “Tài sản dài hạn” để chỉ các tài sản vô
hình, tài sản hoạt động và tài sản tài chính sử dụng trong thời gian dài Khôngcấm việc sử dụng các thuật ngữ thay thế để làm rõ nghĩa hơn
81 Chu kỳ hoạt động của một đơn vị là khoảng thời gian trong đó các yếu tố đầu
vào hoặc nguồn lực được chuyển hoá thành đầu ra Ví dụ như: Chính phủchuyển giao nguồn lực cho các đơn vị hoạt động trong lĩnh vực công để họ cóthể chuyển hoá nguồn lực đó thành hàng hoá và dịch vụ hoặc các sản phẩmđầu ra khác để đáp ứng được yêu cầu kinh tế, chính trị, xã hội của Chính phủ
82 Tài sản ngắn hạn bao gồm các khoản phải thu về thuế phí sử dụng dịch vụ,
tiền phạt và phí khác theo quy định các khoản thu nhập về bán hàng hoá vàđầu tư mà được thu về, tiêu dùng hoặc bán được coi như là một phần của tàisản ngắn hạn trong chu kỳ hoạt động bình thường, thậm chí chúng khôngđược thu về trong vòng 12 tháng của kỳ kế toán Các loại chứng khoán đượccoi là tài sản ngắn hạn nếu chúng được thu hồi trong vòng 12 tháng của kỳ kếtoán, ngoài ra chúng được phân loại là tài sản dài hạn