1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu xây dựng hệ thống chỉ tiêu phát triển bền vững về sinh thái và tài nguyên sinh vật ở Việt Nam

120 1K 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu xây dựng hệ thống chỉ tiêu phát triển bền vững về sinh thái và tài nguyên sinh vật ở Việt Nam
Tác giả Lê Văn Hữu
Người hướng dẫn PGS.TS. Lê Xuân Cảnh, TS. Nguyễn Danh Sơn
Trường học Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
Chuyên ngành Kỹ thuật môi trường, Khoa học sinh thái
Thể loại Luận án
Năm xuất bản 2013
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 120
Dung lượng 3,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CÁC TỪ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU SỬ DỤNG TRONG LUẬN ÁNHDI-UNDP Chỉ số phát triển nguồn nhân lực của UNDP NCSD Hội đồng phát triển bền vững quốc gia thuộc các nướcOECD Tổ chức hợp tác và phát t

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân, nội dung nghiêncứu xuất phát từ yêu cầu thực tế trong công tác quản lý nhà nước về tài nguyên vàmôi trường

Kết quả trình bày trong luận án là trung thực, chưa từng được công bố trướcđây./

Hà Nội, ngày 18 tháng 6 năm 2013

TÁC GIẢ LUẬN ÁN

Lê Văn Hữu

Trang 2

Tôi xin trân trọng cảm ơn Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật thuộc ViệnHàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Tổng Cục thống kê và Văn phòng Pháttriển bền vững thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Sở Tài nguyên và Môi trường BìnhThuận đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu, thực hiện luận án tiến sỹ.

Tôi xin trân trọng cám ơn Quỹ Hỗ trợ Sáng tạo Kỹ thuật Việt Nam(VIFOTEC), Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam và Vụ Kế hoạch, BộTài nguyên và Môi trường, nơi tôi đã và đang công tác tạo mọi điều kiện thuận lợi,giúp đỡ tôi hoàn thành khóa đào tạo tiến sỹ

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn của mình tới cơ quan, thầy cô giáo, gia đình, đồngnghiệp và bạn bè những người luôn bên cạnh động viên, khích lệ, giúp đỡ tôi trongsuốt quá trình học tập và nghiên cứu

Tôi xin gửi lời cảm ơn trân trọng tới sự giúp đỡ quý báu đó./

Hà Nội, ngày 18 tháng 6 năm 2013

NGHIÊN CỨU SINH

Lê Văn Hữu

Trang 3

1 Một số khái niệm, quan điểm liên quan đến phát triển bền

vững và hệ thống chỉ tiêu phát triển bền vững

11

1.2 Quan điểm về con đường phát triển bền vững hiện thực 111.3 Bối cảnh thực tiễn phát triển bền vững trên thế giới 121.4 Một số nguyên tắc phát triển bền vững cơ bản 211.5 Khái niệm về ngưỡng phát triển trên con đường tiến tới phát

3 Tổng quan về hệ thống chỉ tiêu phát triển bền vững trong

đó có lĩnh vực về sinh thái và tài nguyên sinh vật

24

4 Tổng quan về phương pháp tổng hợp, phân tích và kinh

nghiệm xây dựng các chỉ tiêu, chi số phát triển bền vững,

trong đó có liên quan đến lĩnh vực sinh thái và tài nguyên

sinh vật

30

5 Tổng quan nghiên cứu về phát triển bền vững về sinh thái

và tài nguyên sinh vật ở Việt Nam

34

Chương II ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU

Trang 4

3.1 Phương pháp thu thập, phân tích các tài liệu và số liệu đã có

liên quan đến PTBV ở Việt Nam

36

3.2 Phương pháp thu thập, phân tích các tài liệu và số liệu thực

địa tại tỉnh Bình Thuận

1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội của Việt Nam và tỉnh

Bình Thuận

40

1.1 Đặc điểm tự nhiên và kinh tế xã hội của Việt Nam 40

1.2 Đặc điểm tự nhiên và kinh tế xã hội tỉnh Bình Thuận 46

2 Xây dựng hệ thống chỉ tiêu phát triển bền vững về sinh

thái và tài nguyên sinh vật ở Việt Nam

57

2.1 Xây dựng các nguyên tắc đánh giá về phát triển bền vững sinh

thái và tài nguyên sinh vật

58

2.2 Đề xuất hệ thống chỉ tiêu phát triển bền vững về sinh thái và

tài nguyên sinh vật ở Việt Nam

64

2.3 Phương pháp tính toán các chỉ tiêu, chỉ số phát triển bền vững

về sinh thái và tài nguyên sinh vật ở Việt Nam

66

2.3.1 Phương pháp tính toán hệ thống chỉ tiêu phát triển bền vững

về sinh thái và tài nguyên sinh vật ở Việt Nam

66

2.3.2 Xây dựng phương pháp tính toán các chỉ số đánh giá tính bền

vững về sinh thái và tài nguyên sinh vật (ISDEBR)

68

2.4 Ứng dụng phương pháp xử lý thống kê hiện đại để tính toán

chỉ tiêu và chỉ số phát triển bền vững

76

2.5 So sánh các ưu và nhược điểm giữa phương pháp xử lý thống

kê cổ điển và phương pháp xử lý thống kê hiện đại trong việc

78

Trang 5

tính toán chỉ tiêu, chỉ số đánh giá tính bền vững về sinh thái và

tài nguyên sinh vật

3 Kết quả thử nghiệm hệ thống chỉ tiêu phát triển bền vững

về sinh thái và tài nguyên sinh vật tại tỉnh Bình Thuận

80

4 Kết quả nghiên cứu và đề xuất giải pháp thực hiện phát

triển bền vững về sinh thái và tài nguyên sinh vật ở Việt

4.4 Tăng cường sự tham gia của cộng đồng vào việc đưa ra quyết

định, quản lý và cung cấp tài chính

93

4.5 Giải pháp thực hiện có hiệu quả phát triển bền vững về sinh

thái và tài nguyên sinh vật

93

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

1 Xây dựng hệ thống chỉ tiêu phát triển bền vững về sinh

thái và tài nguyên sinh vật ở Việt Nam

99

2 Nghiên cứu, xây dựng phương pháp tính toán các chỉ tiêu,

chỉ số phát triển bền vững về sinh thái và tài nguyên sinh

vật ở Việt Nam

99

3 Nghiên cứu và thử nghiệm hệ thống chỉ tiêu phát triển bền

vững về sinh thái và tài nguyên sinh vật ở tỉnh Bình Thuận

99

4 Đề xuất giải pháp thực hiện phát triển bền vững về sinh

thái và tài nguyên sinh vật ở Việt Nam

99

Trang 6

CÁC TỪ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU SỬ DỤNG TRONG LUẬN ÁN

HDI-UNDP Chỉ số phát triển nguồn nhân lực của UNDP

NCSD Hội đồng phát triển bền vững quốc gia (thuộc các nước)OECD Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế

PPP Sức mua tương đương (về tiền tệ)

RESI Chỉ số phát triển bền vững về tài nguyên

RESIVN Chỉ số phát triển bền vững về tài nguyên của Việt Nam

REESI Chỉ số phát triển bền vững về tài nguyên và môi trường REESIVN Chỉ số phát triển bền vững về tài nguyên và môi trường của

Việt NamISDEBRVN Chỉ số phát triển bền vững về sinh thái và tài nguyên sinh vật

Trang 7

UNEP Uỷ ban môi trường Liên Hợp Quốc

UNESCO Tổ chức giáo dục, khoa học và văn hoá của thuộc Liên Hợp

Quốc VOC Chất hữu cơ bay hơi

Tiếng Việt:

ANQP An ninh quốc phòng

BOD5 Nhu cầu oxy sinh hoá đo ở 20 0C, trong 5 ngày

BVMT Bảo vệ môi trường

GTVT Giao thông vận tải

KH&ĐT Kế hoạch và đầu tư

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Như chúng ta đã thấy, mỗi một đất nước, quốc gia trên thế giới đều đặt mụctiêu tăng trưởng kinh tế lên hàng đầu Do đó, việc khai thác tài nguyên thiên nhiênquá mức và phát triển các ngành công nghiệp nặng là điều tất yếu [26].Vì vậy, hiệnnay hầu hết tất cả các nước phát triển và đang phát triển đều đang đứng trước mộtthực trạng chung là khan hiếm tài nguyên thiên nhiên, suy giảm đa dạng sinh học,môi trường sinh thái bị suy thoái nghiêm trọng Hậu quả là thiên tai như động đất,sóng thần, bão, lụt, hạn hán diễn ra ngày càng phức tạp và dữ dội

Đứng trước thực trạng đó, các nhà khoa học trên thế giới và các tổ chức môitrường thế giới như UNCEP, IUCN, WWF,UNEP… đã vào cuộc để nghiên cứu làmgiảm thiểu sự suy thoái môi trường, phục hồi các hệ sinh thái bị suy thoái Đồngthời tổ chức các cuộc hội nghị lớn trên thế giới về vấn đề môi trường toàn cầu vàphát triển bền vững nhằm kêu gọi các nước cùng cam kết thực hiện quy ước chung

về sự phát triển bền vững [14]

Để đánh giá sự phát triển bền vững của một vùng hay một quốc gia, các nhàkhoa học trên thế giới đã đi sâu nghiên cứu và xây dựng các hệ thống chỉ tiêu baogồm cả về lĩnh vực môi trường, kinh tế - xã hội, tài nguyên sinh vật Tuy nhiên, ởmỗi vùng khác nhau thì hệ thống chỉ tiêu này cũng khác nhau và mức độ quan trọngcũng khác nhau [20]

Việt Nam là một nước nằm trong vành đai khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng

ẩm, với sự thay đổi từ điều kiện khí hậu nhiệt đới điển hình ở những vùng đất thấpphía Nam đến các đặc điểm mang tính chất cận nhiệt đới ở các vùng núi cao phíaBắc Thêm vào đó, Việt Nam có nhiều dạng địa hình khác nhau tạo điều kiện cho sự

đa dạng sinh vật và phong phú tài nguyên [45] Vì vậy, để đánh giá một vùng, mộtkhu vực hay toàn bộ lãnh thổ Việt Nam có phát triển bền vững hay không là rất khókhăn và phức tạp

Mặt khác, việc đánh giá sự phát triển bền vững về lĩnh vực sinh thái và tàinguyên sinh vật ở Việt Nam nói riêng và thế giới nói chung đang là vấn đề rất mới

Có thể khẳng định rằng, hiện nay ở Việt Nam, trong khu vực và thế giới chưa có

Trang 9

công trình nào đi sâu nghiên cứu, xây dựng hệ thống chỉ tiêu phát triển bền vững vềlĩnh vực sinh thái và tài nguyên sinh vật [9,10,12,13,23,24,30,32,33,34,42,45,46,50] Xuất phát từ yêu cầu thực tế hiện nay trong công tác quản lý nhà nước về tàinguyên và môi trường hiện nay, tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Xây dựng hệ thốngchỉ tiêu phát triển bền vững về sinh thái và tài nguyên sinh vật ở Việt Nam”.

2 Mục tiêu của đề tài

- Xây dựng mới hệ thống chỉ tiêu phát triển bền vững về sinh thái và tàinguyên sinh vật ở Việt Nam

- Đề xuất giải pháp tổ chức thực hiện phát triển bền vững về sinh thái và tàinguyên sinh vật ở Việt Nam

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Đây là công trình khoa học đầu tiên ở Việt Nam nghiên cứu xây dựng hệthống chỉ tiêu phát triển bền vững về lĩnh vực sinh thái và tài nguyên sinh vật Kếtquả của công trình là cơ sở khoa học, có tính thực tiễn cho việc đánh giá mức độphát triển bền vững của các vùng, các tỉnh và toàn lãnh thổ Việt Nam phục vụ côngtác quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường

Trang 10

CHƯƠNG I TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1 Một số khái niệm, quan điểm liên quan đến phát triển bền vững và hệ thống chỉ tiêu phát triển bền vững

1.1 Khái niệm phát triển bền vững

Tổ chức Liên Hợp Quốc (LHQ) đã đưa ra một định nghĩa chính thức về khái

niệm phát triển bền vững nhân loại trong Thiên niên kỷ thứ ba như sau: “Phát triển bền vững là sự phát triển đáp ứng được các nhu cầu hiện tại, mà không làm thương tổn đến khả năng đáp ứng các nhu cầu của các thế hệ tương lai” [20].

Xét theo phạm trù triết học, thì khái niệm phát triển bền vững là tư tưởngnhận thức con người tự sinh (the human freely autogenous ideas), có nội dung tưtưởng và triển khai thực hiện thực tiễn có thể biến đổi rất sâu sắc theo các quy môphạm trù, phạm vi tác động trực tiếp, gián tiếp và liên đới, phụ thuộc vào các điềukiện phát triển thực tiễn cụ thể hoá xem xét, đồng thời; có các tiêu chí định tính vàđịnh hượng hoá một cách rất cụ thể cho sự thành đạt các mục tiêu phát triển bềnvững tự định đã đặt ra Tuy nhiên, trên thực tế đây là loại tư tưởng khó hấp thụ vàkhó triển khai thực tiễn một cách hiệu quả do nó tự nhiên có những cản trở nội tại

và khách quan, cũng như do các mẫu thuẫn cơ bản phát sinh tất yếu trong lịch sửphát triển nhân loại, mà trước hết là mâu thuẫn cơ bản phát sinh giữa nhu cầu pháttriển xã hội và khả năng đáp ứng, rồi đến các mâu thuẫn cơ bản giữa các lợi ích vềthể chế - kinh tế - xã hội và môi trường theo cơ chế thị trường

Một số nội dung phân tích cụ thể về vấn đề lý luận PTBV như được trình bàysau đây

1.2 Quan điểm về con đường phát triển bền vững hiện thực

Tinh thần cốt lõi của Bản Tuyên ngôn Rio De Janeiro năm 1992 và Chươngtrình Nghị sự 21 là sự chung sức và đồng lòng ở quy mô toàn cầu để thực hiện một

sự phát triển lâu bền, khi nhân loại phải đương đầu với tình trạng ngày càng xấu đicủa sự nghèo khó, đói kém, bệnh tật, thất học và sự suy thoái của các hệ sinh thái,vốn là cái nôi sản sinh và nuôi dưỡng của sự sống trên hành tinh chúng ta [19].Trong đó, một thách thức to lớn cho tất cả các quốc gia là làm sao giải quyết một

Trang 11

cách cân đối hài hoà giữa phát triển và môi trường, tức là vừa phải khai thác tàinguyên, thải ra chất thải, vừa phải bảo vệ và quản lý tốt các hệ sinh thái, cải thiệnchất lượng môi trường.

Trong khi đã nhận được sự đồng thuận và nhất trí cao tại Hội nghị LHQ Rio

De Janeiro năm 1992 về Môi trường và Phát triển, thì triết lý tư tưởng “Phát triểnbền vững” vẫn còn đang gây tranh cãi, vì còn có những nhận định cho rằng tư tưởng

ấy rất hay nhưng trong thực tế khó thực hiện, thậm chí chỉ là một ảo tưởng Cáchnhìn bi quan về ngưỡng phát triển và PTBV này phần nào được củng cố thêm, bởinhững kết quả không mấy khả quan trong việc thực hiện Chương trình Nghị sự 21tính cho đến thời điểm hiện nay [46] Trong thực tế của nhiều quốc gia cái vòngluẩn quẩn “nghèo khó - suy thoái môi trường” vẫn còn là một hạn chế rất lớn trêncon đường phát triển

Năm 1992, Hội nghị thượng đỉnh Trái đất, gọi tắt là Rio - 92 tại Rio deJaneiro đã thông qua Tuyên bố Rio de Janeiro về môi trường và phát triển vàChương trình nghị sự 21, đây là một kế hoạch chi tiết về tăng trưởng kinh tế, thúcđẩy công bằng xã hội và bảo vệ môi trường [45]

Năm 2012, Hội nghị thượng đỉnh Trái đất, gọi tắt là Rio + 20 cũng tổ chứctại Rio de Janeiro, Tổng thư lý LHQ Ban ki - moon đã tuyên bố “đặt thế giới vàocon đường phát triển bền vững và phổ quát, trong đó các yếu tố kinh tế, xã hội, môitrường và phúc lợi được cân bằng” [46]

Nhìn chung, quan điểm chủ đạo của các quốc gia thành viên LHQ là bất chấpnhững hạn chế, cản trở và trở ngại còn tồn tại hoặc mức độ thành công còn khákhiêm tốn trong việc triển khai thực hiện Chương trình Nghị sự 21, thì các quốc giavẫn lựa chọn con đường phát triển bền vững, bởi đó là con đường có tính nguyêntắc duy nhất nếu các quốc gia thực sự muốn phát triển lâu bền để đạt tới các ngưỡngphát triển tiến bộ và văn minh nhân loại mới Vấn đề còn lại là tìm kiếm được cácphương tiện và công cụ thật hiệu quả cho việc tổ chức thực hiện nó

1.3 Bối cảnh thực tiễn phát triển bền vững trên thế giới

Bối cảnh PTBV đặc thù trên thế giới là sự phát triển không đồng đều giữacác nước, khu vực và đó là một nguyên nhân chính đang cản trở việc thực hiện

Trang 12

thành công các mục tiêu PTBV và Chương trình Nghị sự 21 của Thế giới một cáchhiệu quả cao, cho nên vấn đề PTBV cần được xem xét trên góc độ các nước pháttriển và các nước đang phát triển như dưới đây [45,46].

1.3.1 Sự phát triển không đồng đều trên thế giới

Từ nhiều thế kỷ trước đây, nhất là trong các thế kỷ CNH ở thời kỳ Cáchmạng kỹ thuật lần thứ nhất, trước hết là tại Châu Âu, các nước công nghiệp đã cónhững bước phát triển mạnh mẽ, rồi dùng vũ lực xâm chiếm và vơ vét tài nguyênthiên nhiên của các nước khác để làm giàu cho mình Rốt cục, sau hơn 300 nămphát triển bành trướng tự phát và cục bộ, trên thế giới đã hình thành một cục diệnphát triển rất không đồng đều, bao gồm chủ yếu hai nhóm nước là: những nướccông nghiệp phát triển (hay nước giàu) và những nước đang phát triển (hay nướcnghèo)

Những NPT có tiềm lực mạnh về kinh tế, khoa học và công nghệ, cho nênkhai thác được nhiều tài nguyên, sản xuất ra nhiều hàng hoá chiếm lĩnh thị trườngthế giới, tiêu thụ nhiều năng lượng, nguyên vật liệu và lương thực - thực phẩm,đồng thời trong quá trình sản xuất và tiêu dùng chính họ cũng làm phát sinh ra mộtkhối lượng khổng lồ các loại chất thải Ngược lại, các NĐPT mà đa số trong vàithập kỷ cuối của Thế kỷ 20 mới vừa thoát khỏi ách nô lệ - thống trị thực dân, nóichung còn nghèo và rất nghèo, mặc dù đã có những mức tăng trưởng nhất định vềkinh tế - xã hội trong thời gian qua Những nước này tuy chiếm đa số trong nhânkhẩu thế giới, nhưng về các mặt sản xuất, tiêu thụ và sản sinh các loại chất thải đềunằm ở mức thấp hơn gấp nhiều lần so với các NPT trên thế giới

Trong khoảng thập kỷ 80, người ta đã tiến hành nghiên cứu, đúc kết và đưa

ra một số tổng kết tổng hợp về thực tiễn phát triển thế giới chính như sau [45]:

(a) Các NPT tuy chỉ chiếm 25% dân số thế giới, nhưng tiêu thụ:

- 75% tổng năng lượng tiêu thụ trên thế giới

- 79% chất đốt thương mại

- 85% sản phẩm gỗ

- 75% sản phẩm kim loại

- 6% lương thực, thực phẩm

Trang 13

- Hơn 150 triệu trẻ em thiếu dinh dưỡng.

- Khoảng 1,5 tỷ người không được chăm sóc sức khoẻ

- 2,8 tỷ người không có điều kiện vệ sinh

Ngay như đến cuối thập kỷ 90, tức là đã trong những năm cuối cùng của Thế

kỷ 20, thì tình hình này cũng chưa có biến chuyển gì tốt hơn và chưa có sự thay đổiđáng kể, bởi vì các mức chênh lệch nêu trên vẫn còn rất lớn Thí dụ:

- Về tiêu thụ năng lượng tính theo theo đầu người, thì mức tiêu thụ thấp nhất(năm 1997) của Ê-tiôpia là 0,294 TOE (tấn dầu quy đổi) và nếu so với mức trungbình của thế giới thì chưa bằng 1/5 Còn nếu lấy mức cao nhất của Hoa Kỳ (ChâuMỹ) là 7,96 TOE, thì mức này gấp 27 lần so với Ê-tiôpia (Châu Phi)

- Về tiêu thụ thịt tính theo đầu người (năm 1998), thì mức trung bình thế giới

là 37 kg cũng gấp mức thấp nhất của Băng-ladet (3 kg) là 12 lần; còn mức cao nhấtcủa Niu - Dilân (137 kg) cũng cao gấp hơn 45 lần so với con số của Băng-ladet

- Tuy nhiên, do những nguyên nhân trong lịch sử phát triển và nhất là do tìnhtrạng phát triển không đồng đều, sự bất bình đẳng và bất công xã hội trong trật tựkinh tế thế giới cũ và mới, các quốc gia nhìn chung có thái độ và trách nhiệm khácnhau đối với sự PTBV của toàn cầu

Trang 14

1.3.2 Thái độ và hành động của các nước đối với phát triển bền vững

Theo tinh thần của Bản Tuyên ngôn Rio De Janeiro năm 1992 và Chươngtrình Nghị sự 21, có thể nói ngắn gọn là: “Tất cả các nước đều có trách nhiệm làmsao cho sự phát triển của mình là lâu bền, không gây tổn hại cho nước khác; cácnước đều có trách nhiệm làm cho sự phát triển chung là lâu bền, trong đó các NPTphải có trách nhiệm nhiều hơn, đi đầu và phải giúp đỡ các NĐPT về mặt con người,tri thức kỹ thuật, thị trường, công nghệ và tài chính” Người ta cũng đã kêu gọi vàtuyên truyền tất cả các nước phải thay đổi lối sản xuất và tiêu dùng hiện nay (hoặccòn gọi là phương thức), tránh tiêu xài và phát thải quá đáng, quá mức [26]

Thừa nhận rằng, trong hơn thập kỷ qua nhất là sau Hội nghị LHQ Rio DeJaneiro năm 1992, sự quan tâm tới môi trường được thể hiện rõ trên toàn thế giới vàtrong mọi quốc gia, trước hết do lợi ích của chính mình và do đòi hỏi của dânchúng, vì mọi người đều ngày càng nhận thức rõ hơn về hậu quả của các hoạt độngcủa con người đối với môi trường [46]

Ví dụ: đã có rất nhiều nỗ lực ở các NPT nhằm giảm mức độ ô nhiễm khôngkhí như: các quốc gia ở Bắc Âu, Tây Âu, Ấn Độ đang tăng nhanh tỷ trọng cácnguồn năng lượng tái tạo, nhất là năng lượng gió trong tổng sản lượng sản xuất vềnăng lượng Các công nghệ sạch, công nghệ thân thiện môi trường được sử dụngngày càng nhiều hơn Các biện pháp tiết kiệm năng lượng cũng được áp dụng trongnhiều lĩnh vực sản xuất và tiêu dùng Tỷ lệ các chất thải được sử dụng, tái chế cũngtăng lên đáng kể, v.v Sinh thái công nghiệp được áp dụng ngày càng phổ biến

Một vấn đề chung được đặt ra cho tất cả các nước là: làm thế nào để có vàthiết lập được mối quan hệ hài hoà giữa các nhu cầu tăng trưởng KT-XH và bảođảm ANQP với khả năng BVMT và PTBV Như chúng ta đã thấy, muốn tăngtrưởng KT-XH và bảo đảm ANQP tất nhiên sẽ phải khai thác, sử dụng nhiều tàinguyên hơn và cũng sẽ phát thải nhiều hơn, mà đương nhiên chu trình phát triển đó

sẽ gây nên các tác động tiêu cực tới môi trường và làm suy giảm năng lực PTBV

Tại các NĐPT, mối quan hệ giữa nghèo khổ và suy thoái môi trường đã tạonên vòng luẩn quẩn cho sự phát triển với rất ít tiến bộ và văn minh xã hội, tuy cóthể đạt được một mức độ bền vững động (nguyên thuỷ hoặc biến đổi tự nhiên) nào

Trang 15

đó Bởi vì, trong điều kiện đó các nước sẽ phải sống dựa nhiều vào vốn thiên nhiên

và bị hạn chế bởi thiếu tri thức kỹ thuật, thiếu vốn, thiếu công nghệ, cho nên năngsuất và hiệu quả lao động thấp, dẫn đến tình trạng sử dụng năng lượng và nguyênliệu với hiệu quả rất thấp, nên sẽ càng tốn nhiều tài nguyên cho sinh nhai và pháttriển, trong khi đó nếu phát sinh các vấn đề môi trường cấp bách sẽ có nhiều vấn đềkhông tự xử lý được và phần lớn đều là sự phó thác vô trách nhiệm cho “khả năng

tự làm sạch” của môi trường tự nhiên, mà điều đó có thể gây ra các mức quá tảikhác nhau cho hệ thống TN&MT, v.v Thậm chí, tại nhiều nơi người dân sẽ phảitìm mọi cách để sinh nhai và sinh sống được, nhất là tìm đến phương thức đơnthuần là khai thác tài nguyên và môi trường một cách sơ khai và rất kém hiệu quả,dẫn đến khả năng tàn phá tài nguyên và môi trường như một kết cục có tính tất yếu

Vì vậy, con đường phát triển thoát nghèo duy nhất là phải tăng trưởng kinh tếgắn liền với thực hiện quá trình CNH, HĐH và ĐTH, gây ra các vấn nạn ô nhiễmmôi trường cấp bách, cho nên xét cho cùng vấn đề ở đây là cần phải tăng trưởngKT-XH và bảo đảm ANQP sao cho phù hợp với các khả năng có thể dành cho việcbảo vệ môi trường và bảo tồn thiên nhiên, không gây nên các ảnh hưởng có tínhchất “sốc và đột biến” đối với môi trường, tức là mức độ ảnh hưởng tới môi trường

là có thể chấp nhận được, có khả năng phục hồi và cải thiện chất lượng môi trườngmột cách dễ dàng [20] Đây thực chất chỉ là một giải pháp có tính chất cuối cùng,buộc phải áp dụng khi không còn phương sách nào khác và giống như một sự chấpnhận được cái giá phải trả cho phát triển KT-XH ở một khuôn khổ khá hài hòa,trong đó ý tưởng của việc xác định “mức độ chấp nhận được” sẽ được đề xuất ởnhững phần sau

Tại các NPT, cũng không thể chỉ nói một cách đơn giản là: “Vì vấn đề môitrường sẽ phải giảm tốc tăng trưởng”, mà ngược lại sẽ vẫn cần tiếp tục tăng trưởngnhư đầu tàu của nền kinh tế thế giới Nếu không, điều này sẽ hạn chế chính sự pháttriển của các nước nghèo do tính chất ngày càng phụ thuộc lẫn nhau của các nềnkinh tế có xu thế toàn cầu hoá Mặt khác, chính sự tăng trưởng và phát triển nóichung tại các NPT cũng có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc triển khai rộng rãicác công nghệ thân thiện môi trường và góp phần giải quyết các vấn đề môi trường

Trang 16

chung của thế giới Vấn đề ở đây là phải có sự thay đổi trong lối sản xuất và lốisống, chứ không chỉ đơn thuần là chú ý tới gia tăng về số lượng Cần phải quan tâmnhiều đến chất lượng và xây dựng mô hình PTBV phù hợp trong các điều kiện pháttriển quá độ

Đối với tất cả các nước (kể cả các NPT và NĐPT) đều phải xây dựng và thựchiện mô hình PTBV của riêng mình, tất nhiên là phải chú trọng và cụ thể hoá nhữngđặc điểm khác nhau, nhất là tầm quan trọng, quy mô và khả năng đáp ứng BVMT.Thí dụ: các NPT thường đặt ưu tiên cho các vấn đề môi trường “nóng” trên toàncầu, kết hợp vấn đề suy giảm tầng ôzôn và việc xử lý các loại chất thải độc hại,trong khi đó các NĐPT lại đặt ưu tiên cho việc thoả mãn những nhu cầu cơ bản đểduy trì và từng bước phát triển, cải thiện cuộc sống con người

Tuy nhiên, để xây dựng và thực hiện mô hình PTBV có thể đề ra một sốnguyên tắc chung, như:

- Phải đặt con người vào trung tâm của mọi suy nghĩ và cân nhắc quyết định

Dù là mô hình nào và dù là ở cấp độ quốc gia hay quốc tế, mục tiêu cuối cùng vẫnphải là bảo vệ và cải thiện cuộc sống của con người, trong cả ngày nay và tương lai.Bảo vệ môi trường và tăng trưởng KT-XH, bảo đảm ANQP đều là các biện phápcần thiết, chứ không phải là mục tiêu cuối cùng Vậy nên, khi cân nhắc quyết định

về mỗi chủ trương hay giải pháp, đều cần phải trả lời thoả mãn cho câu hỏi: nó sẽtạo thêm hoặc sản sinh được lợi ích gì và phúc lợi gì cho tuyệt đại đa số nhân dân?Cho nên, đã có ý kiến cụ thể hoá khái niệm PTBV thực chất là sự phát triển bềnvững về con người Nếu suy nghĩ sâu sắc và vận dụng tốt nguyên tắc này, thì trongnhiều trường hợp có thể tránh được các thái độ cực đoan, cực hữu hay cực tả, hoặcquá coi trọng nhu cầu tăng trưởng hoặc quá coi trọng nhiệm vụ bảo vệ môi trường

và bảo tồn thiên nhiên, đồng thời sẽ bảo đảm được sự lồng ghép hài hoà giữa kinh

tế, xã hội, thể chế và môi trường

- Dù ở các mức độ, điều kiện và khả năng quá độ khác nhau, các nước đềuphải hướng tới việc sử dụng các công nghệ thân thiện môi trường Vì có rất nhiềulĩnh vực sản xuất và dịch vụ, cho nên công nghệ sử dụng hết sức đa dạng, nhưngyếu tố cơ bản và tiêu biểu nhất cho mọi công nghệ chính là khả năng sử dụng năng

Trang 17

lượng, nước và nguyên vật liệu thô như thế nào? Vì nó liên quan đến các chu trìnhsản xuất sản phẩm và phát sinh các chất thải khép kín Ví dụ như: việc sử dụng khíthiên nhiên, công nghệ sạch về đốt than, xăng không pha chì và các bộ biến đổi xúctác, có thể giảm tới 99% sự phát thải các hạt bụi gây ô nhiễm không khí; hoặc việc

sử dụng nước theo chu trình khép kín từ chỗ sử dụng tuần hoàn trong công nghệ sẵn

có, đến việc tái sử dụng nước thải thông qua quá trình xử lý hợp tiêu chuẩn, sẽ làmgiảm đến 90% tình trạng ô nhiễm các nguồn tiếp nhận; hoặc như việc áp dụng côngnghệ sinh thái công nghiệp sẽ tiết kiệm rất lớn các nguyên vật liệu thô và giảm thiểuchất thải gây ô nhiễm

- Đặc biệt có chỉ tiêu rất đáng chú ý, là lượng năng lượng sử dụng cho mộtđơn vị sản phẩm Thí dụ, để sản xuất ra 100 USD của GNP, thì Nhật Bản cần 15 kgdầu quy đổi, trong khi đó ở Đức là 29, Mỹ là 38, Canada là 54 kg Nếu tất cả cácNPT đều đạt hiệu suất sử dụng năng lượng như Nhật Bản, thì tổng năng lượng sửdụng trên thế giới sẽ giảm 2.343 triệu tấn dầu quy đổi, tức là bằng 36% tổng nănglượng tiêu thụ Như vậy, có thể tư duy được ý nghĩa của vấn đề kèm theo, đó là sựgiảm bớt sử dụng tài nguyên, hạ giá thành sản phẩm và giảm bớt các tác động tiêucực đến môi trường, cũng như các đầu tư cần thiết cho BVMT [39]

- Trong các quyết định, nhất là đối với các chủ trương đầu tư quan trọnghoặc các chính sách chủ yếu về sử dụng tài nguyên, phải tìm cách phản ánh đượccác giá trị của môi trường, kể cả cái giá phải trả cho sự bồi hoàn, khắc phục và cảithiện chất lượng môi trường Thông thường, các nhà kinh doanh và quản lý khôngmấy chú ý đến các giá trị của tài nguyên và môi trường, mà trong đó có những dạngtài nguyên và môi trường thậm chí được coi như của “trời cho”, tự do sử dụng vàkhai thác một cách vô tội vạ Hành động này có thể mang lại nhiều lợi ích nhất thờicho một số nhóm người, hoặc thậm chí cho vài mươi thế hệ, song sẽ mang đếnnhững tổn thất không thể kể xiết cho cả xã hội hoặc cho các thế hệ tương lai, tức làcho sự phát triển lâu bền Qua kết quả nghiên cứu năm 1990 tại Trung Quốc, sự suygiảm về tài nguyên thiên nhiên đã gây tổn thất ít nhất lên tới 65,7 tỷ NDT Cũngtrong công trình nghiên cứu đó, các tổn thất do ô nhiễm môi trường gây nên đối vớitoàn xã hội được ước tính ít nhất là 29,7 tỷ NDT Như vậy, tính gộp cả hai yếu tố tài

Trang 18

nguyên và môi trường, cái giá phải trả có thể ít nhất là 95,4 tỷ NDT và chiếm tới 8 10% GDP năm đó của Trung Quốc (tỷ giá năm 1990, 1 USD ≈ 8 NDT) [47]

Nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải bồi hoàn” được rất nhiều nước ápdụng, có thể giúp việc giải quyết một cách hợp lý hơn những mối quan hệ mâuthuẫn giữa KT-XH và môi trường và cho chúng ta một cách nhìn đúng sự thật hơn

về tăng trưởng KT-XH và định hướng cho việc BVMT vì mục tiêu PTBV Bêncạnh đó, nguyên tắc này giúp cho việc thay đổi nhận thức cần thiết về BVMT vàPTBV, vì nó quan hệ trực tiếp đến vấn đề xác định rõ trách nhiệm và lợi ích trongviệc khai thác và sử dụng các nguồn lực tài nguyên và môi trường, việc tổ chức sảnxuất để tìm kiếm lợi nhuận, cũng như đối với lối sống và trách nhiệm pháp lý trước

xã hội khi gây nên tình trạng ô nhiễm và suy thoái môi trường

- Mô hình PTBV hiện thực phải mang tính triết lý xã hội sâu sắc và phải có

sự tham gia của đông đảo quần chúng nhân dân trong mọi khâu của quá trình quyếtđịnh và thực hiện, vì đơn giản là PTBV quan hệ tới lợi ích lâu dài của toàn xã hội.Một quyết định dù ở cấp độ nào, hoặc một dự án dù ở quy mô nào, nếu không có sựtham gia của người dân một cách thích hợp, thì cũng không thể xem xét toàn diện

và đầy đủ các vấn đề, đồng thời khó có thể đi tới những giải pháp thoả đáng được.Khi thực hiện, người dân là người được hưởng lợi gián tiếp hoặc trực tiếp, cũng nhưphải gánh chịu những tác động môi trường tiêu cực Về tài nguyên thiên nhiên, cáccộng đồng bản địa và địa phương còn có vai trò quan trọng, vì họ có tri thức và kinhnghiệm truyền thống trong việc khai thác, sử dụng và duy trì Nếu họ có nhận thứcđúng đắn và được tạo điều kiện thuận lợi về chính sách, cơ chế và sự hỗ trợ các mặt,thì lợi ích thiết thân của họ sẽ gắn bó với tài nguyên thiên nhiên, họ sẽ thực hiệnđược vai trò làm chủ, kể cả vai trò kiểm soát đối với tài nguyên tại địa phương vànhư vậy sẽ đóng góp rất thiết thực cho PTBV

- Các mối quan hệ đa phương hay song phương giữa các NPT và NĐPT cũngphải thay đổi một cách căn bản, nếu như muốn bảo đảm PTBV cho mỗi quốc gia vàcho toàn cầu Bởi, như trên đã trình bày, có những vấn đề lớn về môi trường mangtính toàn cầu và đòi hỏi phải có sự cộng tác chặt chẽ giữa mọi quốc gia mới có thểgiải quyết được Cần phải làm rõ khái niệm: “Trái Đất này không thể trở thành

Trang 19

trong lành và an toàn cho mỗi người, nếu không có ý chí hợp tác của tất cả mọingười” Cuộc đấu tranh cho một trật tự thế giới công bằng hơn, không chỉ có ýnghĩa chính trị, mà gắn kết mật thiết với xu thế PTBV trên thế giới Nếu không chấpnhận cuộc cải cách này, thì cũng sẽ làm cho PTBV khó trở thành hiện thực

- Ngoài ra, các NPT cũng cần có nhận thức cao hơn về trách nhiệm, thựchiện nghiêm chỉnh những nguyên tắc đã ghi trong Tuyên ngôn Rio De Janeiro năm

1992, cũng như phải tăng cường giúp đỡ các NĐPT, ít nhất là về mặt tài chính vàcông nghệ Song, đáng tiếc là gần mười năm sau Hội nghị LHQ Rio De Janeiro năm

1992, mọi sự tiến triển chưa đáng kể

Có thể nêu ra một số ví dụ điển hình nhất như [46]:

- Việc tăng cường ODA được thực hiện chậm chạp và nhiều NPT chưa đạtmức 0,7% GDP như yêu cầu của LHQ Tổng số ODA hàng năm đã từ mức 41,7 tỷUSD trong giai đoạn 1985 - 1987 tăng lên 63,1 tỷ USD trong giai đoạn 1995 - 1997,nhưng so với nhu cầu thì còn cách rất xa Theo OECD, năm 2000 giá trị ODA của

22 NPT cho các nước nghèo tăng 5,6% so với 1999, đưa tổng số ODA lên tới 56,4

tỷ USD Tuy nhiên, tỷ trọng viện trợ phát triển của các nước OECD so với GDPcũng chỉ tăng lên chút ít, từ 0,23 lên 0,24%

- Theo số liệu thống kê, thì có 04 nước cung cấp ODA nhiều nhất (về giá trịtuyệt đối và so với tổng ODA) là Nhật, Mỹ, Pháp và Đức với tổng số là 55,2 tỷUSD, đạt mức tỷ trọng ODA chiếm trung bình 0,26% so với GDP Nhật Bản tuycung cấp ODA nhiều nhất, đạt 15,3 tỷ USD, nhưng cũng chỉ bằng 0,35% GDP, tuy

đã tăng khá so với trước (0,28%) ODA của Mỹ tuy đạt 9,1 tỷ USD, song ODAcũng chỉ bằng 0,1% GDP và là tỷ trọng thấp nhất so với các nước khác Trong cácnăm 1985 - 1987, ODA của Mỹ đã là 9,361 tỷ USD, sau đó tụt xuống còn 7,874 tỷtrong các năm 1995 - 1997 Riêng Hà Lan và các nước Bắc Âu đều đạt hoặc vượtyêu cầu của LHQ, vì tỷ trọng ODA của Hà Lan, Thụy Điển là tương ứng với 0,79%

Trang 20

làm cho nó trở thành hiện thực hoàn toàn Trong đó, việc xây dựng hoàn chỉnh Bộchỉ tiêu, chỉ số phát triển bền vững sẽ là một phương tiện và công cụ hiệu quả choviệc thực hiện các mục tiêu PTBV nhân loại.

1.4 Một số nguyên tắc phát triển bền vững cơ bản

LHQ đã xác định tổng thể 7 nguyên tắc PTBV cơ bản (Tuyên bố Rio DeJaneiro năm 1992) Tuy nhiên, ở đây chúng ta chỉ nhấn mạnh đến một số nguyên tắcPTBV cơ bản áp dụng cho các điều kiện thực tiễn cụ thể ở Việt Nam như sau:

(1) Phát triển kinh tế - xã hội phải gắn liền với việc khai thác sử dụng hợp lýcác nguồn tài nguyên thiên nhiên

(2) Phát triển kinh tế - xã hội phải gắn liền với bảo vệ môi trường và giảmthiểu tối đa các loại chất thải phát sinh

(3) Phát triển kinh tế - xã hội phải gắn với việc bảo tồn tính đa dạng sinh học

và văn hoá

Các biện pháp thực hiện nguyên tắc này là:

- Tôn trọng tính đa dạng của thiên nhiên và văn hóa xã hội

- Quy hoạch phát triển gắn với bảo tồn tính đa dạng của thiên nhiên và vănhóa xã hội

- Duy trì “khả năng chịu tải” (carrying capacity) của môi trường

- Khuyến khích phát triển các ngành nghề truyền thống

- Đóng góp một phần lợi ích thu được thông qua hoạt động phát triển KT-XHvào duy trì tính đa dạng của môi trường

(4) Khai thác tài nguyên phải phù hợp với quy hoạch tổng thể phát triển kinh

tế - xã hội, lồng ghép chặt chẽ với bảo vệ môi trường và khôi phục môi trường

(5) Phát triển kinh tế - xã hội phải gắn liền với lợi ích, trách nhiệm của cộngđồng địa phương

(6) Phát triển kinh tế - xã hội phải gắn với việc đào tạo nâng cao nhận thứcmôi trường

(7) Phát triển kinh tế - xã hội phải gắn liền với công tác nghiên cứu khoa học

và công nghệ

Trang 21

1.5 Khái niệm về ngưỡng phát triển trên con đường tiến tới phát triển bền vững

Triết lý và thực tế về quá trình vận động phát triển không ngừng trong tựnhiên và xã hội, đều cho thấy bản chất tích lũy, gia tăng, hoặc trầm tích, tồn tíchmột cách đều đều hay đột biến thăng - trầm phát triển, chứng tỏ sự tồn tại của cácngưỡng phát triển có thể được nhận biết và phát hiện khá dễ dàng Nhìn chung

“ngưỡng phát triển” sẽ cho thấy rằng các tích lũy, gia tăng hoặc trầm tích, tồn tíchphát triển thường xảy ra một cách đều đều ở quy mô “sâu lắng hoặc âm thầm”thường rất khó phát hiện và nhận biết, song khi đã tự diễn biến tới một giới hạnchuyển biến hoặc chuyển pha đột biến thăng - trầm nhất định, thì sẽ tự xuất hiện sảnsinh có tính chất nhảy vọt hoặc bùng nổ và trở thành một sự kiện được ghi nhận,hay một hiện tượng tồn tại thực tiễn khách quan khó có thể chối cãi được

Vì vậy, người ta có thể hiểu “ngưỡng phát triển” là một điểm, một mức vàmột giá trị không gian, hoặc một thời điểm thời gian, mà ở trên hoặc sau đó sẽ cóthể xảy ra một sự kiện, một hiện tượng nhất định, còn ở dưới hoặc ở trước đó thì các

sự kiện, hiện tượng nhận thức và phát hiện được chưa xảy ra Do “ngưỡng pháttriển” có giá trị nhận thức triết lý khách quan, cho nên có thể phát hiện trong bất kỳmột lĩnh vực phát triển tự nhiên hay xã hội nào, đồng thời có thể vận dụng kháiniệm này vào việc nghiên cứu, thiết lập các nhóm mối quan hệ KT – XH và môitrường (hoặc như sau này đã bổ sung thêm nhóm quan hệ chỉ số về thể chế) theo cácchuẩn mực của triết lý PTBV Ngoài ra, việc nhận thức và phát hiện về “ngưỡngphát triển” có thể giúp cho nhận thức về “mức độ chấp nhận được” trong PTBV đãnêu ở trên, mặc dù hầu như chúng ta không mong muốn chấp nhận bất kỳ một sựthoả hiệp nào về tài nguyên và môi trường Có thể cho rằng, khái niệm “ngưỡngphát triển” là giới hạn có thể phát hiện cho việc định giá các giá trị phát triển và cácchỉ tiêu, chỉ số phát triển bền vững kèm theo

1.6 Khái niệm về các thông số, chỉ tiêu/chỉ thị và chỉ số phát triển bền vững

Định nghĩa chỉ số, chỉ tiêu/chỉ thị, thông số/biến số như sau [24]:

- Chỉ số là giá trị tích hợp đánh giá sự biến đổi về tài nguyên và môi trườngđược tính toán trực tiếp từ một số các chỉ tiêu hoặc gián tiếp từ các chỉ tiêu tổnghợp

Trang 22

- Chỉ tiêu/Chỉ thị là giá trị đánh giá sự biến đổi về tài nguyên và môi trườngđược tính toán trực tiếp từ các thông số hay biến số đã được quan trắc đo đạc, ghinhận hoặc tính toán thực tế (chỉ thị) hoặc từ các chỉ tiêu/chỉ thị.

- Thông số/biến số là các số đo đạc thực tế hoặc/và ghi nhận, tính toán ra từhiện trạng hoặc/và dự báo xu thế diễn biến về tài nguyên và môi trường, mà từchúng sẽ tính toán ra các chỉ tiêu/chỉ thị, rồi từ các chỉ tiêu sẽ tiếp tục tính toán racác chỉ số theo các thuật toán biến đổi dữ liệu, cũng như theo phép tích hợp tổng(hoặc nhân) trung bình từ các thông số/biến số và chỉ thị áp dụng

Theo chúng tôi, các khái niệm trên không mới đối với nhiều nước, song trênthực tế hay bị nhầm lẫn Để tránh sự nhầm lẫn này và dễ hiểu, dễ sử dụng, chúng tôi

đề xuất một số khái niệm như: Chỉ số; Chỉ tiêu ; Hệ thống chỉ tiêu; Các chỉ tiêu; Chỉtiêu phát triển bền vững; Dữ liệu thô; Số liệu thống kê, theo thứ tự sắp xếp nhưsau:

(1) Dữ liệu thô: toàn bộ thông tin định tính và định lượng có thể thu thậpđược trong lĩnh vực quan tâm

(2) Số liệu thống kê: toàn bộ số liệu được Tổng cục Thống kê và các cơquan có thẩm quyền thống kê định kỳ hoặc thu được qua các cuộc điều tra, tổngđiều tra

(3) Các chỉ tiêu: thông tin được tính toán từ số liệu thống kê thể hiện hướngthay đổi hay một trạng thái nào đó của đối tượng nghiên cứu

(4) Hệ thống chỉ tiêu: là những chỉ tiêu được nhóm thành một tập hợp liênquan tới nhau theo nhiều chiều

(5) Chỉ số: là mật độ đo tổng hợp ở mức cao, được tính từ các chỉ tiêu và hệthống chỉ tiêu

(6) Chỉ tiêu bền vững: các chỉ tiêu thường cung cấp các thông tin về xu thế,

mô tả một trạng thái Các chỉ tiêu có thể giúp xác định các thành phần liên quan của

sự phát triển bền vững, làm tăng cường sự hiểu biết về trạng thái của sự bền vững.Việc chỉ ra mối quan hệ giữa hai chỉ tiêu hoặc sự phát triển theo thời gian của mộtchỉ tiêu nào đó sẽ giúp mọi người hiểu biết thế nào là phát triển bền vững

Trang 23

2 Kết quả nghiên cứu về phân loại các chỉ tiêu phát triển bền vững

Hệ thống chỉ tiêu phát triển bền vững thường được phân loại theo lĩnh vực vàtheo tính chất Bốn lĩnh vực thường được xem xét là kinh tế, xã hội, môi trường vàthể chế Tuy nhiên, một số nước đã xây dựng hệ thống chỉ tiêu phát triển bền vữngtheo điều kiện thực tế của nước đó, bao gồm các lĩnh vực khác như tài nguyên, khíhậu, theo lĩnh vực khoa học, theo vùng địa lý Ngoài ra, còn phân loại các chỉ tiêuphát triển bền vững theo các tính chất như sau:

- Các chỉ tiêu trạng thái: chỉ rõ trạng thái của hệ thống tại một thời điểm cụthể, ký hiệu là nhóm S là chữ cái đầu của state

- Các chỉ tiêu mục tiêu, mục đích: dự kiến trạng thái của hệ thống trongtương lai, ký hiệu nhóm T là chữ cái đầu của target

- Các chỉ tiêu áp lực: các chỉ tiêu trực tiếp tác động đến các vấn đề môitrường, ký hiệu là nhóm P là chữ cái đầu của pressure

- Các chỉ tiêu ảnh hưởng: chỉ rõ các tác động đến sự thay đổi trạng thái, kýhiệu là nhóm I là chữ cái đầu của impact

- Các chỉ tiêu hưởng ứng: chỉ rõ nỗ lực của xã hội giải quyết đến các vấn đề,

ký hiệu là nhóm R là chữ cái đầu của response

Trong luận án này, khái niệm hệ thống chỉ tiêu PTBV về sinh thái và tàinguyên sinh vật như sau “Là tập hợp những chỉ tiêu liên quan với nhau, cung cấpcác thông tin về xu thế, trạng thái giúp xác định sự phát triển bền vững về sinh thái

và tài nguyên sinh vật”

3 Tổng quan về hệ thống chỉ tiêu phát triển bền vững trong đó có lĩnh vực sinh thái và tài nguyên sinh vật

3.1 Trên thế giới

3.1.1 Vương quốc Anh

Vương quốc Anh là một quốc gia phát triển nằm ở khu vực Bắc Âu, có diệntích 245 nghìn km2, dân số năm 2003 là 59,2 triệu người; tỷ lệ tăng trưởng kinh tế

ổn định ở mức 2-3%/năm Vương quốc Anh đã công bố Chiến lược phát triển bềnvững vào năm 1999, mà để đánh giá việc thực hiện Chiến lược này, hàng nămChính phủ Anh xây dựng Báo cáo về phát triển bền vững dựa trên việc so sánh Bộ

Trang 24

chỉ tiêu trong năm với năm 1990 và năm 1999 là thời điểm công bố Chiến lược pháttriển bền vững Bộ chỉ tiêu phát triển bền vững của Vương quốc Anh gồm 16 chỉtiêu đặc trưng cho ba lĩnh vực: kinh tế, xã hội và môi trường Trong đó có 3 chỉ tiêu

đề cập đến lĩnh vực sinh thái và tài nguyên sinh vật [1,22,23,26,29,47] là:

(1) Số ngày không khí bị ô nhiễm trung bình và nặng

(2) Tỷ lệ độ dài của sông có chất lượng tốt

(3) Sự thay đổi số lượng chim hoang dã

3.1.2 Thụy Điển

Năm 2001, Thụy Điển xuất bản Bộ chỉ tiêu phát triển bền vững lần thứ nhất,trước khi soạn thảo Chiến lược phát triển bền vững Vì vậy, Bộ chỉ tiêu phát triểnbền vững là tài liệu quan trọng khi soạn thảo Chiến lược PTBV ở Thụy Điển Toàn

bộ có 30 chỉ tiêu, đề cập đến 04 lĩnh vực: hiệu quả, bình đẳng/tham gia, thích nghi,giá trị và tài nguyên đối với thế hệ mai sau Trong đó có 5 chỉ tiêu đề cập đến lĩnhvực sinh thái và tài nguyên sinh vật [9,10,21,22,26,27,29,35]:

(1) Số lượng hóa chất nguy hiểm tới sức khỏe và nuôi trồng

(2) Diện tích được bảo vệ

(3) Khai thác cá trích ở biển Ban Tích

(4) Các loài quý hiếm có nguy cơ tiệt chủng

(5) Phát thải CO2

3.1.3 Hoa Kỳ

Hợp chủng quốc Hoa Kỳ (hay Mỹ) là nước phát triển nằm ở Tây bán cầu, códiện tích tự nhiên 9364 nghìn km2 với dân số 291,5 triệu người vào năm 2003, tỷ lệdân số thành thị gần 80% dân số Năm 1997, dựa vào ý kiến 500 công ty, các tổchức phi chính phủ và các nhóm nghiên cứu của sinh viên, đã lựa chọn ra một Bộchỉ tiêu phát triển bền vững gồm 32 chỉ tiêu, trong đó có 11 chỉ tiêu đề cập đến lĩnhvực sinh thái và tài nguyên sinh vật [9,10,21,22,26,27,29,35]:

(1) Các chất hoá học ô nhiễm trong đất, cửa sông, biển

(2) Tỷ lệ đánh bắt/sinh trưởng của cá

(3) Chỉ số đáp ứng khí hậu nhà kính

(4) Số loài ngoại lai thâm nhập vào lãnh thổ

Trang 25

(5) Sử dụng đất, bao gồm cả đô thị

(6) Các loại đất

(7) Các loài bị đe doạ

(8) Tỷ lệ khai thác/sinh trưởng của gỗ

và dịch vụ 39% Ngôn ngữ chính thống có tiếng Bahasa Inđônexia, tiếng Anh, Đức,Java và hơn 580 ngôn ngữ khác Đạo hồi chiếm 88%, Protestant 5%, Thiên chúagiáo dòng Roman 3%, Hindu 2%, Phật giáo 1%, tôn giáo khác là 1% Tỷ lệ biết đọcbiết viết năm 2003 khoảng 89%; tuổi thọ trung bình 69,3 năm Năm 2003, GDPbình quân đạt 3.200 USD/người Nhịp độ tăng GDP trung bình 4%/năm; lạm phát6,9%/năm và tỷ lệ thất nghiệp là 10,5%/năm [32]

Từ năm 1999, Gustavson và các cộng sự đã đề nghị chỉ nên lựa chọn một sốchỉ tiêu hạt nhân về PTBV, nhưng phải có hiệu quả Sau khi thử nghiệm cho thấynhiều chỉ tiêu phát triển bền vững đã lựa chọn có mối quan hệ với nhau, do đó cóthể giảm được số lượng các chỉ tiêu cần thu thập cho đánh giá và phân tích chínhsách Inđônexia đã lựa chọn 21 chỉ tiêu, trong đó có 3 chỉ tiêu đề cập đến lĩnh vựcsinh thái và tài nguyên sinh vật [1, 9,10,21,23,26,27,35,47] là:

(1) Năng suất cây lương thực

Trang 26

(2) Phát thải khí CO2

(3) Diện tích rừng so với diện tích tự nhiên

3.2.2 Philippin:

Là một nước đang phát triển nằm ở Đông Nam Á, có vị trí chiến lược trong

quan hệ giao lưu từ Châu Á sang Châu Úc, Philippin có diện tích tự nhiên là 300nghìn km2, gồm 7.000 – 7.100 đảo lớn nhỏ, được chia thành 03 quần đảo sau:

(1) Luzon với diện tích 141 nghìn km2

(2) Mindanao có diện tích là 102 km2

(3) Visayas với diện tích là 57 km2

Năm 2004, dân số Philippin có 86,241 triệu người, trong đó dân tộc ChristianMalayxia 91,5%; Muslim Malayxia 4%; người Hoa 1,5% và các dân tộc khác chiếm3% Tốc độ tăng dân số là 1,9%; tuổi thọ triển vọng khi sinh là 69,6; tỷ lệ người lớnbiết đọc biết viết là 96% Năm 2003, lực lượng lao động xã hội có 34,6 triệu người,trong đó nông nghiệp chiếm 45%; công nghiệp: 15% và dịch vụ 40% tổng số laođộng Ngôn ngữ chính thống có Philipino và tiếng Anh Tôn giáo gồm RomanCatholic 83%, Protestant 9%, Đạo hồi 5%, Phật giáo và đạo khác 3% Năm 2003,GDP bình quân đầu người là 4.600 USD (PPP) Tốc độ tăng trưởng 4,5%/năm; lạmphát 3,1%/năm Tỷ lệ thất nghiệp là 11,4% và đất chưa sử dụng là 18%

Bộ chỉ tiêu PTBV khởi đầu của Philippin gồm 43/58 chỉ tiêu khuyến nghịcủa CSD/UN Ngoài ra, Philippin còn áp dụng một số chỉ tiêu liên quan đến sự thayđổi toàn cầu Một số chỉ tiêu PTBV của Philippin về thay đổi toàn cầu được giớithiệu trong bảng 01 [9,10,21,22,26,27,31,35,44]

Vấn đề toàn cầu Chỉ tiêu PTBV (kinh tế – xã hội)

Khí hậu

Mật độ dân số

Tỷ lệ tăng dân số Tiêu dùng bình quân đầu người sản phẩm có tác động đến tầng ozone

Tiêu dùng bình quân đầu người năng lượng hóa thạch của phương tiện giao thông (xã hội)

Thay đổi độ che phủ Mật độ dân số, tăng trưởng

Trang 27

Vấn đề toàn cầu Chỉ tiêu PTBV (kinh tế – xã hội)

của đất Tăng trưởng dân số trong vùng đặc biệt như vùng núi, vùng ven biển

Dân số dưới ngưỡng nghèo ở vùng bờ biển và vùng đồi núi

Tỷ trọng nhập khẩu hàng hóa có báo động về môi trườngPhá hủy tầng ozone Tiêu dùng sản phẩm làm hủy hoại tầng ozone (ODS)

Bảng 01 : Một số chỉ tiêu PTBV khởi đầu về thay đổi toàn cầu của Philippin 3.2.3 Thái Lan

Vương quốc Thái Lan có diện tích 514 nghìn km2, dân số năm 2004 khoảng64,865 triệu người Tốc độ tăng dân số 0,9%/năm; tuổi thọ bình quân 71,4 năm vàmật độ dân số bình quân 126 người/km2 Lực lượng lao động có 33,4 triệu người,trong đó nông nghiệp chiếm 54%; công nghiệp 15% và dịch vụ 31% tổng số laođộng Ngôn ngữ chính thống là tiếng Thái và tiếng các dân tộc thiểu số Dân tộcThái chiếm 75%; người Hoa 14%; người các dân tộc khác chiếm 11% Ở Thái Lanđạo phật chiếm 95%; đạo hồi 3,8%; thiên chúa 0,5%; Hindu 0,1% và các tôn giáokhác chiếm 0,6% Tỷ lệ người trưởng thành biết chữ là 96% Năm 2003, GDP bìnhquân là 4.700 USD/người (PPP); tốc độ tăng trưởng 6,3%/năm; lạm phát 1,8%/năm;

tỷ lệ thất nghiệp 2,2%/năm và đất chưa sử dụng chiếm 33% [44]

Bộ chỉ tiêu PTBV chọn lọc trên cơ sở phân tích tình hình phát triển, tháchthức đối với mục tiêu phát triển và các hướng ưu tiên trong Kế hoạch kinh tế - xãhội lần thứ 9, đồng thời các chỉ tiêu cần thể hiện nội dung hạnh phúc, khoẻ mạnh(Well – being) được Ban kinh tế - xã hội của Quốc hội thông qua Bộ chỉ tiêu pháttriển bền vững là cơ sở để giám sát Kế hoạch lần thứ 9, là khung khổ để xác định vàphân tích các vấn đề phát triển của Thái Lan [9,10,21,22,26,27,31]

Để giám sát thực hiện kế hoạch, Thái Lan đã lựa chọn 16 chỉ tiêu PTBV,nhưng không có chỉ tiêu nào đề cập đến lĩnh vực sinh thái và tài nguyên sinh vật

3.2.4 Trung Quốc

Nằm ở khu vực Đông á, Trung Quốc có diện tích 9.597 nghìn km2, dân sốnăm 2003 khoảng 1.288,7 triệu người với tỷ lệ dân số thành thị là 39% Trung Quốc

là một quốc gia đang phát triển có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao trong thời gian dài,

do vậy bên cạnh những thành tựu đạt được về phát triển kinh tế, Trung Quốc đang

Trang 28

phải đối mặt với một số vấn đề về xã hội và môi trường sinh thái cấp bách Năm

2002, GDP bình quân của Trung Quốc đạt 966 USD/người Ở Trung Quốc có nhiều

cơ quan tham gia nghiên cứu và xác định Bộ chỉ tiêu PTBV [10,21,22,33,36], cụ thểnhư: Trung tâm nghiên cứu chính sách môi trường và kinh tế; Cục bảo vệ môitrường quốc gia; Tổng cục Thống kê Nhà nước; Trường đại học Tsinghua; Trườngđại học Bắc kinh, v.v

Trung Quốc đã thử nghiệm các chỉ tiêu PTBV ở cấp quốc gia và cấp tỉnh (chitiết tại Phụ lục 1 kèm theo), trong đó cấp quốc gia tập trung vào các vấn đề ưu tiênnhư: phát triển thường xuyên, hiệu quả phát triển kinh tế, phát triển nông nghiệp,kiểm soát dân số, xóa đói và hoàn thiện phúc lợi xã hội, hoàn thiện khoa học vàcông nghệ, tăng cường cơ sở hạ tầng đô thị, sử dụng bền vững tài nguyên thiênnhiên và bảo vệ môi trường, kiểm soát ô nhiễm Căn cứ vào các vấn đề ưu tiên đãnêu trên, các chỉ tiêu PTBV hạt nhân đã được xem xét lựa chọn trên cơ sở của sốliệu thống kê hiện có Bên cạnh đó, một số chỉ tiêu được bổ sung thông qua cáccuộc điều tra khảo sát Trung Quốc đã sử dụng cách tiếp cận “tiết kiệm khôn ngoan”

để ứng dụng vào thực tiễn (cách tiếp cận này đã được Ngân hàng Thế giới - WorldBank sử dụng) Thực nghiệm cho thấy cách tiếp cận “tiết kiệm khôn ngoan” là hữuích cho người soạn thảo chính sách Hội thảo về các chỉ tiêu PTBV đã có kiến nghịsoạn thảo thành mô hình thích hợp cho các tỉnh, thành ở Trung quốc áp dụng Bộchỉ tiêu PTBV khởi đầu của Trung Quốc gồm 80 chỉ tiêu thuộc 06 lĩnh vực: kinh tế,

xã hội; tài nguyên; môi trường; dân số và khoa học - công nghệ, trong đó có 27 chỉtiêu đề cập đến lĩnh vực sinh thái và tài nguyên sinh vật [9,10,21,22,26,27,33,36,50]:

Trang 29

(11).Xử lý rác thải

(12).Sử dụng phân hoá học/Đơn vị lãnh thổ

(13).Số người mắc bệnh/Tổng số dân

(14).Tỷ lệ các loài bị đe dọa

(15).Tỷ lệ diện tích đất bảo tồn thiên nhiên/Tổng diện tích đất

(16).Diện tích cây xanh thành phố/Đầu người

(17) Tài nguyên nước/Đầu người

(18) Lượng nước sử dụng khi tạo ra 100 triệu NDT GDP

4.1 Thế giới

Trong giai đoạn 1995 - 2001, CSD/UN tập trung chủ yếu cho việc chọn lọc,xây dựng, thiết kế Bộ Khung các chỉ tiêu và chỉ số PTBV khởi đầu (gồm 4 chỉ sốtổng hợp, 15 chỉ tiêu tổng hợp, 38 chỉ tiêu khung và 58 chỉ tiêu cơ sở), được sửdụng cho Chương trình Nghị sự 21, cũng như khuyến nghị cho các quốc gia xâydựng Bộ Khung các chỉ tiêu và chỉ số PTBV khởi đầu của riêng mình nhằm triểnkhai mục tiêu PTBV trong Thế kỷ 21 [9,10,23,34,35] Nhìn chung, Khung cơ bảnnày bao gồm các chỉ thị khá độc lập theo từng lĩnh vực, có tính chất rời rạc và thiếutính gắn kết thành một hệ thống tổng thể thống nhất

Trong giai đoạn sau năm 2001, CSD/UN đã tập trung cho việc chọn lọc, bổsung, đổi mới và gắn kết Bộ Khung các chỉ tiêu và chỉ số PTBV thành một hệ thốnglồng ghép thống nhất (mà riêng hệ thống môi trường ESI 2005 có 1 chỉ số tổng hợp,

5 chỉ tiêu tổng hợp, 21 chỉ tiêu khung và 76 chỉ tiêu cơ sở), được sử dụng cho việc

cụ thể hoá Chương trình Nghị sự 21 vào thực tiễn, cũng như khuyến nghị thửnghiệm cho các quốc gia (như EPI 2006 đã trình diễn thử nghiệm Bộ chỉ tiêu, chỉ sốPTBV về môi trường rút gọn gồm 1 chỉ số tổng hợp, 2 chỉ tiêu tổng hợp, 6 chỉ tiêukhung và 16 chỉ tiêu cơ sở) Do đó, sau năm 2001 Bộ Khung các chỉ tiêu và chỉ số

Trang 30

PTBV đã được gắn kết thành một hệ thống lồng ghép thống nhất theo tiêu chíPTBV (sơ đồ 01) [9,10,11,20,23,29].

Hình 01: Quá trình chọn lựa phương pháp tổng hợp, phân tích và xây dựng bộ

chỉ tiêu, chỉ số phát triển bền vững

Đồng thời, trong bối cảnh một thế giới phát triển quá độ không đồng đều, thì

Bộ chỉ tiêu, chỉ số PTBV được nghiên cứu và thử nghiệm tại nhiều khu vực lớn củathế giới, sẽ là quy mô điều chỉnh quá rộng đối với thực tiễn ở nước ta, cho nênchúng ta sẽ tiếp cận và học tập kinh nghiệm về xây dựng Bộ chỉ tiêu, chỉ số PTBVtrên cơ sở:

- Định hướng Bộ chỉ tiêu, chỉ số PTBV Việt Nam lâu dài theo xu hướng pháttriển chung của các nước phát triển, vì đây là nhóm các nước đi tiên phong vềPTBV

- Trong điều kiện cụ thể hoá, chúng ta sẽ học tập và ứng dụng kinh nghiệmcủa các nước có sự tương đồng nhất định về điều kiện tài nguyên và môi trường, bốicảnh và trình độ phát triển KT-XH thực tế Ví dụ như: Trung Quốc và các nướctrong khu vực ASEAN

Trước 2001

Chọn lọc, xây dựng, thiết kế Bộ Khung các

Chỉ tiêu độc lập theo từng lĩnh vực, rời rạc, thiếu tính gắn kết hệ thống thống nhất

Khung cơ bản khuyến nghị cho các quốc gia

Sau 2001

Chọn lọc, bổ sung, đổi mới và gắn kết Bộ khung các chỉ tiêu và chỉ số PTBV thành một hệ thống lồng ghép thống nhất

Cụ thể hoá MGD và Agenda 21 vào thực tiễn

Tính toán chỉ số PTBV cho cả hệ thống lồng ghép thống nhất theo từng lĩnh vực khuyến nghị cho các quốc Khung thử nghiệm

gia Tính toán chỉ số PTBV (ESI 2002)

cho hệ thống môi trường thống nhất Năm 2002

cho hệ thống môi trường thống nhất

2006) cho hệ thống môi trường thống nhất

Điều chỉnh, hoàn thiện

Bộ chỉ thị, chỉ số PTBV

Thử nghiệm Bộ chỉ tiêu, chỉ số PTBV rút gọn

Trang 31

+ Giảm nhẹ sự thay đổi khí hậu gồm thông số về phát thải khí nhà kính (Anh

- Mỹ); chỉ số đáp ứng khí hậu nhà kính và các chất làm giảm ôzôn (Mỹ)

+ Bảo vệ môi trường nước gồm các thông số về tỷ lệ độ dài của sông có chấtlượng tốt (Anh); ô nhiễm nước ngầm, tỷ lệ tiêu thụ/tái tạo nước và chỉ số chất lượngnước (Mỹ)

+ Đa dạng sinh học gồm thông số về sự thay đổi số lượng chim hoang dã(Anh); số loài ngoại lai thâm nhập vào lãnh thổ và các loài bị đe doạ (Mỹ)

+ Bảo vệ đất gồm thông số về tỷ lệ số nhà mới xây dựng trên diện tích đất đã

sử dụng (Anh); các chất hoá học ô nhiễm trong đất, cửa sông, biển; sử dụng đất baogồm cả đô thị; các loại đất và diện tích đất bị nhiễm độc (Mỹ)

+ Quản lý và xử lý chất thải gồm thông số về khối lượng và quản lý chất thải(Anh - Mỹ)

+ Bảo vệ biển gồm thông số về tỷ lệ đánh bắt/sinh trưởng của cá (Mỹ)

+ Bảo vệ và phát triển rừng gồm thông số về tỷ lệ khai thác/sinh trưởng của

- Hướng tới tính hiệu quả:

(1) Tổng cung năng lượng theo GDP

(2) Chất thải

Trang 32

(1) Cung năng lượng sơ cấp các loại

(2) Nông nghiệp hữu cơ, đồng cỏ

- Giá trị và tài nguyên cho thế hệ mai sau:

(1) Số lượng hóa chất nguy hiểm tới sức khỏe và nuôi trồng

(2) Diện tích được bảo vệ

(3) Các loài quý hiếm có nguy cơ tiệt chủng

(4) Phát thải CO2

Nhìn chung, nguyên tắc cơ bản của Thụy Điển là triển khai mục tiêu PTBVngày càng sát thực với định nghĩa chung về PTBV đã được nêu ra trong Hội nghịRio De Janeiro 1992 của LHQ trên cơ sở xây dựng các chỉ tiêu để định lượng hoáPTBV theo chuỗi liên hệ nhân - quả “Hiệu quả - Đóng góp và Bình đẳng - Thíchnghi - Giá trị và Tài nguyên cho thế hệ mai sau” Do đó, chúng ta có thể vận dụngphương pháp tư duy này vào các điều kiện phát triển cụ thể của Việt Nam sau năm

2020, trong đó sẽ bảo đảm xây dựng tính hệ thống cân bằng và hài hoà cho tổng thể

hệ thống thống nhất về kinh tế - xã hội và môi trường ở nước ta

4.3 Nhóm các nước đang phát triển lân cận

Tương tự như trên, chúng ta có thể vận dụng kinh nghiệm của nhóm cácNĐPT này cho định hướng xây dựng Bộ chỉ tiêu, chỉ số PTBV áp dụng đến năm2020:

- Có thể tham khảo các chỉ tiêu của Inđônexia, Philippin và Thái Lan sau đây[21,22,26,27,28]:

(1) Tỷ lệ số hộ có phương tiện xử lý chất thải hợp vệ sinh (%) (Inđônexia vàThái Lan)

(2) Số người được sử dụng nước sạch (Inđonexia và Thái Lan)

Trang 33

(3) Phát thải khí CO2 (Inđônexia và Philippin)

(4) Diện tích rừng so với diện tích tự nhiên (Inđônexia)

(5) Thay đổi toàn cầu đề phòng và giảm nhẹ hậu quả thiên tai (Phillippin)

- Bộ chỉ tiêu, chỉ số PTBV áp dụng của Trung Quốc [9,10,21,22,26,27] về tàinguyên và môi trường có sự phù hợp tốt với 09 vấn đề ưu tiên của Việt Nam theoQuyết định số 153/2004/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, đồng thời việc vậndụng kinh nghiệm của Trung Quốc đã giúp chúng ta mở rộng vấn đề ưu tiên thứ 10

về khai thác và sử dụng bền vững năng lượng

Như vậy, kinh nghiệm của 07 nước nghiên cứu điển hình đều có thể vận dụngphù hợp vào các điều kiện và bối cảnh thực tế của nước ta trong thời kỳ từ đây đếnnăm 2020 và sau năm 2020

5 Tổng quan nghiên cứu về phát triển bền vững về sinh thái và tài nguyên sinh vật ở Việt Nam

Bộ chỉ tiêu về phát triển bền vững đã được các nhà khoa học về môi trường ởnước ta quan tâm nghiên cứu trong khoảng 10 năm trở lại đây Năm 1998, bộ chỉtiêu đầu tiên được Cục Môi trường ban hành thử nghiệm gồm 80 chỉ tiêu[12,16,17,18,31,33], trong đó chú trọng đến chất lượng môi trường và quản lý chấtthải, các chỉ tiêu về sinh thái và tài nguyên sinh vật chưa được phản ánh đầy đủ vàchưa đặc trưng, bao gồm:

(1) Môi trường đất

(2) Môi trường nước trên lục địa

(3) Môi trường nước biển

(4) Môi trường không khí

(5) Đa dạng sinh học

(6) Sự cố môi trường

Năm 2001, dự án hỗ trợ xây dựng Chương trình Nghị sự 21 của Việt Namtriển khai tại Bộ Kế Hoạch và Đầu tư, bộ chỉ tiêu phát triển bền vững đã được đềxuất gồm 30 chỉ tiêu, trong đó có 11 chỉ tiêu có nội dung liên quan đến môi trường

là [20]:

(1) Bụi, khí phát thải

(2) Khí thải SO2, NO2, COx

Trang 34

(3) Ô nhiễm không khí ở chỗ làm việc.

(9) Nước ngầm bị ô nhiễm bởi chất hữu cơ

(10) Diện tích hệ sinh thái lựa chọn

(11) Ô nhiễm công nghiệp

Năm 2003, các nhà khoa học của Liên hiệp các hội khoa học kỹ thuật ViệtNam đã nghiên cứu và đề xuất bộ chỉ tiêu phát triển bền vững gồm 25 chỉ tiêu,trong đó có 10 chỉ tiêu có nội dung về môi trường và tài nguyên [24]

Năm 2009, trên tạp chí Khoa học và Công nghệ, Đà Nẵng - số 2 (31), 2009[23], Tác giả Phùng Khánh Chuyên, Đại học sư phạm Đà Nẵng đã có bài viết “Sửdụng phương pháp kiến tạo chỉ BSI và LSI đánh giá mức độ bền vững của sự pháttriển ở phường Thọ Quang, quận Sơn Trà, TP Đà Nẵng ” Công trình của tác giả có

đề cập 5 lĩnh vực và 5 chỉ tiêu liên quan đến môi trường nhưng không có chỉ tiêunào đề cập đến lĩnh vực sinh thái và tài nguyên sinh vật

Trang 35

CHƯƠNG II ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU,

Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN

1 Đối tượng nghiên cứu

- Sinh vật và môi trường sống của chúng ở Việt Nam

- Phương pháp tính toán các chỉ tiêu, chỉ số PTBV về sinh thái và tài nguyênsinh vật ở Việt Nam

- Hệ thống văn bản pháp luật liên quan đến viêc xây dựng hệ thống chỉ tiêu,chỉ số PTBV về sinh thái và tài nguyên sinh vật ở Việt Nam

- Địa điểm thực nghiệm: tại tỉnh Bình Thuận

2 Nội dung nghiên cứu

- Thứ nhất: Nghiên cứu, xây dựng hệ thống chỉ tiêu PTBV về sinh thái và tàinguyên sinh vật ở Việt Nam

- Thứ hai: Nghiên cứu, xây dựng phương pháp tính toán các chỉ tiêu, chỉ sốPTBV về sinh thái và tài nguyên sinh vật ở Việt Nam

- Thứ ba: Nghiên cứu và thử nghiệm hệ thống chỉ tiêu PTBV về sinh thái vàtài nguyên sinh vật ở tỉnh Bình Thuận

- Thứ tư: Đề xuất giải pháp thực hiện phát triển bền vững về sinh thái và tàinguyên sinh vật ở Việt Nam

3 Phương pháp nghiên cứu

3.1 Phương pháp thu thập, phân tích các tài liệu và số liệu đã có liên quan đến PTBV ở Việt Nam

- Thu thập tài liệu, số liệu là một công việc quan trọng trong nghiên cứu vàxây dựng bộ chỉ tiêu PTBV về sinh thái và tài nguyên sinh vật Thực hiện đề tàinày, tác giả đã thu thập tài liệu, số liệu từ các công trình nghiên cứu khoa học đãcông bố về sinh thái, tài nguyên sinh vật, phát triển kinh tế - xã hội, môi trường vàphát triển bền vững, các nghiên cứu xây dựng Chiến lược phát triển bền vững ViệtNam giai đoạn 2010 - 2020 của các Viện nghiên cứu, các Bộ, ngành và các quyđịnh của nhà nước, các văn bản quy phạm pháp luật về phát triển bền vững ở nước

ta Đồng thời, tác giả đã thu thập tài liệu, số liệu từ các công trình nghiên cứu khoa

Trang 36

học đã công bố về sinh thái, tài nguyên sinh vật, phát triển kinh tế - xã hội, môitrường và phát triển bền vững của các nước trên thế giới, trong đó lưu ý đến mức độphát triển kinh tế - xã hội, các nước phát triển như Mỹ, Thụy Điển, các nước pháttriển trước nước ta như Malaysia, Thái Lan và các nước tương đồng như TrungQuốc, Philippin… Việc thu thập số liệu theo các trình tự sau:

+ Đọc tài liệu, ghi vào phích cho từng tài liệu.

+ Tổng hợp và đánh giá thông tin cho từng tài liệu

+ Viết tổng quan trên cơ sở phiếu đó

trình

Tên tác giả, năm

Dạng tài liệu

Tóm tắt nội dung Đánh giá

Ngôn ngữ, dạng văn bản

Chuyên đề về ………

- Số liệu được xử lý và phân tích theo phương pháp thống kê, các thông tin

tư liệu sau khi được thu thập, thống kê và xử lý sơ bộ bằng việc phân loại, tác giả đã

đi sâu phân tích, đánh giá và tổng hợp thành các nguồn dữ liệu Kế thừa có chọn lọccác số liệu nghiên cứu khoa học đã được công bố phù hợp với hướng nghiên cứucủa đề tài và có độ tin cậy, các nội dung văn bản quy phạm pháp luật của nhà nướcliên quan sẽ được tác giả kế thừa, sử dụng trong việc xây dựng bộ chỉ tiêu PTBV vềsinh thái và tài nguyên sinh vật

- Để có thể sử dụng phương pháp này đòi hỏi phải có khả năng tư duy, kinhnghiệm phân tích các vấn đề mới, các tồn tại trong nghiên cứu xây dựng hệ thốngchỉ tiêu phát triển bền vững về sinh thái và tài nguyên sinh vật ở Việt Nam cũngnhư trong khu vực Trên cơ sở đó đưa ra những nhận định, đánh giá về hiện trạng vàthách thức của việc nghiên cứu, xây dựng hệ thống chỉ tiêu phát triển bền vững vềsinh thái và tài nguyên sinh vật ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

- Dựa trên những thông tin tư liệu có sẵn để xây dựng và phát triển thành cơ

sở dữ liệu cần thiết Lợi ích của phương pháp này là tiết kiệm được thời gian, kinhphí thông qua việc giảm thời gian nghiên cứu lại những vấn đề đã đã được làm

Trang 37

trước đây, tránh được sự chồng chéo thông tin Kết quả của hai phương pháp kếthừa và thu thập dữ liệu sẽ là nguồn thông tin sơ cấp khi xây dựng báo cáo.

3.2 Phương pháp thu thập, phân tích các tài liệu và số liệu tại thực địa tại tỉnh Bình Thuận

Đối với địa phương áp dụng thực nghiệm bộ chỉ tiêu phát triển bền vững vềsinh thái và tài nguyên sinh vật, ngoài các phương pháp thu thập, phân tích số liệuđược trình bày tại mục II.4.2 nêu trên, tác giả đã tổ chức điều tra khảo sát, thu thập

dữ liệu về điều kiện tự nhiên - xã hội, môi trường, sinh thái và tài nguyên sinh vật,hoạt động quản lý nhà nước về môi trường, các hoạt động thực hiện Định hướngchiến lược phát triển bền vững, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, kế hoạch bảo vệmôi trường hàng năm, các nhiệm vụ, dự án về môi trường thực hiện tại tỉnh BìnhThuận

3.3 Phương pháp lựa chọn các chỉ tiêu PTBV về sinh thái và tài nguyên sinh vật

Các chỉ tiêu phát triển bền vững về sinh thái và tài nguyên sinh vật được lựachọn phù hợp với thực tế của đất nước, tương thích theo thông lệ quốc tế, đảm bảohoạt động giám sát, đánh giá thực hiện phát triển bền vững của đất nước Nội dungchi tiết của phương pháp trình bày trong mục IV.1.1 Xây dựng các nguyên tắc đánhgiá và lựa chọn các chỉ tiêu phát triển bền vững về sinh thái và tài nguyên sinh vật

3.4 Phương pháp tính toán các chỉ tiêu PTBV về sinh thái và tài nguyên sinh vật

Các chỉ tiêu phát triển bền vững về sinh thái và tài nguyên sinh vật được thựchiện bằng phương pháp thống kê toán học hiện đại đang được sử dụng tại các nướcphát triên như Mỹ và Anh đã được sử dụng để tính toán xác định chỉ số môi trườngbền vững của Liên hiệp quốc Nội dung chi tiết của phương pháp trình bày trongmục IV.2.2 Xây dựng phương pháp luận tính toán các chỉ tiêu phát triển bền vững

về sinh thái và tài nguyên sinh vật

3.5 Phương pháp chuyên gia

- Dùng phiếu phỏng vấn hỏi ý kiến các chuyên gia về lĩnh vực sinh thái và tàinguyên sinh vật ở Việt Nam để xây dựng danh sách các chỉ tiêu liên quan đến sinhthái và tài nguyên sinh vật Ngoài ra, trên cơ sở đó tiến hành hội thảo để thăm dò ý

Trang 38

kiến và đi đến thống nhất số lượng các chỉ tiêu về sinh thái và tài nguyên sinh vật ởViệt Nam để đánh giá mức độ PTBV.

- Tham khảo ý kiến chuyên gia để loại trừ các chỉ tiêu không phù hợp, bổsung các chỉ tiêu tương thích với việc đánh giá thông qua trao đổi, gặp gỡ, hội thảo

Trang 39

CHƯƠNG III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội của Việt Nam và tỉnh Bình Thuận

1.1 Đặc điểm tự nhiên và kinh tế xã hội của Việt Nam

1.1.1 Đặc điểm tự nhiên

Bản đồ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Bình Thuận

Trang 40

- Vị trí đia lý: Việt Nam nằm ở đông nam lục địa châu Á, Bắc giáp nướcCộng hòa nhân dân Trung Hoa, Tây giáp nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào vàvương quốc Campuchia, Đông và Nam giáp Biển Đông (Thái Bình Dương), có diệntích 329.600 km2 đất liền, gần 700.000 km2 thềm lục địa với nhiều đảo, quần đảo.

- Địa hình: địa hình của Việt Nam khá đặc biệt với hai đầu phình ra (Bắc bộ

và Nam bộ) ở giữa thu hẹp và kéo dài (Trung bộ) Địa hình miền Bắc tương đốiphức tạp Địa hình Trung bộ với dải Trường Sơn trải dọc phía tây về giải đồng bằnghẹp ven biển Địa hình Nam Bộ bằng phẳng, thoải dần từ đông sang tây là vựa lúacủa cả nước, hàng năm đang tiếp tục lấn ra biển hàng trăm mét

- Sông ngòi: Việt Nam có mạng lưới sông ngòi dày đặc Hai con sông lớnHồng Hà và Cửu Long bắt nguồn từ cao nguyên Vân Nam (Trung Quốc) bồi đắplên hai châu thổ lớn là đồng bằng Bắc Bộ và đồng bằng sông Cửu Long Việt Namcòn có hệ thống sông ngòi phân bổ đều khắp từ bắc tới nam với lưu vực lớn,nguồnthuỷ sản phong phú, tiềm năng thuỷ điện dồi dào thuận lợi cho phát triển nôngnghiệp và tụ cư của con người, hình thành nền văn minh lúa nước lâu đời của ngườiViệt bản địa

- Khí hậu: Việt Nam nằm trong vành đai nội chí tuyến, quanh năm có nhiệt

độ cao và độ ẩm lớn Phía Bắc chịu ảnh hưởng của lục địa Trung Hoa nên ít nhiềumang tính khí hậu lục địa Biển Đông ảnh hưởng sâu sắc đến tính chất nhiệt đới giómùa ẩm của đất liền Khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm không thuần nhất trên toàn lãnhthổ Việt Nam, hình thành nên các miền và vùng khí hậu khác nhau rõ rệt Khí hậuViệt Nam thay đổi theo mùa và theo vùng từ thấp lên cao, từ Bắc vào Nam và từĐông sang Tây Do chịu sự tác động mạnh của gió mùa Đông Bắc nên nhiệt độtrung bình ở Việt Nam thấp hơn nhiệt độ trung bình nhiều nước khác cùng vĩ độ ởChâu Á.Việt Nam có thể được chia ra làm hai đới khí hậu lớn: (1) Miền Bắc (từ đèoHải Vân trở ra) là khí hậu nhiệt đới gió mùa, với 4 mùa rõ rệt (Xuân-Hạ-Thu-Đông), chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc và gió mùa Đông Nam; (2) MiềnNam (từ đèo Hải Vân trở vào) do ít chịu ảnh hưởng của gió mùa nên khí hậu nhiệtđới khá điều hòa, nóng quanh năm và chia thành hai mùa rõ rệt (mùa khô và mùamưa)

Ngày đăng: 02/07/2014, 16:09

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Badarch (2004), Chương trình Nghị sự 21 - Mông Cổ. Kỷ yếu Hội thảo “ Hướng tới phát triển bền vững ở Việt Nam”. Hà Nội 3/2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu Hội thảo “Hướng tới phát triển bền vững ở Việt Nam”
Tác giả: Badarch
Năm: 2004
7. Bộ Khoa học và Công nghệ (2001), Tài liệu tập huấn bồi dưỡng nâng cao nhận thức môi trường, Hà Nội, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu tập huấn bồi dưỡng nâng caonhận thức môi trường
Tác giả: Bộ Khoa học và Công nghệ
Năm: 2001
8. Bộ Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam (2007), Danh lục đỏ Việt Nam. Nxb. KHTN&CN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Danh lục đỏ Việt Nam
Tác giả: Bộ Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam
Nhà XB: Nxb. KHTN&CN
Năm: 2007
9. Bộ Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam (2007), Sách đỏ Việt Nam, Phần I. Thực vật. Nxb. KHTN&CN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách đỏ Việt Nam, Phần I. Thực vật
Tác giả: Bộ Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam
Nhà XB: Nxb. KHTN&CN
Năm: 2007
10. Bộ Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam (2007), Sách đỏ Việt Nam, Phần II. Động vật. Nxb. KHTN&CN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách đỏ Việt Nam, Phần II. Động vật
Tác giả: Bộ Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam
Nhà XB: Nxb. KHTN&CN
Năm: 2007
11. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2002), Báo cáo nghiên cứu về ngưỡng phát triển và PTBV. Hà Nội, 6-8/3/2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo nghiên cứu về ngưỡng pháttriển và PTBV
Tác giả: Bộ Tài nguyên và Môi trường
Năm: 2002
12. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2011), Báo cáo đánh giá tình hình thực hiện các nhiệm vụ ưu tiên trong định hướng phát triển bền vững ngành tài nguyên và môi trường. Kỷ yếu Hội nghị Phát triển bền vững toàn quốc - Lần thứ 3.Hà Nội, 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu Hội nghị Phát triển bền vững toàn quốc - Lần thứ 3
Tác giả: Bộ Tài nguyên và Môi trường
Năm: 2011
14. Chương trình phát triển Liên hợp quốc tại Việt Nam (2001), Đảm bảo phát triển bền vững về môi trường. Dự thảo tham vấn - Tháng 11/2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảm bảo pháttriển bền vững về môi trường
Tác giả: Chương trình phát triển Liên hợp quốc tại Việt Nam
Năm: 2001
15. Delfin J.Ganapin Vr (2004), Chương trình Nghị sự 21 - Philippin - Tổng kết bài học về xây dựng và thực tiễn. Kỷ yếu Hội thảo “ Hướng tới phát triển bền vững ở Việt Nam”. Hà Nội 3/2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu Hội thảo “ Hướng tới phát triểnbền vững ở Việt Nam”
Tác giả: Delfin J.Ganapin Vr
Năm: 2004
16. Đinh Văn Ân (2005), Quan niệm và thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội tốc độ nhanh, bền vững, chất lượng cao ở Việt Nam. Nxb Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan niệm và thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội tốcđộ nhanh, bền vững, chất lượng cao ở Việt Nam
Tác giả: Đinh Văn Ân
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 2005
17. Lê Anh Sơn, Nguyễn Công Mỹ (2006), Xây dựng bộ chỉ tiêu phát triển bền vững và việc áp dụng trong công tác kế hoạch hóa. Kỷ yếu Hội nghị Phát triển bền vững toàn quốc - Lần thứ 2. Hà Nội, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu Hội nghị Pháttriển bền vững toàn quốc - Lần thứ 2
Tác giả: Lê Anh Sơn, Nguyễn Công Mỹ
Năm: 2006
18. Lê Bá Huy và nnk (2002), Tài nguyên môi trường và phát triển bền vững, Nxb. Khoa học và Kỹ thuật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài nguyên môi trường và phát triển bền vững
Tác giả: Lê Bá Huy và nnk
Nhà XB: Nxb. Khoa học và Kỹ thuật Hà Nội
Năm: 2002
19. Lê Minh Đức (2003), Phát triển bền vững ở Việt Nam. Nxb. Lao động - Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển bền vững ở Việt Nam
Tác giả: Lê Minh Đức
Nhà XB: Nxb. Lao động - Xãhội
Năm: 2003
20. Lê Minh Đức (2006), Những văn bản và dự thảo hướng dẫn thực hiện Chương trình Nghị sự 21 của Việt Nam. Kỷ yếu Hội nghị Phát triển bền vững toàn quốc - Lần thứ 2. Hà Nội, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu Hội nghị Phát triển bềnvững toàn quốc - Lần thứ 2
Tác giả: Lê Minh Đức
Năm: 2006
25. Minendra P.Rifort (2004), Chương trình Nghị sự 21 - Nepal - Những bài học kinh nghiệm. Kỷ yếu Hội thảo Hướng tới phát triển bền vững ở Việt Nam. Hà Nội, 3/2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu Hội thảo Hướng tới phát triển bền vững ở ViệtNam
Tác giả: Minendra P.Rifort
Năm: 2004
26. Ngô Ngọc Cát, Lê Văn Hữu (2006), Chính sách phát triển bền vững ở Việt Nam thực trạng và khuyến nghị. Nxb. Lao động - Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách phát triển bền vững ở ViệtNam thực trạng và khuyến nghị
Tác giả: Ngô Ngọc Cát, Lê Văn Hữu
Nhà XB: Nxb. Lao động - Xã hội
Năm: 2006
27. Nguyễn Thanh Liêm (2005), Một số lý luận về phát triển bền vững. Nxb.Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số lý luận về phát triển bền vững
Tác giả: Nguyễn Thanh Liêm
Nhà XB: Nxb.Chính trị Quốc gia
Năm: 2005
28. Phạm Khôi Nguyên (2005), Báo cáo về tăng cường công tác quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Kỷ yếu Hội nghị Môi trường toàn quốc 2005. Nxb. Lao động - Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu Hội nghị Môi trường toàn quốc 2005
Tác giả: Phạm Khôi Nguyên
Nhà XB: Nxb. Lao động - Xã hội
Năm: 2005
29. Phan Văn Khải (2006), Đổi mới sâu rộng, phát triển đất nước nhanh và bền vững tiến cùng thời đại. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới sâu rộng, phát triển đất nước nhanh và bềnvững tiến cùng thời đại
Tác giả: Phan Văn Khải
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2006
51. Website: http:// www.binhthuan.gov.vn 52. Website: http://www.agenda21.monre.gov.vn53. Website: http://www.nea.gov.vn Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 01 :  Một số chỉ tiêu PTBV khởi đầu về thay đổi toàn cầu của Philippin 3.2.3. Thái Lan - Nghiên cứu xây dựng hệ thống chỉ tiêu phát triển bền vững về sinh thái và tài nguyên sinh vật ở Việt Nam
Bảng 01 Một số chỉ tiêu PTBV khởi đầu về thay đổi toàn cầu của Philippin 3.2.3. Thái Lan (Trang 27)
Hình 01: Quá trình chọn lựa phương pháp tổng hợp, phân tích và xây dựng bộ chỉ tiêu, chỉ số phát triển bền vững - Nghiên cứu xây dựng hệ thống chỉ tiêu phát triển bền vững về sinh thái và tài nguyên sinh vật ở Việt Nam
Hình 01 Quá trình chọn lựa phương pháp tổng hợp, phân tích và xây dựng bộ chỉ tiêu, chỉ số phát triển bền vững (Trang 30)
Hình 02: Mô hình cấu trúc tính toán chỉ số PTBV về sinh thái và tài nguyên sinh vật ở Việt Nam (ISDEBRVN) - Nghiên cứu xây dựng hệ thống chỉ tiêu phát triển bền vững về sinh thái và tài nguyên sinh vật ở Việt Nam
Hình 02 Mô hình cấu trúc tính toán chỉ số PTBV về sinh thái và tài nguyên sinh vật ở Việt Nam (ISDEBRVN) (Trang 69)
Bảng 02: Hệ thống chỉ tiêu PTBV về sinh thái và tài nguyên sinh vật (ISDEBR,2009) áp dụng tại tỉnh Bình Thuận - Nghiên cứu xây dựng hệ thống chỉ tiêu phát triển bền vững về sinh thái và tài nguyên sinh vật ở Việt Nam
Bảng 02 Hệ thống chỉ tiêu PTBV về sinh thái và tài nguyên sinh vật (ISDEBR,2009) áp dụng tại tỉnh Bình Thuận (Trang 81)
Bảng 03 : Phép biến đổi chỉ tiêu - Nghiên cứu xây dựng hệ thống chỉ tiêu phát triển bền vững về sinh thái và tài nguyên sinh vật ở Việt Nam
Bảng 03 Phép biến đổi chỉ tiêu (Trang 85)
Bảng 04: Phép chuẩn hoá chỉ tiêu - Nghiên cứu xây dựng hệ thống chỉ tiêu phát triển bền vững về sinh thái và tài nguyên sinh vật ở Việt Nam
Bảng 04 Phép chuẩn hoá chỉ tiêu (Trang 86)
Bảng 05 : Kết quả sau phép chuẩn hoá chỉ tiêu 5) Tích hợp dữ liệu và tính toán sai số: - Nghiên cứu xây dựng hệ thống chỉ tiêu phát triển bền vững về sinh thái và tài nguyên sinh vật ở Việt Nam
Bảng 05 Kết quả sau phép chuẩn hoá chỉ tiêu 5) Tích hợp dữ liệu và tính toán sai số: (Trang 88)
Bảng 05 : Kết quả tính toán chỉ số I NBT - Nghiên cứu xây dựng hệ thống chỉ tiêu phát triển bền vững về sinh thái và tài nguyên sinh vật ở Việt Nam
Bảng 05 Kết quả tính toán chỉ số I NBT (Trang 89)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w