APEC Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình DươngASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á ASEM Diễn đàn hợp tác Á – Âu CEPT/AFTA Hiệp định ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung CNPT Công
Trang 1BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ TRUNG TÂM THÔNG TIN VÀ DỰ BÁO KINH TẾ-XÃ HỘI
QUỐC GIA
CHUYÊN ĐỀ
(BAN HỢP TÁC QUỐC TẾ VÀ ĐÀO TẠO)
NHỮNG THỜI CƠ VÀ THÁCH THỨC ĐẶT RA TRONG
QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
Hà Nội – 07/2006
NHỮNG THỜI CƠ VÀ THÁCH THỨC ĐẶT RA TRONG QUÁ TRÌNH
HỘI NHẬP ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
Trang 2CHƯƠNG I: QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP CỦA VIỆT NAM TRONG THỜI
KỲ ĐỔI MỚI
I Việt Nam với đường lối đổi mới và chính sách mở cửa nền kinh tế
II Thực trạng hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam
1 Việt Nam hội nhập vào các tổ chức kinh tế khu vực và quốc tế
1.1 ASEAN và thực hiện CEPT/AFTA 1.2 ASEM
1.3 APEC 1.4 Tổ chức thương mại thế giới
2 Liên kết song phương
2.1 Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ 2.2 Sáng kiến chung Việt Nam – Nhật Bản
CHƯƠNG II: NHỮNG THỜI CƠ VÀ THÁCH THỨC ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP
I Những thời cơ cho doanh nghiệp Việt Nam khi hội nhập kinh tế, thương mại quốc tế
1 Mở rộng thị trường, tăng xuất khẩu
2 Thu hút vốn đầu tư nước ngoài
3 Nâng cao tính hiệu quả, khả năng cạnh tranh
4 Học tập kinh nghiệm quản lý trên thế giới
II Những thách thức, khó khăn cho doanh nghiệp Việt Nam khi gia nhập kinh tế quốc tế
1 Sức ép cạnh tranh
2 Thách thức về nguồn nhân lực
3 Thách thức về đổi mới công nghệ
4 Thách thức về tiếp nhận và xử lý thông tin
CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HỘI NHẬP VÀ GIẢI QUYẾT NHỮNG THÁCH THỨC, KHÓ KHĂN TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP CỦA DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
I Những giải pháp về phía doanh nghiệp
Trang 31 Những giải pháp chung
I.1 Nâng cao nhận thức của doanh nghiệp về hội nhập
I.2 Hiện đại hoá hệ thống tổ chức quản lý của doanh nghiệp Việt NamI.3 Xây dựng và bảo vệ nhãn hiệu hàng hoá
I.4 Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
I.5 Tăng cường đầu tư cho công nghệ thông tin, đẩy mạnh ứng dụngthương mại điện tử
2 Các giải pháp đối với doanh nghiệp trong một số ngành cụ thể
1.4 Chính sách khuyến khích khu vực kinh tế tư nhân
1.5 Chính sách phát triển nguồn nhân lực và thị trường lao động1.6 Chính sách tài khoá
1.7 Chính sách tiền tệ tín dụng
1.8 Chính sách khoa học, công nghệ và môi trường
2 Cải thiện môi trường kinh doanh
2.1 Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường
2.2 Đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế
2.3 Tiếp tục đẩy mạnh cải cách và đơn giản hoá thủ tục hành chínhnhằm giảm chi phí gia nhập và rút khỏi thị trường của doanh nghiệp2.4 Cải cách hệ thống thuế, quy định tính thuế nhằm phù hợp vớithông lệ quốc tế và giảm chi phí cho doanh nghiệp
Trang 41 Kinh nghiệm của Trung Quốc
2 Kinh nghiệm của Ấn Độ
3 Kinh nghiệm của Thái Lan
4 Kinh nghiệm của Xingapo
5 Kinh nghiệm của Mêhicô
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ABAC Hội đồng tư vấn doanh nhân APEC
AEC Cộng đồng kinh tế ASEAN
AIA Hiệp định về đầu tư
AICO Hiệp định về công nghiệp
Trang 5APEC Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương
ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
ASEM Diễn đàn hợp tác Á – Âu
CEPT/AFTA Hiệp định ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung
CNPT Công nghiệp phụ trợ
CNTT Công nghệ thông tin
CNXH Chủ nghĩa xã hội
CVA Hiệp định về xác định trị giá hải quan
EPR Giải pháp quản trị doanh nghiệp tổng thể
ERP Lập kế hoạch các nguồn lực của doanh nghiệp
EU Liên minh châu Âu
FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài
FICCI Liên đoàn các phòng công nghiệp và thương mại của Ấn ĐộGDP Tổng sản phẩm quốc nội
GSP Chế độ ưu đãi thuế quan phổ cập
HĐND Hội đồng nhân dân
IL Danh mục cắt giảm thuế ngay
IPAP Kế hoạch hành động xúc tiến đầu tư
ISO Tổ chức tiêu chuẩn quốc tế
M&A Mua lại và sát nhập
MFN Đối xử tối huệ quốc
NHTM Ngân hàng thương mại
NT Đối xử quốc gia
R&D Nghiên cứu và triển khai
ROI Chỉ số về thời gian hoàn vốn (Returns On Investment) SEV Hội đồng tương trợ kinh tế
SME Doanh nghiệp nhỏ và vừa
SPS Hiệp định về Các biện pháp vệ sinh dịch tễ
TBT Hiệp định về Các hàng rào kỹ thuật đối với thương mạiTCVN Tiêu chuẩn Việt Nam
TEL Danh mục loại trừ tạm thời
TFAP Kế hoạch hành động thuận lợi hóa thương mại
TMDT Thương mại điện tử
Trang 6TNC Công ty xuyên quốc gia
TRIMS Hiệp định về Các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mạiUNCTAD Hội nghị của Liên Hợp Quốc về Thương mại và Phát triển
VCCI Phòng Thương mại và công nghiệp Việt Nam
WTO Tổ chức thương mại thế giới
CHƯƠNG I QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP CỦA VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI
Những thành tựu và những tiến bộ của khoa học công nghệ trong khoảng
50 - 60 năm trở lại đây của nhân loại đã thúc đẩy mạnh mẽ quá trình chuyênmôn hoá và hợp tác giữa các quốc gia trên thế giới, khiến lực lượng sản xuấtđược quốc tế hoá, xã hội hoá cao độ trên quy mô quốc tế Để thích ứng với xu
Trang 7thế này, tất cả các nước trên thế giới đều điều chỉnh chính sách theo hướng mởcửa nền kinh tế, thậm chí ngay cả những nền kinh tế được xem là "đóng cửa"nhất thế giới như Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên hiện cũng đã có nhữngbước đi mở cửa nền kinh tế (như thành lập các khu công nghiệp, mậu dịch vớiHàn Quốc dọc biên giới)
Cùng với việc mở cửa nền kinh tế, các hàng rào thuế quan được hạ thấp,các biện pháp phi thuế quan (như cấm, hạn chế xuất nhập khẩu, các biện phápquy định số lượng (hạn ngạch)) được nới lỏng và dần xoá bỏ, tạo điều kiện choviệc trao đổi hàng hoá, luân chuyển vốn, lao động và công nghệ trên thị trườngthế giới diễn ra sôi động và thuận tiện hơn Các hoạt động kinh tế bao gồm sảnxuất và tiêu thụ hàng hoá vượt ra khỏi biên giới của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc
và diễn ra trên phạm vi thị trường toàn cầu, đời sống kinh tế thế giới được quốc
tế hoá cao độ Trong quá trình này, mỗi nền kinh tế quốc gia dần trở thành một
bộ phận của thị trường thế giới, trong đó mọi hoạt động đều diễn ra trong mốiliên hệ và phụ thuộc lẫn nhau
Hội nhập kinh tế quốc tế là một phương thức chủ yếu của quá trình toàncầu hoá Hội nhập kinh tế quốc tế thể hiện ở các biện pháp mở cửa thị trường, tự
do hoá nền kinh tế của một quốc gia hoặc việc tham gia của quốc gia này vàocác cam kết thoả thuận hợp tác kinh tế thương mại song phương (giữa hai nướcvới nhau), khu vực (tham gia vào một tổ chức hợp tác giữa các nước trong cùngmột khu vực địa lý, ví dụ như ASEAN, EU, Bắc Mỹ, Nam Á ), đa phương ởphạm vi toàn cầu như tham gia vào Tổ chức thương mại thế giới - WTO Mụctiêu bao trùm, lớn nhất và nhất quán của việc hội nhập kinh tế quốc tế, dù ở cấp
độ đơn phương của một quốc gia hay tham gia các định chế khu vực hay toàncầu đều hướng tới việc tự do hoá thương mại và đầu tư ở tầm quốc gia, khu vực
và thế giới
I Việt Nam với đường lối đổi mới và chính sách mở cửa nền kinh tế
Hoạt động của các doanh nghiệp trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tếluôn luôn là một chủ đề nóng hổi bởi doanh nghiệp là nền tảng của nền kinh tếquốc gia và tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của quốc gia cũng trực tiếp tácđộng đến hoạt động của các doanh nghiệp Cam kết hội nhập hiện nay của ViệtNam và triển vọng của tiến trình này trong tương lai luôn có ý nghĩa quan trọngđối với các doanh nghiệp, bởi vì nó là cơ sở để các doanh nghiệp định hướngchiến lược phát triển và kế hoạch hoạt động phù hợp với tình hình đan xen giữanhững cơ hội và thách thức, đặc biệt là sự cạnh canh ngày càng tăng từ nhiềuphía không chỉ trên thị trường quốc tế mà còn ngay cả tại thị trường trong nước
Sự chuyển biến lớn trong chủ trương, chính sách mở cửa và hội nhập củaViệt Nam được đánh dấu tại Đại hội lần thứ VI của Đảng năm 1986 Sau Đạihội, đường lối đổi mới đã mở ra sự phát triển toàn diện và sâu sắc trên mọi lĩnhvực, trong đó chú trọng tới phát triển đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ và rộng
mở Tại Đại hội VII, Đảng đã xác định rõ hơn đường lối độc lập tự chủ, đa dạnghóa quan hệ đối ngoại với phương châm “Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các
Trang 8nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển”(Trích văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII) Đại hội Đảng lần thứ IX
đã phát triển chủ trương này thành “Việt Nam sẵn sàng làm bạn, là đối tác tincậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và pháttriển” Nghị quyết 07/NQ/TW do Bộ Chính trị ban hành ngày 27/11/2001 về hộinhập kinh tế quốc tế chính là sự kế thừa, cụ thể hóa và triển khai những đườnglối, chủ trương của Đảng về hội nhập kinh tế quốc tế từ trước đến nay, đồng thờiđáp ứng kịp thời những yêu cầu khách quan trong tiến trình hội nhập kinh tếquốc tế của Việt Nam trong giai đoạn mới
Với đường lối đổi mới, kinh tế Việt Nam đã chuyển dần sang nền kinh tếthị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Chínhsách mở cửa nền kinh đã giúp Việt Nam có quan hệ thương mại và đầu tư vớinhiều nước trên thế giới Đây là quá trình từng bước tiến hành tự do hoá cáchoạt động kinh tế, mở cửa thị trường và tham gia vào các tổ chức/thể chế kinh tếkhu vực và thế giới Điều này có nghĩa là Việt Nam đang từng bước tháo gỡ vànới lỏng những trói buộc và cản trở đối với các hoạt động sản xuất kinh doanh,xây dựng cơ chế kinh tế mới dựa trên những nguyên tắc thị trường có địnhhướng XHCN, mở cửa và tạo thuận lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài vào làm
ăn, giảm và tiến đến xoá bỏ các hàng rào thuế quan và phi thuế quan cũng nhưnhiều rào cản khác; để từ đó giúp cho việc trao đổi hàng hoá, dịch vụ, vốn, côngnghệ, nhân công giữa Việt Nam và các nước được dễ dàng, phù hợp với nhữngquy định của các tổ chức/thể chế kinh tế khu vực và thế giới mà Việt Nam đã,đang và sẽ tham gia
Việc hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng đã buộc các doanhnghiệp Việt Nam phải chuyển sang cách làm ăn mới, thúc đẩy các doanh nghiệpphát triển, tạo khả năng cạnh tranh Chỉ trong hơn 10 năm, đội ngũ doanh nghiệpcủa Việt Nam đã có những bước phát triển lớn mạnh cả về lượng và chất Từchỗ chỉ có hơn 10.000 doanh nghiệp, đến nay Việt Nam đã có khoảng 160.000doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế Chỉ tính riêng doanh nghiệp thamgia hoạt động xuất khẩu tới năm 2005 đã là 35.714 doanh nghiệp, tăng gấp 965lần so với năm 1986, trong đó doanh nghiệp nhà nước là 4.296, còn lại 31.418doanh nghiệp thuộc các loại hình doanh nghiệp khác như công ty trách nhiệmhữu hạn, cổ phần, doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp FDI1
Những quan điểm mới của Đảng và Nhà nước, đã làm tăng khả năng sángtạo, tạo điều kiện cho mọi thành phần kinh tế phát huy hết khả năng của mìnhvào việc phát triển kinh tế; trong đó Nhà nước quản lý bằng luật pháp, bằng cơchế chính sách, tạo môi trường cho sự cạnh tranh lành mạnh, tạo điều kiện chodoanh nghiệp phát huy quyền chủ động sáng tạo của mình, kinh doanh theopháp luật Nhờ vậy, nền kinh tế đã đạt được tốc độ tăng trưởng nhanh, các khuvực kinh tế phát triển mạnh mẽ, đầu tư trong nước và ngoài nước ngày càngtăng Tuy nhiên, đây mới chỉ là giai đoạn phát triển ban đầu nên các doanh
Trang 9nghiệp Việt Nam còn phát triển một cách thiếu định hướng, đầu tư không cóchiều sâu, năng lực cạnh tranh còn rất yếu
II Thực trạng hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam
Tiếp sau những chuyển biến lớn trong chủ trương, đường lối, chính sách
về hội nhập kinh tế quốc tế của Đảng và Nhà nước, Việt Nam đã rất chủ độnghội nhập và tham gia tích cực vào quá trình toàn cầu hóa
Xét về các mối quan hệ song phương, Việt Nam đã đặt quan hệ thươngmại với 170 quốc gia và vùng lãnh thổ2, đã ký nhiều Hiệp định về kinh tế vàthương mại song phương, quan trọng nhất trong số đó là những Hiệp định ký vớiTrung Quốc (Hiệp định thương mại năm 1991 và Hiệp định hợp tác kinh tế năm1992), với Mỹ (Hiệp định thương mại song phương năm 2000), với Nhật Bản(tuy Việt Nam chưa ký hiệp định thương mại với Nhật Bản nhưng hai nước đã
ký Hiệp định về tự do – xúc tiến và bảo hộ đầu tư), với Cộng đồng châu Âu(Hiệp định khung về hợp tác thương mại, đầu tư phát triển năm 1995)…
Bên cạnh việc tháo dỡ, nới lỏng các “trói buộc” của thời kỳ "cấm chợ,ngăn sông", khép kín, tự cung tự cấp, Nhà nước đã ban hành nhiều chính sáchkhuyến khích cho tư nhân thành lập doanh nghiệp, kinh doanh buôn bán, thamgia đầu tư xây dựng và phát triển kinh tế trong nước, đồng thời nhà nước đã cónhiều chính sách mở cửa, thu hút đầu tư nước ngoài Năm 1990, Việt Nam kýkết hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư với Italia Đây là hiệp định khuyếnkhích và bảo hộ đầu tiên được ký kết Đến nay Việt Nam đã ký kết hiệp địnhkhuyến khích và bảo hộ đầu tư với khoảng 70 nước và vùng lãnh thổ
Trong các quan hệ đa phương toàn cầu và khu vực, sau một thời gian giánđoạn, Việt Nam đã khai thông và nối lại quan hệ với Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF)
và Ngân hàng Thế giới vào năm 1993, gia nhập Hiệp hội các quốc gia ĐôngNam Á (ASEAN) năm 1995, bắt đầu thực hiện nghĩa vụ của các nước tham giaHiệp định thương mại tự do ASEAN (AFTA) năm 1996, là thành viên sáng lậpDiễn đàn hợp tác Á – Âu (ASEM) năm 1996, gia nhập Diễn đàn hợp tác kinh tếchâu Á – Thái Bình Dương (APEC) năm 1998
Năm 1995, Việt Nam đã nộp đơn xin gia nhập Tổ chức thương mại thếgiới (WTO), trở thành quan sát viên của tổ chức này Cho đến tháng 7 năm
2006, Việt Nam đã đàm phán thành công với tất cả các đối tác quan trọng Phiênđàm phán cuối cùng với Mỹ về việc gia nhập WTO của Việt Nam cũng đã kếtthúc với kết quả hết sức khả quan Do đó, nhiều khả năng Việt Nam sẽ gia nhập
tổ chức này trong năm 2006
1 Việt Nam hội nhập vào các tổ chức kinh tế khu vực và quốc tế
1.1 ASEAN và thực hiện CEPT/AFTA
“Việt Nam 20 năm đổi mới” – Nhà xuất bản Chính trị quốc gia – 2006
Trang 10Năm 1992, sau khi khối SEV tan rã, Việt Nam đã ký Hiệp định về ưu đãithuế quan với Khối cộng đồng chung châu Âu (Liên minh châu Âu - EU ngàynay) Tuy nhiên, việc gia nhập ASEAN và tham gia Khu vực thương mại tự doASEAN (AFTA) là lần đầu tiên Việt Nam tham gia vào một tổ chức kinh tế khuvực Tháng 7/1995, Việt Nam được kết nạp là thành viên chính thức của Hiệphội các nước Đông Nam Á (ASEAN)
Việt Nam bắt đầu hội nhập vào kinh tế khu vực với việc đưa ra nhữngcam kết cắt giảm thuế quan trong vòng 10 năm, bắt đầu từ 1/1/1996 để thực hiệnHiệp định ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung (CEPT/AFTA) Đồng thời, ViệtNam cũng đã tham gia hầu hết các chương trình hợp tác kinh tế của ASEANtrong mọi lĩnh vực: Đầu tư, dịch vụ, công nghiệp, nông nghiệp, khoa học côngnghệ,… Trong đó CEPT/AFTA là chương trình cốt lõi, trọng tâm với nhữngcam kết cụ thể về cắt giảm các hàng rào thuế quan và phi thuế quan để tiến tớikhu vực mậu dịch tự do AFTA vào năm 2003 (với 6 nước thành viên cũ) và
2006 với Việt Nam
Theo lộ trình thực hiện CEPT thì các mặt hàng thuộc danh mục cắt giảmthuế ngay (IL) có thuế suất cao hơn 20% phải được giảm xuống còn 20% chậmnhất vào ngày 1/1/2001; Các mặt hàng có thuế suất dưới 20% phải giảm xuốngcòn 0-5% vào ngày 1/1/2003 Đối với các mặt hàng thuộc danh mục loại trừ tạmthời (TEL), trong 5 năm kể từ ngày 1/1/1999 đến 1/1/2003, mỗi năm phải đưa20% số mặt hàng đó vào danh mục cắt giảm thuế ngay (IL)
Để thực hiện Hiệp định CEPT, từ năm 1996, hàng năm Việt Nam đềucông bố kế hoạch cắt giảm thuế quan Năm 1996, Việt Nam có tới 1.661 nhómhàng thuộc IL, chiếm 51,6% và 1.317 nhóm hàng thuộc TEL, chiếm 40,9% tổng
số mặt hàng trong biểu thuế nhập khẩu lúc đó Tuy nhiên, đến năm 2001, đã có
712 sản phẩm được chuyển từ danh mục TEL sang danh mục IL Năm 2003,Việt Nam tiếp tục đưa hơn 700 dòng thuế từ TEL sang IL, và đã hoàn thành việcchuyển các sản phẩm thuộc Danh mục loại trừ tạm thời (TEL) sang danh mụccắt giảm thuế ngay (IL), ngoại trừ 14 dòng thuế linh kiện ôtô, xe máy tạm hoãnthực hiện cắt giảm thuế Thông qua ba Nghị định là 78/2003/NĐ-CP ngày1/7/2003, 151/2004/NĐ-CP ngày 5/8/2004 và 213/2004/NĐ-CP ngày27/12/2004, Chính phủ đã ban hành Danh mục hàng hóa và thuế suất của ViệtNam để thực hiện Hiệp định CEPT cho giai đoạn 2003-2006 Theo đó, trên5.000 dòng thuế sẽ được giảm xuống từ 0-5% vào năm 2006, thời điểm ViệtNam thực hiện đầy đủ các cam kết của CEPT/AFTA Ngày 3/2/2005, Chính phủcũng đã ban hành Nghị định 13/2005/NĐ-CP về sửa đổi, bổ sung danh mụchàng hóa và thuế suất thuế nhập khẩu của Việt Nam để thực hiện Hiệp địnhCEPT cho các năm từ 2005-2013
Song song với chương trình cắt giảm thuế quan, Việt Nam cũng đang phốihợp với các nước ASEAN triển khai chương trình công tác nhằm xác định, phânloại và tiến tới dỡ bỏ các hàng rào phi thuế quan Như vậy, tại thời điểm hiện
Trang 11nay, Việt Nam đã đi gần hết chặng đường 10 năm với việc thực hiện cắt giảmhầu hết các mặt hàng tham gia CEPT/AFTA xuống mức thuế suất dưới hoặcbằng 10% (trừ 14 mặt hàng nêu trên) để đưa xuống mức 0-5% tại thời điểm1/1/2006.
Bên cạnh CEPT/AFTA, Việt Nam cũng đã thực hiện các Hiệp định về đầu
tư (AIA); Hiệp định về dịch vụ; Hiệp định về công nghiệp (AICO) Theo đó,Việt Nam cũng phải có nghĩa vụ dành những ưu đãi cho các nhà đầu tư ASEAN
và có những chính sách ưu đãi cho những nhà cung cấp dịch vụ của ASEAN.Hiệp định hợp tác công nghiệp AICO cũng đã tạo cơ hội cho các nhà sản xuấtcủa Việt Nam hợp tác với các nhà sản xuất của ASEAN để tiếp thu những côngnghệ tiên tiến và tham gia vào hệ thống kênh phân phối của các tập đoàn xuyênquốc gia thông qua việc dành ưu đãi cho các sản phẩm AICO mức thuế suấtCEPT với thời gian nhanh hơn
Nhằm định hướng bước đi tiếp theo cho ASEAN khi AFTA kết thúc(ASEAN 6 đã hoàn thành AFTA vào 1/1/2003, Việt Nam vào năm 2006, Lào vàCăm puchia vào năm 2008), các nhà lãnh đạo ASEAN đã xác định mục tiêu lâudài của ASEAN là thành lập Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) tại Hội nghịThượng đỉnh lần thứ 9 (10/2003) Các nhà lãnh đạo đã nhất trí đề ra lộ trình hộinhập nhanh 11 lĩnh vực ưu tiên trong ASEAN và coi đó như là một trong cácbiện pháp cụ thể đẩy nhanh hội nhập nội khối, tiến tới mục tiêu Cộng đồng kinh
tế ASEAN, nâng cao năng lực cạnh tranh trong khu vực, tạo đà phát triển mởrộng cho các lĩnh vực khác 11 lĩnh vực đó là: 7 mặt hàng gồm đồ gỗ, hải sản, ô
tô, dệt may, nông sản, điện tử, sản phẩm cao su và 4 nhóm dịch vụ là chăm sócsức khoẻ, e- ASEAN, du lịch và vận tải hàng không Chương trình được đánhgiá là một giải pháp toàn diện, cụ thể và sẽ đem lại những hiệu quả kinh tế chokhu vực nói chung và từng nước thành viên nói riêng thông qua việc kết hợpkhai thác tính bổ trợ những thế mạnh của từng nước trong 11 lĩnh vực, tạo thànhnhững liên kết mạnh trong sản xuất và hệ thống kênh phân phối Đối với riêngViệt Nam, với những tiềm năng và lợi thế nhất định trong 11 lĩnh vực trên, việctham gia cùng các nước ASEAN đẩy nhanh tiến trình hội nhập trong các lĩnhvực ưu tiên sẽ tạo cơ sở và tạo đà cho quá trình hội nhập của Việt Nam khi nănglực cạnh tranh được nâng lên ở tầm khu vực
Như vậy, khi tham gia vào ASEAN, kinh tế Việt Nam đã có những bướcchuyển biến lớn, đặc biệt là cộng đồng doanh nghiệp trong nước Các doanhnghiệp có điều kiện khai thác nhiều tiềm năng thông qua việc hợp tác đa dạngvới nhiều đối tác để mở rộng và ổn định thị trường, tiếp cận nguồn vốn quốc tế,tiếp cận nhanh sự chuyển giao khoa học – công nghệ trên diện rộng và tham giatích cực vào việc phân công lao động quốc tế
Bên cạnh đó, các doanh nghiệp còn có điều kiện thúc đẩy tiến trình cảicách và cơ cấu lại nền kinh tế linh hoạt và năng động hơn theo hướng nâng caohiệu quả Cụ thể là đẩy nhanh quá trình cải cách khu vực doanh nghiệp nhà nước
Trang 12nâng cao tính cạnh tranh của các doanh nghiệp, xoá bỏ cơ chế còn mang tínhbao cấp trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, đầu tư và xuất nhập khẩu; pháthuy hơn nữa tiềm năng và thế mạnh của các thành phần kinh tế; nâng cao khảnăng nắm bắt và vận dụng có hiệu quả các quy tắc ứng xử theo chuẩn mực quốc
tế, góp phần nhanh chóng đưa nền kinh tế của Việt Nam tiến lên phát triểnngang tầm quốc tế
và 10 nước châu Á, bao gồm 7 nước ASEAN và 3 nước đối tác là Nhật Bản,Hàn Quốc, Trung Quốc Tại Hội nghị này, diễn đàn hợp tác Á - Âu đã chínhthức ra đời và lấy tên hội nghị đầu tiên (Asia Europe Summit Meeting - ASEM)làm tên cho chương trình hợp tác giữa hai châu lục Việt Nam trở thành nướctham gia sáng lập ASEM Sự ra đời của ASEM một lần nữa chứng minh cho xuthế khách quan của quá trình toàn cầu hoá kinh tế, tiến tới hình thành một thịtrường thống nhất trên thế giới Từ những liên kết tầm châu lục như ASEAN, đãhình thành những mối liên kết liên châu lục là ASEM
Trong khuôn khổ ASEM, Diễn đàn doanh nghiệp Á - Âu và Hội nghịdoanh nghiệp là hai hoạt động được tổ chức hàng năm nhằm tăng cường cơ hộicho các doanh nghiệp gặp gỡ và trao đổi ý kiến, thúc đẩy sự hợp tác và tương hỗgiữa các doanh nghiệp Các doanh nghiệp cũng sẽ được cung cấp những thôngtin cơ bản về tình hình kinh tế, thương mại, đầu tư và các cơ hội kinh doanh ởcác nước thuộc ASEM
Bên cạnh đó, ASEM cũng góp phần xúc tiến đầu tư và thuận lợi hóathương mại giữa các doanh nghiệp Kế hoạch hành động xúc tiến đầu tư (IPAP)được vạch ra với mục đích tạo lập môi trường đầu tư thuận lợi để gia tăng dòngvốn đầu tư hai chiều giữa châu Á và châu Âu Đồng thời, các doanh nghiệp cũngđược hưởng khá nhiều lợi ích từ Kế hoạch hành động thuận lợi hóa thương mại(TFAP), theo đó các quốc gia thành viên sẽ có cơ sở để hình thành và nâng caohiểu biết, nhận thức chung về các vấn đề thuận lợi hóa thương mại như: Đơngiản hóa và hài hòa các thủ tục hải quan, hài hòa các tiêu chuẩn kỹ thuật, đơngiản hóa và minh bạch hóa các thủ tục về kiểm duyệt vệ sinh dịch tễ, tạo điềukiện thuận lợi cho các doanh nhân đi lại, làm ăn và cư trú ngắn hạn tại các nướcASEM
1.3 Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC)
Trang 13Tháng 11/1997, tại Hội nghị cấp cao APEC ở Vancouver, Canada, APEC
đã tuyên bố chấp nhận kết nạp Việt Nam là thành viên chính thức của APEC vàtháng 11/1998, Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên của tổ chức này.Với 21 nước và vùng lãnh thổ, chiếm 56% tổng GDP toàn cầu, 46% thương mạitoàn cầu, APEC là tổ chức liên kết kinh tế - thương mại khu vực lớn nhất thếgiới, trong đó bao gồm cả các thành viên là những siêu cường kinh tế và nhữngnền kinh tế lớn, năng động như Mỹ, Nhật Bản, Canada, Ôxtrâylia, Trung Quốc,Hàn Quốc
Tiến trình tự do hóa thương mại, đầu tư và hợp tác phát triển của APECđược thực hiện thông qua ba văn bản quan trọng là:
- Tuyên bố Bogor năm 1994: Là văn kiện cơ bản đầu tiên củaAPEC đề ra mục tiêu cụ thể và phương hướng cơ bản thực hiện tiến trình tự dohóa và thuận lợi hóa thương mại và đầu tư của APEC
Nội dung của tuyên bố gồm 11 điểm, nhấn mạnh tới chủ trương xây dựngmột khu vực mậu dịch tự do vào năm 2010 đối với các nền kinh tế phát triển vànăm 2020 với các nền kinh tế đang phát triển thuộc APEC
- Chương trình hành động OSAKA năm 1995 Đây là chương trình
cụ thể hóa các nội dung của tuyên bố Bogor, gồm hai nội dung chính:
+ Tự do hóa và thuận lợi hóa thương mại, đầu tư: Chương trình đã chỉ ra
15 lĩnh vực ưu tiên thực hiện tự do hóa như: Thuế quan, giảm các hạn chế vềdịch vụ, tự do hóa chế độ đầu tư, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, thực hiện thốngnhất tiêu chuẩn hóa Trong 15 lĩnh vực dự kiến tự do hóa tự nguyện sớm, có 9lĩnh vực được chọn tiến hành trước, đồng thời tiếp tục đàm phán để triển khai 6lĩnh vực còn lại
+ Hợp tác kinh tế và kỹ thuật: Chương trình định ra 13 lĩnh vực hợp tácnhư phát triển nguồn nhân lực, các xí nghiệp vừa và nhỏ, bảo tồn tài nguyênbiển, du lịch,…
- Chương trình hành động Manila năm 1996 (MAPA) Với phươnghướng chung là “từ tầm nhìn tới hành động”, chương trình này đã khẳng định lạicam kết biến vùng lòng chảo Thái Bình Dương thành một khu vực mậu dịch tự
do lớn nhất thế giới
Bản chất hợp tác trong APEC là dựa trên nguyên tắc tự nguyện, linh hoạt
và không ràng buộc với các nghĩa vụ và cam kết Do vậy, Việt Nam đã xác địnhtham gia vào APEC một cách chọn lọc, trên cơ sở cân đối các nghĩa vụ quốc tế
và lợi ích quốc gia Các hoạt động chủ yếu của Việt Nam trong APEC tập trungvào: Xây dựng và tham gia Kế hoạch hành động quốc gia; tham gia sâu vào một
số chương trình trong Kế hoạch hành động tập thể, các chương trình hợp táckinh tế kỹ thuật cũng như một số hoạt động hợp tác khác
Là một trong số những thành viên có nền kinh tế ở trình độ phát triển thấpnhất trong APEC, Việt Nam có nhiều cơ hội hợp tác với các nền kinh tế pháttriển nhằm đẩy mạnh quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, tích cực tham gia vào
Trang 14giải quyết các vấn đề cấp thiết của khu vực và thế giới APEC hội tụ hầu hết cácđối tác thương mại chính của Việt Nam Các thành viên APEC đóng góp tới80% kim ngạch xuất khẩu và 75% nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài củaViệt Nam.
Với Việt Nam, APEC còn là một diễn đàn phục vụ mục đích đa dạng hóaquan hệ đối ngoại APEC đóng vai trò là diễn đàn đối thoại, trao đổi, hợp táctrên cơ sở tự nguyện Các cam kết trong APEC không mang tính ràng buộc, do
đó không gây sức ép, mà mang tính khuyến khích thúc đẩy Các diễn đàn trongkhuôn khổ APEC là cơ hội để Việt Nam kêu gọi sự giúp đỡ và linh hoạt trongquá trình đàm phán gia nhập WTO
Trong khuôn khổ hội nghị APEC 2006 do Việt Nam đứng đăng cai sẽdiễn ra vào tháng 11/2006 tại Hà Nội, các doanh nghiệp Việt Nam sẽ có cơ hộigiao lưu, đối thoại trực tiếp với các doanh nghiệp đến từ các nền kinh tế thànhviên Dự kiến sẽ có Hội nghị của các Tổng giám đốc với sự tham gia của hơn1.000 doanh nghiệp hàng đầu thế giới được tổ chức song song với các phiên họpchuyên trách của APEC Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam – đươngkim chủ tịch của Hội đồng tư vấn doanh nhân APEC (ABAC) – sẽ là đầu mốikết nối của các doanh nghiệp Việt Nam
Các thành viên ABAC Việt Nam cũng đã chủ động đề xuất một số dự án
và ý tưởng hợp tác nhằm hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam trong quá trình hộinhập Cụ thể là các sáng kiến hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ trong việc tiếp cậncác nguồn vốn và tiếp cận thị trường; thúc đẩy sự phát triển và đánh giá uy tíndoanh nghiệp; xây dựng mạng lưới doanh nghiệp APEC; tăng cường liên kếtgiữa các doanh nghiệp nhỏ và vừa với các tập đoàn xuyên quốc gia, đa quốcgia
1.4 Tổ chức thương mại thế giới
Gia nhập WTO sẽ là một trong những bước tiến quan trọng nhất trong quátrình hội nhập kinh tế thế giới của Việt Nam, mở ra những cơ hội mới để mởrộng thương mại và thu hút đầu tư nước ngoài
1.4.1 Những tiêu chuẩn cần đáp ứng theo quy định của WTO
a) Đàm phán đa phương
Khi gia nhập WTO, Việt Nam sẽ phải thực hiện đầy đủ nguyên tắc chungcủa WTO và thực hiện các cam kết trong từng lĩnh vực Các nguyên tắc chungcủa WTO bao gồm:
- Nguyên tắc “Không phân biệt đối xử”: Nguyên tắc này bao gồm nguyêntắc “Đối xử tối huệ quốc” (MFN) và “Đối xử quốc gia” (NT) Nguyên tắc MFNyêu cầu mỗi thành viên dành cho hàng hoá hoặc dịch vụ của một Thành viênkhác sự đối xử không kém ưu đãi hơn đối xử mà thành viên đó dành cho sảnphẩm hoặc dịch vụ của nước thứ ba Nguyên tắc NT yêu cầu mỗi thành viên
Trang 15không dành cho sản phẩm hoặc dịch vụ của công dân nước mình sự đối xử ưuđãi hơn so với đối xử dành cho hàng hoá hoặc dịch vụ của người nước ngoài
- Loại bỏ các biện pháp hạn chế định lượng: Nguyên tắc này yêu cầu cácthành viên WTO không được áp dụng các biện pháp hạn chế định lượng nhưcấm nhập khẩu, hạn ngạch trừ các trường hợp ngoại lệ liên quan tới an ninhquốc phòng, sức khoẻ con người, động vật hoặc thực vật
Ngoài những nguyên tắc trên, mỗi thành viên WTO đều phải thực hiệncác nghĩa vụ được quy định tại 16 Hiệp định chính của WTO và rất nhiều quyđịnh khác (dày tới 30.000 trang), trong đó đáng chú ý là Hiệp định về các hàngrào kỹ thuật đối với thương mại (TBT), Hiệp định về các biện pháp vệ sinh dịch
tễ (SPS), Hiệp định về thủ tục cấp giấy phép nhập khẩu, Hiệp định về kiểm tratrước khi xếp hàng, Hiệp định về các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại(TRIMS), Hiệp định nông nghiệp, và Hiệp định về những khía cạnh liên quantới thương mại của quyền sở hữu trí tuệ, Hiệp định về xác định trị giá hải quan(CVA), Hiệp định về chống bán phá giá, Hiệp định về trợ cấp và thuế chống trợcấp, Hiệp định về quy tắc xuất xứ Mặc dù có những quy định và nội dung cụthể khác nhau, nghĩa vụ chủ yếu theo quy định của các Hiệp định này là xâydựng hệ thống chính sách và các biện pháp minh bạch, không phân biệt đối xử
và không tạo ra những trở ngại không cần thiết đối với thương mại
b) Đàm phán song phương
Bên cạnh đàm phán đa phương, đàm phán song phương là nội dung quantrọng trong tiến trình gia nhập WTO Hầu hết các yêu cầu mở cửa thị trườnghàng hóa và dịch vụ đều được các thành viên đưa ra trong quá trình đàm phánsong phương
- Về thuế: Các nước thành viên mới gia nhập đều cam kết ràng buộc cảbiểu thuế với mức thuế cam kết trung bình rất thấp, đặc biệt là đối với hàng côngnghiệp (hầu hết đều xấp xỉ 10%, thậm chí còn thấp hơn) Do vậy, các thành viênWTO sẽ yêu cầu Việt Nam cam kết ràng buộc cả biểu thuế với mức thuế tươngđương hoặc thấp hơn mức cam kết trung bình nói trên
- Về dịch vụ: Các nước mới gia nhập đều phải đưa ra mức cam kết cao hơn rấtnhiều so với cam kết của các thành viên cũ Nhiều ngành dịch vụ quan trọng nhưviễn thông, ngân hàng, bảo hiểm, phân phối phải mở cửa cho các nhà cung cấpdịch vụ nước ngoài
1.4.2 Tiến trình đàm phán gia nhập WTO và những cam kết của Việt Nam
Việt Nam nộp đơn gia nhập và được công nhận là quan sát viên của Hiệpđịnh chung về Thuế quan và Thương mại (GATT-tiền thân của WTO) vào tháng
6 năm 1994 Ngày 4 tháng 1 năm 1995, WTO đã tiếp nhận đơn xin gia nhập củaViệt Nam Kể từ đó, Việt Nam đã chủ động tiến hành những bước đi cần thiết đểgia nhập tổ chức này Đàm phán gia nhập WTO của Việt Nam diễn ra trên 2kênh là kênh đa phương và kênh song phương
Trang 16Về đàm phán đa phương, cho tới nay Việt Nam đã tổ chức 10 phiên họpcủa Ban Công tác về việc Việt Nam gia nhập WTO, phiên gần nhất là phiênkhông chính thức diễn ra vào tháng 5/2005
Về đàm phán song phương, cho tới nay đã có 28 đối tác đặt yêu cầu đàmphán song phương với Việt Nam Trong số này, Việt Nam đã sớm kết thúc đàmphán với 15 đối tác là: Urugoay, Canađa, Côlômbia, Thổ Nhĩ Kỳ, Kyrgyzstan,Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Iceland, Thụy Sĩ, Na-uy, Paragoay,Đài Loan, và El Salvador
Trong 2 tháng đầu năm 2006, Việt Nam đã kết thúc đàm phán songphương với 2 đối tác khác là Niu Dilân, và Ôxtrâylia Như vậy cho đến trướcphiên thứ 11, Việt Nam chỉ còn phải đàm phán với 4 đối tác ở châu Mỹ là Hoa
Kỳ, Mê-hi-cô, Hon-du-rat và Cộng hòa Dominic
Phiên đa phương thứ 11 tại Giơ-ne-vơ: Trong các ngày từ 20-28/3/2006,tại Giơ-ne-vơ đã diễn ra phiên đàm phán đa phương chính thức thứ 11 và cáccuộc đàm phán song phương của Việt Nam với 4 đối tác cuối cùng Kết quả đạtđược rất khả quan: Về đàm phán song phương, Việt Nam đã kết thúc được với 2đối tác là Hon-du-rat và Cộng hòa Dominic Các cuộc đàm phán với Hoa Kỳ vàMexico cũng diễn ra rất thuận lợi Về đàm phán đa phương, tại phiên 11, ViệtNam đã cùng các đối tác thành viên "Nhóm công tác /WP" rà soát lại toàn bộcác điểm của bản dự thảo “Báo cáo của Nhóm công tác/WP về gia nhập WTOcủa Việt Nam”…Các thành viên của Nhóm công tác/WP đánh giá cao việc ViệtNam đã thông qua một loạt các bộ luật và pháp lệnh trong "Chương trình luậthoá" trong năm 2005, liên quan đến các lĩnh vực như điều ước quốc tế, doanhnghiệp, thuế, ngoại hối, đầu tư, thương mại, đấu thầu, du lịch, hàng hải, hàngkhông, đường sắt, giao dịch điện tử, dich vụ giáo dục, y tế-dược phẩm, thuế xuấtnhập khẩu, hải quan, Luật dân sự, sở hữu trí tuệ…Đồng thời họ cũng nêu nhiềucâu hỏi thực thi các văn bản luật, nhất là các vấn đề trợ cấp, ngân hàng, xuấtnhập khẩu của các nhà đầu tư, quyền sở hữu trí tuệ…
Đến cuối tháng 7 năm 2006, Việt Nam đã kết thúc phiên đàm phán cuốicùng với đối tác quan trọng nhất là Mỹ Như vậy, quá trình đàm phán songphương của Việt Nam đã kết thúc, và khả năng Việt Nam sẽ trở thành thànhviên chính thức của WTO trong năm 2006 là rất khả quan, và nhiều chuyên gia
dự báo có thể trước khi diễn ra Hội nghị APEC tại Hà Nội vào tháng 11/2006
Trong nỗ lực gia nhập WTO, Việt Nam đã xây dựng và hoàn thiện hệthống pháp luật phù hợp với những hiệp định của WTO Quốc hội Việt Nam đãthông qua 29 văn bản luật quan trọng như Luật Thương mại, Luật Đầu tư chung,Luật Doanh nghiệp thống nhất, Luật Đất đai, Luật Hải quan, Luật Ngân hàng,Luật Bảo hiểm, Luật Lao động, Luật Hàng hải, Luật Hàng không dân dụng, LuậtDầu khí, Luật về Thuế…
Về những nội dung cam kết cụ thể: Tại phiên đàm phán đa phương thứ 10
ở Giơ-ne-vơ (9/2005), Việt Nam đã cam kết thực hiện một loạt các hiệp địnhtrong khuôn khổ WTO ngay khi gia nhập (khác với các nước khác đề nghị có
Trang 17thời gian quá độ), như Hiệp định về quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến thươngmại (TRIPS), Hiệp định về các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại(TRIMS), Hiệp định về định giá hải quan (CVA), Hiệp định về các hàng rào kỹthuật đối với thương mại (TBT), Hiệp định về các biện pháp vệ sinh dịch tễ(SPS), Hiệp định về cấp phép nhập khẩu, Hiệp định về các biện pháp chống bánphá giá và các biện pháp đối kháng, Hiệp định về Quy tắc xuất xứ…
Trong đàm phán song phương về thuế, Việt Nam đã cam kết sửa đổi tới99,9% số dòng thuế (hơn 10.000 dòng thuế) theo Danh mục chuẩn "HS" 8 sốcủa thế giới, với mức thuế bình quân là 18% (trong đó thuế về hàng công nghiệp
và hàng nông nghiệp trung bình là 15%, đối với khối EU hàng công nghiệp là16% và nông nghiệp là 20%…) sau khi gia nhập từ 3-5 năm Phí-lệ phí giảmxuống gần như bằng 0% Bản chào về dịch vụ cam kết mở cửa thị trường 11ngành và khoảng 110 phân ngành cụ thể trong đó có cả những lĩnh vực nhưngân hàng-tài chính, viễn thông, dịch vụ kinh doanh…
Về dịch vụ, bản chào của Việt Nam đã rộng hơn (về diện cam kết) và có
độ sâu (mức độ cam kết) tương đương với Hiệp định Thương mại song phươngViệt Nam-Hoa Kỳ Việt Nam đã chào 10 ngành và 92 phân ngành dịch vụ, đó làdịch vụ kinh doanh, viễn thông, dịch vụ xây dựng và các dịch vụ kỹ thuật đồng
bộ liên quan, dịch vụ phân phối, giáo dục, tài chính, y tế, du lịch, vận tải, dịch
vụ giải trí
Trong một số vấn đề nhạy cảm như quyền kinh doanh, trợ cấp, doanhnghiệp nhà nước, chính sách thuế, cơ chế đầu tư,… Việt Nam đã có những đềxuất, nhân nhượng nhất định để rút ngắn khoảng cách với một số đối tác songphương Đồng thời cũng có những giải thích xác đáng có lý có tình để các đốitác trong Nhóm công tác hiểu rõ hơn tình hình thực tế và những khó khăn trởngại và đề nghị dành cho ta một số điều kiện thuận lợi như được hưởng các ưuđãi đặc biệt và khác biệt dành cho các nước đang phát triển, được hưởng thờigian chuyển đổi…
2 Liên kết song phương
Cho đến nay, hoạt động liên kết song phương của Việt Nam với các quốcgia trong khu vực và trên thế giới đang ngày càng được mở rộng, quy mô liênkết cũng ngày càng phong phú và đa dạng hơn, bao trùm hầu hết mọi lĩnh vựckinh tế, văn hoá, xã hội,… Tuy nhiên, đáng chú ý nhất trong số đó là Hiệp địnhthương mại Việt Nam – Hoa Kỳ và Sáng kiến chung Việt Nam – Nhật Bản
2.1 Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ
Mặc dù cho đến nay Việt Nam đã ký kết 87 hiệp định thương mại songphương với các nước trên thế giới nhưng Hiệp định thương mại mà Việt Nam kývới Hoa Kỳ có tầm ảnh hưởng và tác động to lớn nhất từ trước đến nay Hiệpđịnh này được đánh giá là một hiệp định "đồ sộ" nhất cả về hình thức (số lượngchương, điều) và nội dung Với 7 chương, 72 điều, 9 phụ lục và 2 thư trao đổi,Hiệp định được đàm phán và ký kết trên cơ sở các nguyên tắc, quy định của Tổ
Trang 18chức thương mại thế giới Do vậy, Hiệp định có phạm vi điều chỉnh rộng nhất sovới các hiệp định Việt Nam đã ký: Nó không chỉ đề cập đến thương mại hànghoá mà còn bao gồm cả thương mại dịch vụ, phát triển quan hệ đầu tư và bảo hộquyền sở hữu trí tuệ
Hiệp định được đàm phán từ năm 1996 và sau 11 vòng đàm phán, ngày13/7/2000, Hiệp định đã được ký kết Hiệp định có hiệu lực từ ngày 10/12/2001
Khi hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ có hiệu lực thực thi, nó đã
và sẽ mang lại cho các doanh nghiệp Việt Nam rất nhiều lợi ích, đặc biệt tronglĩnh vực thương mại hàng hóa và dịch vụ
Ngay sau khi Hiệp định có hiệu lực, Hoa Kỳ dành mức thuế suất thuếnhập khẩu tối huệ quốc cho hàng hóa của Việt Nam (khoảng 3%) Hoa Kỳ cũngcam kết rằng nếu nước này giảm thuế cho bất kỳ một nước nào khác do kết quảđàm phán trong khuôn khổ WTO thì Hoa Kỳ cũng dành cho Việt Nam ưu tiênnhư vậy, dù tại thời điểm đó Việt Nam chưa trở thành thành viên của WTO Một
số mặt hàng của Việt Nam cũng sẽ được hưởng thuế suất bằng 0 theo chế độ ưuđãi thuế quan phổ cập (GSP) Nhờ vậy, tính cạnh tranh về giá của sản phẩm giatăng đáng kể vì thuế nhập khẩu đã giảm bình quân từ 40-70% xuống còn 3-7%.Hai nước cũng thỏa thuận áp dụng hệ thống định giá hải quan dựa trên giá trịgiao dịch của hàng hóa nhập khẩu để tính thuế
Tuy nhiên, Hiệp định chỉ điều chỉnh thuế của 244 mặt hàng (chiếm 3,8%trong tổng số hơn 6.000 mặt hàng trong biểu thuế của Việt Nam) Cụ thể là giảmmức thuế nhập khẩu đối với sản phẩm nông nghiệp gồm 58 dòng thuế từ 50%xuống còn 40%, 8 dòng thuế từ 40% xuống còn 15% và 25%, 10 dòng thuế từ30% xuống còn 15%, 10% và 5%, 31 dòng thuế từ 20% xuống 15%, 10% và5% Giảm mức thuế nhập khẩu các sản phẩm công nghiệp, gồm 18 dòng thuế
từ 50% xuống còn 40% và 30%, 2 dòng thuế từ 40% xuống 30%, 14 dòng thuế
từ 35% xuống 20%
Đối với thương mại dịch vụ, Việt Nam cam kết mở cửa 53 phân ngànhtrong số 155 phân ngành thuộc 11 ngành dịch vụ mà WTO điều chỉnh Tùy theolĩnh vực, Việt Nam cho phép lập các công ty có liên doanh hoặc 100% vốn củaHoa Kỳ theo một lộ trình với các thời hạn khác nhau sau khi Hiệp định có hiệulực Hoa Kỳ cũng cam kết mở cửa thị trường 103 phân ngành dịch vụ của Hoa
Kỳ cho Việt Nam như đối với các thành viên khác của WTO Những quy địnhtrong một số lĩnh vực dịch vụ nhạy cảm như bảo hiểm, ngân hàng, viễn thông vàdịch vụ phân phối cũng được hai bên thống nhất và cam kết thực hiện theo Hiệpđịnh
- Dịch vụ bảo hiểm: 3 năm sau khi Hiệp định có hiệu lực, Việt Nammới cho phép thành lập liên doanh 50% vốn Hoa Kỳ và 5 năm sau mới cho phépthành lập công ty 100% vốn Hoa Kỳ Dịch vụ đại lý bảo hiểm được bảo lưu Đốivới bảo hiểm bắt buộc, Việt Nam cho phép các doanh nghiệp bảo hiểm liêndoanh với nước ngoài được kinh doanh dịch vụ này 3 năm sau khi Hiệp định cóhiệu lực và 6 năm sau mới cho phép công ty 100% vốn nước ngoài kinh doanh
Trang 19bảo hiểm bắt buộc Các công ty bảo hiểm nước ngoài, kể cả của Hoa Kỳ, đềukhông được hưởng quy tắc đối xử quốc gia
- Dịch vụ ngân hàng: Việt Nam cho phép thành lập chi nhánh ngânhàng, ngân hàng liên doanh, công ty thuê mua tài chính liên doanh theo đúngluật pháp hiện hành của Việt Nam Chín năm sau khi Hiệp định có hiệu lực,doanh nghiệp Hoa Kỳ mới được phép thành lập ngân hàng 100% vốn Hoa Kỳ.Tám năm sau khi Hiệp định có hiệu lực, các tổ chức có vốn đầu tư của Hoa Kỳmới được phép phát hành thẻ tín dụng trên cơ sở đối xử quốc gia
- Dịch vụ viễn thông: Việt Nam chỉ đàm phán các dịch vụ viễnthông mang tính thương mại thuần túy Các dịch vụ viễn thông liên quan đến anninh quốc phòng không thuộc phạm vi điều chỉnh của Hiệp định Theo đó, cáccông ty của Hoa Kỳ không được xây dựng đường trục và cổng vào riêng màphải thuê của các công ty cung ứng dịch vụ viễn thông của Việt Nam Các công
ty của Hoa Kỳ cũng chỉ được hoạt động thông qua hợp đồng hợp tác kinh doanhhoặc liên doanh với các đối tác Việt Nam đã được phép kinh doanh dịch vụ viễnthông Đối với dịch vụ viễn thông mang tính thương mại thì tùy theo từng loạidịch vụ, Việt Nam có lộ trình liên doanh trong khoảng thời gian từ 2 – 6 nămsau khi Hiệp định có hiệu lực và khống chế vốn của Hoa Kỳ không quá 49%(riêng đối với dịch vụ viễn thông giá trị gia tăng là 50%)
- Dịch vụ phân phối:
+ Về chủ thể, 3 năm sau khi Hiệp định có hiệu lực, Việt Nam cho phépthành lập liên doanh 49% vốn nước ngoài, 6 năm sau hạn chế về mức góp vốnnày sẽ được bãi bỏ và 7 năm sau mới cho phép thành lập công ty 100% vốn Hoa
Kỳ
+ Về mặt hàng, từ 3 đến 10 năm kể từ khi Hiệp định có hiệu lực sẽ lầnlượt cho phép bán buôn, bán lẻ 255 nhóm mặt hàng (tương đương 2.590 mặthàng) Tuy nhiên, Việt Nam bảo lưu quyền không để các công ty Hoa Kỳ kinhdoanh phân phối các mặt hàng thiết yếu như xăng dầu, khí đốt, phân bón, thuốctrừ sâu, rượu bia, thuốc lá, thuốc chữa bệnh, kim loại quý, đá quý, chất nổ, gạo,bột mỳ và các loại ấn phẩm, thiết bị in, băng đĩa đã được ghi âm thanh, thiết bịthu phát sóng, tem các loại
Ngoài ra, cộng đồng doanh nghiệp cũng được hưởng những lợi ích khácnhư: Hệ thống thuế quan của Việt Nam phải sửa đổi theo hướng minh bạch, rõràng hơn và có xu hướng giảm giúp các doanh nghiệp có thể lập kế hoạch đầu tư
và hoạt động thương mại dài hạn Cạnh tranh phát triển sẽ giúp các doanhnghiệp và người tiêu dùng sử dụng sản phẩm có chất lượng tốt Cạnh tranh pháttriển và thuế nhập khẩu giảm giúp chi phí nguyên liệu máy móc nhập khẩugiảm, giá thành sản phẩm hạ sản phẩm do Việt Nam sản xuất mang tính cạnhtranh về giá hơn Các doanh nghiệp Việt Nam thuộc các thành phần kinh tế cóđiều kiện thuận lợi hơn về thủ tục và chi phí khi tiếp cận với thị trường thế giớitrong hoạt động xuất nhập khẩu
Trang 20Việc ký kết Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ nằm trong tổng thểquá trình Việt Nam hội nhập kinh tế khu vực và thế giới; nhất quán với mục tiêuchung của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam là nhằm mở rộng thịtrường, tranh thủ vốn, công nghệ từ các nước khác để phục vụ công cuộc côngnghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
2.2 Sáng kiến chung Việt Nam – Nhật Bản
Sáng kiến chung Việt Nam – Nhật Bản được Chính phủ Việt Nam vàNhật Bản ký kết năm 2003 Theo đó, các nhà lãnh đạo đã đưa ra sáng kiến vềcác vấn đề cụ thể nhằm cho thế giới biết rằng Việt Nam đang cải thiện mạnhmôi trường đầu tư Việc cải thiện môi trường đầu tư đem lại lợi ích cho tất cảnhững ai liên quan đến phát triển kinh tế của Việt Nam cũng như bản thân ViệtNam với tư cách là người hưởng lợi đầu tiên Kế hoạch hành động là kết quả củaSáng kiến sẽ mang lại lợi ích không chỉ cho các nhà đầu tư Nhật Bản mà còncho cả các nhà đầu tư nước ngoài và trong nước khác
Kế hoạch hành động gồm 2 nội dung chính:
- Xây dựng và thực hiện chiến lược xúc tiến đầu tư: Phát triển, thu hút và
sử dụng đầu tư nước ngoài vào các ngành công nghiệp phụ trợ; làm rõ các biệnpháp ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp cho các doanh nghiệp có vốn đầu tưnước ngoài; cải thiện chế độ thuế thu nhập cá nhân cho người nước ngoài; mởrộng hoạt động xúc tiến đầu tư nước ngoài (dịch vụ một cửa cho đầu tư nướcngoài); xây dựng một chiến lược và quy hoạch cho các ngành công nghiệp cơbản; áp dụng miễn thị thực nhập cảnh đối với lưu trú ngắn hạn
- Các chính sách và biện pháp cụ thể nhằm cải thiện rõ nét môi trường đầutư:
+ Các quy hoạch pháp luật liên quan đến đầu tư: Lộ trình cho phép thànhlập đại diện thương mại và công ty thương mại nước ngoài; xóa bỏ các quy địnhhạn chế đầu tư; làm rõ các lĩnh vực cho phép đầu tư 100% vốn nước ngoài; nớilỏng quan hệ lao động và đất đai; xóa bỏ chế độ xin phép nhập khẩu theo kếhoạch đối với phụ tùng, linh kiện và nguyên liệu thô; xúc tiến chuyển giao côngnghệ; xóa bỏ giới hạn chi phí quảng cáo và tiếp thị; xóa bỏ nghĩa vụ đấu thầukhi mua sắm thiết bị, nhà xưởng của các bên liên doanh mà Việt Nam góp vốn
từ 30% trở lên bằng quyền sử dụng đất; xóa bỏ yêu cầu vốn đầu tư theo LuậtĐầu tư nước ngoài
+ Nâng cao năng lực của các cơ quan thực thi: Đảm bảo tính minh bạch,
độ tin cậy, tính đồng bộ và đơn giản hóa nghiệp vụ hải quan; hợp lý hóa côngtác thuế vụ; cải thiện hoạt động quản lý về quyền sở hữu trí tuệ; đấu tranh chốngtham nhũng; hạn chế gian lận trong nhập khẩu
+ Xây dựng hạ tầng phần mềm liên quan đến đầu tư: Cải thiện quy trìnhban hành các văn bản quy phạm pháp luật; cải thiện việc xử lý tranh chấp; đàotạo chuyên gia về pháp luật; công bố chuẩn mực kế toán quốc tế; xây dựng chế
độ thanh toán bằng séc/hối phiếu; xây dựng hệ thống tiêu chuẩn công nghiệp và
Trang 21đo lường; đào tạo nguồn nhân lực cho công nghệ thông tin, đào tạo nghề; tăngcường năng lực cho các cơ quan thống kê.
+ Xây dựng hạ tầng kinh tế: Giao thông và các tiện nghi đô thị; nâng caohiệu quả vận tải và lưu thông; cải thiện hạ tầng điện lực và viễn thông; xử lýnước và chất thải công nghiệp; sử dụng nguồn vốn ODA của JIBIC vào pháttriển hạ tầng kinh tế
+ Các biện pháp hỗ trợ các nhà đầu tư đã vào Việt Nam: Phát triểncông nghiệp ôtô, xe máy, điện và điện tử; xóa bỏ hạn chế về tỷ lệ đầu tư tối thiểukhi tăng vốn đầu tư tại các doanh nghiệp liên doanh sản xuất xi măng; giải quyếtvấn đề tín dụng dài hạn tại Ngân hàng ngoại thương Việt Nam
Trang 22CHƯƠNG II THỜI CƠ VÀ THÁCH THỨC ĐẶT RA TRONG TIẾN TRÌNH HỘI
NHẬP CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
Hội nhập kinh tế quốc tế là một xu thế khách quan trên thế giới hiện nay.Bên cạnh mặt tích cực, hội nhập kinh tế quốc tế cũng đặt các doanh nghiệp củamỗi quốc gia trước nhiều thử thách khắc nghiệt Doanh nghiệp Việt Nam cũngkhông nằm ngoài quy luật đó Vì vậy, nhận thức đầy đủ những cơ hội cũng nhưthách thức trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế là nội dung quan trọng màcác nhà hoạch định chính sách, các doanh nghiệp cần phải nắm bắt, để từ đó cócác giải pháp thích ứng nhằm nâng cao hiệu quả nền kinh tế nói chung cũng nhưcủa doanh nghiệp nói riêng
I Những thời cơ cho doanh nghiệp Việt Nam khi hội nhập kinh tế, thương mại quốc tế
1 Mở rộng thị trường, tăng xuất khẩu
Trong trào lưu hội nhập kinh tế khu vực và thế giới, Việt Nam không thểđứng ngoài một quá trình chung đang diễn ra khắp toàn cầu Xét một cách tổngthể, mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế sẽ tạo nhiều cơ hội cho các doanh nghiệpViệt Nam mở rộng quan hệ, tiếp cận với một thị trường toàn cầu rộng lớn cũngnhư tăng cường khả năng xuất khẩu
Trước hết, hội nhập sẽ mở cửa cánh cửa cho các doanh nghiệp Việt Nambước vào một thị trường với dung lượng lớn và nhu cầu có khả năng thanh toáncao Khi đó các doanh nghiệp Việt Nam có điều kiện tiếp cận với các thị trườngtiềm năng lớn như châu Âu, Bắc Mỹ, Nhật Bản và các khu vực thị trường rộnglớn khác với hơn 5 tỷ người tiêu dùng Trên một thị trường mở, ngoài nhữngmảng thị phần lớn do các doanh nghiệp lớn chiếm giữ thì vẫn tồn tại nhữngmảng thị phần nhỏ dành cho các nhóm doanh nghiệp nhỏ Thực tế cho thấy,những nhu cầu của các thị trường lớn có thể được đáp ứng chủ yếu bởi các tậpđoàn công ty toàn cầu lớn, uy tín và kinh nghiệm lâu năm trên thị trường Trongkhi đó vẫn luôn có một khoảng trống thị trường được tạo ra bởi các đợt sóng củaquá trình chuyển giao các thế hệ kỹ thuật, và đây có thể là thời điểm thuận lợi
Trang 23cho những doanh nghiệp đi sau Thêm vào đó, những thị trường nhỏ, mới sẽ làmiếng đất màu mỡ của một số doanh nghiệp trẻ
WTO là một ví dụ điển hình cho hội nhập kinh tế của Việt Nam ViệtNam sẽ thực sự hội nhập vào nền kinh tế thế giới vì WTO là tổ chức có 150thành viên (tính đến 12/2005) chiếm trên 85% tổng thương mại hàng hoá vàkhoảng 90% tổng thương mại dịch vụ toàn cầu Gia nhập WTO, ngoài việc được
sự đối xử bình đẳng trong quan hệ thương mại như tất cả các thành viên kháccủa WTO, Việt Nam còn được hưởng những ưu đãi thương mại cho một nướcđang phát triển, ở trình độ thấp Với những lợi thế do WTO mang lại, Việt Nam
sẽ có điều kiện để tăng cường tiếp cận thị trường của các nước thành viên WTO,
mở rộng thị trường xuất khẩu những mặt hàng Việt Nam có tiềm năng, có lợithế, và một khi xuất khẩu tăng sẽ tạo đầu ra cho sản xuất trong nước, mang lại
sự tăng trưởng cho sản xuất trong nước, tạo thêm nhiều công ăn việc làm
Bên cạnh đó, hội nhập quốc tế còn giúp tăng số lượng thị trường xuấtkhẩu hàng hoá cho doanh nghiệp Trong quá trình hội nhập, Việt Nam trở thànhthành viên của nhiều tổ chức trên thế giới và doanh nghiệp Việt Nam có thể xuấtkhẩu vào thị trường vô cùng rộng lớn và đa dạng với mức thuế ưu đãi Giá trịxuất khẩu của Việt Nam hiện chiếm 1/2 giá trị tổng sản phẩm quốc nội (GDP).Chính vì vậy, việc mở rộng không gian thương mại, mở rộng thị trường xuấtkhẩu cho các doanh nghiệp Việt Nam có ý nghĩa vô cùng quan trọng Một khiquy mô sản xuất hàng xuất khẩu tăng lên, nếu không có thị trường tiêu thụ,doanh nghiệp rất khó phát triển một cách bền vững
Hội nhập quốc tế không chỉ mở rộng thị trường xuất khẩu mà còn làmtăng số lượng hàng xuất khẩu ra các nước Do tham gia các thể chế kinh tế quốc
tế với những cam kết và thoả thuận giữa các bên nên Việt Nam có thể đượchưởng một số ưu đãi, tạo điều kiện cho hàng hoá của doanh nghiệp Việt Nam cómức giá cạnh tranh được với hàng hoá tương tự của các nước khác Vì vậy, cóthể khẳng định, đồng thời với việc mở rộng không gian thương mại, mở rộng thịtrường xuất khẩu, mức thuế nhập khẩu thấp cũng sẽ giúp doanh nghiệp có cơ hộithúc đẩy sự thâm nhập hàng hoá của mình vào thị trường các nước trên thế giới.Ngoài ra, doanh nghiệp Việt Nam có thể tận dụng cơ hội từ những quy định củaWTO về ưu đãi cho các nước đang phát triển để tăng lượng xuất khẩu, chẳnghạn, các mặt hàng sơ chế khi xuất khẩu sang các nước phát triển sẽ được hưởngmức thuế đánh vào hàng nhập khẩu thấp, hoặc không có thuế, hoặc hưởng chế
độ của hệ thống ưu đãi thuế quan phổ cập (GSP) Khi tham gia WTO, doanhnghiệp Việt Nam cũng được hưởng lợi từ quy chế miễn trừ quy định cấm trợ cấpxuất khẩu đối với các nước đang phát triển có thu nhập dưới 1.000USD/người/năm
Hội nhập tạo cơ hội cho các doanh nghiệp sản xuất và xuất khẩu các mặthàng mà Việt Nam có ưu thế cạnh tranh Khi quá trình hội nhập kinh tế quốc tếđược mở rộng, doanh nghiệp Việt Nam sẽ tham gia vào sự phân công lao động,
Trang 24sản xuất trong một thị trường mang tính toàn cầu Doanh nghiệp Việt Nam sẽ có
ưu thế do giá cả rẻ, chi phí thấp (do lương nhân công thấp) Doanh nghiệp ViệtNam sẽ có nhiều ưu thế về các mặt hàng truyền thống, sử dụng lao động rẻ (laođộng nông nhàn, lao động học vấn thấp nên lương công nhân thấp), nguyên liệusẵn có trong nước như hàng mây tre, thủ công mỹ nghệ, đồ gỗ ; hoặc các mặthàng tận dụng được ưu đãi của thiên nhiên (mặt nước, biển, sông, hồ, ao, đầm đểnuôi thuỷ hải sản ); khí hậu nhiệt đới cho phép trồng được những loại cây càphê, hạt tiêu, cao su, thanh long, dừa ; hoặc các mặt hàng mang tính truyềnthống, là đặc sản của địa phương, vùng, miền Một số mặt hàng tuy sử dụngnguyên liệu nhập khẩu như dệt may, da giày song cũng có thể tận dụng ưu thếchi phí lao động rẻ, tiền lương thấp Đồng thời, đây cũng là những mặt hàng màđến nay nhiều nước phát triển không tập trung sản xuất nữa
Bên cạnh việc mở rộng xuất khẩu hàng hóa trong nước, Việt Nam còn tậndụng được cơ hội từ nhập khẩu như lựa chọn nhập các loại hàng hóa có kỹ thuậtcao, công nghệ tiên tiến để nhanh chóng phát triển các ngành có công nghệ cao,ngành mũi nhọn, nhanh chóng đuổi kịp các nước phát triển trên thế giới
2 Thu hút vốn đầu tư nước ngoài
Hiện nay, thiếu nguồn tài chính vẫn đang là một thách thức lớn đối vớicác doanh nghiệp Việt Nam Vì vậy, các nguồn vay vốn ưu đãi chính thức, vaythương mại, các nguồn viện trợ của nước ngoài, hoặc qua con đường hợp tácliên doanh, liên kết, đầu tư trực tiếp nước ngoài, các chương trình, dự án hỗ trợphát triển, là vô cùng cần thiết đối với sự phát triển của doanh nghiệp ViệtNam nói riêng và cả nền kinh tế nói chung
Xét về khía cạnh thị trường, khi tham gia vào hệ thống phân công laođộng toàn cầu, Việt Nam trở thành địa điểm hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoàimuốn tận dụng cơ hội đầu tư vào các ngành, lĩnh vực tạo ra hàng hoá để xuấtkhẩu hoặc phục vụ các nhà xuất khẩu Đồng thời, khi các nhà đầu tư nước ngoàivào Việt Nam, sẽ tạo ra thị trường tiêu thụ hàng hoá của các doanh nghiệp trongnước sản xuất ra (mà các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài mua để làmnguyên liệu của họ); tạo ra thị trường làm thuê, nhận gia công, chế tác, cung cấplinh kiện, cung cấp lao động cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài,tạo việc làm cho các doanh nghiệp trong nước
Xét về khía cạnh pháp lý, khi tham gia hội nhập kinh tế quốc tế nói chung
và tham gia WTO nói riêng, thực chất Việt Nam đã chấp nhận thực hiện các camkết quốc tế về mở cửa thị trường, thực hiện thuận lợi hoá, tự do hoá thương mại
và đầu tư giữa các quốc gia Việc thực hiện các cam kết này cũng đồng nghĩavới việc Việt Nam (hoặc bất cứ một quốc gia nào muốn tham gia sâu rộng vàocác thể chế kinh tế toàn cầu) cần phải có một hệ thống luật pháp minh bạch, phùhợp với thông lệ của các tổ chức, bao gồm cả về thương mại hàng hoá, thươngmại dịch vụ, đầu tư và sở hữu trí tuệ Hệ thống luật pháp và hệ thống cơ chếchính sách minh bạch, tiên liệu được sẽ làm tăng tính hấp dẫn của môi trường
Trang 25đầu tư, môi trường kinh doanh của Việt Nam, làm cho nhà đầu tư yên tâm hơnkhi tiến hành đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam.
Như vậy, hội nhập kinh tế quốc tế tạo cơ hội cho các nước đang phát triểnnói chung và Việt Nam nói riêng có thể tiếp cận các nguồn vốn từ những tổ chứcquốc tế như WB, IMF, và nhiều nguồn vốn quan trọng khác Bên cạnh đó, quátrình hội nhập đòi hỏi Việt Nam phải nỗ lực hết sức để hoàn thiện cơ chế chínhsách kinh tế cho phù hợp với yêu cầu và sự phát triển chung, qua đó thiết lậpđược một cơ chế thu hút vốn hợp lý và hấp dẫn Việc xây dựng được một cơ cấukinh tế và cơ cấu đầu tư nội địa hợp lý là cơ sở để định hướng thu hút đầu tưnước ngoài Các nhà đầu tư nước ngoài tìm kiếm các ưu đãi từ những điều kiện
và môi trường đầu tư bên trong để thúc đẩy chương trình đầu tư của họ Hộinhập đã tạo ra sự biến đổi và gia tăng cả về lượng và chất dòng vốn luân chuyểnvào Việt Nam, đặc biệt khi doanh nghiệp Việt Nam đang gặp rất nhiều khó khăn
về vốn đầu tư
Hơn nữa, một đặc điểm nổi bật trong xu thế vận động của các luồng vốntrên thế giới hiện nay là vốn đầu tư vào các nước đang phát triển đang tăngmạnh, trong đó tỷ trọng của vốn đầu tư tư nhân ngày càng cao: Năm 1980: 30 tỷUSD; 1990: 60 tỷ USD; 1996: gần 200 tỷ USD; và như vậy các nước đang pháttriển thu hút hơn 37% lượng vốn FDI toàn thế giới Điều này cho thấy, tăngcường hội nhập có thể giúp các doanh nghiệp Việt Nam có thể nắm bắt đượcthời cơ để thu hút các nguồn vốn đầu tư nói chung và nguồn vốn đầu tư tư nhânnói riêng trên thế giới đang chảy vào những nước đang phát triển, trong đó cóViệt Nam
Một yếu tố quan trọng cũng phát sinh trong quá trình hội nhập kinh tế đó
là trong những năm gần đây, hoạt động mua lại và sáp nhập giữa các nước đang
là một xu hướng ngày càng phổ biến, đặc biệt là đối với các công ty xuyên quốcgia và trở thành một hình thức đầu tư quan trọng Sự gia tăng các vụ M&A vớigiá trị ngày càng lớn là một động lực mạnh mẽ tạo nên sự tăng trưởng của FDItoàn cầu Thu hút được nguồn lực này cũng có những lợi ích rất lớn đối vớidoanh nghiệp Việt Nam trong quá trình hội nhập Nhờ quá trình toàn cầu hoá vàliên kết kinh tế quốc tế mà Việt Nam có thể thu hút được nguồn vốn quốc tếhiện đang rất cần thiết này
Trong những năm qua, thông qua quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, ViệtNam đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể trong thu hút vốn đầu tư nước ngoài.Tính đến cuối tháng 4-2006, có 106 tập đoàn đa quốc gia trong danh sách 500công ty lớn nhất thế giới - theo xếp hạng của tạp chí Fortune năm 2006- đã cómặt tại Việt Nam, với 214 dự án, 11,09 tỷ USD vốn đăng ký và 8,59 tỷ USDvốn thực hiện (chiếm khoảng 20% tổng nguồn vốn đầu tư nước ngoài ở ViệtNam) Nhiều công ty với nguồn vốn lớn như tập đoàn điện tử Intel, Microsoft cũng đã bắt đầu hoạt động đầu tư vào Việt Nam Các TNC đã tiến hành đầu tưtương đối toàn diện vào một số lĩnh vực ở Việt Nam, góp phần hiện đại hoá một
số ngành kinh tế của Việt Nam và đưa một số lĩnh vực của Việt Nam tiến kịp
Trang 26với các nước phát triển Đây là những tín hiệu đáng vui mừng cho việc thu hútFDI của Việt Nam trong thời gian qua
3 Nâng cao tính hiệu quả, khả năng cạnh tranh
Hội nhập kinh tế quốc tế có nghĩa là mở cửa nền kinh tế, thực hiện tự dohoá thương mại đưa các doanh nghiệp tham gia vào cuộc cạnh tranh quốc tế.Hội nhập kinh tế quốc tế đó là sự đan xen, gắn bó và phụ thuộc lẫn nhau giữacác nền kinh tế thế giới Nó là quá trình vừa hợp tác để phát triển, vừa đấu tranhrất phức tạp, đặc biệt là đấu tranh của các nước đang phát triển để bảo vệ lợi íchcủa mình, vì một trật tự công bằng, chống lại những áp đặt phi lý của các cườngquốc kinh tế và các công ty xuyên quốc gia Hội nhập kinh tế quốc tế một mặttạo điều kiện thuận lợi mới cho doanh nghiệp trong sản xuất kinh doanh, mặtkhác buộc các doanh nghiệp phải đổi mới để nâng cao sức cạnh tranh trênthương trường
Hội nhập quốc tế tạo cơ hội cho các nhà sản xuất kinh doanh Việt Nam
mở rộng quan hệ làm ăn, chấp nhận cạnh tranh, nâng cao chất lượng quản lý vàsản xuất, tiếp thu khoa học công nghệ mới, nâng cao hiệu quả hoạt động Hộinhập kinh tế quốc tế góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh và tính hiệu quảtrong nền kinh tế, đồng thời tạo ra môi trường cạnh tranh bình đẳng cho cácdoanh nghiệp Việt Nam
Các quy định về tự do hóa thương mại trong khuôn khổ WTO sẽ tạo điềukiện cho hàng hóa của các nước thành viên dễ dàng thâm nhập vào thị trườngViệt Nam Điều này gây sức ép buộc các doanh nghiệp Việt Nam phải chấpnhận mức độ cạnh tranh khốc liệt, làm cho họ trở nên năng động hơn trong việctạo sản phẩm mới, cải tiến các dịch vụ, hạ giá thành sản phẩm…Giảm thuế, cắtgiảm hàng rào phi thuế quan, mở cửa thị trường dịch vụ sẽ khiến môi trườngkinh doanh ở Việt Nam ngày càng trở nên cạnh tranh hơn Trước sức ép cạnhtranh, các doanh nghiệp trong nước, gồm cả các doanh nghiệp nhà nước, sẽ phảivươn lên để tự hoàn thiện mình, nâng cao tính hiệu quả và sức cạnh tranh chotoàn bộ nền kinh tế Ngoài ra, giảm thuế và loại bỏ các hàng rào phi thuế quancũng sẽ giúp các doanh nghiệp tiếp cận các yếu tố đầu vào với chi phí hợp lýhơn, từ đó có thêm cơ hội để nâng cao sức cạnh tranh không những ở trong nước
mà còn trên thị trường quốc tế
Nhờ quá trình hội nhập vào các thể chế kinh tế toàn cầu, các doanh nghiệpđược tiếp cận bình đẳng vào thị trường các nước thành viên Nhờ đó mà có khảnăng để nâng cao tính hiệu quả và khả năng cạnh tranh Gia nhập WTO, cácdoanh nghiệp Việt Nam sẽ được hưởng các quy định chỉ dành cho thành viêncủa WTO, hàng hoá của các doanh nghiệp Việt Nam được tiếp cận bình đẳngvào các thị trường của 150 thành viên WTO mà không bị chèn ép, đối xử khôngbình đẳng như khi chưa là thành viên WTO Đặc biệt, đối với những quy địnhchỉ dành cho thành viên của WTO, nếu Việt Nam là thành viên của WTO, hànghoá và dịch vụ của Việt Nam cũng sẽ được đối xử bình đẳng trên thị trườngquốc tế
Trang 27Tính hiệu quả thể hiện rõ khi các doanh nghiệp được bảo hộ sản xuấttrong nước theo các khuôn khổ quy định của của các thể chế kinh tế quốc tế màViệt Nam tham gia: Các doanh nghiệp Việt Nam thông qua các hiệp hội củamình hoặc thông qua cơ quan quản lý nhà nước về thương mại (Cục quản lýcạnh tranh ) để kiến nghị Chính phủ áp dụng các biện pháp bảo vệ sản xuấttrong nước Chẳng hạn, với tư cách là thành viên WTO, doanh nghiệp có thểkiến nghị Chính phủ tiến hành điều tra về mức gây phương hại của hàng nhậpkhẩu để thực hiện áp dụng thuế đối kháng hoặc chống bán phá giá theo quy địnhcủa Hiệp định về chống bán phá giá và thuế đối kháng; thực hiện điều tra để ápdụng thuế chống trợ cấp hàng hoá nhập khẩu vào Việt Nam; áp dụng các biệnpháp tự vệ trong trường hợp nhập khẩu hàng hoá nước ngoài vào Việt Nam quámức, gây thiệt hại nghiêm trọng cho sản xuất trong nước
Ngoài ra, các doanh nghiệp còn có thể khắc phục được tình trạng phânbiệt đối xử trong các vụ tranh chấp thương mại quốc tế, tạo dựng được thế vàlực trong thương mại quốc tế do doanh nghiệp Việt Nam có thể tiếp cận, sửdụng hệ thống giải quyết tranh chấp công bằng và hiệu quả của các thể chế kinh
tế toàn cầu để giải quyết tranh chấp trong thương mại Ví dụ, nếu trước kia cácquy định của GATT còn nhiều hạn chế với đặc trưng là thiếu cơ chế đảm bảocho các nghị quyết được thực hiện thì ở WTO, được xem như một "Liên hợpquốc" trong lĩnh vực thương mại quốc tế, mà trong đó mỗi quốc gia thành viênđều có một phiếu bầu, cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO đã đảm bảo mụctiêu công bằng hơn, thống nhất và chắc chắn hơn; đảm bảo một quy trình, thủtục và thời gian biểu chặt chẽ cho việc giải quyết tranh chấp; đảm bảo có đượckết luận đúng cho tranh chấp
Hơn nữa, khi tham gia mạnh mẽ vào quá trình quốc tế hoá, các doanhnghiệp có khả năng và điều kiện để có thể tăng lợi thế cạnh tranh về mặt nguồnnhân lực do tiếp cận được khoa học kỹ thuật tiên tiến trên thế giới Xu thế củalợi thế cạnh tranh trong tương lai không còn phụ thuộc nhiều vào tài nguyên,vốn, mà bắt đầu tuỳ thuộc rất lớn vào hàm lượng tri thức chứa đựng trong giá trịsản phẩm Các nhân tố về con người luôn được coi là lợi thế cạnh tranh khôngthể sao chép Quá trình cạnh tranh và hội nhập đòi hỏi các doanh nghiệp phải cóđội ngũ các nhà kinh doanh đủ sức nắm bắt cơ hội để thực hiện và phát triểnkinh doanh dài hạn
Nâng cao vị trí quốc tế của Việt Nam, tạo thế đứng vững chắc hơn trongquan hệ quốc tế, Việt Nam sẽ có cơ hội tham gia các cuộc đàm phán đa phương,giải quyết các nhu cầu về thị trường vì các quyền lợi chính đáng của mình Nhưvậy, Việt Nam có điều kiện, cơ hội góp tiếng nói vì lợi ích các nước đang pháttriển, nắm bắt tốt hơn các xu thế quốc tế cũng như sự điều chỉnh chính sách kinh
tế thương mại của các nước khác, từ đó xác định được hướng điều chỉnh phùhợp với tiến trình chung và khai thác triệt để những cơ hội có lợi nhất cho mình
4 Tiếp thu công nghệ kỹ thuật và kinh nghiệm quản lý
Trang 28Ngoài những thời cơ kể trên, trong quá trình hội nhập doanh nghiệp còn
có khả năng tiếp cận, học tập những kinh nghiệm và kỹ năng quản lý tiên tiếncủa thế giới Thông qua quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, các doanh nghiệp cóthể tiếp cận nhanh chóng công nghệ, kỹ thuật tiên tiến hiện đại thông qua conđường chuyển giao công nghệ, rút ngắn những bước tìm kiếm, giảm chi phítrong công tác nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng, thông qua nhiềucon đường như liên doanh, liên kết, thu hút vốn đầu tư nước ngoài , qua đógiúp nâng cao năng suất lao động, cải tiến chiến lược sản phẩm, bảo vệ thịtrường nội địa và chủ động tham gia thị trường quốc tế
Một trong những điều kiện để thúc đẩy quá trình toàn cầu hoá là sự pháttriển của công nghệ thông tin - viễn thông Kết quả của hệ thống thông tin toàncầu còn là điều kiện để nâng cao dân trí, mở rộng giao lưu giữa các dòng vănhoá, các dân tộc, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiếp xúc với một thế giới mở,nâng cao năng lực đổi mới và hiện đại hoá công tác quản lý, trao đổi tri thức vàkinh nghiệm, tiết kiệm thời gian và nguồn lực Đồng thời xu thế cạnh tranh củanền kinh tế dựa trên trí tuệ cũng mở ra nhiều cơ hội tiềm năng, đầy hứa hẹn đốivới những nền kinh tế non trẻ như Việt Nam
Cùng với đầu tư nước ngoài, hội nhập cũng là cơ hội tiếp cận với nhữngthành quả cách mạng khoa học và công nghệ trên thế giới đang diễn ra mạnh
mẽ, cơ hội này giúp doanh nghiệp không chỉ là tiếp nhận công nghệ mà còn họchỏi được nhiều kinh nghiệm quản lý hiện đại; đẩy nhanh quá trình tiếp thu thànhtựu khoa học kỹ thuật, công nghệ quản lý và nhất là đào tạo đội ngũ cán bộ kinhdoanh năng động Doanh nghiệp có điều kiện tham gia nhanh vào phân công laođộng quốc tế theo các dây chuyển sản xuất hoặc các công đoạn kinh doanh củacác doanh nghiệp lớn Với việc mở rộng quan hệ thương mại quốc tế, sự vậnđộng của các yếu tố nguồn lực cũng bắt đầu mang tính chuyên môn hoá trên cấp
độ quốc tế trong đó có lao động Nhờ đó mà lao động có kỹ năng trong cácdoanh nghiệp ngày càng tăng lên, đáp ứng được cho nhu cầu sản xuất và kinhdoanh trong môi trường hiện đại
II Những thách thức, khó khăn cho doanh nghiệp Việt Nam khi hội
Tuy nhiên, năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam hiện naycòn yếu so với các nước trên thế giới Phần lớn các doanh nghiệp Việt Nam là
Trang 29các doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ, lại tham gia thị trường quốc tế muộn.Những doanh nghiệp lớn chủ yếu là các doanh nghiệp nhà nước, vốn vẫn quenvới sự bảo hộ của Nhà nước, nay phải dần tập đứng độc lập bằng chính năng lựccủa mình Hơn nữa, nguồn vốn của các doanh nghiệp rất hạn chế trong khi phảitrải rộng phạm vi kinh doanh cả trong và ngoài nước nên khó có khả năng đầu tưquy trình công nghệ hiện đại để tạo ra các sản phẩm có chất lượng cao, cạnhtranh được với các sản phẩm ngoại có tiêu chuẩn chất lượng quốc tế Trình độquản lý và kinh nghiệm hoạt đọng trên thị trường quốc tế của các doanh nghiệpViệt Nam còn yếu Chính vì vậy các doanh nghiệp Việt Nam đang đứng trướcnguy cơ không theo kịp yêu cầu cạnh tranh trong bối cảnh mở cửa thị trường,hội nhập vào nền kinh tế thế giới
Trong khi đó, tiềm lực của các doanh nghiệp nước ngoài lại rất mạnh, đặcbiệt là các doanh nghiệp từ các nước ASEAN và Trung Quốc, những nước lánggiềng có những thế mạnh tương đồng với Việt Nam Các nước ASEAN có lợithế so sánh tuyệt đối và cơ cấu sản phẩm xuất sang các nước chủ yếu như Mỹ vàNhật Bản cũng tương tự như Việt Nam, nhưng các nước đó lại có trình độ pháttriển cao hơn Việt Nam khoảng 10 năm Ngoài ra, các nước ASEAN đã chuyển
từ xuất khẩu nguyên liệu thô sang các mặt hàng có giá trị gia tăng cao hơn nhưlinh kiện điện tử, chíp, bộ nhớ Trung Quốc cũng có thế mạnh hơn Việt Nam vềgiá nhân công rẻ và lực lượng lao động dồi dào Ngoài ra, các doanh nghiệpTrung Quốc có tỷ lệ nội địa hoá khá cao so với các mặt hàng của Việt Nam đang
có tốc độ tăng trưởng xuất khẩu mạnh như viễn thông, vô tuyến điện và cáchàng hoá khác Các nước ASEAN phát triển kinh tế thị trường sớm có lợi thếhơn trong xuất khẩu do bảo đảm hiệu quả kinh tế cao hơn và có uy tín về nhãnmác do đó doanh nghiệp các nước này có lợi thế hơn doanh nghiệp Việt Namtrên trường quốc tế Khi Việt Nam càng hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế quốc
tế, sức ép cạnh tranh từ bên ngoài đối với các doanh nghiệp Việt Nam càng lớn,đặc biệt là các doanh nghiệp đã quen với sự bảo hộ của Nhà nước Tuy nhiêncác doanh nghiệp sẽ không có cách nào khác là chủ động và sẵn sàng đối phóvới thách thức này
2 Thách thức về nguồn nhân lực
Từ trước đến nay, lao động vẫn luôn được coi là một lợi thế cạnh tranhcủa Việt Nam bởi chi phí lao động rẻ, trình độ dân trí của lao động Việt Namcao, có truyền thống lao động cần cù, ham học hỏi, khéo léo, nhanh trí… Nhưngchúng ta phải nhìn nhận rằng chi phí lao động tuy rẻ nhưng năng suất lao độngcủa lao động Việt Nam chỉ ở mức trung bình và thấp (trên 60%), chủ yếu là laođộng phổ thông Tỷ lệ lao động đã qua đào tạo còn rất thấp (khoảng 23% lựclượng lao động – năm 2003) Do đó nếu so sánh lao động Việt Nam với laođộng các nước trong khu vực thì có thể nói đây là thách thức đối với các doanhnghiệp Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
Xét về chi phí lao động thì chi phí lao động của Việt Nam cao hơn nhiều
so với của Inđônêxia Xét theo trình độ kỹ thuật và năng suất lao động, lao độngViệt Nam không thể so sánh được với Thái Lan, Malaixia, Xingapo Theo đánh
Trang 30giá của Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF), so với các nước trong khu vực, thứbậc xếp hạng về chất lượng nguồn nhân lực của nước ta còn thấp (chỉ đạt3,79/10 so với Trung Quốc là 5,73/10 và Thái Lan là 4,04/10) Bên cạnh đó cácdoanh nghiệp Việt Nam cũng không có các nhà lãnh đạo doanh nghiệp có tầmnhìn toàn cầu, có khả năng quản trị kinh doanh một cách khoa học và bài bản; cóthể nói các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay đang thiếu nhất nguồn nhân lựcquản trị kinh doanh giỏi.
Vấn đề lớn nhất đối với các doanh nghiệp Việt Nam đó là thiếu hụt trầmtrọng nguồn nhân lực có chất lượng cao, chưa nói đến nguồn nhân lực đạt tiêuchuẩn quốc tế Một bộ phận lớn thanh niên trong độ tuổi 18-23 (khoảng 80% lựclượng lao động) bước vào thị trường lao động nhưng chưa qua đào tạo nghề.Lao động phổ thông thì dư thừa lớn, song thiếu lao động kỹ thuật lành nghề,thiếu chuyên gia, doanh nhân, nhà quản lý, cán bộ khoa học và công nghệ cótrình độ cao Lực lượng lao động nước ta còn hạn chế về ý thức, tác phong côngnghiệp, thể lực và trình độ chuyên môn nghiệp vụ; năng lực hành nghề chưa đápứng tốt nhu cầu nhân lực của người sử dụng lao động nên còn một tỷ lệ đáng kểlao động qua đào tạo không tìm được việc làm thích hợp hoặc làm không đúngvới trình độ và nghề được đào tạo Chính vì vậy có không ít doanh nghiệp cónhu cầu sử dụng hàng ngàn lao động nhưng không thể tuyển được lao động đápứng được yêu cầu về chất lượng Nguồn lao động đạt tiêu chuẩn, đáp ứng yêucầu toàn cầu hoá của nước ta không nhiều; ngoài số lao động chất xám được đàotạo từ nước ngoài trở về, nguồn đào tạo tại chỗ, từ các trường đại học, cơ sở đàotạo trong nước kiếp hợp vói chương trình đào tạo nước ngoài, rất hạn hẹp Một
ví dụ cho thấy tình trạng thiếu hụt lao động có chất lượng ở các doanh nghiệpViệt Nam là trong ngành đóng tàu Nhu cầu sử dụng lao động mỗi năm tăng ítnhất khoảng 10.000 lao động trong khi tổng số sinh viên ra trường của cả bốntrường cao đẳng, kỹ thuật của ngành đóng tàu mỗi năm chỉ đào tạo tối đa từ4.000-5.000 người Nếu nguồn cung nhân lực có chất lượng không được cảithiện, thì chỉ trong vòng 2-3 năm tới, dù các nhà đầu tư đổ nhiều vốn vào ngànhnày hơn nữa thì cũng không có đủ công nhân để làm việc
Trường hợp thiếu hụt về nguồn cung nhân lực của ngành đóng tàu khôngphải là duy nhất tại Việt Nam Một số ngành kinh tế do phát triển quá nhanh, đãnảy sinh những thách thức không nhỏ về tuyển dụng lao động, đặc biệt là laođộng chất lượng cao để đáp ứng yêu cầu của thị trường Hơn nữa, việc mặt hàngtiền lương còn chưa thống nhất ở các khu vực, ngành nghề cũng là nguyên nhântiềm ẩn dẫn đến sự biến động, di chuyển và cuối cùng là sự thiếu hụt nhân lực ởcác doanh nghiệp, khu công nghiệp – khu chế xuất
Câu hỏi đặt ra là tại sao hàng năm cả nước đều có một lượng sinh viênkhông nhỏ tốt nghiệp các trường đại học, cao đẳng và dạy nghề nhưng tình trạngthiếu hụt lao động có trình độ cao vẫn không giảm? Đó là do hệ thống giáo dục
và đào tạo vẫn chưa được chuẩn bị tốt cho quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.Giáo trình giảng dạy ở các trường đại học được in mới nhưng nội dung cũ mấychục năm, lạc hậu rất nhiều so với thực tế, không cập nhật được thông tin, côngnghệ mới Phần lớn các doanh nghiệp phải tự đào tạo tay nghề cho người lao
Trang 31động (chiếm 85,06%) chứ không phải lao động được đào tạo qua hệ thốngtrường dạy nghề tập trung Điều này dẫn đến chi phí đào tạo cho lao động cao,nhưng trình độ hiểu biết khoa học kỹ thuật của lao động lại thấp Chính vì vậy,
để khắc phục tình trạng này, nhiều doanh nghiệp phải thuê chuyên gia nướcngoài với mức lương rất cao, hàng trăm ngàn USD mỗi năm Tuy nhiên việcthuê lao động nước ngoài chỉ phù hợp với những vị trí quản lý bên trên và cũngkhông thể đi thuê mãi được
Như vậy, trong bối cảnh các doanh nghiệp Việt Nam bắt đầu chuyển lênmột nấc mới trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế mà điển hình là việc sắpsửa gia nhập WTO, bức tranh chung về nguồn nhân lực cho các doanh nghiệpthật đáng báo động Đó là tình trạng đội ngũ lao động thiếu năng lực và kinhnghiệm quản lý, kinh nghiệm tham gia thị trường thế giới; trong khi đó lựclượng lao động trực tiếp sản xuất lại thiếu kỹ năng và chuyên môn kỹ thuật, tínhchuyên nghiệp và thể lực yếu Thách thức không nhỏ về nhân lực, nếu khôngđược giải quyết tốt sẽ khiến năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Namdần giảm sút trong quá trình các doanh nghiệp hội nhập dần vào nền kinh tế thếgiới
3 Thách thức về đổi mới công nghệ
Có thể nói công nghệ và nhân lực khoa học kỹ thuật, cũng như năng lựcnghiên cứu ứng dụng và đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp Việt Namhiện nay còn nhiều bất cập Theo xếp hạng của Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF)
về chuyển giao công nghệ năm 2005, trong đố 117 nước, chỉ số ứng dụng côngnghệ của Việt Nam nằm trong nhóm nước lạc hậu (đứng thứ 92), chỉ số đổi mới
có cao hơn song cũng thấp hơn Thái Lan đến 42 bậc Về chuyển giao công nghệ,Việt Nam đã bị Thái Lan bỏ xa đến 62 bậc Theo đánh giá của nhiều tổ chứcnước ngoài, tỷ lệ sử dụng công nghệ cao tại Việt Nam thấp (khoảng 20%), trongkhi các nước trong khu vực đều đạt mức cao, ví dụ như Philippin là 29%,Malaixia là 51%, Xingapo tới 73% Theo cơ quan tình báo kinh tế (EIU), chỉ sốsẵn sàng điện tử của Việt Nam xếp thứ 61 trong số 65 nước được điều tra, kémMalaixa 30 bậc và kém Xingapo tới 54 bậc
Hiện nay phần lớn các doanh nghiệp Việt Nam đang sử dụng công nghệtụt hậu so với mức trung bình của thế giới từ 2-3 thế hệ 80%-90% công nghệcủa Việt Nam sử dụng là công nghệ ngoại nhập Có 76% máy móc, dây chuyểncông nghệ nhập thuộc thế hệ 1960-1970, 75% số thiết bị đã hết khấu hao Tínhchung cho các doanh nghiệp, mức độ thiết bị hiện đại chỉ có 10%, mức trungbình 38%, lạc hậu và rất lạc hậu chiến 52%.Trong khi đó các doanh nghiệp ViệtNam đầu tư đổi mới công nghệ ở mức thấp, tính ra chi phí chỉ khoảng 0,2-0,3%doanh thu Con số này ở Ấn Độ là 5%, Hàn Quốc là 10% Có thể nói, hiện naynăng lực đổi mới công nghệ được đánh giá là năng lực yếu nhất của các doanhnghiệp Việt Nam Đây là một thách thức không nhỏ đối với các doanh nghiệpViệt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, khi mà các doanh nghiệpcạnh tranh trên thế giới đều có hàm lượng công nghệ cao và ở trình độ pháttriển hơn các doanh nghiệp Việt Nam rất nhiều lần
Trang 32Nguồn nhân lực khoa học và công nghệ trong các doanh nghiệp Việt Namhiện nay cũng không nhiều, chỉ chiếm 7,24% lực lượng lao động; trong số đó có71,9% có trình độ đại học, 26,9% cao đẳng, 0,9% là thạc sỹ; trình độ tiến sỹ vàtiến sỹ khoa học là 0,14% Lực lượng lao động khoa học công nghệ cũng phân
bố không đồng đều; trung bình một doanh nghiệp nhà nước có 64 lao động khoahọc và công nghệ, gấp 2,6 lần bình mức bình quân chung Bình quân một doanhnghiệp có một người làm việc trong lĩnh vực khoa học và công nghệ, bằng 0,3%tổng số lao động Việc phân bổ lao động hoạt động khoa học công nghệ khôngđồng đều và còn có nhiều bất hợp lý trong các loại hình doanh nghiệp và giữacác nhóm ngành
Phần lớn công nghệ của Việt Nam đều lạc hậu ngay từ khi mua sắm dâychuyền thiết bị mới, nguyên nhân chủ yếu là do thiêu thông tin nên các doanhnghiệp không xác định được mức độ tiên tiến của các công nghệ mua về so vớitrình độ chung của thế giới Các doanh nghiệp chủ yếu chỉ mua các công nghệ
mà mình cảm thấy là tiên tiến mà không điều tra tham khảo kỹ trước khi muasắm Đến khi sản xuất, phải cạnh tranh trên thị trường thì các doanh nghiệp mớibiết công nghệ mình mới mua quá lạc hậu so với thế giới Tình trạng này diễn ra
ở cả các doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp tư nhân, nhưng đặc biệtnghiêm trọng ở các doanh nghiệp Nhà nước vốn được chu cấp vốn mua côngnghệ từ phía Nhà nước Một số trường hợp công nghệ lúc mua là loại tiên tiếnnhất do xác định công suất quá lớn so với khả năng nguyên liệu lúc bây giờ nên10-25 năm sau vẫn chưa thu hồi được vốn, không đủ khả năng tài chính để đổimới công nghệ nên trở thành lạc hậu
Hiện tại ở Việt Nam có hai luồng chuyển giao công nghệ chính và trongnước: Thứ nhất là qua hình thức liên doanh với nước ngoài và doanh nghiệp100% vốn nước ngoài, hoặc mang tính thương mại thuần tuý thông qua việcmua bán công nghệ trên thị trường Song luồng chuyển giao công nghệ thứ haichiếm tỷ lệ rất nhỏ; còn luồng thứ nhất tuy chiếm tới 90% số hợp đồng chuyểngiao nhưng trong đó cũng có không ít những hợp đồng có trình độ công nghệkhông cao mà chủ yếu là khai thác nhân công giá rẻ và trốn tránh các tiêu chuẩn
về môi trường ở chính các nước đầu tư
Trước tình hình trên, để nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệptrong quá trình hội nhập, các doanh nghiệp cũng đã quan tâm đến vấn đề đổimới công nghệ Trong tổng số vốn nghiên cứu và phát triển, 87,2% được dùngvào mục đích đổi mới công nghệ Tuy nhiên hoạt động đổi mới công nghệ mớichỉ diễn ra mạnh mẽ trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài với 90,6tổng nguồn vốn thực hiện Còn lại các doanh nghiệp của Việt Nam đa phần cóquy mô vừa và nhỏ, thậm chí siêu nhỏ, do đó khả năng trang bị máy móc hiệnđại, kỹ thuật công nghệ tiên tiến là rất khó Đối với các doanh nghiệp nhà nướclớn cũng ít quan tâm đến đổi mới công nghệ vì thường có vị thế độc quyền nênkhông chịu sức ép cạnh tranh và có tâm lý dựa dẫm vào sự bảo hộ của Nhànước Vì thế vốn dành cho đổi mới công nghệ trong các doanh nghiệp Nhà nướcmới chỉ chiếm 8,7% tổng vốn thực hiện, còn ở các doanh nghiệp ngoài nhà nướccũng mới chỉ chiếm 0,67% tổng vốn thực hiện Trong khi đó ở hầu hết các