Chuẩn mực này phải được áp dụng khi trình bày và giải trình thông tin về tất cả các loại công cụ tài chính, gồm cả công cụ tài chính được ghi nhận và không được ghi nhận, ngoại trừ: a Ph
Trang 1IPSAS 15—CÔNG CỤ TÀI CHÍNH:
THUYẾT MINH VÀ TRÌNH BÀY
Lời nói đầu
Chuẩn mực kế toán công quốc tế được soạn thảo dựa theo Chuẩn mực kế quốc tế (IAS) 32 (được sửa đổi năm 1998), “Công cụ tài chính: Giải trình và trình bày” do Ủy ban chuẩn mực kế toán quốc tế (IASC) ban hành Hội đồng chuẩn mực kế toán quốc tế(IASB) và Uỷ ban chuẩn mực kế toán quốc tế (IASCF) được thành lập năm 2001 để thay thế IASC Các chuẩn mực kế toán quốc tế (IASs) do IASC ban hành vẫn còn hiệulực cho đến khi được IASB sửa đổi hoặc hủy bỏ Với sự cho phép của IASB, các đoạn trích dẫn từ IAS 32 được sao chép lại trong ấn phẩm này của Ủy ban lĩnh vực công thuộc Liên đoàn kế toán quốc tế
Văn bản được thông qua về IASs do IASC phát hành bằng tiếng Anh, và có thể được nhận trực tiếp từ Bộ phận xuất bản IASB theo địa chỉ: tầng 7, số 166 Phố Fleet, London EC4A 2DY, Anh Quốc
E-mail: publications@iasb.orgWebsite: http://www.iasb.orgCác chuẩn mực kế toán quốc tế (IASs), các dự thảo công bố và các ấn phẩm khác của IASC là thuộc bản quyền của IASCF
“IAS,” “IASB,” “IASC,” “IASCF” và “Chuẩn mực kế toán quốc tế” là các thương hiệu của IASCF và không được sử dụng nếu không có sự cho phép của IASCF
Trang 2Tháng 12 năm 2001IPSAS 15 - CÔNG CỤ TÀI CHÍNH :
THUYẾT MINH VÀ TRÌNH BÀY
NỘI DUNG
ĐoạnMục đích
Bù trừ tài sản tài chính và nợ phải trả tài chính ……… 39-47
Giải trình chính sách quản lý rủi ro ……… 50-53 Các điều khoản, điều kiện và chính sách kế toán ……… 54-62 Rủi ro lãi suất……….… 63-72
Tài sản tài chính mang giá trị lớn hơn giá trị hợp lý ………… 95-97
Dự phòng rủi ro các giao dịch dự kiến diễn ra trong tương lai… 98-100
Ngày hiệu lực ……… 103-104Phụ lục 1- Hướng dẫn thực hành
Phụ lục 2- Ví dụ áp dụng chuẩn mực
Phụ lục 3 - Ví dụ các yêu cầu giải trình
So sánh với IAS 32
Trang 3Những chuẩn mực viết bằng kiểu chữ in đậm, phải được đọc trong ngữ cảnh của các đoạn dẫn giải viết bằng chữ thường trong Chuẩn mực này, và trong ngữ cảnh của
“Lời tựa cho chuẩn mực kế toán công quốc tế” Các chuẩn mực kế toán công quốc tế không áp dụng cho những khoản mục không trọng yếu.
Một số đơn vị công như Chính phủ và các thể chế tài chính công có thể nắm giữ sốlượng lớn các công cụ tài chính Tuy nhiên, một số cơ quan Nhà nước đơn lẻ khôngphát hành hoặc nắm giữ một số lượng lớn công cụ tài chính Trong những trường hợpnhư vậy, chuẩn mực này được áp dụng hạn chế và những người lập báo cáo tài chínhphải xác định những khía cạnh trong chuẩn mực áp dụng cho đơn vị của họ Mục đíchcủa phần hướng dẫn thực hiện trong phụ lục 1 là nhằm giúp những người lập báo cáotài chính thực hiện nhiệm vụ này
Mục đích
Tính chất sôi động của thị trường tài chính quốc tế dẫn đến việc sử dụng rộng rãi cáccông cụ tài chính khác nhau từ các công cụ sơ cấp truyền thống, như trái phiếu, đếncác loại công cụ phái sinh khác nhau như các nghiệp vụ hoán đổi lãi suất Các đơn vịcông sử dụng nhiều công cụ tài chính từ những công cụ đơn giản như là phải thu, phảitrả đến các công cụ phức tạp hơn (như hoán đổi tiền tệ để dự phòng rủi ro cho các camkết ngoại hối) trong các hoạt động của đơn vị mình Trong phạm vi hẹp hơn, các đơn
vị công có thể phát hành các công cụ vốn hoặc công cụ vốn/nợ kép Điều này xảy rakhi một đơn vị kinh tế bao gồm một đơn vị kinh doanh bằng vốn Nhà nước được tưnhân hóa một phần phát hành công cụ vốn ra thị trường tài chính hoặc khi một đơn vịcông phát hành công cụ nợ có thể chuyển đổi thành quyền sở hữu theo các điều kiệnnhất định
Mục đích của chuẩn mực này là giúp người sử dụng báo cáo tài chính hiểu rõ hơn tầmquan trọng của các công cụ tài chính ngoài bảng và trong bảng cân đối kế toán đối vớitình hình tài chính, tình hình hoạt động và lưu chuyển tiền tệ của Nhà nước hoặc củađơn vị công khác Trong chuẩn mực này, nói đến “bảng cân đối kế toán” trong cụm từ
“trong bảng cân đối kế toán” và “ngoài bảng cân đối kế toán” có cùng nghĩa với “báocáo tình hình tài chính”
Chuẩn mực mô tả các yêu cầu nhất định đối với việc trình bày các công cụ tài chínhtrong bảng báo cáo tình hình tài chính và nhận diện thông tin cần phải được giải trìnhcủa công cụ tài chính ngoài bảng (không được ghi nhận) và trong bảng (được ghinhận) Về trình bày, chuẩn mực đề cập việc phân loại công cụ tài chính thành công cụ
nợ và công cụ vốn /tài sản thuần, phân loại lãi suất, cổ tức, doanh thu và chi phí liênquan và các trường hợp trong đó tài sản tài chính và nợ phải trả tài chính được bù trừcho nhau Về giải trình, thông tin về các yếu tố ảnh hưởng đến giá trị, thời gian và sựchắc chắn của dòng tiền trong tương lai liên quan đến công cụ tài chính và chính sách
kế toán áp dụng cho công cụ tài chính của đơn vị Ngoài ra, chuẩn mực khuyến khíchgiải trình thông tin về bản chất và hoàn cảnh sử dụng công cụ tài chính của đơn vị,mục đích tài chính mà chúng phục vụ, rủi ro gắn liền với công cụ này và chính sáchcủa ban quản lý đối với việc kiểm soát các rủi ro đó
Trang 4Phạm vi
1 Đơn vị lập và trình bày báo cáo tài chính trên cơ sở kế toán dồn tích phải
tuân thủ chuẩn mực này khi trình bày và giải trình công cụ tài chính.
2 Chuẩn mực này áp dụng cho tất cả các đơn vị công, trừ đơn vị kinh doanh
bằng vốn Nhà nước.
3 Các đơn vị kinh doanh bằng vốn Nhà nước được yêu cầu tuân thủ chuẩn mực
kế toán quốc tế (IAS) do Uỷ ban Chuẩn mực Kế toán Quốc tế ban hành.Hướng dẫn số 1 của Uỷ ban lĩnh vực công “Báo cáo tài chính của đơn vị kinhdoanh bằng vốn Nhà nước” quy định rằng IAS phù hợp với tất cả các loại hìnhdoanh nghiệp bất kể chúng thuộc khu vực tư nhân hay Nhà nước Theo đó,hướng dẫn số 1 quy định các đơn vị kinh doanh bằng vốn Nhà nước phải trìnhbày báo cáo tài chính tuân thủ theo IAS trên mọi khía cạnh trọng yếu
4 Chuẩn mực này phải được áp dụng khi trình bày và giải trình thông tin về
tất cả các loại công cụ tài chính, gồm cả công cụ tài chính được ghi nhận
và không được ghi nhận, ngoại trừ:
(a) Phần lợi ích trong đơn vị bị kiểm soát, như được định nghĩa trong
Chuẩn mực kế toán công quốc tế (IPSAS) 6 “Báo cáo tài chính hợp nhất và kế toán cho các đơn vị bị kiểm soát”;
(b) Phần lợi ích trong đơn vị liên kết, như được định nghĩa trong
IPSAS 7 “Kế toán các khoản đầu tư vào đơn vị liên kết”;
(c) Phần lợi ích trong liên doanh, như được định nghĩa trong IPSAS 8
“Báo cáo tài chính về phần lợi ích trong liên doanh”;
(d) Nghĩa vụ trong các hợp đồng bảo hiểm;
(e) Nghĩa vụ của người thuê nhân công đối quyền lợi của người đã
từng làm thuê, bao gồm kế hoạch phúc lợi cho nhân viên; và (f) Nghĩa vụ thanh toán liên quan đến phúc lợi xã hội đơn vị có trách
nhiệm cung cấp nhưng đơn vị không nhận được sự bù đắp nào hoặc sự bù đắp không tương xứng với giá trị hợp lý của lợi ích đã cung cấp, trực tiếp từ người nhận được khoản phúc lợi đó
5 Chuẩn mực này không áp dụng cho phần lợi ích của tài sản thuần/vốn chủ sở
hữu của đơn vị trong đơn vị bị kiểm soát Tuy nhiên, chuẩn mực này áp dụngcho tất cả các công cụ tài chính được bao gồm trong báo cáo tài chính hợp nhấtcủa đơn vị kiểm soát, bất kể những công cụ này được đơn vị kiểm soát hayđơn vị bị kiểm soát nắm giữ hoặc phát hành Tương tự, chuẩn mực này ápdụng cho công cụ tài chính do liên doanh nắm giữ hoặc phát hành và được baogồm trong báo cáo tài chính của bên liên doanh một cách trực tiếp hoặc thôngqua hợp nhất tương xứng
Trang 56 Một số thực thể kinh tế trong khu vực công có thể bao gồm cả các đơn vị phát
hành hợp đồng bảo hiểm Những đơn vị này nằm trong phạm vi của chuẩnmực này Tuy nhiên, phạm vi của chuẩn mực này không bao gồm bản thân cáchợp đồng bảo hiểm Cho mục đích của chuẩn mực này, hợp đồng bảo hiểmđược hiểu là một hợp đồng đặt bên bảo hiểm vào các rủi ro hoặc tổn thất đãđược nhận diện từ các sự kiện hoặc tình huống phát sinh hoặc được phát hiệntrong một giai đoạn nhất định, bao gồm tử vong (trong trường hợp có khoảntrợ cấp hàng năm, tồn tại người được trợ cấp hàng năm), ốm đau, thương thật,
hu hỏng tài sản, gây tai nạn cho người khác và hoạt động bị gián đoạn Tuynhiên, các điều khoản trong chuẩn mực này được áp dụng khi một công cụ tàichính có dạng của một hợp đồng bảo hiểm nhưng chủ yếu là liên quan việcchuyển giao rủi ro tài chính (xem đoạn 49), ví dụ, một số loại hợp đồng tái bảohiểm tài chính và hợp đồng đầu tư được bảo lãnh do đơn vị bảo hiểm công vàđơn vị khác phát hành Những đơn vị phải thực hiện các nghĩa vụ trong hợpđồng bảo hiểm được khuyến khích xem xét tính hợp lý của việc áp dụng cácđiều khoản của chuẩn mực này khi trình bày và giải trình thông tin về cácnghĩa vụ như vậy
7 Chuẩn mực này không áp dụng cho các công cụ tài chính phát sinh từ các
nghĩa vụ đối với quyền lợi của cán bộ viên chức hoặc nghĩa vụ của Chính phủđối với việc phân phối lợi ích xã hội cho công dân mà không nhận được khoản
bù đắp nào, hoặc khoản bủ đắp không tương xứng với giá trị hợp lý của cáckhoản lợi ích, nhận được trực tiếp từ những người hưởng lợi ích này (ví dụ tiềnlương hưu, trợ cấp thất nghiệp, trợ cấp thương tật và các dạng trợ cấp tài chínhkhác do Chính phủ cung cấp)
8 Hướng dẫn bổ sung về trình bày và giải trình các dạng công cụ tài chính cụ thể
có thể được quy định trong chuẩn mực kế toán quốc gia hoặc/và quốc tế Ví
dụ, IPSAS 13 “Thuê tài sản” có các yêu cầu trình bày cụ thể liên quan đến thuêtài chính
Các khái niệm
9 Các thuật ngữ sử dụng trong chuẩn mực này được hiểu như sau:
Công cụ vốn là một hợp đồng chứng minh lợi ích còn lại của tài sản của đơn vị sau khi trừ đi tất cả các khoản nợ phải trả của đơn vị đó.
Giá trị hợp lý là giá trị tài sản có thể trao đổi hoặc giá trị một khoản nợ được thanh toán một cách tự nguyện giữa các bên có đầy đủ hiểu biết trong sự trao đổi ngang giá.
Tài sản tài chính là các tài sản:
(a) Tiền;
(b) Quyền theo hợp đồng để nhận tiền hoặc tài sản tài chính khác từ
một đơn vị khác;
Trang 6(c) Quyền theo hợp đồng để trao đổi công cụ tài chính với đơn vị khác
dưới các điều kiện có lợi tiềm tàng; hoặc (d) Công cụ vốn của một đơn vị khác.
Công cụ tài chính là hợp đồng làm phát sinh cả tài sản tài chính của một đơn vị lẫn nợ phải trả tài chính hoặc công cụ vốn của đơn vị khác.
Các hợp đồng có tính chất như trao đổi hàng hoá làm mỗi bên có quyền thanh toán bằng tiền hoặc bằng một số công cụ tài chính khác được kế toán như thể chúng là các công cụ tài chính ngoại trừ các hợp đồng có tính chất trao đổi hàng hoá mà (a) được bắt đầu và tiếp tục đáp ứng các yêu cầu được kỳ vọng của đơn vị về việc sử dụng, mua, bán, (b) được định rõ cho mục đích đó ngay từ đầu và (c) được kỳ vọng để được thanh toán bằng cách phân phối
Nợ phải trả tài chính là nghĩa vụ theo hợp đồng:
(a) Giao tiền hoặc tài sản tài chính cho đơn vị khác, hoặc
(b) Trao đổi công cụ tài chính với đơn vị khác theo các điều kiện bất
lợi tiềm tàng.
Đơn vị có thể có nghĩa vụ theo hợp đồng trong đó đơn vị có thể thanh toán bằng tài sản tài chính hoặc chứng khoán vốn của mình Trong trường hợp, nếu số lượng chứng khoán vốn được yêu cầu để thanh toán nghĩa vụ khác với sự thay đổi trong giá trị hợp lý của cổ phiếu để tổng giá trị hợp lý của cổ phiếu được thanh toán luôn luôn bằng giá trị của nghĩa vụ theo hợp đồng, người nắm giữ nghĩa vụ này sẽ không bị đặt vào tình thế được lợi hay bị tổn thất từ những giao động trong giá cả của cổ phiếu Nghĩa vụ như vậy phải được hạch toán như là khoản nợ phải trả tài chính của đơn
vị
Hợp đồng bảo hiểm (cho mục đích của chuẩn mực này) là hợp đồng quy định bên nhận bảo hiểm phải chịu những rủi ro nhất định của khoản lỗ từ các sự kiện hoặc trường hợp phát sinh hoặc được phát hiện trong một khoảng thời gian cụ thể (gồm chết, ốm, thương vong, tài sản bị hư hỏng, hoạt động bị ngừng).
Giá trị thị trường là số tiền có thể thu được từ giao dịch bán, số tiền phải trả từ giao dịch mua hoặc giá trị của công cụ tài chính trên thị trường hoạt động.
Tài sản tài chính và nợ phải trả tài chính có tính chất tiền tệ (hay còn gọi
là công cụ tài chính có tính chất tiền tệ) là tài sản tài chính hoặc nợ phải trả tài chính được nhận hoặc phải trả bằng một số tiền nhất định hoặc có thể xác định được.
Trang 7Các thuật ngữ định nghĩa trong các chuẩn mực kế toán công quốc tế khác được sử dụng trong chuẩn mực này có nghĩa tương tự như trong các chuẩn mực khác và được sao chép lại trong Bảng chú giải thuật ngữ phát hành riêng
10 Trong chuẩn mực này, thuật ngữ “hợp đồng” và “theo hợp đồng” đề cập đến
một thỏa thuận giữa hai hay nhiều bên với một hệ quả kinh tế rõ ràng mà cácbên khó có thể tránh khỏi thực hiện, thường bởi vì thỏa thuận có giàng buộcpháp lý Các hợp đồng, và do vậy các công cụ tài chính, có thể ở nhiều dạngkhác nhau và không nhất thiết là dưới dạng viết
11 Theo định nghĩa trong đoạn 9, thuật ngữ “đơn vị” bao gồm cơ quan công, cá
nhân, cơ quan hợp tác và tập đoàn
12 Các phần của khái niệm về một tài sản tài chính và nợ phải trả tài chính bao
gồm các thuật ngữ tài sản tài chính và công cụ tài chính, nhưng các khái niệm không được phổ biết rộng rãi Khi có quyền hoặc nghĩa vụ theo hợp đồng để trao đổi công cụ tài chính, các công cụ tài chính được trao đổi tạo ra tài sản tài chính, nợ phải trả tài chính hoặc công cụ vốn Một chuỗi quyền hoặc nghĩa vụ theo hợp đồng có thể được thiết lập nhưng cuối cùng không dẫn đến việc nhận hoặc thanh toán tiền hoặc việc mua hoặc phát hành một công cụ vốn
13 Công cụ tài chính bao gồm cả công cụ sơ cấp như phải thu phải trả và chứng
khoán vốn , và công cụ phái sinh, như là các quyền lựa chọn tài chính, hợpđồng tương lai và hợp đồng kỳ hạn, hoán đổi lãi suất và hoán đổi tiền tệ Cáccông cụ tài chính phái sinh, dù được ghi nhận hoặc không được ghi nhận, đápứng định nghĩa về công cụ tài chính và, do đó, phải tuân thủ chuẩn mực này
14 Các công cụ tài chính phái sinh tạo ra quyền và nghĩa vụ mà có ảnh hưởng của
việc trao đổi giữa các bên một công cụ hoặc rủi ro tài chính cố hữu trong mộtcông cụ tài chính sơ cấp cơ bản Các công cụ tài chính phái sinh không dẫn đếnmột sự trao đổi công cụ tài chính sơ cấp khi bắt đầu của hợp đồng và sự traođổi như vậy không cần phải xảy ra khi hợp đồng đáo hạn
15 Tài sản vật chất như hàng tồn kho, bất động sản, nhà xưởng và thiết bị, tài sản
thuê tài chính và tài sản vô hình như mạng radio, bằng sáng chế và thương hiệukhông phải là tài sản tài chính Việc kiểm soát những tài sản vật chất và tài sản
vô hình tạo ra một cơ hội để tạo ra luồng tiền hoặc các tài sản khác nhưng nókhông làm tăng quyền hiện tại để nhận được tiền hoặc các tài sản tài chínhkhác
16 Tài sản, như chi phí trả trước, theo đó lợi ích kinh tế trong tương lai là việc
nhận được hàng hóa hoặc dịch vụ nhưng không phải là quyền để được nhậntiền hoặc một tài sản tài chính khác cũng không phải là tài sản tài chính Tương
tự, các khoản mục như là doanh thu hoãn lại và phần lớn các khoản nghĩa vụbảo hành không phải là nợ phải trả tài chính bởi vì dòng lợi ích kinh tế chảy ragắn liền với chúng là việc phân phối hàng hóa và dịch vụ không phải là tiềnhoặc một tài sản tài chính khác
Trang 817 Nợ phải trả hoặc tài sản mà không có tính chất hợp đồng, ví dụ thuế thu nhập
hoặc tương đương thuế phát sinh do yêu cầu về luật pháp mà Chính phủ áp đặtlên các đơn vị công, không phải là nợ phải trả tài chính hoặc tài sản tài chính.Chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS) 12 “Thuế thu nhập” hướng dẫn kế toán chothuế thu nhập
18 Quyền hoặc nghĩa vụ theo hợp đồng không liên quan đến trao đổi một tài sản
tài chính không nằm trong phạm vi định nghĩa về một công cụ tài chính Ví dụ,một số quyền (nghĩa vụ) theo hợp đồng, như những quyền và nghĩa vụ phátsinh từ hợp đồng hàng hóa tương lai, chỉ có thể được thanh toán bằng việcnhận (giao) tài sản phi tài chính Tương tự, quyền (nghĩa vụ) theo hợp đồngphát sinh từ hợp đồng thuê hoạt động hoặc thỏa thuận hoạt động tự xây dựngcho việc sử dụng tài sản vật chất, ví dụ bệnh viện, chỉ có thể được thực hiệnbằng việc nhận (giao) các dịch vụ Trong cả hai trường hợp, quyền theo hợpđồng của một bên là nhận tài sản phi tài chính hoặc dịch vụ và nghĩa vụ tươngứng của bên còn lại không hình thành một quyền hoặc nghĩa vụ cho bất kỳ bênđối tác nào để nhận, giao hoặc trao đổi một tài sản tài chính (Xem phụ lục 2,đoạn A13-A17)
19 Khả năng thực hiện quyền hoặc yêu cầu theo hợp đồng để thỏa mãn một nghĩa
vụ theo hợp đồng có thể là chắc chắn, hoặc có thể phụ thuộc vào việc xuất hiệncủa một sự kiện trong tương lai Ví dụ, trong một bảo lãnh tài chính, người chovay có quyền theo hợp đồng nhận được tiền từ người bảo lãnh, và nghĩa vụtheo hợp đồng tương ứng của người bảo lãnh là thanh toán cho người cho vay,nếu như người vay không thanh toán được Quyền và nghĩa vụ theo hợp đồngtồn tại bởi vì các giao dịch hoặc các sự kiện trong quá khứ (giả thiết của mộtbảo lãnh thư), mặc dù khả năng thực hiện quyền của người cho vay và yêu cầuđối với bên bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ của mình là tiềm tàng và phụ thuộcvào việc bên vay không có khả năng thanh toán trong tương lai Quyền vànghĩa vụ tiềm tàng thoả mãn khái niệm tài sản tài chính và nợ phải trả tàichính, mặc dù nhiều tài sản và nợ phải trả như vậy không đủ tiêu chuẩn đểđược ghi nhận trong báo cáo tài chính Ví dụ, Chính phủ cung cấp cho một cơquan công bảo vệ cơ sở vật chất hạ tầng để chống lại rủi ro về nhu cầu bằngcách đảm bảo một mức độ doanh thu tối thiều Đảm bảo này là một nghĩa vụtiềm tàng của Chính phủ cho đến khi xảy ra tình huống doanh thu của cơ quannày xuống dưới mức tối thiểu được bảo đảm
20 Nghĩa vụ của đơn vị phát hành hoặc phân phối công cụ vốn của mình, ví dụ
quyền lựa chọn cổ phiến hoặc chứng quyền, là một công cụ vốn, không phải là
nợ phải trả tài chính, do vậy đơn vị không có nghĩa vụ giao tiền hoặc tài sản tàichính khác Tương tự, chi phí phát sinh khi đơn vị mua quyền để mua lại công
cụ vốn của chính đơn vị mình từ một bên đối tác khác làm giảm tài sảnthuần/vốn chủ sở hữu, không phải là một tài sản tài chính
21 Lợi ích của cổ đông thiều số được ghi nhận trên báo cáo tình hình tài chính của
đơn vị khi hợp nhất đơn vị bị kiểm soát không phải là một khoản nợ phải trảtài chính hay công cụ vốn của đơn vị Trong báo cáo tài chính hợp nhất, đơn vị
Trang 9trình bày lợi ích của các bên khác trong tài sản thuần/vốn chủ sở hữu và thặng
dư hoặc thâm hụt thuần trong đơn vị bị kiểm soát phù hợp với IPSAS 6 Theo
đó, một công cụ tài chính được đơn vị bị kiểm soát xếp vào loại công cụ vốnkhông được tính khi hợp nhất nếu được đơn vị kiểm soát nắm giữ, hoặc đượcđơn vị kiểm soát trình bày trong báo cáo tình hình tài chính hợp nhất như là lợiích của cổ đông thiểu số tách rời với tài sản thuần/vốn chủ sở hữu của các cổđông khác Công cụ tài chính được đơn vị bị kiểm soát xếp vào nhóm nợ phảitrả tài chính vẫn là một khoản nợ phải trả trong báo cáo tình hình tài chính hợpnhất của đơn vị kiểm soát trừ khi bị loại ra khi hợp nhất như là số dư trong nội
bộ thực thể kinh tế Phương pháp kế toán đơn vị kiểm soát sử dụng cho hợpnhất không ảnh hưởng đến cơ sở trình bày báo cáo tài chính của đơn vị bị kiểmsoát
Trình bày
Nợ phải trả và tài sản thuần/vốn chủ sở hữu
22 Đơn vị phát hành công cụ tài chính phải phân loại công cụ này, hoặc các
cấu phần của công cụ, là một khoản nợ phải trả hay tài sản thuần/vốn chủ
sở hữu căn cứ vào bản chất của thỏa thuận theo hợp đồng khi ghi nhận ban đầu và các khái niệm về nợ phải trả tài chính và công cụ vốn.
23 Bản chất của một công cụ tài chính, chứ không phải hình thức pháp lý của nó,
sẽ quyết định công cụ này thuộc nhóm nào trong báo cáo tình hình tài chínhcủa đơn vị phát hành Thông thường bản chất và hình thức pháp lý nhất quánvới nhau, nhưng không phải lúc nào cũng như vậy Ví dụ, một số công cụ tàichính có hình thức pháp lý của vốn nhưng lại là nợ phải trả về bản chất vànhững khoản khác có thể có các đặc điểm kết hợp gắn liền với công cụ vốn vàđặc điểm gắn liền với nợ phải trả tài chính Việc phân loại một công cụ đượcthực hiện trên cơ sở đánh giá bản chất khi lần đầu tiên được ghi nhận Việcphân loại đó được giữ nguyên trong các kỳ tiếp theo cho đến khi công cụ tàichính này được đưa ra ngoài báo cáo tình hình tài chính của đơn vị Việc phânloại các công cụ tài chính thành nợ phải trả hoặc tài sản thuần/vốn chủ sở hữukhông phải là một vấn đề lớn đối với đa số các đơn vị báo cáo trong khu vựccông
24 Việc phân loại công cụ tài chính là nợ phải trả hay tài sản thuần/vốn chủ sở
hữu phải được thực hiện vì mỗi loại gắn liền với các rủi ro khác nhau Đơn vị
có các công cụ thuộc nhóm nợ phải trả tài chính phải giải trình thông tin về rủi
ro lãi suất gánh chịu theo quy định trong đoạn 63, và phải ghi nhận tiền lãi , cổtức, lỗ hoặc lãi như là doanh thu hoặc chi phí theo quy định trong đoạn 36.Đoạn 36 cũng quy định cụ thể là các khoản phân phối lợi ích cho các bên nắmgiữ công cụ tài chính thuộc nhóm công cụ vốn phải được ghi giảm trực tiếpvào tài sản thuần/vốn chủ sở hữu
25 Các đơn vị công thường nắm giữ công cụ vốn như là một khoản đầu tư (tài sản
tài chính), thông thường đơn vị công không phát hành công cụ vốn cho các đối
Trang 10tác bên ngoài thực thể kinh tế trừ trường hợp đơn vị bị kiểm soát được tư nhân hóa một phần Tuy nhiên, việc sử dụng các công cụ tài chính trong khu vực công tiếp tục mở ra và việc phân loại của đơn vị phát hành cần phải dựa trên bản chất chứ không nhất thiết là hình thức của các công cụ
26 Đặc điểm cơ bản để phân biệt một khoản nợ phải trả tài chính với một công cụ
vốn là sự tồn tại nghĩa vụ theo hợp đồng của một đơn vị đối với công cụ tàichính (bên phát hành), hoặc giao tiền hoặc giao một tài sản tài chính khác chođơn vị kia (bên nắm giữ) hoặc trao đổi một công cụ tài chính khác với bên nắmgiữ theo các điều kiện không có lợi tiềm tàng cho người phát hành Khi tồn tạimột nghĩa vụ theo hợp đồng như vậy, công cụ này thỏa mãn định nghĩa về mộtkhoản nợ phải trả tài chính mà không tính đến cách thức trong đó nghĩa vụtheo hợp đồng sẽ được thanh toán như thế nào Sự hạn chế trong khả năng thựchiện nghĩa vụ của bên phát hành, như thiếu khả năng tiếp cận với ngoại tệ hoặccần phải có phê duyệt thanh toán từ cơ quan có thẩm quyền, không phủ nhậnnghĩa vụ của bên phát hành hoặc quyền của bên nắm giữ công cụ này
27 Khi một công cụ tài chính không tạo ra một nghĩa vụ theo hợp đồng cho phía
đơn vị phát hành phải giao tiền hoặc một tài sản tài chính khác hoặc phải traođổi một công cụ tài chính khác theo các điều kiện không có lợi tiềm tàng, đó làmột công cụ vốn Mặc dù bên nắm giữ công cụ vốn có thể được trả cổ tức hoặccác khoản phân phối lợi ích từ tài sản thuần/vốn chủ sở hữu, nhưng bên pháthành không có nghĩa vụ theo hợp đồng phải thực hiện những việc này
28 Đơn vị công có thể phát hành các công cụ với quyền cụ thể như cổ phiếu ưu
đãi Khi cổ phiếu ưu đãi khiến đơn vị phát hành phải mua lại với giá có thể xácđịnh hoặc cố định tại thời điểm cố định hoặc có thể xác định được trong tươnglai hoặc cho bên nắm giữ quyền yêu cầu đơn vị phát hành mua lại cổ phiếu nàytại hoặc sau một thời điểm cụ thể với giá cố định hoặc có thể xác định, công cụnày thỏa mãn định nghĩa về một khoản nợ phải trả tài chính và được phân loại
là nợ phải trả tài chính Cổ phiếu ưu đãi mà không hình thành nghĩa vụ theohợp đồng như vậy một cách công khai có thể hình thành một cách gián tiếpnghĩa vụ như vậy thông qua các điều kiện và điều khoản Ví dụ, cổ phiếu ưuđãi không bị bắt buộc mua lại hoặc mua lại theo đề nghị của bên nắm giữ, có
cổ tức gia tốc theo hợp đồng, mà trong tương lai gần, cổ tức sẽ lên cao đếnmức đơn vị phát hành do sức ép về mặt kinh tế phải mua lại công cụ này.Trong những trường hợp này , việc phân loại là một khoản nợ phải trả tài chính
là hợp lý bởi vì đơn vị phát hành có ít khả năng, nếu có, để tránh khỏi việcmua lại công cụ này Tương tự, nếu một công cụ tài chính được gắn mác làmột cổ phiếu và cho bên nắm giữ quyền được yêu cầu mua lại khi xuất hiệnmột sự kiện trong tương lai mà có nhiều khả năng sẽ xảy ra, việc phân loại là
nợ phải trả tài chính khi ghi nhận ban đầu sẽ phản ánh bản chất của công cụ(Xem phụ lục 2, đoạn A7-A8 và A18-A21)
Phân loại công cụ kép bởi bên phát hành
Trang 1129 Đơn vị phát hành công cụ tài chính có cả yếu tố của nợ phải trả và cả yếu
tố của tài sản thuần/vốn chủ sở hữu phải được phân loại riêng các cấu phần của công cụ này theo như quy định trong đoạn 22.
30 Các đơn vị công thường không phát hành công cụ tài chính kép Những trường
hợp ngoại lệ bao gồm các đơn vị kinh doanh bằng vốn Nhà nước được tư nhânhóa một phần trong một thực thể kinh tế có phát hành công cụ kép ra thịtrường tài chính Khi đơn vị công phát hành công cụ kép, chuẩn mực này yêucầu trình bày riêng trên báo cáo tình hình tài chính của đơn vị phát hành yếu tố
nợ phải trả và tài sản thuần/vốn chủ sở hữu của một công cụ tài chính duynhất Đây là vấn đề của hình thức hơn là bản chất mà cả nợ phải trả và tài sảnthuần/lợi ích vốn chủ sở hữu được tạo ra bởi một công cụ tài chính duy nhấtchứ không phải được tạo ra từ hai hay nhiều công cụ tài chính Tình hình tàichính của đơn vị phát hành được trình bày một cách trung thực hơn bằng cáchtrình bày riêng thành phần nợ phải trả và tài sản thuần/vốn chủ sở hữu bao gồmtrong một công cụ duy nhất theo bản chất (Xem phụ lục 2, đoạn A22-A23)
31 Cho mục đích trình bày báo cáo tình hình tài chính, đơn vị phát hành ghi nhận
riêng cấu phần của một công cụ tài chính tạo ra một khoản nợ phải trả chínhcủa đơn vị phát hành và trao cho người nắm giữ quyền được mua công cụ đểchuyển thành công cụ vốn của đơn vị phát hành Một trái phiếu hoặc công cụtương tự có thể được người nắm giữ chuyển đổi thành cổ phiếu thông thườngcủa đơn vị phát hành là một ví dụ về công cụ này Từ khía cạnh của người pháthành, công cụ như vậy bao gồm 2 cấu phần: một khoản nợ phải trả tài chính(một sự thỏa thuận theo hợp đồng giao tiền hoặc tài sản tài chính khác) và mộtcông cụ vốn (một quyền chọn mua cho bên nắm giữ, trong khoản thời giannhất định, chuyển đổi thành cổ phiếu phổ thông của đơn vị phát hành) Ảnhhưởng kinh tế của việc phát hành một công cụ như vậy về bản chất giống nhưphát hành cùng lúc một công cụ nợ với điều khoản thanh toán sớm và chứngquyền để mua cổ phiếu phổ thông, hoặc phát hành một công cụ nợ với chứngquyền mua cổ phiếu tách rời Theo đó, trong tất cả các trường hợp, đơn vị pháthành trình bày cấu phần nợ phải trả và tài sản thuần/vốn chủ sở hữu riêng trongbáo cáo tình hình tài chính của đơn vị mình
32 Phân loại các cấu phần nợ phải trả và tài sản thuần/vốn chủ sở hữu của một
công cụ có thể chuyển đổi sẽ không được xem xét lại chỉ vì một sự thay đổitrong khả năng quyền chuyển đổi sẽ được thực thi, thậm chí khi việc thực hiệnquyền được mua này xem ra có lợi về mặt kinh tế cho một số bên nắm giữ.Các bên nắm giữ không phải lúc nào cũng hành động như được mong muốnbởi vì, ví dụ, thuế từ việc chuyển đổi có thể khác nhau giữa các bên nắm giữ.Hơn thế nữa, khả năng chuyển đổi sẽ thay đổi theo thời gian Nghĩa vụ củangười phát hành phải thanh toán trong tương lai vẫn còn giá trị cho đến khi nóđược thanh toán thông qua việc chuyển đổi, đáo hạn của công cụ này hoặc một
số giao dịch khác
33 Một công cụ tài chính có thể bao gồm các cấu phần không phải là nợ phải trả
tài chính cũng không phải là công cụ vốn của đơn vị phát hành Ví dụ, một
Trang 12công cụ có thể đem lại cho bên nắm giữ quyền nhận được tài sản phi tài chínhnhư quyền để vận hành một cơ quan độc quyền thuộc sở hữu Nhà nước hoặcmột hàng hóa trong thanh toán và một quyền được lựa chọn để trao đối quyềnnày lấy cổ phiếu của đơn vị phát hành Đơn vị phát hành ghi nhận và trình bàytách rời công cụ vốn (quyền được trao đổi) với thành phần nợ phải trả củacông cụ kép này, bất kể là nợ phải trả là nợ phải trả tài chính hay phi tài chính.
34 Chuẩn mực này không quy định cách tính toán giá trị tài sản tài chính, nợ phải
trả tài chính và các công cụ vốn và do đó không minh họa một phương pháp cụthể để ấn định giá trị còn lại của các cấu phần nợ phải trả và tài sản thuần/vốnchủ sở hữu có trong một công cụ duy nhất Các phương pháp có thể được ápdụng bao gồm:
(a) Ấn định cấu phần khó có thể xác định hơn (thường là một công cụ
vốn), giá trị thanh lý sau khi trừ đi từ công cụ trên tổng thể giá trị đượcxác định riêng cho cấu phần có thể xác định dễ hơn; và
(b) Xác định cấu phần nợ phải trả và tài sản thuần/vốn chủ sở hữu riêng
và, trong chừng mực cần thiết, điều chỉnh những giá trị này trên cơ sởchia theo tỷ lệ sao cho tổng các cấu phần bằng giá trị của công cụ trêntổng thể
Tổng giá trị còn lại được ấn định cho cấu phần nợ phải trả và tài sản thuần/vốn chủ sở hữu trong ghi nhận ban đầu thường bằng giá trị còn lại của công cụ trên tổng thể Không có lãi hoặc lỗ phát sinh từ việc ghi nhận và trình bày các cấu phần của công cụ một cách riêng lẻ
35 Theo phương pháp đầu tiên được mô tả trong đoạn 34, khi, ví dụ, một đơn vị
công phát hành một trái phiếu có thể chuyển đổi thành một quyền lợi vốn, đầutiên đơn vị xác định giá trị còn lại của khoản nợ phải trả tài chính này bằngcách chiết khấu dòng tiền thanh toán lãi và gốc trong tương lai sử dụng lãi suấtthị trường hiện hành của một khoản nợ phải trả tương tự mà không có cấu phầntài sản thuần/vốn chủ sở hữu gắn kèm Giá trị còn lại của một công cụ vốnđược trình bày bằng quyền lựa chọn để chuyển đổi công cụ này thành cổ phiếuphổ thông có thể sau đó được xác định bằng cách trừ giá trị còn lại của khoản
nợ phải trả tài chính từ giá trị của công cụ kép trên tổng thể Theo phương phápthứ 2, đơn vị phát hành xác định giá trị của quyền lựa chọn trực tiếp bằng cáchtham khảo giá trị hợp lý của một quyền lựa chọn tương tự, nếu có, hoặc bằngcách sử dụng một mô hình giá tuỳ chọn Giá trị được xác địch cho từng cấuphần sau đó được điều chỉnh trên cơ sở tỷ lệ theo mức cần thiết để đảm bảorằng tổng giá trị còn lại ấn định cho các cấu phần bằng giá trị nhận được từ tráiphiếu có thể chuyển đổi (Xem Phụ lục 2, đoạn A24)
Tiền lãi, cổ tức, lỗ và lãi
36 Tiền lãi, cổ tức, lỗ và lãi liên quan tới một công cụ tài chính hoặc một cấu
phần, được phân loại là một khoản nợ phải trả tài chính cần phải được báo cáo trong báo cáo tình hình hoạt động như là chi phí hoặc doanh thu.
Trang 13Các khoản chi cho bên nắm giữ một công cụ tài chính được phân loại là một công cụ vốn cần phải được trực tiếp ghi giảm tài sản thuần/vốn chủ
sở hữu của đơn vị phát hành
37 Phân loại một công cụ tài chính trong báo cáo tình hình tài chính xác định liệu
tiền lãi , cổ tức, lỗ và lãi liên quan đến công cụ này có được phân loại như cáckhoản chi phí hoặc doanh thu và được báo cáo trong báo cáo tình hình hoạtđộng hay không Do vậy khoản thanh toán cổ tức cho các cổ phiếu được phânloại là nợ phải trả được phân loại là các khoản chi phí giống như là tiền lãi củatrái phiều và được báo cáo trong báo cáo tình hình hoạt động Tương tự, lãi và
lỗ gắn liền với việc mua lại hoặc tái cấp vốn các công cụ được coi là nợ phảitrả được báo cáo trong báo cáo tình hình hoạt động, việc mua lại hoặc tái cấpvốn các công cụ được phân loại là tài sản thuần/vốn chủ sở hữu của đơn vịphát hành được báo cáo như các thay đổi trong tài sản thuần/vốn chủ sở hữu
38 Cổ tức được coi là một khoản chi phí và được trình bày trong báo cáo tình hình
hoạt động cùng với tiền lãi trả cho các khoản nợ phải trả khác hoặc được trìnhbày thành một khoản mục riêng Giải trình về tiền lãi và cổ tức phải tuân thủtheo yêu cầu của IPSAS 1 “Trình bày báo cáo tài chính” Trong một số trườnghợp, vì có sự khác nhau đáng kể giữa tiền lãi và cổ tức trên một số khía cạnh,như khả năng được khấu trừ thuế, nên tốt nhất là trình bày riêng hai khoản nàytrên báo cáo tình hình hoạt động Đối với đơn vị phải trả thuế thu nhập, hướngdẫn về giải trình các khoản chịu sự ảnh hưởng của thuế được nêu trong IAS
12
Bù trừ tài sản tài chính và nợ phải trả tài chính
39 Tài sản tài chính và nợ phải trả tài chính được bù trừ cho nhau và giá trị
thuần được báo cáo trong báo cáo tình hình tài chính khi đơn vị:
(a) Có quyền theo luật pháp bù trừ các khoản đã được ghi nhận; và (b) Có ý định hoặc thanh toán trên cơ sở thuần, hoặc ghi nhận tài sản
và thanh toán khoản nợ cùng lúc.
40 Chuẩn mực này yêu cầu trình bày tài sản tài chính và nợ phải trả tài chính trên
cơ sở thuần khi điều này phản ánh dòng tiền được mong đợi trong tương laicủa đơn vị từ việc thanh toán hai hay nhiều công cụ tài chính riêng biệt Khiđơn vị có quyền nhận hoặc trả một giá trị thuần duy nhất và có ý định làm điềunày, trên thực tế, đơn vị chỉ có một tài sản tài chính hoặc một khoản nợ phảitrả tài chính duy nhất Ví dụ, chính quyền bang thanh toán một khoản nợ phảitrả tài chính cho chính quyền trung ương trên cơ sở thuần (có nghĩa là, sau khitrừ một tài sản tài chính mà chính quyền trung ương nợ).Trong các tình huốngkhác, tài sản tài chính và nợ phải trả tài chính được trình bày riêng nhất quánvới các đặc điểm như tài sản hoặc nợ phải trả của đơn vị (Xem Phụ lục 2,đoạn A25)
Trang 1442 Việc bù trừ một tài sản tài chính được ghi nhận và một khoản nợ phải trả tài
chính được ghi nhận và việc trình bày giá trị thuần khác với việc thôi khôngghi nhận một tài sản tài chính hoặc một khoản nợ phải trả tài chính Trong khiviệc bù trừ không tàm tăng ghi nhận một khoản lãi hoặc lỗ, việc ngừng ghinhận một công cụ tài chính không chỉ là bỏ một khoản mục đã được ghi nhậntrước đây trong báo cáo tình hình tài chính mà còn tạo ra việc ghi nhận mộtkhoản lỗ hoặc lãi
43 Quyền bù trừ là quyền lợi hợp pháp của bên nợ, bằng hợp đồng hoặc tương tự,
thanh toán hoặc loại bỏ tất cả hoặc một phần giá trị mắc nợ bên cho vay bằngcách trừ đi từ giá trị này khoản nợ của bên cho vay Trong những tình huốngkhông bình thường, bên nợ có thể có quyền hợp pháp trừ đi giá trị bên thứ bavay từ giá trị còn nợ bên cho vay nếu có một thỏa thuẩn giữa ba bên nêu rõrằng bên vay có quyền bù trừ như vậy Bởi vì quyền bù trừ là một quyền lợihợp pháp, các điều kiện bảo vệ quyền này có thể khác nhau giữa các hệ thốngluật pháp và cần phải cẩn trọng để xác minh luật nào áp dụng cho các mối quan
hệ giữa các bên
44 Sự tồn tại của quyền có hiệu lực thi hành để bù trừ một tài sản tài chính và một
khoản nợ phải trả tài chính ảnh hưởng đến quyền và nghĩa vụ gắn liền với tàisản tài chính và nợ phải trả tài chính và có thể ảnh hưởng đáng kể đến nguy cơgặp phải rủi ro thanh khoản và tín dụng của đơn vị Tuy nhiên, sự tồn tại củaquyền này, bản thân nó, không phải là một cơ sở đủ để bù trừ Nếu không cómột ý định thực hiện quyền này hoặc thanh toán cùng lúc, giá trị và thời giancủa dòng tiền trong tương lai của đơn vị sẽ bị ảnh hưởng Khi đơn vị có ý địnhthực thi quyền này hoặc thanh toán cùng lúc, việc trình bày nợ phải trả và tàisản trên cơ sở thuần phản ánh một cách hợp lý hơn giá trị và thời gian củadòng tiền trong tương lai được mong đợi cũng như các rủi ro các dòng tiền này
có nguy cơ gặp phải.Ý định của một hoặc cả hai bên thanh toán trên cơ sởthuần mà không có quyền hợp pháp để làm điều này thì cũng không đủ đểthanh minh cho việc bù trừ vì quyền và nghĩa vụ gắn liền với từng tài sản tàichính và nợ phải trả tài chính vẫn còn nguyên
44 Ý định của đơn vị liên quan đến việc thanh toán các tài sản hoặc nợ phải trả cụ
thể có thể bị ảnh hưởng bởi việc thực hiện các hoạt động thông thường, cácyêu cầu của thị trường tài chính và các tình huống khác có thể hạn chế khảnăng thanh toán thuần hoặc thanh toán đồng thời Khi đơn vị có quyền bù trừnhưng không có ý định thanh toán thuần hoặc ghi nhận tài sản và thanh toán nợphải trả đồng thời, ảnh hưởng của quyền đối với nguy cơ gặp rủi ro tín dụngcủa đơn vị được trình bày theo quy định tại đoạn 73
45 Thanh toán đồng thời hai công cụ tài chính có thể thực hiện thông qua, ví dụ,
hoạt động của ngân hàng hối đoái trong thị trường tài chính có tổ chức hoặctrao đổi trực tiếp Trong những tình huống như vậy dòng tiền, trên thực tế,tương đương với giá trị thuần duy nhất và không có nguy cơ gặp rủi ro thanhkhoản hay tín dụng Trong các trường hợp khác, đơn vị có thể thanh toán haicông cụ bằng cách nhận và trả riêng, sẽ có nguy cơ gặp rủi ro tín dụng đối với
Trang 15toàn bộ giá trị của tài sản hoặc rủi ro thanh khoản đối với toàn bộ giá trị củakhoản nợ phải trả Nguy cơ gặp rủi ro như vậy có thể đáng kể mặc dù trongmột phạm vi tương đối Theo đó, việc bán một tài sản tài chính và thanh toánmột khoản nợ phải trả tài chính được coi là đồng thời chỉ khi các giao dịchxuất hiện cùng lúc.
46 Nói chung, các điều kiện trong đoạn 39 không được thoả mãn và việc bù trừ
thường không hợp lý, khi:
(a) Một vài công cụ tài chính khác nhau đã từng có các đặc điểm của một
công cụ tài chính duy nhất (đó là một “công cụ tổng hợp”);
(b) Các công cụ tài chính và nợ phải trả tài chính phát sinh từ các công cụ
tài chính có cùng nguy cơ gặp rủi ro cơ bản (ví dụ, tài sản và nợ phảitrả trong danh mục các hợp đồng kỳ hạn hoặc các công cụ phái sinhkhác) nhưng bao gồm các bên đối tác khác nhau;
(c) Tài sản tài chính hoặc tài sản khác được cầm cố như là đồ ký quỹ cho
các khoản nợ tài chính không được tài trợ
(d) Tài sản tài chính được đưa vào ủy thác của bên nợ cho mục đích hoàn
thành nghĩa vụ nhưng các tài sản đó không có sự chấp nhận của bên cho vay dùng để thực hiện nghĩa vụ này (ví dụ, thỏa thuận quỹ đầu tư); hoặc
(e) Nghĩa vụ phát sinh vì các sự kiện gây tổn thất được dự kiến có thể thu
hồi từ bên thứ ba dưới dạng một khoản bồi thường được trả theo một hợp đồng bảo hiểm
47 Đơn vị có thực hiện một số giao dịch công cụ tài chính với một đối tác duy
nhất có thể tham gia vào một “thỏa thuận thuần tổng thể” với bên đối tác này.Một thỏa thuận như vậy cho phép thanh toán thuần duy nhất cho tất cả cáccông cụ tài chính được nói đến trong thỏa thận trong trường hợp không trảđược nợ, hoặc kết thúc, bất kỳ một hợp đồng nào Các thỏa thuận như vậythông thường được các tổ chức tài chính sử dụng để chống lại tổn thất trongtrường hợp phá sản hoặc các sự kiện khác làm cho bên đối tác không thể thựchiện được nghĩa vụ của họ Thỏa thuận thuần tổng thể thường tạo ra quyền bùtrừ và quyền này trở thành có thể thực thi và ảnh hưởng tới việc bán hoặcthanh toán từng tài sản tài chính và nợ phải trả tài chính chỉ sau khi có tìnhhuống không trả được nợ cụ thể hoặc trong các tình huống khác không đượcmong đợi phát sinh trong quá trình hoạt động bình thường Một thỏa thuậnthuần tổng thể không tạo ra cơ sở cho việc bù trừ trừ khi cả hai tiêu chí trongđoạn 39 được thỏa mãn Khi tài sản tài chính và nợ phải trả tài chính liên quanđến một thỏa thuận thuần tổng thể không được bù trừ, ảnh hưởng của thỏathuận này lên nguy cơ gặp rủi ro tín dụng được trình bày theo quy định trongđoạn 73
Giải trình
Trang 1648 Mục đích của phần giải trình được yêu cầu trong chuẩn mực này là để cung
cấp thông tin làm tăng khả năng hiểu tầm quan trọng của công cụ tài chínhtrong bảng và ngoài bảng đối với tình hình tài chính, hoạt động và lưu chuyểntiền tệ của một đơn vị và giúp đánh giá giá trị, thời gian và tính chắc chắn củaluồng tiền trong tương lai gắn liền với những công cụ này Ngoài ra để cungcấp thông tin cụ thể về số dư công cụ tài chính và các giao dịch công cụ tàichính, đơn vị được khuyến khích cung cấp chi tiết về phạm vi trong đó công cụtài chính được sử dụng, các rủi ro gắn liền và mục đích tài chính được phục vụ.Bình luận về chính sách của ban quản lý để kiểm soát rủi ro gắn liền với công
cụ tài chính, bao gồm chính sách về các vấn đền như dự phòng cho nguy cơgặp rủi ro, tránh sự tập trung quá mức của rủi ro và các yêu cầu ký quỹ đểgiảm nhẹ rủi ro tín dụng, cho thấy một viễn cảnh bổ sung có giá trị về tính độclập của các công cụ nhất định đang còn tồn tại tại một thời điểm cụ thể Một sốđơn vị cung cấp những thông tin như vậy trong phần bổ sung đi kèm báo cáotài chính chứ không phải là một phần của báo cáo tài chính
49 Các giao dịch công cụ tài chính có thể khiến đơn vị chuyển giao hoặc nhận từ
một đơn vị khác một hoặc nhiều rủi ro tài chính được mô tả dưới đây Giảitrình được yêu cầu sẽ cung cấp thông tin hỗ trợ cho người sử dụng báo cáo tàichính đánh giá phạm vi rủi ro liên quan đến công cụ tài chính được ghi nhận vàkhông được ghi nhận:
(a) Rủi ro về giá - có ba loại hình rủi ro về giá: rủi ro tiền tệ, rủi ro lãi suất
và rủi ro thị trường
(i) Rủi ro tiền tệ là rủi ro mà giá trị của một công cụ tài chính sẽ
dao động do sự thay đổi của tỷ giá hối đoái
(ii) Rủi ro lãi suất là rủi ro giá trị của một công cụ tài chính sẽ dao
động do sự thay đổi của lãi suất thị trường
(iii) Rủi ro thị trường là rủi ro mà giá trị của một công cụ tài chính
sẽ giao động do sự thay đổi của giá thị trường bất kể nhữngthay đổi này là do các yếu tố cụ thể liên quan đến từng chứngkhoán hoặc đơn vị phát hành hoặc các yếu tố ảnh hưởng tất cảcác loại chứng khoán được trao đổi trên thị trường
Thuật ngữ “rủi ro về giá” bao gồm không chỉ lỗ tiềm tàng mà còn baogồm cả lãi tiềm tàng
(b) Rủi ro tín dụng – Rủi ro tín dụng là rủi ro một đối tác trước một công
cụ tài chính không hoàn thành nghĩa vụ của mình và kết quả là làm mộtđơn vị khác phải chịu tổn thất tài chính
(c) Rủi ro thanh khoản – Rủi ro thanh khoản cũng được coi là rủi ro vốn, là
rủi ro mà đơn vị sẽ đối mặt với khó khăn trong việc huy động vốn đểđáp ứng các cam kết gắn liền với các công cụ tài chính Rủi ro thanhkhoản có thể do không có khả năng bán một công cụ tài chính một cách
Trang 17nhanh chóng với giá gần với giá hợp lý của công cụ này Đối với một
số đơn vị công, như Chính phủ trung ương, rủi ro thanh khoản có thểđược làm giảm nhẹ bằng cách tăng thuế hoặc các khoản phí khác đánhvào các đơn vị
(d) Rủi ro lưu chuyển tiền tệ - Rủi ro lưu chuyển tiền tệ là rủi ro mà luồng
tiền trong tương lai gắn liền với công cụ tài chính tiền tệ sẽ dao động
về giá trị Trong một số trường hợp công cụ nợ với lãi suất thả nổi, ví
dụ, những dao động như vậy dẫn đến một thay đổi trong lãi suất thựccủa công cụ tài chính, thường không có một sự thay đổi tương ứngtrong giá trị hợp lý của công cụ này
Giải trình chính sách quản lý rủi ro
50 Đơn vị phải mô tả các chính sách và mục tiêu quản lý rủi ro tài chính của
mình, bao gồm chính sách dự phòng rủi ro cho từng loại giao dịch chính
đã được dự đoán theo đó kế toán dự phòng rủi ro được sử dụng.
51 Chuẩn mực này không quy định dạng thông tin được yêu cầu trình bày hoặc vị
trí trong báo cáo tài chính Đối với công cụ tài chính được ghi nhận, trongphạm vi thông tin yêu cầu được trình bày trên báo cáo tình hình hoạt động,không nhất thiết phải nhắc lại trong giải trình báo cáo tài chính Tuy nhiên, đốivới công cụ tài chính không được ghi nhận, thì thông tin trong bản giải trìnhhoặc tài liệu bổ sung là các phương tiện trình bày chính Trình bày có thể baogồm sự kết hợp của việc mô tả theo cách tường thuật và dữ liệu về số lượng cụthể, nếu có thể trình bày bản chất của công cụ và mức độ ảnh hưởng đáng kểcủa các công cụ này đối với đơn vị
52 Việc xác định mức độ chi tiết cần phải được giải trình về một công cụ tài chính
cụ thể là vấn đề mang tính xét đoán có tính đến mức độ liên quan đáng kể củanhững công cụ này Cần phải xóa bỏ số dư giữa các báo cáo tài chính quá nặng
nề với chi tiết quá nhiều có thể không hỗ trợ người sử dụng báo cáo tài chính
và làm mờ đi thông tin đáng kể do quá nhiều khối kết hợp Ví dụ, khi một đơn
vị có một số lượng lớn các công cụ tài chính với những đặc điểm tương tự vàkhông có hợp đồng nào là đáng kể, thông tin được tóm tắt bằng cách thamkhảo các nhóm công cụ nhất định là phù hợp Nhưng mặt khác thông tin cụ thể
về một công cụ có thể là quan trọng khi công cụ này đại diện, ví dụ, cho mộtyếu tố đáng kể trong cơ cấu vốn của đơn vị
53 Ban quản lý của đơn vị nhóm các công cụ tài chính thành các nhóm phù hợp về
bản chất của thông tin được trình bày, có tính đến các vấn đề như đặc điểm củacông cụ, bất kể chúng được ghi nhận hay không được ghi nhận, và nếu chúngđược ghi nhận, cơ sở xác định đã được áp dụng Nhìn chung, các nhóm đượcxác định dựa trên cơ sở phân biệt các khoản mục ghi nhận theo giá gốc với cáckhoản mục ghi nhận theo giá hợp lý Khi các giá trị được trình bày trong bảngiải trình hoặc tài liệu bổ sung liên quan đến tài sản và nợ phải trả được ghinhận, thông tin đầy đủ được cung cấp để có thể đối chiếu các dòng khoản mục
Trang 18liên quan trong báo cáo tình hình tài chính Khi đơn vị có các công cụ tài chínhkhông được quy định trong chuẩn mực này, như các nghĩa vụ trong chươngtrình lương hưu hoặc hợp đồng bảo hiểm, các công cụ này cấu thành một nhómhoặc các nhóm tài sản tài chính hoặc nợ phải trả tài chính được trình bày táchrời với các công cụ quy định trong chuẩn mực này
Các điều khoản, điều kiện và chính sách kế toán
54 Đối với mỗi nhóm tài sản tài chính, nợ phải trả tài chính và công cụ vốn,
cả được ghi nhận và không được ghi nhận, đơn vị phải trình bày:
(a) Thông tin về phạm vi và bản chất của các công cụ tài chính này,
bao gồm các khoản mục và điều kiện đáng kể có thể ảnh hưởng đến giá trị, thời gian và tính chắc chắn của dòng tiền trong tương lai; và
(b) Các chính sách kế toán và phương pháp áp dụng, bao gồm tiêu chí
ghi nhận và cơ sở xác định được áp dụng.
55 Các điều kiện và điều khoản theo hợp đồng của một công cụ tài chính là một
yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến giá trị, thời gian và tính chắc chắn của khoảntiền trong tương lai các bên đối tác nhận và thanh toán liên quan đến công cụnày Khi các công cụ được ghi nhận và không được ghi nhận là đáng kể, theođơn lẻ hoặc theo nhóm, trong mối quan hệ với tình hình tài chính hiện tại củađơn vị hoặc kết quả hoạt động trong tương lai của đơn vị, các điều khoản vàđiều kiện của các công cụ này phải được giải trình Nếu không có một công cụnào đơn lẻ ảnh hưởng đáng kể đến luồng tiền trong tương lai của một đơn vị
cụ thể, các đặc điểm cốt yếu của các công cụ này được mô tả bằng cách giớithiệu xem các nhóm công cụ tương tự
56 Khi các công cụ tài chính được một đơn vị nắm giữ hoặc phát hành, hoặc đơn
lẻ thể hoặc theo nhóm, tạo ra một khả năng đáng kể tiềm tàng sẽ gặp phải cácrủi ro như mô tả trong đoạn 49, các điều kiện và điều khoản chắc chắn phảigiải trình bao gồm:
(a) Số tiền gốc, đã công bố, mệnh giá hoặc một giá trị khác tương tự mà,
đối với một số công cụ phái sinh, như hoán đổi lãi suất, có thể là giá trị(được coi là giá trị ước lượng) mà các thanh toán trong tương lai dựatrên đó;
(b) Ngày đáo hạn, hết hạn hoặc thực thi;
(c) Quyền lựa chọn thanh toán sớm do một bên đối tác nắm giữ liên quan
đến công cụ này, bao gồm kỳ trong đó, hoặc ngày mà tại đó quyền lựachọn được thực hiện và giá sử dụng hoặc khung giá;
(d) Các quyền lựa chọn do một bên nắm giữ đối với công cụ để chuyển đổi
công cụ thành, hoặc trao đổi công cụ này cho, một công cụ tài chính
Trang 19khác hoặc một số tài sản hoặc nợ phải trả khác, bao gồm kỳ trong đó,hoặc ngày tại đó, quyền lựa chọn được thực hiện và sự chuyển đổi hoặc(các) tỷ lệ trao đổi;
(e) Giá trị và thời gian của việc nhận hoặc thanh toán tiền trong tương lai
đã được lên kế hoạch của giá trị gốc của công cụ, bao gồm hoàn trảtừng phần và bất cứ khoản vốn đầu tư hoặc các yêu cầu tương tự;(f) Lãi suất công bố hoặc khoản tiền lãi, cổ tức hoặc khoản hoàn trả theo
định kỳ khác đối với giá trị gốc và thời gian của các khoản thanh toán;(g) Đồ ký quỹ được nắm giữ, trong trường hợp một tài sản tài chính, hoặc
được cầm cố, trong trường hợp của một khoản nợ phải trả tài chính;(h) Trong trường hợp một công cụ có luồng tiền là loại đơn vị tiền tệ
không phải là đơn vị tiền tệ báo cáo của đơn vị, loại đơn vị tiền tệ đượcyêu cầu sử dụng cho các khoản nhận và thanh toán;
(i) Trong trường hợp công cụ sử dụng trong một nghiệp vụ trao đổi, thông
tin được mô tả trong khoản mục (a) đến (h) đối với công cụ được muathông qua nghiệp vụ trao đổi này; và
(j) Bất kỳ điều kiện nào của công cụ hoặc một hợp đồng giao kèo đi kèm
mà, nếu mâu thuẫn, sẽ biến đổi một cách đáng kể bất kỳ một điềukhoản nào khác (ví dụ, một tỷ lệ vốn chủ sở hữu/nợ đối với tài sảnthuần tối đa trong một giao kèo trái phiếu mà, nếu mâu thuẫn, sẽ thựchiện giá trị gốc đầy đủ của trái phiếu đến hạn và có thể thanh toán ngaylập tức)
57 Khi báo cáo tình hình tài chính trình bày công cụ tài chính khác với hình thức
pháp lý của công cụ, đơn vị nên giải thích trong giải trình báo cáo tài chính bảnchất của công cụ này
58 Tính hữu ích của thông tin về phạm vi và bản chất của công cụ tài chính được
nâng lên khi nó nhấn mạnh mối quan hệ giữa các công cụ đơn lẻ mà có thể ảnhhưởng đến giá trị, thời gian hoặc tính chắc chắn của luồng tiền trong tương laicủa đơn vị Ví dụ, việc trình bày các mối quan hệ dự phòng rủi ro như mốiquan hệ tồn tại khi một cơ quan có thẩm quyền vay trung ương nắm giữ mộtkhoản đầu tư vào cổ phiếu mà trong đó cơ quan này đã mua một quyền chọnbán là rất quan trọng Tương tự, việc trình bày mối quan hệ giữa các cấu phầncủa “các công cụ tổng hợp” ví dụ nợ với lãi suất cố định được tạo ra bằng việcvay với lãi suất thả nổi và bắt đầu với một khoản nợ thả nổi đến hoán đổi lãisuất cố định là rất quan trọng Trong từng trường hợp, đơn vị trình bày các tàisản tài chính và nợ phải trả tài chính riêng lẻ trong báo cáo tình hình tài chínhsao cho phù hợp với bản chất của các khoản này, hoặc trình bày riêng hoặc làtheo nhóm tài sản tài chính hoặc nhóm nợ tài chính mà các khoản này là bộphận cấu thành Phạm vi mà theo đó nguy cơ gặp phải rủi ro bị mối quan hệgiữa các tài sản và nợ phải trả làm thay đổi có thể rõ ràng đối với người sử
Trang 20dụng báo cáo tài chính từ thông tin được mô tả trong đoạn 56, nhưng trong một
số trường hợp việc trình bày bổ sung là cần thiết
59 Theo IPSAS 1, đơn vị đưa ra giải trình chính xác và rõ ràng các chính sách kế
toán quan trọng, bao gồm các nguyên tắc chung được áp dụng và phương pháp
áp dụng những nguyên tắc đối với các giao dịch và tình huống đáng kể phátsinh trong quá trình hoạt động của đơn vị Trong trường hợp của các công cụtài chính, giải trình bao gồm:
(a) Tiêu chí được áp dụng để quyết định khi nào ghi nhận một tài sản tài
chính hoặc một khoản nợ phải trả trên báo cáo tình hình tài chính vàkhi nào chấm dứt việc ghi nhận tài sản hoặc khoản nợ này;
(b) Cơ sở xác định đã được áp dụng cho các tài sản tài chính và nợ phải trả
tài chính trong ghi nhận ban đầu và sau đó; và(c) Cơ sở mà theo đó doanh thu và chi phí phát sinh từ tài sản tài chính và
nợ phải trả tài chính được ghi nhận và xác định
60 Các dạng giao dịch cần phải trình bày các chính sách kế toán liên quan bao
gồm:
(a) Chuyển giao tài sản tài chính khi bên chuyển giao có quyền lợi liên tục
trong, hoặc liên quan với, các tài sản này, ví dụ việc chứng khoán hoá các tài sản tài chính, thỏa thuận mua lại và thỏa thuận mua lại với giá thấp nhất có thể chấp nhận;
(b) Chuyển giao tài sản tài chính thành một ủy thác cho mục đích làm bảo
đảm nợ phải trả khi chúng đến hạn mà không có nghĩa vụ của bênchuyển giao thanh toán tại thời điểm chuyển giao, ví dụ một ủy tháchủy bỏ;
(c) Mua hoặc phát hành các công cụ tài chính độc lập như là một phần của
một loạt giao dịch được thiết kế để tổng hợp hóa ảnh hưởng của việcmua hoặc phát hành một công cụ đơn lẻ;
(d) Mua hoặc phát hành công cụ tài chính như là các khoản dự phòng nguy
cơ gặp rủi ro, ví vụ hoán đổi lãi suất để dự phòng rủi ro cho một nghĩa
vụ thuê tài sản tài chính; và(e) Mua hoặc phát hành công cụ tài chính có tính chất tiền tệ có lãi suất ấn
định khác với lãi suất thị trường tại thời điểm phát hành, ví dụ cơ quan
có thẩm quyền vay trung ương phát hành trái phiếu với lãi suất thấp.(Xem phụ lục 2 đoạn A26)
61 Để cung cấp thông tin đầy đủ cho người sử dụng báo cáo tài chính hiểu được
cơ sở mà tài sản tài chính và nợ phải trả tài chính được xác định, việc giải trìnhchính sách kế toán cho thấy không những giá gốc, giá trị hợp lý hoặc một số cơ
Trang 21sở xác định khác đã được áp dụng đối với một nhóm tài sản và nợ phải trả nhấtđịnh mà còn phương pháp áp dụng cơ sở đó Ví dụ, đối với công cụ tài chínhghi nhận trên cơ sở giá gốc, đơn vị có thể được yêu cầu trình bày cách hạchtoán:
(a) Chi phí mua hoặc phát hành;
(b) Phần phụ trội hoặc chiết khấu đối với nợ phải trả tài chính và tài sản tài
chính có tính chất tiền tệ;
(c) Các thay đổi trong giá trị ước tính của luồng tiền trong tương lai có thể
xác định được gắn liền với công cụ tài chính có tính chất tiền tệ, ví dụmột trái phiếu ấn định bằng giá một hàng hóa;
(d) Các thay đổi trong tình huống gây ra sự không chắc chắn đáng kể về
việc thu hồi đúng thời gian tất cả giá trị theo hợp đồng đến hạn từ cáctài sản tài chính có tính chất tiền tệ;
(e) Giảm sút giá trị hợp lý của tài sản tài chính xuống dưới giá trị còn lại;
và(f) Nợ phải trả được cơ cấu lại
Đối với các tài sản tài chính và nợ phải trả tài chính mang giá trị hợp lý, đơn vịtrình bày sơ lược giá trị còn lại được xác định từ giá thị trường niêm yết, đánhgiá độc lập, phân tích dòng tiền chiết khấu hoặc một phương pháp hợp lý khác,
và trình bày các giả thiết đáng kể đã được thực hiện khi áp dụng nhữngphương pháp này (Xem Phụ lục 2, đoạn A27)
62 Đơn vị trình bày cơ sở báo cáo trong báo cáo tình hình hoạt động các khoản lãi
và lỗ đã được thực hiện và chưa được thực hiện, lãi và các khoản mục doanhthu và chi phí khác được gắn liền với tài sản tài chính và nợ phải trả tài chính.Trình bày này bao gồm thông tin về cơ sở theo đó doanh thu và chi phí phátsinh từ các công cụ tài chính được nắm giữ cho mục đích dự phòng rủi ro vàghi nhận Khi đơn vị trình bày các khoản mục doanh thu và chi phí trên cơ sởthuần mặc dù nợ phải trả tài chính và tài sản tài chính tương ứng trên báo cáotình hình tài chính không được bù trừ, lý do cho việc trình bày này là giải trìnhnếu sự ảnh hưởng là đáng kể
Rủi ro lãi suất
63 Đối với mỗi một nhóm tài sản tài chính, nợ phải trả tài chính, cả được ghi
nhận và không được ghi nhận, đơn vị phải trình bày thông tin về nguy cơ gặp rủi ro lãi suất, bao gồm:
(a) Ngày đáo hạn hoặc định giá lại theo hợp đồng, ngày nào đến sớm
hơn; và (b) Lãi suất có hiệu lực, khi được áp dụng.
Trang 2264 Đơn vị cung cấp thông tin liên quan đến nguy cơ bị ảnh hưởng của những thay
đổi trong lãi suất hiện hành trong tương lai Những thay đổi trong lãi suất thịtrường có ảnh hưởng trực tiếp lên dòng tiền được xác định theo hợp đồng gắnliền với một số tài sản tài chính và nợ phải trả tài chính (rủi ro dòng tiền) vàlên giá trị hợp lý của tài sản và nợ phải trả tài chính khác (rủi ro về giá)
65 Thông tin về ngày đáo hạn, hoặc ngày định giá lại, ngày này đến sớm hơn, cho
thấy khoảng thời gian trong đó lãi suất được cố định và thông tin về lãi suất cóhiệu lực cho biết mức chúng được ấn định Trình bày những thông tin như vậy
sẽ giúp người sử dụng báo cáo biết cơ sở đánh giá rủi ro lãi suất mà đơn vị cóthể gặp phải và do vậy tạo ra tiềm tàng lỗ hoặc lãi Đối với công cụ định giá lạitheo lãi suất thị trường trước ngày đáo hạn, trình bày giai đoạn cho đến thờiđiểm định giá lại tiếp theo quan trọng hơn là trình bày giai đoạn đến thời điểmđáo hạn
66 Để bổ sung cho thông tin về ngày đáo hạn và định giá lại theo hợp đồng, đơn
vị có thể lựa chọn để trình bày thông tin về ngày đáo hạn hoặc ngày định giálại được dự kiến khi các ngày này khác đáng kể với ngày theo hợp đồng.Thông tin này có thể đặc biệt phù hợp khi, ví dụ, đơn vị có thể dự đoán, với sựđáng tin cậy hợp lý, giá trị của khoản vay thế chấp có lãi suất hợp lý mà sẽđược trả trước kỳ hạn và đơn vị sử dụng dữ liệu này như là cơ sở để quản lýnguy cơ gặp rủi ro về lãi suất Thông tin bổ sung bao gồm trình bày sự việcdựa trên dự đoán của ban quản lý về các sự kiện trong tương lai và giải thíchcác giả thiết được đưa ra về ngày đáo hạn hoặc ngày định giá lại và các giảthiết khác với ngày đáo hạn theo hợp đồng như thế nào
67 Đơn vị chỉ ra tài sản tài chính và nợ phải trả tài chính nào của đơn vị là:
(a) Có nguy cơ gặp rủi ro giá lãi suất, như nợ phải trả tài chính và tài sản
tài chính có tính chất tiền tệ với lãi suất cố định;
(b) Có nguy gặp cơ rủi ro luồng tiền lãi suất, như nợ phải trả tài chính và
tài sản tài chính theo tiền tệ với lãi suất thả nổi và lãi suất được xácđịnh lại khi lãi suất thị trường thay đổi; và
(c) Không có nguy cơ gặp rủi ro lãi suất, như các khoản đầu tư vào cổ
phiếu
68 Lãi suất có hiệu lực (lợi nhuận có hiệu lực) của công cụ tài sản tài chính có
tính chất tiền tệ là tỷ lệ mà, khi được sử dụng trong tính toán giá trị hiện tại,dẫn đến giá trị còn lại của công cụ Cách tính toán giá trị hiện tại áp dụng lãisuất lên dòng tiền nhận được hoặc thanh toán từ ngày báo cáo đến ngày (đáohạn) định giá lại tiếp theo và đến giá trị mong đợi còn lại (giá trị gốc) tại ngàynày Tỷ lệ này được coi là lãi suất gốc đối với công cụ có tỷ lệ cố định mangnguyên giá đã được khấu hao và tỷ lệ thị trường hiện tại đối với công cụ có tỷ
lệ thả nổi hoặc một công cụ mang giá hợp lý Lãi suất có hiệu lực đôi khi đượccoi là lãi suất ngay bằng cho đến ngày đáo hạn hoặc ngày định giá lại tiếp theo,
và là tỷ lệ hoàn trả nội hàn của công cụ cho kỳ này
Trang 2369 Các yêu cầu trong đoạn 63(b) áp dụng cho trái phiếu, trái khoán và công cụ tài
chính có tính chất tiền tệ tương tự liên quan đến việc thanh toán trong tương lai
mà tạo ra một khoản hoàn lại cho đối tượng nắm giữ và chi phí đối với đơn vịphát hành phản ánh giá trị thời gian của tiền Yêu cầu này không áp dụng vớicác công cụ bao gồm công cụ phái sinh và công cụ không có tính chất tiền tệkhông có có lãi suất có hiệu lực có thể xác định được Ví dụ, các công cụ như
là phái sinh lãi suất, bao gồm hoán đổi, thỏa thuận tỷ lệ kỳ hạn và quyền lựachọn, có nguy cơ gặp rủi ro luồng tiền hoặc rủi ro giá từ những thay đổi tronglãi suất thị trường, việc trình bày lãi suất có hiệu lực là không phù hợp, tuynhiên khi cung cấp thông tin lãi suất có hiệu lực, đơn vị trình bày ảnh hưởnglên nguy cơ gặp rủi ro lãi suất của giao dịch “chuyển đổi” và dự phòng rủi ronhư hoán đổi lãi suất
70 Đơn vị có kiểm soát nguy cơ gặp rủi ro lãi suất gắn liền với tài sản tài chính
được xóa khỏi báo cáo tình hình tài chính do một giao dịch như chứng khoánhóa Tương tự, đơn vị có thể có nguy cơ gặp phải rủi ro lãi suất do một giaodịch trong đó không có tài sản tài chính hoặc nợ phải trả tài chính được ghinhận trên báo cáo tình hình tài chính như một cam kết cho vay vốn với lãi suất
cố định, hoặc khoản vay được cấp cho đơn vị sản suất sơ cấp trong thời gianhạn hán hoặc thiên tai khác Trong những trường hợp như vậy, đơn vị trình bàythông tin cho phép người sử dụng báo cáo tài chính hiểu bản chất và phạm vicủa nguy cơ này Trong trường hợp chứng khoán hóa hoặc chuyển giao tương
tự tài sản tài chính, thông tin này thường bao gồm bản chất của tài sản đượcchuyển giao, khoản tiền gốc, lãi suất được nêu rõ hoặc kỳ đáo hạn và các điềukhoản của giao dịch làm tăng nguy cơ được kiểm soát gặp rủi ro lãi suất.Trong trường hợp của một cam kết cho vay vốn, việc trình bày thông thườngbao gồm khoản tiền gốc, lãi suất và kỳ đáo hạn của giá trị được cho vay và cácđiều khoản đáng kể của giao dịch làm tăng nguy cơ gặp rủi ro
71 Bản chất của hoạt động và phạm vi hoạt động của đơn vị trong các công cụ tài
chính sẽ quyết định thông tin về rủi ro lãi suất có được trình bày dưới dạngtường thuật, dưới dạng bảng, hoặc bằng cách sử dụng kết hợp cả hai Khi đơn
vị có số lượng đáng kể các công cụ tài chính có nguy cơ gặp rủi ro luồng tiềnhoặc giá lãi suất, đơn vị có thể ứng dụng một hoặc nhiều phương pháp sau đây
để trình bày thông tin
(a) Giá trị còn lại của công cụ tài chính có nguy cơ gặp rủi về giá lãi suất
có thể được trình bày dưới dạng bảng biểu, được nhóm lại theo công cụtài chính được ký kết theo hợp đồng sẽ đáo hạn hoặc được định giá lại:(i) Trong vòng 1 năm của ngày báo cáo;
(ii) Hơn 1 năm và ít hơn 5 năm từ ngày báo cáo; và(iii) Năm năm hoặc nhiều hơn từ ngày báo cáo
(b) Khi hoạt động của đơn vị bị ảnh hưởng đáng kể với mức độ nguy cơ
gặp phải rủi ro giá lãi suất hoặc sự thay đổi trong nguy cơ đó, thông tin
Trang 24càng chi tiết càng tốt Đơn vị như cơ quan có thẩm quyền vay trungương có thể trình bày, ví dụ, các nhóm riêng của giá trị còn lại củacông cụ tài chính được ký kết hợp đồng sẽ đáo hạn hoặc được định giálại:
(i) Trong vòng một tháng của ngày báo cáo;
(ii) Hơn một hoặc ít hơn ba tháng từ ngày báo cáo; và(iii) Hơn ba hoặc ít hơn mười hai tháng từ ngày báo cáo
(c) Tương tự, đơn vị có thể trình bày nguy cơ gặp phải rủi ro dòng tiền lãi
suất thông qua một bảng trình bày tổng giá trị còn tại của các nhóm tàisản tài chính và nợ tài chính có tỷ lệ thả nổi đáo hạn trong vòng một vài
kỳ trong tương lai
(d) Thông tin lãi suất có thể được trình bày cho từng công cụ tài chính
hoặc tỷ lệ trung bình gia quyền hoặc một dãy tỷ lệ có thể được trìnhbày cho từng nhóm công cụ Đơn vị nhóm các công cụ theo các loạitiền tệ khác nhau hoặc có rủi ro tín dụng khác nhau cơ bản thành cácnhóm riêng khi những yếu tố này tạo ra các công cụ có lãi suất có hiệulực khác nhau cơ bản
72 Trong một số tình huống, đơn vị có thể có khả năng cung cấp thông tin hữu ích
về nguy cơ gặp rủi ro lãi suất bằng cách trình bày sơ lược ảnh hưởng của mộtthay đổi giả thiết trong mức lãi suất thị trường đang hiện hành lên giá trị hợp lýcủa công cụ tài chính và doanh thu trong tương lai và luồng tiền tệ Thông tin
độ nhậy của lãi suất như vậy có thể dựa trên giả định một sự thay đổi 1% tronglãi suất thị trường phát sinh tại ngày báo cáo Sự ảnh hưởng của thay đổi tronglãi suất bao gồm sự thay đổi trong doanh thu và chi phí lãi liên quan đến công
cụ tài chính có tỷ lệ thả nổi và khoản lỗ hoặc lãi do sự thay đổi trong giá trịhợp lý của công cụ có tỷ lệ cố định tạo ra Độ nhạy của lãi suất được báo cáo
có thể được hạn chế đối với các ảnh hưởng trực tiếp của một thay đổi trong lãisuất lên công cụ tài chính chịu lãi đang có tại ngày báo cáo bởi vì ảnh hưởngkhông trực tiếp của một thay đổi trong tỷ lệ lên thị trường tài chính và từngđơn vị thông thường không thể dự đoán một cách đánh tin cậy Khi giải trìnhthông tin độ nhạy của lãi suất, đơn vị trình bày sơ lược về cơ sở theo đó đơn vịtrình bày thông tin bao gồm tất cả giả thiết đáng kể
Rủi ro tín dụng
73 Đối với từng nhóm tài sản tài chính, cả được ghi nhận và không được ghi
nhận, đơn vị phải trình bày thông tin về nguy cơ gặp rủi ro tín dụng, bao gồm:
(a) Giá trị mà đại diện tốt nhất cho nguy cơ gặp rủi ro tín dụng tối đa
tại ngày báo cáo, mà không tính đến giá trị hợp lý của bất kỳ
Trang 25khoản cầm cố nào, trong sự kiện này các đơn vị khác không thực hiện các nghĩa vụ của mình trong các công cụ tài chính; và
(b) Tâm điểm đáng kể của rủi ro tín dụng.
74 Đơn vị cung cấp thông tin liên quan đến rủi ro tín dụng cho phép những người
sử dụng báo cáo tài chính đánh giá mức độ trong đó các bên đối tác thất bạitrong việc thực hiện nghĩa vụ của họ có thể sẽ làm giảm giá trị của luồng tiềnchảy vào trong tương lai từ tài sản tài chính đang nắm giữ tại ngày báo cáo Sựthất bại như vậy làm tăng lỗ tài chính được ghi nhận trong báo cáo tình hìnhhoạt động của đơn vị Đoạn 73 không yêu cầu đơn vị trình bày một đánh giá vềsắc xuất của các khoản lỗ phát sinh trong tương lai
75 Mục tiêu của các giá trị được trình bày có nguy cơ gặp rủi ro tín dụng mà
không tính đến tiềm tàng có thể thu hồi từ việc bán tài sản cầm cố (“nguy cơrủi ro tín dụng tối đa của đơn vị”) là:
(a) Để cung cấp cho người sử dụng báo cáo tài chính phương pháp xác
định nhất quán giá trị có nguy cơ gặp rủi ro tín dụng đối với tài sản tàichính được ghi nhận hoặc không được ghi nhận; và
(b) Đánh giá khả năng tổn thất tối đa có thể khác với giá trị còn lại của tài
sản tài chính được ghi nhận hoặc giá trị hợp lý của tài sản tài chínhkhông được ghi nhận được trình bày bằng cách nào đó trong báo cáotài chính
76 Trong trường hợp tài sản tài chính được ghi nhận có nguy cơ gặp rủi ro tín
dụng, giá trị còn lại của tài sản trong báo cáo tình hình tài chính, giá trị thuầncủa các khoản dự phòng được áp dụng cho khoản tổn thất, thường đại diện chogiá trị có nguy cơ gặp rủi ro tín dụng Ví dụ, trong trường hợp hoán đổi lãi suất
có giá trị hợp lý, nguy cơ tổn thất tối đa tại ngày báo cáo thường là giá trị cònlại bởi vì nó đại diện cho chi phí, tại tỷ lệ thị trường hiện tại, của việc thay thếkhoản hoán đổi trong trường hợp không thể thanh toán Trong những tìnhhuống như vậy, việc trình bày bổ sung sau đó được đưa ra trong báo cáo tìnhhình tài chính là không cần thiết Mặt khác, như được mô tả trong các ví dụ ởđoạn 77 và 78, khoản tổn thất tiềm tàng tối đa của đơn vị từ một số tài sản tàichính được ghi nhận có thể khác đáng kể với giá trị còn lại của các tài sản này
và khác đáng kể với các giá trị được trình bày khác như giá trị hợp lý hoặcnguyên giá Trong các tình huống như vậy, trình bày bổ sung là cần thiết đểthỏa mãn các yêu cầu trong đoạn 73(a)
77 Một tài sản tài chính có quyền thực thi theo hợp pháp được bù trừ cho một
khoản nợ phải trả tài chính không được trình bày trong báo cáo tình hình tàichính giá trị thuần của khoản nợ phải trả trừ khi việc thanh toán được dự định
sẽ diễn ra trên cơ sở thuần hoặc đồng thời Tuy nhiên, đơn vị trình bày sự tồntại của quyền hợp pháp bù trừ khi đưa ra thông tin theo quy định trong đoạn
73 Ví dụ, khi đơn vị đến hạn nhận được khoản tiền từ việc bán một tài sản tàichính trước khi thanh toán một khoản nợ phải trả có giá trị bằng hoặc lớn hơn
Trang 26trong đó đơn vị có quyền hợp pháp được bù trừ, đơn vị có khả năng thực hiệnquyền bù trừ để tránh khỏi một khoản lỗ trong trường hợp bên đối tác khôngtrả được nợ Tuy nhiên, nếu đơn vị phản ứng, hoặc có thể phản ứng, trước việckhông trả được nợ bằng cách gia hạn kỳ hạn của tài sản tài chính, sẽ tồn tạimột nguy cơ gặp phải rủi ro tín dụng nếu các kỳ hạn được xem xét lại này là
kỳ hạn mà khoản tiền thu về được dự đoán là bị hoãn lại sau ngày mà khoản nợphải trả đến hạn Để thông báo cho những người sử dụng báo cáo tài chínhmức độ nguy cơ gặp phải rủi ro tín dụng tại thời điểm cụ thể được làm giảmsút, đơn vị trình bày sự tồn tại và ảnh hưởng của quyền được bù trừ khi tài sảntài chính được mong đợi sẽ được thu theo đúng kỳ hạn Khi nợ phải trả tàichính mà quyền được bù trừ tồn tại đến hạn thanh toán trước tài sản tài chính,đơn vị có nguy cơ gặp rủi ro tài chính bằng cả giá trị còn lại của tài sản nếubên đối tác không có khả năng thanh toán sau khi khoản nợ phải trả đã đượcthanh toán
78 Đơn vị có thể ký kết một hoặc nhiều thỏa thuận thuần tổng thể nhằm mục đích
làm giảm nguy cơ gặp rủi ro tín dụng nhưng không đủ để đáp ứng tiêu chíđược bù trừ Khi một thỏa thuận thuần tổng thể làm giảm đáng kể rủi ro tíndụng gắn liền với tài sản tài chính không được bù trừ cho các khoản nợ phải trảtài chính với cùng một đối tác, đơn vị cung cấp thông tin bổ sung liên quan đến
sự ảnh hưởng của thỏa thuận này Giải trình nêu:
(a) Rủi ro tín dụng gắn liền với tài sản tài chính liên quan đến thỏa thuận
thuần tổng thể được loại bỏ chỉ khi nợ phải trả tài chính cho cùng mộtđối tác sẽ được thanh toán sau khi tài sản được bán; và
(b) Mức độ mà trong đó thỏa thuận thuần tổng thể làm giảm nguy cơ đơn
vị gặp rủi ro tín dụng có thể thay đổi đáng kể trong một giai đoạn ngắnngay sau ngày báo cáo bởi vì nguy cơ bị ảnh hưởng bởi từng giao dịchtrong thỏa thuận này
Đơn vị nên trình bày kỳ hạn của các thỏa thuận thuần tổng thể mà quyết địnhmức độ giảm rủi ro tín dụng
79 Khi không có rủi ro tín dụng nào gắn liền với tài sản tài chính không được ghi
nhận hoặc nguy cơ tối đa bằng khoản tiền gốc, được ghi, mệnh giá hoặc giá trịtheo hợp đồng tương tự khác của công cụ được trình bày theo quy định trongđoạn 54 hoặc giá trị hợp lý được trình bày theo quy định trong đoạn 84, không
có trình bày bổ sung nào được yêu cầu để tuân thủ đoạn 73(a) Tuy nhiên, vớimột số tài sản tài chính không được ghi nhận, tổn thất tối đa có thể được ghinhận khi một bên đối tác không có khả năng thanh toán có thể khác đáng kểvới giá trị được trình bày theo quy định tại đoạn 54 và 84 Ví dụ, đơn vị có thể
có một quyền làm giảm nhẹ tổn thất mà đơn vị phải gánh chịu bằng cách bù trừtài sản tài chính không được ghi nhận với nợ phải trả tài chính không được ghinhận Trong những tình huống như vậy, đoạn 73(a) yêu cầu trình bày bổ sungtheo như quy định trong đoạn 54 và 84
Trang 2780 Việc bảo lãnh nghĩa vụ của một đơn vị khác khiến đơn vị bảo lãnh có nguy cơ
gặp phải rủi ro tín dụng do vậy cần phải có các giải trình liên quan theo yêucầu trong đoạn 73 Trường hợp này có thể pháp sinh do, ví dụ, một giao dịchchứng khoán hóa trong đó đơn vị vẫn có nguy cơ gặp rủi ro tín dụng gắn liềnvới tài sản tài chính mà đã được đưa ra khỏi báo cáo tình hình tài chính Nếuđơn vị có nghĩa vụ theo các điều khoản hỗ trợ một giao dịch bảo đảm cho đốitượng mua tài sản tổn thất tín dụng, đơn vị phải trình bày bản chất của các tàisản đã được đưa ra ngoài báo cáo tình hình tài chính, giá trị và thời gian củaluồng tiền trong tương lai theo hợp đồng bắt nguồn từ tài sản này, kỳ hạn củanghĩa vụ hỗ trợ và tổn thất tối đa có thể phát sinh từ nghĩa vụ này Tương tự,khi chính quyền địa phương bảo lãnh nghĩa vụ của doanh nghiệp cung cấp cơ
sở hạ tầng thuộc khu vực tư nhân, tổn thất tối đa có thể phát sinh từ nghĩa vụnày trong trường hợp nhà cung cấp không thể thanh toán phải được trình bày
81 Tâm điểm của rủi ro tín dụng phải được trình bày khi chúng không rõ ràng
trong các giải trình khác về bản chất và tình hình tài chính của đơn vị và chúng
có thể tạo ra nguy cơ tổn thất đáng kể khi các bên đối tác khác mất khả năngthanh toán Xác định các tâm điểm quan trọng là vấn đề xét đoán của ban quản
lý khi xem xét tình hình của đơn vị và của khách hàng
82 Tâm điểm của rủi ro tín dụng phát sinh từ nguy cơ bắt nguồn từ một khác hàng
duy nhất hoặc một nhóm khác hàng có cùng đặc điểm mà khả năng thực hiệnnghĩa vụ của họ được dự đoán là sẽ bị ảnh hưởng giống nhau khi có sự thayđổi về điều kiện kinh tế và các điều kiện khác Các đặc điểm có thể làm tăngtâm điểm rủi ro bao gồm bản chất của các hoạt động khách hàng tiến hành ví
dụ ngành đơn vị này hoạt động, khu vực địa lý trong đó các hoạt động diễn ra
và và cấp độ tín dụng của nhóm vay Ví dụ, một nhà máy than của Nhà nướcthuờng có các khoản phải thu thương mại phát sinh từ việc bán sản phẩm cáckhoản này có nguy cơ không được thanh toán do ảnh hưởng của sự thanh đổikinh tế trong ngành sản xuất điện Một ngân hàng thường cho vay trên phạm viquốc tế có khoản cho vay hiện tại lớn từ các nước ít pháp triển hơn và và khảnăng ngân hành này thu được các khoản cho này này bị ảnh hưởng xấu từ cácđiều kiện của nền kinh tế của các nước vay
83 Việc giải trình các tâm điểm rủi ro tín dụng bao gồm mô tả các đặc điểm chung
để xác định từng tâm điểm và giá trị tổn thất tối đa khi gặp nguy cơ rủi ro tíndụng gắn liền với tất cả tài sản tài chính được ghi nhận và không được ghinhận có đặc điểm chung này
Giá trị hợp lý
84 Đối với mỗi một nhóm tài sản tài chính và nợ phải trả tài chính, cả được
ghi nhận và không được ghi nhận, đơn vị phải trình bày thông tin về giá trị hợp lý Khi không thể thực hiện được điều này vì sự hạn chế về thời gian và chi phí giành cho việc xác định giá trị hợp lý của một tài sản tài chính và nợ phải trả tài chính một cách đáng tin cậy, việc này cần phải
Trang 28được giải trình cùng với thông tin về đặc điểm chính của công cụ tài chính
mà hợp lý với giá trị hợp lý
85 Thông tin về giá trị hợp lý được sử dụng rộng rãi cho mục đích tài chính để
xác định tình hình tài chính tổng thể của đơn vị và để ra quyết định về từngcông cụ tài chính Nó cũng rất cần thiết cho việc ra quyết định của nhữngngười sử dụng báo cáo tài chính do vậy, trong nhiều tình huống, nó phản ánh
sự phán quyết của thị trường tài chính như là giá trị hiện tại của luồng tiềnmong đợi trong tương lai liên quan đến một công cụ tài chính Thông tin về giátrị hợp lý cho phép so sánh các công cụ tài chính có những đặc điểm kinh tếgiống nhau đáng kể, bất chấp mục đích và khi nào và ai là đơn vị đã phát hànhhoặc mua chúng Giá trị hợp lý cung cấp cơ sở trung lập cho việc đánh giá tinhthần phục vụ của ban quản lý bằng cách chỉ rả ảnh hưởng của các quyết địnhmua, bán hoặc giữ tài sản tài chính và tạo ra, duy trì hoặc thanh toán nợ phảitrả tài chính Khi đơn vị không có tài sản tài chính và nợ phải trả tài chínhtrong báo cáo tình hình tài chính mang giá trị hợp lý, đơn vị phải cung cấpthông tin giá trị hợp lý trong các giải trình bổ sung
86 Giá trị hợp lý của tài sản tài chính hoặc nợ phải trả tài chính có thể được xác
định bằng một trong số các phương pháp được chấp nhận Trình bày thông tin
về giá trị hợp lý bao gồm trình bày phương pháp được áp dụng và các giả thiếtquan trọng được đưa ra khi áp dụng các phương pháp này
87 Theo định nghĩa về giá trị hợp lý giả định là đơn vị đang hoạt động liên tục mà
không có bất kỳ ý định hoặc nhu cầu giải thể, thu hẹp một cách đáng kể phạm
vi hoạt động hoặc đang thực hiện một giao dịch với các điều khoản bất lợi Do
đó, giá trị hợp lý không phải là giá trị mà đơn vị sẽ nhận được hoặc thanh toántrong một giao dịch bị ép buộc, thanh lý không tự nguyện hoặc ép bán Tuynhiên, đơn vị xem xét tình trạng hiện tại của đơn vị mình khi xác định giá trịhợp lý của tài sản tài chính sẽ được bán để lấy tiền mặt trong tương lai gầnđược xác định bằng giá trị đơn vị ước tính sẽ nhận được từ giao dịch bán này.Giá trị của khoản tiền thu được từ nghiệp vụ bán này sẽ bị ảnh hưởng bởi cácyếu tố như tính thanh khoản và nhu cầu của thị trường về tài sản này
88 Khi một công cụ tài chính được trao đổi trên thị trường hoạt động và có tính
thanh khoản, giá sở giao dịch là bằng chứng tốt nhất cho giá trị hợp lý Giá sởgiao dịch phù hợp cho một tài sản được nắm giữ hoặc nợ phải trả được pháthành thường là giá thầu hiện tại và, đối với một tài sản được mua hoặc nợ phảitrả được nắm giữ, giá chào Khi không có giá thầu hiện tại hoặc giá chào, giácủa giao dịch gần nhất có thể cung cấp bằng chứng cho giá trị hợp lý hiện hànhgiả định rằng không có một thay đổi đáng kể nào về điều kiện kinh tế giữangày giao dịch và ngày báo cáo Khi đơn vị cân bằng được tài sản và nợ phảitrả, đơn vị có thể sử dụng giá thị trường trung gian làm cơ sở để xác định giátrị hợp lý
89 Khi thị trường có ít hoạt động diễn ra, thị trường này vẫn chưa được hình
thành một cách hoàn thiện (ví dụ, một số thị trường “giao dịch qua điện thoại
Trang 29và vi tính”) hoặc một số lượng nhỏ được giao dịch liên quan đến số lượng cácđơn vị giao địch của một công cụ tài chính được định giá, giá sở giao dịch cóthể không thể hiện giá trị hợp lý của công cụ này Trong những tình huống nhưvậy, cũng như trong các trường hợp không có giá sở giao dịch, kỹ thuật ướctính có thể được sử dụng để xác định giá trị hợp lý với đủ độ đáng tin cậy sẽđáp ứng được yêu cầu của chuẩn mực này Kỹ thuật đã được hình thành và tồntại lâu trên thị trường tài chính bao gồm tham khoản giá trị thị trường hiện tạicủa một công cụ khác tương tự, mô hình giá lựa chọn và mô hình phân tíchdòng tiền chiết khấu Khi áp dụng phân tích dòng tiền chiết khấu, đơn vị sửdụng tỷ kệ chiết khấu bằng với lãi suất hiện hành trên thị trường của công cụtài chính có đặc điểm và kỳ hạn giống đáng kể với công cụ tài chính này, baogồm cấp độ tín dụng của khách hàng, kỳ hạn còn lại trong đó lãi suất theo hợpđồng được ấn định, kỳ hạn hoàn trả còn lại của khoản tiền gốc và đơn vị tiền tệđược sử dụng để thanh toán
90 Giá trị hợp lý của tài sản tài chính hoặc nợ phải trả tài chính đối với một đơn
vị, được xác định thông qua giá trị thị trường hoặc một cách khác, được xácđịnh mà không trừ đi chi phí có thể phát sinh khi trao đổi hoặc thanh toán công
cụ tài chính này Chi phí này có thể không đáng kể đối với các công cụ tàichính được trao đổi trên một thị trường có tính thanh khoản và có tổ chứcnhưng có thể lại là đáng kể với các công cụ tài chính khác Chi phí giao dịch cóthể bao gồm các loại thuế, phí và hoa hồng trả cho đại lý, tư vấn, môi giới hoặcngười bán và các khoản thuế của sở giao dịch chứng khoán và cơ quan điềuhành
91 Khi một công cụ tài chính không được trao đổi trên một thị trường tài chính có
tổ chức, sẽ là không phù hợp nếu đơn vị xác định và trình bày một giá trị duynhất để đại diện cho ước tính về giá trị hợp lý Thay vì thế, sẽ là hợp lý hơnnếu trình bày một khoảng giá trị trong đó giá trị hợp lý của công cụ tài chínhđược tin một cách hợp lý là nằm trong đó
92 Khi trình bày thông tin về giá trị hợp lý được bỏ qua vì không có cơ sở đủ
đáng tin cậy để xác định giá trị hợp lý, thông tin được cung cấp để hỗ trợngười sử dụng báo cáo tài chính tự đưa ra phán quyết về mức độ khác biệt giữagiá trị còn lại của tài sản tài chính và nợ phải trả tài chính và giá trị hợp lý củachúng Ngoài ra để giải thích lý do cho việc bỏ qua trình bày giá trị hợp lý vàđặc điểm cơ bản của công cụ tài chính mà tạo nên giá trị hợp giá trị của công
cụ tài chính này, cần cung cấp thông tin về thị trường của các công cụ tài chínhnày Trong một số trường hợp, các điều kiện và điều khoản của những công cụtài chính này được trình bày theo như quy định trong đoạn 54 có thể cung cấp
đủ thông tin về đặc điểm của công cụ tài chính này Khi có một cơ sở hợp lý
để làm điều này, ban quản lý có thể trình bày sơ ý kiến về mối quan hệ giữagiá trị hợp lý và giá trị còn lại của tài sản tài chính và nợ phải trả tài chính vì lẽ
đó đơn vị không thể xác định giá trị hợp lý
93 Giá trị còn lại theo giá gốc của các khoản phải thu phải trả có kỳ hạn tín dụng
thương mại chuẩn thường được coi là giá trị hợp lý Tương tự, giá trị hợp lý
Trang 30của một khoản nợ phải trả ký quỹ mà không có kỳ hạn thanh toán cụ thể là mộtkhoản phải trả theo yêu cầu tại ngày báo cáo
94 Thông tin về giá trị hợp lý liên quan đến các nhóm tài sản tài chính hoặc nợ
phải trả tài mà được trình bày trong báo cáo tình hình tài chính với giá trịkhông phải là giá trị hợp lý được trình bày theo cách có thể so sánh giữa giá trịcòn lại và giá trị hợp lý Theo đó, giá trị hợp lý của tài sản tài chính và nợ phảitrả tài chính được ghi nhận được nhóm thành các nhóm và được bù trừ trongphạm vi giá trị còn lại liên quan được bù trừ Giá trị hợp lý của tài sản tài chính
và nợ phải trả tài chính không được ghi nhận được trình bày thành một nhómhoặc nhiều nhóm tách rời với các khoản mục được ghi nhận và chỉ được bù trừtrong phạm vi chúng thỏa mãn các tiêu chí về bù trừ đối với tài sản tài chính và
nợ phải trả tài chính được ghi nhận
Tài sản tài chính mang giá trị lớn hơn giá trị hợp lý
95 Khi đơn vị có một hoặc nhiều tài sản tài chính mang giá trị lớn hơn giá trị
hợp lý của chúng, đơn vị phải trình bày:
(a) Giá trị còn lại và giá trị hợp lý của từng tài sản hoặc nhóm các tài
sản; và (b) Lý do không giảm giá trị còn lại, bao gồm bản chất của bằng
chứng cung cấp cơ sở cho sự tin tưởng của ban quản lý là giá trị còn lại sẽ được thu hồi
96 Ban quản lý phải xem xét khi xác định giá trị họ dự định sẽ thu hồi được từ tài
sản tài chính và cân nhắc có nên ghi giảm giá trị còn lại của tài sản khi giá trịnày lớn hơn giá trị hợp lý Thông tin được yêu cầu trong đoạn 95 cung cấp chongười sử dụng báo cáo tài chính cơ sở để hiểu ban quản lý đã thực hiện các xétđoán và đánh giá khả năng các tình huống có thể thay đổi và dẫn tới việc làmgiảm giá trị còn lại của tài sản trong tương lai Khi hợp lý, thông tin được yêucầu trong đoạn 95(a) được nhóm theo cách phản ánh lý do của ban quan lýtrong việc không ghi giảm giá trị còn lại
97 Chính sách kế toán của đơn vị liên quan đến việc ghi nhận các khoản giảm
trong giá trị tài sản tài chính, được trình bày theo quy định trong đoạn 54, hỗtrợ việc giải thích tại sao một tài sản tài chính cụ thể mang giá trị lớn hơn giátrị hợp lý Ngoài ra, đơn vị cung cấp lý do và bằng chứng cụ thể của cơ sở do
đó ban quản lý kết luận là giá trị còn lại của tài sản sẽ được thu hồi Ví dụ, giátrị hợp lý của khoản vay với lãi suất cố định được dự định sẽ nắm giữ cho đếnngày đáo hạn có thể giảm xuống dưới giá trị hợp lý do lãi suất tăng Trongnhững tình huống này, bên cho vay có thể không giảm giá trị còn lại bởi vìkhông có bằng chứng cho là bên vay có khả năng không thể thanh toán
Dự phòng rủi ro cho các giao dịch được dự đoán sẽ diễn ra trong tương lai
Trang 3198 Khi đơn vị hạch toán một công cụ tài chính như là dự phòng rủi ro gắn
liền với các giao dịch được dự đoán sẽ diễn ra trong tương lai, đơn vị phải trình bày:
(a) Mô tả các giao dịch được dự đoán bao gồm thời gian dự kiến các
giao dịch này sẽ diễn ra;
(b) Mô tả công cụ dự phòng rủi ro; và
(c) Giá trị của khoản lỗ hoặc lãi không được ghi nhận hoặc hoãn lại và
thời gian dự kiến sẽ ghi nhận là doanh thu hoặc chi phí
99 Chính sách kế toán của đơn vị trình bày sơ về các tình huống trong đó công cụ
tài chính được hạch toán như là khoản dự phòng rủi ro và bản chất của phươngpháp xác định và ghi nhận áp dụng cho công cụ tài chính này Thông tin đượcyêu cầu trong đoạn 98 cho phép người sử dụng báo cáo tài chính hiểu bản chất
và tác động của dự phòng rủi ro lên một giao dịch dự đoán sẽ xảy ra trongtương lai Thông tin có thể được cung cấp trên cơ sở tổng khi một cam kết dựphòng rủi ro bao gồm một số giao dịch được dự đoán hoặc được dự phòng rủi
ro bằng một số công cụ tài chính
100 Giá trị được trình bày theo đoạn 98(c) bao gồm tất cả các khoản lỗ và lãi dồn
tích của công cụ tài chính được coi là các khoản dự phòng rủi ro của các giaodịch được dự đoán sẽ xảy ra trong tương lai, không tính đến những khoản lỗhoặc lãi này có được ghi nhận trong báo cáo tài chính hay không Khoản lỗhoặc lãi dồn tích có thể chưa được thực hiện nhưng được báo cáo trên báo cáotình hình tài chính vì công cụ dự phòng rủi ro mang giá trị hợp lý, nó có thểkhông được ghi nhận nếu công cụ dự phòng rủi ro mang giá gốc, hoặc có thể
đã được thực hiện nếu công cụ dự phòng rủi ro đã được bán hoặc thanh toán.Tuy nhiên, trong từng trường hợp, lỗ hoặc lãi dồn tích của công cụ dự phòngrủi ro không được ghi nhận trong báo cáo tình hình hoạt động cho tới khi hoànthành giao dịch dự phòng rủi ro
Giải trình khác
101 Các trình bày bổ sung được khuyến khích khi chúng giúp người sử dụng báo
cáo hiểu rõ hơn về các công cụ tài chính Đơn vị nên trình bày những thông tinsau:
(a) Tổng giá trị những thay đổi trong giá trị hợp lý của tài sản tài chính và
nợ phải trả tài chính đã được ghi nhận như doanh thu hoặc chi phí trongkỳ;
(b) Tổng giá trị của khoản lỗ hoặc lãi không được ghi nhận hoặc hoãn lại
đối với công cụ dự phòng rủi ro không phải là dự phòng liên quan đếncác giao dịch được dự đoán sẽ diễn ra trong tương lai; và
Trang 32(c) Tổng hợp giá trị còn lại trung bình trong năm của tài sản tài chính và
nợ phải trả tài chính được ghi nhận, tổng hợp khoản tiền gốc trungbình, được trình bày, giá trị danh nghĩa hoặc giá trị tương tự khác trongnăm của tất cả các tài sản tài chính và nợ phải trả tài chính, cụ thể khigiá trị đang nắm giữ tại ngày báo cáo không đại diện cho giá trị đangnắm giữ trong suốt cả năm
Điều khoản chuyển đổi
102 Khi không có các thông tin so sách của các kỳ trước khi chuẩn mực kế
toán công quốc tế này lần đầu tiên được áp dụng, những thông tin như vậy không cần phải trình bày
Ngày hiệu lực
103 Chuẩn mực kế toán công quốc tế này có hiệu lực đối với báo cáo tài chính
năm cho kỳ bắt đầu hoặc sau ngày 01/01/2003 Việc áp dụng sớm hơn được khuyến khích
104 Khi một đơn vị áp dụng phương pháp kế toán theo cơ sở dồn tích, như đã đượcđịnh nghĩa trong các chuẩn mực kế toán công quốc tế, cho mục đích báo cáo tài chính,sau ngày có hiệu lực, chuẩn mực này áp dụng cho báo cáo tài chính của đơn vị cho kỳbắt đầu hay sau ngày thông qua