cơ hội và thách thức của các doanh nghiệp vn trong quá trình hội nhập×nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế việt nam trong quá trình hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế×những cơ hội và thách thức của việt nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế×cơ hội và thách thức trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế×hải quan việt nam×công tác quản lý hải quan việt nam
Trang 1Đề tài: Phân tích vai trò và xu hướng phát triển của hải quan VN trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Việt Nam
Mở đầu
Trong xu thế toàn cầu hóa diễn ra sôi động khắp hành tinh, nền kinh tế Việt Nam đang từng bước hội nhập với nền kinh tế khu vực và thế giới, thì ngoại thương trở thành hoạt động không thể thiếu của các doanh nghiệp Hôm nay nhóm chúng tôi xin phân tích rõ hơn về “vai trò và xu hướng phát triển của Hải quan Việt Nam trong thời hội nhập kinh tế quốc tế” Với những mục tiêu nhằm tạo thuận lợi cho phát triển XNK, thu hút đầu tư nước ngoài, phát triển du lịch và giao thương quốc tế, đảm bảo quản lý, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác Hải quan ViệtNam đã luôn luôn thực hiện theo khẩu hiệu mà mình đã đặt ra:“THUẬN LỢI, TẬN TỤY, CHÍNH XÁC “ Với thời gian tìm hiểu có hạn cùng với những kiến thức còn hạn chế, nhất là kinh nghiệm đánh giá thực tế chưa sâu sắc và đầy đủ Vì vậy trong bài tiểu luận không tránh những sai sót, kính mong thầy cùng các bạn đóng góp ý kiến để chúng tôi có thể hoàn thiện hơn trong những chuyên đề sau
I: Giới thiệu chung về Hải quan Việt Nam
1.1 Lịch sử Hải quan Việt Nam
Ngày 10-9-1945, theo sắc lệnh số 27-SL của Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp, thay mặt Chính phủ ký thành lập “Sở thuế quan và thuế gián thu” Với mục đích thiết lập chủ quyền thuế quan của nước Việt Nam độc lập, đảm bảo việc kiểm soát hàng hóa XNK và duy trì nguồn thu ngân sách từ hoạt động này
Ngày 03-10-1945, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp ký Sắc lệnh để Sở Thuế quan và thuế gián thu thuộc Bộ Tài chính
Ngày 14-7-1951, Bộ trưởng Bộ tài chính Lê Văn Hiến ký Nghị định số 54-NĐ quy định tổ chức Bộ Tài chính, trong đó Nha Thuế quan và Thuế gián thu được thu gọn thành Phòng Thuế xuất nhập khẩu thuộc Sở Thuế
Từ ngày 15 đến 20-9-1955, Kỳ họp thứ 5 Quốc hội khóa I quyết định tách Bộ Công thương thành 02 Bộ: Bộ Tài chính và Bộ Thương Nghiệp Sở Hải quan Trung ương trực thuộc Bộ Thương Nghiệp
Từ ngày 16 đến 29-4-1958, Kỳ họp thứ 8 Quốc hội khóa I quyết định tách Bộ Thương nghiệp thành 02 Bộ: Bộ Nội Thương và Bộ Ngoại Thương Sở Hải quan Trung ương trực thuộc Bộ Ngoại thương
Trang 2Ngày 27-02-1960, Thủ tướng Chính phủ Phạm Văn Đồng ký Nghị định số 03-CP ban hành Điều lệ Hải quan
Từ 02-5-1975, Đoàn công tác của Hải quan từ vùng giải phóng trở về và các cán
bộ từ miền Bắc tăng cường tổ chức tiếp nhận các cơ sở của Tổng Nha thuế Ngụy tại Sài Gòn và các vùng mới giải phóng ở Nam bộ
Ngày 11-7-1975, Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ra Quyết định số 09-QĐ thành lập Cục Hải quan Miền Nam Việt Nam thuộc Tổng nha Ngoại thương Sau đó, ngày 15-01-1976, Bộ Ngoại thương xác định Cục Hải quan Miền Nam Việt Nam do Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam quản lý
Ngày 25-4-1984 Thực hiện Nghị quyết số 68/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng về đẩy mạnh chống buôn lậu và thành lập Tổng cục Hải quan, và Nghị quyết số 547/NQ-HĐNN ngày 30/8/1984 Hội đồng Nhà nước phê chuẩn thành lập Tổng Cục Hải quan và ngày 20/10/1984 Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Tô Hữu ký Nghị định số 139/HĐBT quy định nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức của Tổng cục Hải quan Tổng cục Hải quan trực thuộc Chính phủ
Ngày 01-6-1994, Tổng cục trưởng TCHQ Phan Văn Dĩnh ký Quyết định số
91/TCHQ-TCCB đổi tên Hải quan tỉnh, Hải quan thành phố thành Cục Hải quan tỉnh, Cục Hải quan thành phố
Ngày 06-3-1998, Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam ký công văn chính thức tham gia Công ước HS về mô tả mã hóa hàng hóa Theo đó, Công ước có hiệu lực ở Việt Nam từ ngày 01-01-2000
Ngày 29-6-2001, thay mặt Quốc hội nước CNXHCN Việt nam, Chủ tịch Quốc hội Nông Đức Mạnh ký quyết định số 29/2001/QH10 ban hành Luật Hải quan Luật Hải quan được công bố chính thức theo Lệnh số 10/2001/L-CTN do Chủ tịch nước Trần Đức Lương ký ngày 12-07-2001 và có hiệu lực từ 01-01-2002
Ngày 04-9-2002, Thủ tướng Chính phủ Phan Văn Khải ký Quyết định số
113/2002/QĐ-TTg chuyển Tổng cục Hải quan vào Bộ Tài chính.- Ngày 21-5-2004, 03 ngành Hải quan, Thuế, Kho bạc đã ký văn bản hợp tác
Ngày 26-01-2005, 05 cán bộ Hải quan Việt Nam nhận bằng danh dự của Tổ chức Hải quan thế giới (WCO)
Ngày 14-6-2005, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An đã ký quyết định số 42/2005/ QH11 ban hành "Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan" Luật này có hiệu lực từ ngày 01-01-2006
Trang 31.2 Tầm nhìn
VIỄN CẢNH
Xây dựng Hải quan Việt Nam thành lực lượng chuyên nghiệp cao, có chuyên môn sâu và hiện đại, hoạt động minh bạch, liêm chính và có hiệu quả nhằm đáp ứng yêu cầu của tình hình và nhiệm vụ phát triển kinh tế đất nước
PHƯƠNG CHÂM HOẠT ĐỘNG
- Chuyên nghiệp
- Minh bạch
- Hiệu quả
TUYÊN NGÔN, NHIỆM VỤ
- Quản lý có hiệu quả các hoạt động xuất nhập khẩu và giao lưu quốc tế, tạo điều kiện cho thương mại và sản xuất phát triển
- Bảo vệ và góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của nền kinh tế quốc gia
- Bảo đảm nguồn thu cho ngân sách
- Chống buôn lậu, gian lận thương mại, bảo vệ lợi ích người tiêu dùng
- Góp phần bảo vệ chủ quyền kinh tế, an ninh quốc gia và an toàn xã hội
- Phục vụ quản lý kinh tế xã hội
1.3 Lãnh đạo Tổng cục
II: Vai trò của hải quan VN trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Việt Nam
Trang 42.1 Vai trò của hải quan Việt Nam trong nền kinh tế thế giới.
Với 69 năm hình thành và phát triển cục hải quan Việt Nam có vai trò to lớn trong việc xây dựng và bảo vệ tổ quốc cũng như trong nền kinh tế thế giới
Hải quan Việt Nam là thành viên tích cực trong việc thực hiện các chương trình sáng kiến hợp tác hải quan khu vực, cụ thể là việc xây dựng và thực hiện Kế hoạch Chiến lược Phát triển Hải quan ASEAN (SPCD), xây dựng và thực hiện cơ chế một cửa ASEAN, cơ chế quá cảnh hải quan ASEAN, xây dựng và thực hiện Hiệp định Hải quan ASEAN mới, xây dựng và rà soát Danh mục Biểu thuế hài hòa ASEAN (AHTN) trên phiên bản HS cập nhật Ngoài các hoạt động hợp tác nội khối, cùng với Hải quan các nước ASEAN, Hải quan Việt Nam đã và đang tham gia sâu rộng trong các chương trình hợp tác với các nước đối thoại và đối tác của ASEAN gồm Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Úc-New Zealand, Mỹ với các hoạt động chủ yếu là hỗ trợ kỹ thuật trong các lĩnh vực kỹ thuật nghiệp vụ hải quan
Hải quan Việt nam đã tổ chức đăng cai nhiều hội nghị, hội thảo trong khuôn khổ hợp tác Hải quan ASEAN Năm 1995 và 2004 Hải quan Việt Nam đã tổ chức thành công Hội nghị Tổng cục trưởng hải quan ASEAN lần thứ 3 và lần thứ 12 Tháng 6/2014, Hải quan Việt Nam đăng cai tổ chức Hội nghị Tổng cục trưởng Hải quan ASEAN lần thứ 23
Hải quan Việt Nam tham gia tích cực và triển khai có hiệu quả các hoạt động hợp tác trong khuôn khổ diễn đàn hợp tác Kinh tế Châu Á- Thái Bình Dương APEC, chủ yếu thông qua Tiểu ban Thủ tục hải quan APEC (SCCP) và Ủy ban Thương mại và đầu
tư APEC (CTI): Hải quan Việt Nam đã hợp tác chặt chẽ với các cơ quan hữu quan xây dựng chương trình hành động quốc gia, đã và đang thực hiện các cam kết trong khuôn khổ Kế hoạch hành động tập thể - CAP (gồm các nội dung liên quan đến nghiệp
vụ Hải quan) Hải quan Việt Nam cử cán bộ tham gia các hội thảo, phiên họp chương trình đào tạo nghiệp vụ do APEC tổ chức; tích cực chủ động tham gia các phong trào, chiến dịch do các thành viên APEC đề xuất
Trong bối cảnh hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế quốc tế, Hải quan Việt Nam vừa là người bảo vệ chủ quyền lợi ích quốc gia, vừa là người mở cửa, tạo thuận lợi cho các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ thương mại và đầu tư
Để đạt được mục tiêu quan trọng này, Hải quan Việt Nam luôn duy trì việc mở rộng quan hệ hợp tác, hỗ trợ lẫn nhau với các nước trên thế giới cũng như trong khu vực Hải quan Việt Nam rất chú trọng đến việc tạo cơ sở pháp lý cho các hoạt động hợp tác này thông qua việc đàm phán, ký kết các văn kiện hợp tác song phương
Trang 5Trong khuôn khổ hợp tác đa phương và song phương, Hải quan Việt Nam đã triển khai thực hiện các dự án:
Các dự án do Nhật Bản tài trợ: (1) Dự án Tăng cường năng lực cho đội ngũ giảng viên chủ chốt phục vụ tiến trình hiện đại hóa hành chính hải quan Việt Nam giai đoạn 2004-2007; (2) Dự án Tăng cường năng lực về quản lý rủi ro; (3) Dự án Tăng cường năng lực cán bộ hải quan cửa khẩu; (4) Dự án xây dựng, triển khai hải quan điện tử và thực hiện cơ chế hải quan một cửa phục vụ hiện đại hóa hải quan tại Việt Nam; (5) Dự
án JICA về hợp tác kỹ thuật thực hiện hải quan điện tử;
Các dự án do Hoa kỳ tài trợ: (1)Dự án thí điểm E-manifest; (2) Dự án Megaports
do Hoa Kỳ tài trợ về lắp đặt thiết bị phát hiện phóng xạ đối với hàng hóa vận chuyển tại cụm cảng Cái mép Thị Vải, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu;
Các dự án khác: (1) Dự án ETV2- Cấu phần hải quan do EU tài trợ; (2) Dự án Hỗ trợ kỹ thuật và tư vấn vùng R-PATA do ADB tài trợ; (3) Dự án về tăng cường năng lực phát hiện phóng xạ tại Sân bay quốc tế Nội Bài do IAEA tài trợ
2.2 Vai trò của Hải quan Việt Nam trong nền kinh tế hội nhập tại Việt Nam
Trong 69 năm xây dựng và trưởng thành, ngành Hải quan luôn được lãnh đạo Đảng, Chính phủ, lãnh đạo Bộ Tài chính đánh giá cao về vai trò, trách nhiệm trong công cuộc xây dựng, bảo vệ đất nước và tạo mọi điều kiện để ngành Hải quan hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao Từ đó thấy được vai trò của Hải Quan Việt Nam trong nền kinh tế hội nhập như sau:
- Hải quan có vai trò vô cùng quan trọng trong kích cầu nội địa và phát triển kinh
tế Ở Việt Nam, nguồn thu từ thuế nhập khẩu chiếm khoảng 30% tổng thu ngân sách nhà nước Do tình hình suy thoái của nền kinh tế toàn cầu nên tác động không nhỏ tới hoạt động xuất nhập khẩu nói chung và thu ngân sách nhà nước nói riêng chính vì vậy Hải quan Việt Nam có vai trò vô cũng quan trọng trong việc chống lại sự suy giảm này bằng việc cải cách, thông quan hàng hóa đơn giản, minh bạch
- Hải quan được coi như là người gác cửa cho nền kinh tế: trong những năm gần đây, khi nền kinh tế hội nhập, hoạt động xuất nhập khẩu ngày càng đóng vai trò quan trọng, giúp chúng ta thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Hải quan Việt Nam có vai trò quản lý các hoạt động xuất nhập khẩu, xuất nhập cảnh, Tạo môi
trường kinh doanh trong nước minh bạch, công bằng giúp tăng khả năng thu hút đầu
tư tại thị trường trong nước
- Đóng góp vào chiến dịch chống tội phạm quốc tế thông qua kiểm tra, kiểm soát xuất nhập cảnh
Trang 6- Nỗ lực không ngừng, giữ vững an ninh thương mại quốc gia Thực hiện công tác phòng chống buôn lậu thương mại cũng như ngăn cấm việc xuất/ nhập khẩu các loại hàng cấm, hàng gây hại đến sức khỏe, tính mạng con người và môi trường
- Thu ngân sách nhà nước cho chính phủ( thu thuế xuất khẩu, nhập khẩu và các loại thuế khác), thống kê được lượng nội/ngoại tệ ra/ vào nước giúp cho chính phủ có những chính sách đúng đắn trong chính sách tài chính để điều tiết nền kinh tế
- Giúp các doanh nghiệp xuất nhập khẩu thuận lợi trong hoạt động thông quan hàng hóa, góp phần thúc đẩy kinh tế trong nước thông qua những thủ tục hải quan ngày càng được cải cách theo hướng đơn giản, minh bạch và hài hòa với chuẩn mực quốc tế
- Hải quan Việt Nam đẩy mạnh các hoạt động hội nhập quốc tế và mở rộng hợp tác phát triển thông qua tăng cường các hoạt động giao lưu, trao đổi, hợp tác, phối hợp tuần tra, kiểm soát với hải quan các nước tiếp giáp, cũng như các lực lượng đứng chân trên địa bàn
Mục tiêu tổng quát đến năm 2020 ngành Hải quan phải xây dựng Hải quan Việt Nam hiện đại, có cơ chế, chính sách đầy đủ, minh bạch, thủ tục hải quan đơn giản, hài hòa đạt chuẩn mực quốc tế, trên nền tảng ứng dụng công nghệ thông tin, xử lý dữ liệu tập trung và áp dụng rộng rãi phương thức quản lý rủi ro, đạt trình độ tương đương với các nước tiên tiến trong khu vực Đông Nam Á Xây dựng lực lượng Hải quan đạt trình độ chuyên nghiệp, chuyên sâu có trang thiết bị, kỹ thuật hiện đại, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả góp phần tạo thuận lợi cho các hoạt động thương mại hợp pháp, phát triển du lịch, thu hút đầu tư nước ngoài, đảm bảo an ninh quốc gia, an toàn xã hội, bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và nghĩa vụ hợp pháp của tổ chức, cá nhân
III: Xu hướng phát triển của hải quan VN trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Việt Nam
3.1.1 Thực trạng hải quan việt nam trong những năm gần đây
Nhìn chung hải quan Việt Nam có những bước tiến đáng kể trong hoạt động từ khi được hình thành đến nay Luật Hải quan (sửa đổi) được Quốc hội thông qua tháng 6/2014 với những quy định mới đã thay đổi căn bản phương thức thực hiện thủ tục hải quan, từ phương thức truyền thống, bán điện tử sang phương thức điện tử
Hải quan việt nam đã áp dụng Hệ thống VNACCS/VCIS vào các quy trình thủ tục hải quan đem lại một số các lợi ích như: giảm thiểu thời gian và chi phí trong quá trình làm thủ tục…tổng cục hải quan đã cập nhật các chính sách mới, công tác cải cách hành
Trang 7chính, đơn giản hóa thủ tục, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp xuất nhập khẩu
Hải quan Việt Nam đã có những đổi mới tích cực phù hợp với sự hội nhập nền kinh tế thế giới khi tham gia vào các tổ chức kinh tế thế giới, tham gia vào các công ước quốc tế về hải quan… cũng góp phần không nhỏ cho hải quan việt nam phát triển hơn ví dụ như khuôn khổ hợp tác Hải quan trong ASEAN thì các nước thành viên cần thống nhất một số vấn đề:
+) Sử dụng danh mục biểu thuế chung để tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp hoạt động trong khu vực thông qua việc tạo ra Danh mục biểu thuế hài hoà ASEAN (AHTN)
+) Liên tục đơn giản hoá và hài hoà hoá các quy trình, thủ tục hải quan để đảm bảo thông quan nhanh hàng hoá, cắt giảm thời gian và chi phí giao dịch tại các cửa khẩu…
+) Ngoài ra thì việt nam cũng áp dụng các công ước quốc tế về hải quan: công ước Kyoto, công ước HS
Hiện nay, ngành Hải quan đang trong quá trình thực hiện Chiến lược phát triển Hải quan đến năm 2020 và Kế hoạch cải cách, phát triển và hiện đại hóa hải quan giai đoạn 2011-2015 (đây là kế hoạch lần thứ 3, kế tiếp 2 kế hoạch của giai đoạn
2004-2006 và 2008-2010)
Tổng cục Hải quan đã tổ chức tập huấn công tác thanh tra, kiểm tra cho các Cục Hải quan tỉnh, thành phố Thực tiễn hoạt động thanh tra của Tổng cục Hải quan thời gian quan đã góp phần tích cực chống thất thu thuế, chống gian lận thương mại, cũng như kịp thời phát hiện những vấn đề còn tồn tại trong các văn bản pháp luật Nhưng đây là một mảng hoạt động khá phức tạp, quá trình thực thi gặp không ít khó khăn
Do đó, để nâng cao hoạt động của công tác thanh tra, kiểm tra, Tổng cục Hải quan đã xây dựng quy trình thanh tra chuyên ngành và quy trình kiểm tra nội bộ
Ngày 10/10/2014, Bộ Tài chính đã ban hành văn bản số 14427/BTC TCHQ hướng dẫn thủ tục hải quan đối với doanh nghiệp ưu tiên trong trường hợp hệ thống khai hải quan điện tử gặp sự cố.Theo hướng dẫn này, khi xảy ra sự cố đối với Hệ thống khai hải quan điện tử (Hệ thống KHQĐT) của doanh nghiệp ưu tiên, để đảm bảo việc thực hiện thủ tục hải quan kịp thời, người khai hải quan có thể thực hiện thủ tục hải quan bằng phương thức thủ công sau khi đã thông báo cho cơ quan Hải quan bằng văn bản hoặc điện thoại hoặc bằng thư điện tử đã đăng ký với cơ quan hải quan về sự cố Hệ thống KHQĐT
Trang 8Về thủ tục hải quan trong trường hợp Hệ thống KHQĐT gặp sự cố được thực hiện theo hướng dẫn tại công văn số 11887/BTC-TCHQ ngày 25/8/2014 của Bộ Tài chính
3.1.2 Thành tích đạt được:
- Thứ nhất, thực hiện thủ tục hải quan điện tử sau quá trình thí điểm và mở rộng thí điểm, đến nay, thủ tục hải quan đã được thực hiện chính thức và “phủ sóng” trên phạm vi cả nước; thủ tục đã được chuyển đổi căn bản từ phương thức thủ công sang điện tử
- Thứ hai, triển khai thành công bước đầu Hệ thống thông quan tự động
VNACCS/VCIS Việc triển khai Hệ thống này được thực hiện đúng kế hoạch, không gây xáo trộn đối với hoạt động XNK, tạo dựng được nền tảng CNTT vững chắc Đây là bước đi quan trọng để nâng cao chất lượng thực hiện thủ tục hải quan điện tử dựa trên nền tảng công nghệ tiên tiến của Nhật Bản, nhằm tạo thuận lợi hơn nữa cho cộng đồng DN và nâng cao hiệu quả quản lí Nhà nước về hải quan
- Thứ ba, thực hiện Cơ chế một cửa quốc gia (NSW) và Cơ chế một cửa ASEAN đảm bảo cam kết của Chính phủ Tổng cục Hải quan đã phối hợp với Bộ Giao thông vận tải, Bộ Công Thương thực hiện kết nối kĩ thuật NSW (tháng 2-2014) và phấn đấu kết nối chính thức vào tháng 11 và tháng 12-2014 Đồng thời tiếp tục thực hiện giai đoạn 2 của NSW với các bộ: Y tế, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Tài nguyên và Môi trường
- Thứ tư, đẩy mạnh thực hiện Chương trình DN ưu tiên để nâng cao hiệu quả của quan hệ đối tác Hải quan- DN Tổng cục Hải quan đang áp dụng chế độ ưu tiên cho 24
DN và phấn đấu đến cuối năm có thể nâng con số này lên 25 hoặc 30 DN
- Thứ năm, nâng cao chất lượng cải cách thủ tục hành chính; Thực hiện việc tiếp nhận, kiểm tra hồ sơ, cấp số và phân luồng tờ khai trong vòng từ 1 đến 3 giây Trước đây, theo Tuyên ngôn phục vụ khách hàng Tổng cục Hải quan cam kết thực hiện quy trình thủ tục này tối đa 30 phút… Đã chủ trì thực hiện cấu phần Nghiên cứu thời gian giải phóng hàng của dự án “Hỗ trợ kĩ thuật tư vấn và chính sách vùng” nhằm công khai hóa thời gian thông quan, làm rõ trách nhiệm của cơ quan Hải quan và các cơ quan liên quan khác để có cơ sở kiến nghị với Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo các bộ, ngành cải cách thủ tục để giảm thời gian thông quan
- Thứ sáu, nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra, kiểm soát hải quan Theo đó, song song với cải cách thủ tục hành chính phải tiếp tục đẩy mạnh công tác chống buôn lậu, gian lận thương mại, đảm bảo an ninh quốc gia và an toàn cộng đồng nhằm mục tiêu cải cách gắn liền với kiểm soát Chú trọng công tác quản lí rủi ro, kiểm tra sau
Trang 9thông quan theo phương pháp quản lí hải quan hiện đại để chuyển mạnh việc kiểm tra từ “tiền kiểm” sang “hậu kiểm”
3.1.3 Những điều còn yếu kém
Trước nhiệm vụ chung của tòan ngành, những năm qua các đơn vị hải quan cơ
sở đã không ngừng đẩy mạnh cải cách thủ tục và hiện đại hóa Hiệu quả của công tác này đã góp phần tích cực giúp ngành Hải quan hòan thành tốt nhiệm vụ đề ra Tuy nhiên, thực tế triển khai công tác này tại các đơn vị hải quan cơ sở đang bộc lộ những bất cập đòi hỏi phải có những giải pháp đồng bộ để khắc phục
-Vẫn còn tồn tại những vướng mắc về thủ tục hải quan cho doanh nghiệp, đặc biệt là các vướng mắc liên quan đến Hệ thống VNACCS/VCIS, thủ tục thông quan, kê khai thuế cho hàng hóa xuất nhập khẩu Theo ý kiến của một số doanh nghiệp thì thời gian thông quan đối với một số lô hàng vẫn còn dài và phức tạp, mẫu tờ khai còn rườm rà và cần thay đổi một số biểu mẫu, giấy tờ hồ sơ
- Với sự phát triển của thương mại quốc tế thì hải quan việt nam gặp phải một số khó khăn mà chúng ta vần chưa khắc phục được hoàn toàn như nạn buôn lậu hàng hóa, rửa tiền, việc lợi dụng các lỗ hổng trong hệ thống luật để trốn thuế, tránh thuế cảu các doanh nghiệp xuất nhập khẩu,quốc tế…
- Về đội ngũ cán bộ, nhân lực ở các đơn vị hải quan còn thiếu và yếu Do yếu tố lịch sử, phần lớn nguồn cán bộ được biên chế vào ngành trước đây là từ các ngành như công an, quân đội, thuế chuyển sang, tuy có nhiệt huyết với nghề nhưng trình
độ chuyên môn, nghiệp vụ còn nhiều hạn chế Bên cạnh đó, do biên chế ít và chính sách đãi ngộ chưa hợp lý nên hải quan địa phương rất khó thu hút nhân tài, tuyển dụng được các đối tượng có trình độ cao, giỏi công nghệ thông tin Điều đó đã tạo nên hiện tượng thừa người hưởng lương, nhưng thiếu những người giỏi Đơn cử tại Cục Hải quan Hà Nội trong 5 năm qua số biên chế chỉ tăng khỏang 20% so với yêu cầu, trong khi lượng công việc tăng gần chục lần, tại Cục Hải quan Long An, đơn vị quản lý hải quan tại 3 tỉnh Long An, Tiền Giang, Bến Tre, đây là cửa ngõ giao thương khu vực miền Tây và một phần của vùng kinh tế trọng điểm miền Đông Nam Bộ nhưng chỉ có
107 biên chế, lực lượng cán bộ quá mỏng so với yêu cầu nhiệm vụ nên nhiều bộ phận phải bố trí làm việc kiêm nhiệm Thiếu số lượng và không đồng đều về chất lượng cán
bộ, cơ sở vật chất phục vụ làm việc không tăng đang là bất cập hạn chế hiệu quả hiện đại hóa và cải cách thủ tục hải quan
- Yếu kém trong công tác quản lý và thủ tục hải quan, trong đó nổi lên là việc tổ chức, triển khai thực hiện cơ chế, chính sách về quản lý và cải cách thủ tục hải quan
Trang 10nhiều trường hợp còn chậm, chưa thật hiệu quả; công tác tham mưu nhằm xây dựng, hoàn thiện các quy định về quản lý và thủ tục hải quan chưa đáp ứng yêu cầu, nhất là theo hướng đơn giản, minh bạch, công bằng, hiệu quả và phù hợp với thông lệ quốc
tế, gây khó khăn cho doanh nghiệp và chưa khắc phục được kẽ hở chuyển giá của các doanh nghiệp “Thủ tục xuất khẩu mất 4 ngày, cao gấp 2 lần so với bình quân khu vực, thủ tục hải quan cho nhập khẩu là 4 ngày trong khi đó bình quân khu vực là 3 ngày”
- Vấn đề cán bộ Hải quan những nhiễu, tham ô đang là một vấn nạn quan trọng Chỉ cần lướt qua mặt báo, sẽ bắt gặp rất nhiều vụ việc về hành vi trái pháp luật, đạo đức nghề nghiệp của cán bộ Hải quan Có thể kể đến như vụ “Để xuất khẩu hàng hóa qua cửa khẩu Mường Khương (Lào Cai) ngoài giờ hành chính, doanh nghiệp phải chi 1-3 triệu đồng phí ngoài giờ, đồng thời bồi dưỡng ông Thượng – Chi cục trưởng Hải quan Mường Khương, Lào Cao 2 triệu đồng cho mỗi container hàng”, hay “Hai cán bộ hải quan “để lọt” 24 container hàng lậu Trung Quốc”, Hai cán bộ hải quan sân bay Nội Bài bị truy tố với cáo buộc tiếp tay cho buôn lậu để nhập trái phép tổ yến từ Malaysia
và Indonesia về Việt Nam, vụ 10 container hàng lậu ngang nhiên qua được "ải" hải quan và "rồng rắn" đánh tháo ra khỏi Cảng Vict (Q.7, TP HCM),… và còn rất nhiều vụ việc khác đã gây sự chú ý của dư luận trong suốt thời gian vừa qua
- Về cơ sở vật chất, nhìn chung các đơn vị hải quan cơ sở đã được đầu tư theo chiều rộng nếu tính đến các số liệu như số máy tính trên tỷ lệ cán bộ, số lượng phần mềm quản lý, đầu mối đơn vị kết nối mạng Internet…Tuy nhiên, chất lượng và hiệu quả của sự đầu tư này chưa cao, thậm chí còn dàn trải, gây lãng phí Qua thực tế các đơn vị hải quan ở vùng xa, vùng biên giới như Móng Cái (Quảng Ninh), Cha Lo (Quảng Bình), La Lay (Quảng Trị) và Cầu Treo ( Hà Tĩnh)…chất lượng đường truyền dữ liệu chưa được tốt, công tác truyền, nhận thông tin nội bộ đến các đơn vị hải quan cửa khẩu này cũng hay gặp lỗi, thường xuyên trục trặc Cùng với đó là nhà làm việc, trang thiết bị ở hải quan cơ sở phần lớn được xây dựng từ trước, có chỗ, có nơi không phù hợp với trang bị hiện đại hóa
3.2 Xu hướng phát triển của nền kinh tế việt nam trong thời hội nhập
Toàn cầu hoá kinh tế là xu thế tất yếu biểu hiện sự phát triển nhảy vọt của lực lượng sản suất do phân công lao động quốc tế diễn ra ngày càng sâu rộng trên phạm
vi toàn cầu dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học công nghệ và tích tụ tập trung
tư bản dẫn tới hình thành nền kinh tế thống nhất Sự ra đời của các tổ chức kinh tế thế giới như WTO, EU, AFTA và nhiều tam giác phát triển khác cũng là do toàn cầu hoá đem lại Theo xu thế chung của thế giới, Việt Nam đã và đang từng bước cố gắng chủ động hội nhập kinh tế quốc tế Đây không phải là một mục tiêu nhiệm vụ nhất thời mà là vấn đề mang tính chất sống còn đối với nền kinh tế Việt Nam hiện nay cũng