Các hệ sinh thái biển Việt Nam trên thực tế đã trong trạng thái bị tác động mạnh mẽ từ lâu do các hoạt động của con người mà sự kiện ô nhiễm ven biển miền Trung năm 2016 là một phát lộ l
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
KHOA ĐỊA LÝ -000 -
Môn học
SỬ DỤNG HỢP LÝ TÀI NGUYÊN VÀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
Hướng nghiên cứu: Tài nguyên biển
TÀI NGUYÊN SINH VẬT BIỂN VIỆT NAM
Học viên: Nguyễn Ngọc Tuấn
Hà Nội –2019
Trang 2MỤC LỤC
1 Mở đầu 4
2 Mục tiêu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu 6
2.1 Mục tiêu nghiên cứu 6
2.2 Đối tượng nghiên cứu 6 2.3 Phạm vi nghiên cứu 6
3 Cơ sở lý thuyết 6
3.1 Tài nguyên là gì? 6
3.2 Phân loại tài nguyên 6 3.3 Tài nguyên biển và tài nguyên sinh vật biển 7
4 Hiện trạng một số tài nguyên sinh vật biển Việt Nam 7
4.1 Thực phật phù du (TVPD) 7
Thành phần loài 7
Mật độ TVPD 7
4.2 Động vật phù du (ĐVPD) 8
Thành phần loài 8
Sinh vật lượng 10
Ước tính trữ lượng động vật phù du là thức ăn của cá 11
4.3 Động vật đáy (ĐVĐ) 11
Thành phần loài 11
Khối lượng ĐVĐ 12
4.4 Trứng cá, Cá con 13
Thành phần loài 13
Mật độ cá con 14
Phân bố cá con 14
4.5 Nguồn lợi gần bờ 15
Thành phần loài 15
Năng suất khai thác và phân bố 16
Trang 3 Trữ lượng tức thời 17
4.6 Nguồn lợi xa bờ (NLXB) 20
Thành phần loài 20
Phân bố nguồn lợi hải sản cá nổi lớn 20
5 Sự suy giảm tài nguyên sinh vật biển 21
6 Tiềm năng, thách thức và định hướng sử dụng hợp lý tài nguyên phát triển bền vững 23
6.1 Tiềm năng sinh vật biển 23
6.2 Thách thức không nhỏ 24
Ô nhiễm khu vực biển ven bờ 24
Phát triển nóng các không gian biển 25
6.3 Định hướng phát triển và khuyến nghị chính sách 27
7 Tài liệu tham khảo 29
Trang 41 Mở đầu
Với hơn 3.260 km bờ biển bao bọc 29 tỉnh, thành dọc theo chiều dài đất nước, ViệtNam là một quốc gia có lợi thế về phát triển kinh tế biển Chiến lược biển Việt Nam đếnnăm 2020 xác định nước ta phải trở thành quốc gia giàu mạnh về biển, phát triển kinh tế -
xã hội kết hợp với an ninh - quốc phòng, bảo vệ môi trường, đảm bảo theo hướng quản lýtổng hợp, liên kết giữa các vùng biển, ven biển, hài đảo và nội địa
Với kỳ vọng đến năm 2020 kinh tế biển và ven biển sẽ đóng góp khoảng 53-55%GDP cả nước, nhiều chương trình, dự án phát triển đã và đang được triển khai, bao gồm hệthống khu công nghiệp, khu chế xuất bám biển, các nhà máy nhiệt điện, hệ thống cảngbiển, các khu du lịch nghỉ dưỡng ven biển, chương trình phát triển đánh bắt xa bờ vv Tuynhiên, cùng với sự khởi sắc về kinh tế của nhiều khu vực biển, xu hướng phát triển nóngcũng đang bộc lộ nhiều bất cập và rủi ro đối với môi trường cũng như mục tiêu phát triểnhài hòa mà Chiến lược biển đặt ra
Các hệ sinh thái biển Việt Nam trên thực tế đã trong trạng thái bị tác động mạnh mẽ
từ lâu do các hoạt động của con người mà sự kiện ô nhiễm ven biển miền Trung năm 2016
là một phát lộ lớn nhất Bất cập và yếu kém trong quản lý môi trường nội địa, thiếu kiểmsoát xả thải công nghiệp, các phương thức khai thác, đánh bắt hủy diệt, các quyết địnhthay thế hệ thống rừng ngập mặn bởi trang trại nuôi trồng thủy sản Tất cả đã làm thay đổicăn bản môi trường tự nhiên ven biển Bên cạnh đó, tình trạng chồng lấn giữa các quyhoạch phát triển kinh tế, du lịch và bảo tồn cũng đe dọa nghiêm trọng sự tồn vong củanhững hệ sinh thái tự nhiên quý giá, ít ỏi còn lại Khi buộc phải lựa chọn trong cùng mộtkhu vực địa lý có nhiều tiềm năng thì "phe thắng" thường thuộc về các lĩnh vực khaikhoáng, phát triển du lịch thay vì bảo tồn thiên nhiên hay đầu tư năng lượng tái tạo Trongkhi đó, cuộc đua cạnh tranh phát triển cấp tỉnh cũng không vô can, thậm chí góp phần phá
vỡ các quy hoạch phát triển biển - một tình trạng được nhiều chuyên gia đánh giá là nhữngcuộc đua xuống đáy
Đáng chú ý là với xu hướng chung của biển đổi toàn cầu, biển Việt Nam cũngkhông phải ngoại lệ Nguồn lợi thủy sản đang trên đà giảm sút và nhiều loài có giá trị kinh
tế lớn đang bị khai thác cạn kiệt, thậm chí bị tiêu diệt Ngoài ra, với sự gia tăng khôngngừng của chất thải từ đất liền, cộng với tình trạng ấm lên toàn cầu, hiện tượng thủy triều
đỏ bùng phát ngày càng nhiều, tác động tiêu cực đến hệ sinh thái biển và con người Các
Trang 5hệ sinh thái san hô và cỏ biển của Việt Nam dưới tác động gián tiếp và trực tiếp của conngười đang trên đà suy thoái nghiêm trọng Trong khi đó, hệ thống khu bảo tồn biển hiệncũng vẫn khá khiêm tốn và chưa đáp ứng nhu cầu duy trì, bảo tồn đa dạng sinh học vànguồn lợi biển.
Biển rộng lớn nhưng không vô tận Thế giới đang chứng kiến sự thay đổi nhanhchóng của biển và đại dương trong xu thế đáng báo động Muốn phát triển dựa vào biển vàhưởng lợi từ biển, Việt Nam cần phải cân bằng giữa khai thác và bảo tồn chính những giátrị mà biển mang lại Đặc biệt, để có thể hiện thực hóa kỳ vọng của Chiến lược biển, cần
có quy hoạch tổng thể cho phát triển ven biển Việt Nam và quy hoạch ấy phải tính đến cácyếu tố bền vững môi trường, an ninh sinh thái biển, cân bằng giữa phát triển ven bờ và cácngành kinh tế dựa vào biển Song song với đó, cần ưu tiên mở rộng hệ thống khu bảo tồnbiển và hải đảo để kiến tạo những khu dự trữ dài hạn, đồng thời thúc đẩy hợp tác quốc tế
và khu vực nhằm giải quyết hòa bình các nguy cơ xung đột lợi ích từ biển, xây dựng cácsáng kiến hợp tác chia sẻ nguồn lợi từ biển và bảo tồn biển để tìm kiếm sự thịnh vượngchung
Tài nguyên sinh vật biển hiện nay đang ngày càng có xu hướng cạn kiệt dần bởi cáchoạt động khai thác quá mức, hoạt động khai thác có tính chất hủy diệt và tác động xấu
của môi trường suy thoái (Bùi Đình Chung và nnk, 1997; Bùi Đình Chung và nnk, 2003; Phạm Thược, 2004) Mặc dù đã có một số chương trình nghiên cứu liên quan đến một số
sinh vật biển vùng biển Việt Nam trong thời gian gần đây, đặc biệt là các tiểu dự án I.9thuộc đề án 47 đã xác định được hiện trạng nguồn lợi hải sản ở biển Việt Nam ở vùng biển
xa bờ (vùng lộng và vùng khơi), bước đầu bài viết này nêu nên hiện trạng sinh vật biểnViệt Nam cùng với sự suy giảm sinh vật biển và kiến nghị sử dụng hợp lý tài nguyên sinhvật biển
Trang 62 Mục tiêu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
+ Đánh giá thành phần loài sinh vật biển
2.2 Đối tượng nghiên cứu
- Một số loài sinh vật biển Việt Nam
2.3 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: vùng đặc quyền kinh
tế biển Việt Nam (hình 1)
Hình 1: Phạm vi vùng biển Việt Nam
3 Cơ sở lý thuyết
3.1 Tài nguyên là gì?
Tài nguyên là con người, tài sản, nguyên vật liệu, nguồn vốn có thể sử dụng để đạt
được một mục đích Tài nguyên thiên nhiên là tài nguyên xuất hiện trong tự nhiên có thể
sử dụng để tạo ra lợi ích Tài nguyên thiên nhiên là một đặc tính hoặc một hợp phần của
môi trường tự nhiên có giá trị phục vụ cho nhu cầu của con người như đất, nước, động vật,thực vật, v.v Tài nguyên thiên nhiên có giá trị kinh tế và giá trị phi kinh tế [4, 5]
3.2 Phân loại tài nguyên
Tài nguyên tái tạo (nước ngọt, đất, sinh vật v.v ) là tài nguyên có thể tự duy trìhoặc tự bổ sung một cách liên tục khi được quản lý một cách hợp lý Tuy nhiên, nếu sửdụng không hợp lý, tài nguyên tái tạo có thể bị suy thoái không thể tái tạo được Ví dụ: tàinguyên nước có thể bị ô nhiễm, tài nguyên đất có thể bị mặn hoá, bạc màu, xói mòn v.v
Trang 7Tài nguyên không tái tạo là loại tài nguyên tồn tại hữu hạn, sẽ mất đi hoặc biến đổi
sau quá trình sử dụng Ví dụ như tài nguyên khoáng sản của một mỏ có thể cạn kiệt saukhi khai thác
Tài nguyên năng lượng vĩnh cửu (năng lượng mặt trời, gió, sóng, thủy triều, )
được nghiên cứu sử dụng ngày một nhiều, thay thế dần các năng lượng đang bị cạn kiệt vàhạn chế được tình trạng ô nhiễm môi trường
3.3 Tài nguyên biển và tài nguyên sinh vật biển
Tài nguyên biển bao gồm các tài nguyên sinh vật và phi sinh vật như đất, nước,
băng nằm trong hoặc nằm dưới một vùng biển và cả động vật hoang dã sống trong mộtvùng thường xuyên, tạm thời hoặc theo mùa vụ Tài nguyên biển là một phạm trù rộng đểchỉ các tài nguyên sinh vật biển (động và thực vật), nước và dòng chảy, đáy biển và bờbiển có chủ thể Nó còn bao gồm các tài nguyên văn hoá có chủ thể, từ xác tàu đắm, đènbiển cho đến các di chỉ khảo cổ, lịch sử văn hoá của cộng đồng bản địa
Tài nguyên sinh vật biển là tất cả các loài thực vật, động vật sống ở biển có ích
được sử dụng để tạo ra giá trị
4 Hiện trạng một số tài nguyên sinh vật biển Việt Nam
4.1 Thực phật phù du (TVPD)
Thành phần loài
Vùng biển gần bờ: Kết quả nghiên cứu vùng biển gần bờ chuyến khảo sát mùa gió
Tây Nam năm 2018 trên toàn vùng biển Việt Nam đã xác định được 398 loài thực vật phù
du thuộc 4 ngành tảo, bao gồm: ngành tảo Silic (Bacillariophyta) có 208 loài, chiếm52,2%; ngành tảo Giáp (Pyrrophyta) có 185 loài, chiếm 46,5%; ngành tảo Lam(Cyanobacteria) có 3 loài, chiếm 0,8%; và ngành tảo Kim (Silicoflagellata) có 2 loài,chiếm 0,5%
Vùng biển xa bờ: Thành phần loài TVPD bắt gặp tại 60 trạm thu mẫu trong chuyến
khảo sát tháng 8-9/2018 ở vùng biển xa bờ đã xác định được 339 loài TVPD thuộc 4ngành tảo, bao gồm: ngành tảo Silic (Bacillariophyta) có 173 loài, chiếm 51,0%; Ngànhtảo Giáp (Pyrrophyta) có 162 loài, chiếm 47,8%; ngành tảo Lam (Cyanobacteria) có 3 loài,chiếm 0,9%; và ngành tảo Kim (Silicoflagellata) có 1 loài, chiếm 0,3%;
Trang 9Bảng 1 Mật độ (x103 tb/m3) TVPD trong các vùng biển Việt Nam
(Tây Nam)
Năm 2016 (Đông Bắc)
Năm 2013 (Tây Nam)
Năm 2013 (Đông Bắc)
(Nguồn : Trung tâm quan trắc môi trường biển - VNCHS)
Mật độ TVPD ở vùng biển xa bờ trong mùa gió Tây Nam năm 2018 dao động từ3,7x103 - 27.000x103 tb/m3, trung bình là 997x103 tb/m3
Phân bố TVPD ở vùng biển gần bờ (trái) và vùng biển xa bờ (phải) năm 2018
Trang 104.2 Động vật phù du (ĐVPD)
Thành phần loài
Trong vùng biển gần bờ vào mùa gió Tây Nam đã bắt gặp 197 loài ĐVPD thuộc 5ngành động vật và 8 nhóm ấu trùng phù du Trong đó: Ngành Giun đốt (Annelida) có 9loài chiếm 4,56 %; ngành Chân khớp (Arthropoda) có 141 loài chiếm 71,57 %; ngành
Thân mềm (Mollusca) có 20 loài chiếm 10,15 %; ngành Hàm tơ (Chaetognata) có 12 loài
chiếm 6,09 %; ngành Tiền dây sống (Protochordata) có 17 loài chiếm 8,6 %
ĐVPD có thành phần loài phong phú nhất ở vùng biển Trung Bộ với 174 loài, đứngthứ 2 là vùng biển Đông Nam Bộ với 150 loài, tiếp theo là vùng biển Tây Nam Bộ với 111loài và thấp nhất là vùng biển Vịnh Bắc Bộ với 100 loài
(Nguồn : Trung tâm quan trắc môi trường biển - VNCHS)
Vùng biển xa bờ cũng đã bắt gặp 197 loài ĐVPD thuộc 5 ngành động vật và 8 nhóm
ấu trùng phù du, cùng số lượng nhưng có khác thành phần loài so với vùng biển điều tranguồn lợi hải sản tầng đáy Trong tổng số loài ĐVPD đã bắt gặp, ngành Giun đốt(Annelida) có 11 loài chiếm 5,58%; ngành Chân khớp (Arthropoda) có 141 loài, chiếm
71,57%; ngành Thân mềm (Mollusca) có 18 loài, chiếm tỷ lệ 9,13%; ngành Hàm tơ
(Chaetognata) có 13 loài chiếm 6,59 %; ngành Tiền dây sống (Protochordata) có 14 loàichiếm 7,1%
Bảng 3 Tỷ lệ các nhóm ĐVPD vùng biển xa bờ Việt Nam
Trang 11Đối với vùng biển gần bờ: Năm 2018 sinh vật lượng trung bình ĐVPD đạt 403 ct/m³
- 123,07 mg/m³ Có sự chênh lệch về sinh vật lượng ĐVPD trong các vùng biển điều tra
Số lượng trung bình ĐVPD cao nhất ở Vịnh Bắc Bộ với 814 ct/m³ và thấp nhất ở ĐôngNam Bộ với 171 ct/m³, xu thế này cũng giống với kết quả nghiên cứu năm 2013 Khốilượng trung bình ĐVPD cao nhất ở Vịnh Bắc Bộ với 230,62 mg/m³ và cũng thấp nhất ởĐông Nam Bộ với 269,82 mg/m³
Đối với vùng biển xa bờ: Kết quả nghiên cứu cho thấy mật độ ĐVPD ở vùng biển xa
bờ Việt Nam năm 2018 có sự biến động lớn so với các năm 2011 và 2012 Năm 2018, mật
độ ĐVPD trung bình trong toàn vùng biển là 142 ct/m³ cao hơn đáng kể so với mật độtrung bình trong năm 2012 là 92 ct/m³ và thấp hơn so với năm 2011 là 158 ct/m³ Ngượclại, khối lượng trung bình ĐVPD cũng giảm đáng kể so với năm 2011 và năm 2012
Trang 12Phân bố ĐVPD ở vùng biển gần bờ (trái) và vùng biển xa bờ (phải) năm 2018
Ước tính trữ lượng động vật phù du là thức ăn của cá
Nguồn lợi sinh vật khai thác có thể được đánh giá và dự báo trên cơ sở nghiên cứunguồn thức ăn của chúng trong môi trường biển Khối lượng ĐVPD trên một đơn vị diệntích được tính từ độ sâu 0m - đáy (là toàn bộ khối lượng ĐVPD có trong lớp nước 0m -đáy quy trên một đơn vị diện tích)
Đối với vùng biển gần bờ: Với diện tích vùng biển nghiên cứu là 491 nghìn km²,
ước tính trữ lượng tức thời của ĐVPD là thức ăn của cá đạt 2.452.000 tấn Theo các vùngbiển nghiên cứu, trữ lượng ĐVPD ở vùng biển Đông Nam Bộ cao nhất, tiếp đến là vùngbiển Vịnh Bắc Bộ, Trung Bộ và thấp nhất là vùng biển Tây Nam Bộ, xu thế này không có
sự thay đổi qua các năm 2013, 2016 và 2018
Trang 13Vịnh Bắc Bộ Trung Bộ Đông Nam Bộ Tây Nam Bộ 0
200 400 600 800 1000
Bảng 4 Số lượng thành phần loài ĐVĐ ở các vùng biển nghiên cứu,trong mùa gió Tây Nam năm 2018
Nhóm ĐVĐ
Vịnh Bắc Bộ
Trung Bộ
Đông Nam Bộ
Tây Nam Bộ
Toàn vùng biển
Trang 14ĐVĐ thấp nhất, trung bình đạt 1,18g/m2 Trong các nhóm ĐVĐ, nhóm thân mềm có khốilượng cao nhất (trung bình 1,67g/m2), tiếp đến là nhóm giun và nhóm da gai (cùng đạt0,55g/m2), nhóm giáp xác có khối lượng thấp nhất (0,28g/m2) Tuy nhiên theo vùng biểnđiều tra, vùng biển Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ có khối lượng của nhóm thâm mềm lớnnhất, vùng biển Trung Bộ có khối lượng của nhóm da gai và giun cao nhất (Bảng 5).
Bảng 5 Khối lượng của các nhóm ĐVĐ cỡ nhỏ ở các vùng biển Việt Nam, mùa gióTây Nam năm 2018
(Nguồn: Viện nghiên cứu hải sản)
Phân bố ĐVĐ vùng biển Việt Nam năm 2018
Trang 154.4 Trứng cá, Cá con
Thành phần loài
Năm 2018, qua chuyến điều tra thu mẫu trứng cá cá con, đại diện cho mùa gió TâyNam (tháng 8-9) ở vùng biển xa bờ Trung Bộ và Đông Nam Bộ, đã xác định được 61loài/nhóm loài, 45 giống thuộc 46 họ, chiếm 98% tổng số cá con Trong đó cá con đã xácđịnh được 46 họ, Ngoài ra còn 2% tổng số cá con chưa xác định được
Thành phần loài cá con phong phú nhất bắt gặp ở các họ cá Thu Ngừ - Scombridae,
họ cá Khế - Carangidae, họ cá Trỏng - Engraulidae, họ cá Bơn lưỡi - Cynoglossidae, họ cáLiệt - Leiognathidae, họ cá Chai - Platycephalidae và họ cá Nhồng - Sphyraenidae (xácđịnh được từ 3 đến 5 loài/nhóm loài) Tiếp theo là họ cá Tuyết tê giác - Bregmacerotidae,
họ cá Đàn lia - Callionymidae, họ cá Bơn vỉ - Bothidae, họ cá Hồng - Lutjanidae, họ cá Bò
da Monacanthidae, họ cá Phèn Mullidae, họ cá Lượng Nemipteridae, họ cá Song Serranidae và họ cá Mối - Synodontidae xác định được 2 loài/nhóm loài trong mỗi họ Các
-họ cá khác, xác định được 1 loài/nhóm loài trong -họ hoặc chỉ phân loại được ở mức độ -họ
Mật độ cá con
Mật độ cá con ở vùng biển Việt Nam trong mùa gió Tây Nam năm 2018 trung bìnhđạt 431 cá con/1000m3 nước Khu vực có mật độ trứng cá, cá con trung bình cao nhất làvùng biển Tây Nam Bộ đạt 581 cá con/1000m3 nước Cá con chiếm ưu thế là các loàithuộc họ cá Căng - Teraponidae và cá Phèn - Mullidae Vùng biển Trung Bộ và vịnh Bắc
Bộ có mật độ cá con bắt gặp thấp hơn, dao động trong khoảng từ 232 đến 735 cáthể/1000m3 nước Thấp nhất là vùng biển Đông nam Bộ và xa bờ, trung bình đạt 146 cáthể/1000m3 nước
Trang 16 Phân bố cá con
Kết quả nghiên cứu mùa gió Tây Nam năm 2018 (tháng 8-9) cho thấy cá con tậptrung với mật độ cao nhất ở vùng biển Trung Bộ (khu vực biển Đà Nẵng, tiếp đến là vùngbiển Tây Nam Bộ (xung quanh khu vực đảo Thổ Chu) và vùng biển vịnh Bắc Bộ (vùngbiển ven bờ Thanh Hóa - Hà Tĩnh) và thấp nhất là vùng biển Đông Nam Bộ (cao nhất cũngchỉ đạt khảng 500-800 cá thể/1000m3 ở vùng biển Bình Thuận
4.5 Nguồn lợi gần bờ
Thành phần loài
Năm 2018 đã bắt gặp 581 loài/nhóm loài thuộc 143 họ, 265 giống Thành phần loài
có sự khác biệt giữa các vùng biển và giữa các dải độ sâu Vùng biển Đông Nam Bộ có sốlượng thành phần loài đa dạng nhất với 372 loài được xác định, vùng biển Trung Bộ (343loài), vùng biển vịnh Bắc Bộ (241 loài) và thấp nhất ở vùng biển Tây Nam Bộ là 224 loài(Bảng 6)
Bảng 6 Số lượng họ, giống, loài/nhóm loài bắt gặp quá các chuyến điều tra mùagió Tây Nam năm 2018