1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Những vấn đề môi trường ven biển nổi bật ở Việt Nam và định hướng bảo vệ

21 118 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 148,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

119 – 134.NHỮNG VẤN ĐỀ MÔI TRƯỜNG VEN BIỂN NỔI BẬT Ở VIỆT NAM VÀ ĐỊNH HƯỚNG BẢO VỆ Trần Đức ThạnhViện Tài nguyên và Môi trường biển Mở đầu Quá trình tương tác và trao đổi vật chất giữa l

Trang 1

Trần Đức Thạnh, 2007 Những vấn đề môi trường ven biển nổi bật ở Việt Nam và định hướng bảo vệ Trong: PN Hồng (Chủ biên): “Vai trò của hệ sinh thái rừng ngập mặn và rạn san hô trong việc giảm nhẹ thiên tai và cải thiện cuộc sống ở vùng ven biển” Nxb Nông nghiệp Hà Nội Tr 119 – 134.

NHỮNG VẤN ĐỀ MÔI TRƯỜNG VEN BIỂN NỔI BẬT Ở VIỆT

NAM VÀ ĐỊNH HƯỚNG BẢO VỆ

Trần Đức ThạnhViện Tài nguyên và Môi trường biển

Mở đầu

Quá trình tương tác và trao đổi vật chất giữa lục địa và đại dương ở dải ven biển(DVB) tạo nên thế cân bằng động về môi trường, sinh thái và cơ cấu tài nguyên thiên nhiên

Do tác động nhân tác và biến đổi khí hậu, cân bằng này bị phá vỡ và dẫn đến nhiều hậu quả

tiêu cực (Permetta & Milliman 1995) DVB Việt Nam nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa

nơi các con sông lớn có lưu vực nằm trên sáu nước đổ vào và vùng biển phía ngoài có quan

hệ về sinh thái và môi trường với vùng biển của nhiều nước trong khu vực Đây là khu vực rấtnhạy cảm và các hệ sinh thái, đặc biệt là rạn san hô, rừng ngập mặn, thảm cỏ biển,v.v rất dễ

bị tổn thương do các tác động môi trường Cùng với sự phát triển kinh tế và gia tăng dân số,hoạt động nhân tác đã tác động lớn lên môi trường ven biển Con người, môi trường và hệsinh thái ven biển còn chịu ảnh hưởng của những biến động bất thường về khí hậu, thủy văn

có xu hướng gia tăng gần đây Đó là chưa kể nguy cơ các thiên tai, kể cả núi lửa, động đất vàsóng thần chưa được đánh giá đầy đủ Áp lực môi trường và các tai biến ven biển không chỉphát sinh tại chỗ mà còn nguồn từ lục và từ đại dương Vì vậy, chiến lược bảo vệ môitrường ven biển cần phải được nhìn nhận từ những mối quan hệ vĩ mô của tương tác lục địa-đại dương ở DVB Nghiên cứu này nhận được sự hỗ trợ của Hội đồng Khoa học Tự nhiên

1 Tổng quan về dải ven biển Việt Nam

Bờ biển Việt Nam trải dài trên 3200 km với 114 cửa sông lớn nhỏ và có thể được chialàm 4 vùng tự nhiên là Vịnh Bắc Bộ, Trung Bộ, Đông Nam Bộ và Vịnh Thái Lan Hàng năm,các dòng sông đổ vào DVB Việt Nam khoảng 880 tỷ m3 nước và 200-250 triệu tấn bùn cát ,

Trang 2

chủ yếu tập trung ở cửa sông Hồng và Mê Kông Lưu vực sông Mê Kông nằm trên địa phận 6nước, gồm Trung Quốc, Mianma, Lào, Thái Lan, Campuchia và Việt Nam DVB Việt Namnằm ở khu vực nhiệt đới gió mùa, có nhiệt độ trung bình năm 22,6–27,2 0C, tăng dần về phíanam, lượng mưa trung bình năm khoảng 1000–2400 mm Hàng năm (1975 - 1994), có 2,52cơn bão và 2,2 áp thấp nhiệt đới đổ bộ vào Thiệt hại do bão khá lớn, ví dụ tới 600 triệu USDvào năm 1997 Mực nước biển dâng cao được ghi nhận ở một số trạm ven biển, ví dụ,

2,24mm/năm ở Hòn Dấu trong 1957–1989 (Thuỵ & Khước, 1994).

Các hệ sinh thái ven biển như cửa sông, đầm phá, vũng vịnh, rừng ngập mặn, rạn san

hô, thảm cỏ biển v.v có năng suất và đa dạng sinh học cao Có tới 11 nghìn loài thủy sinh vàtrên 1300 loài sinh vật trên đảo có mặt ở biển và ven biển Việt Nam, trong đó có nhiều loàiqúy hiếm Trữ lượng cá biển khoảng 3,0 – 3,5 triệu tấn và sản lượng đánh bắt thuỷ sản chophép trên triệu tấn năm (Bộ thủy sản, 1996), sản lượng khai thác năm 2002 khoảng 1,2 triệutấn (Phạm Văn Ninh và nnk, 2005 ) Tài nguyên phi sinh vật biển và ven biển khá phong phú,đặc biệt là dầu khí với trữ lượng khoảng 3 tỷ tấn và trữ lượng công nghiệp được xác địnhkhoảng 1,2 tỉ tấn, sản lượng khai thác 2004 khoảng 20 triệu tấn ở vùng ven biển có tớikhoảng 100 mỏ khoáng sản Mỏ than Quảng Ninh, trữ lượng 3,59 tỉ tấn và sản lượng khaithác năm 2003 đạt 18,3 triệu tấn Mỏ sắt Thạch Khê, Hà Tĩnh có chất lượng tốt , đủ cho sảnlượng 5–6 triệu tấn gang mỗi năm

DVB là nơi phát triển kinh tế năng động, có mật độ, tốc độ phát triển dân số cao Năm

2003, dải ven biển (tính đến huyện, quận) có dân số 21,4 triệu người, bằng 26,7% của cảnước Tốc độ tăng dân số dải ven biển trung bình 1,8-2%, tốc độ tăng trưởng GDP9,9%/năm , gấp 1,4 lần tăng trưởng GDP cả nước trong 1996 - 2003 Dọc bờ biển có tới 12

đô thị lớn, 90 cảng và bến, hàng trăm bến cá, khoảng 238.600 cơ sở sản xuất công nghiệp

Hoạt động du lịch, dịch vụ và quá trình đô thị hoá đang tăng mạnh (Vịnh & Tuyên, 2004).

2 ảnh hưởng của nhân tác và biến động khí hậu đến môi trường bờ

2.1 Hoạt động nhân tác

Hàng năm, có hơn 1 triệu tấn sản lượng cá biển đã được khai thác (1,5 triệu tấn năm2003), vượt số lượng khai thác cho phép từ năm 1996 và đáng chú ý đến 80% sản lượng khaithác từ vùng nước ven biển Nuôi trồng thuỷ sản tăng rất nhanh diện tích từ 230 nghìn hađầm nuôi mặn lợ vào năm 1998 đến 592 nghìn ha năm 2003, phần lớn được xây dựng trênvùng rừng ngập mặn Một diện tích đáng kể là bãi bồi ngập triều, kể cả các bãi sú vẹt đã đượckhai hoang làm đất nông nghiệp Riêng ở ven biển châu thổ sông Hồng, có đến 24 nghìn ha

Trang 3

đất bồi ven biển được khai hoang trong thời gian 1958–1995 Hoạt động nuôi trồng và chế

biến thuỷ sản đã thải ra một lượng lớn các chất gây ô nhiễm (Lý và nnk, 2005).

Sản lượng dầu khai thác trên biển không ngừng tăng, từ năm 2000 vượt trên 15 triệutấn mỗi năm Tính toán cho thấy vào năm 1995 có 47 nghìn tấn dầu thải xuống vùng biển ViệtNam, trong đó, từ dàn khoan dầu 3%, từ lục địa 12,8%, tràn dầu 1,2 %, từ tuyến hàng hải

quốc tế 81,9 % và hoạt động tàu thuyền trong nước 1,1% (Minh, 1996) Khai thác khoáng sản

ven biển, ví dụ than, vật liệu xây dựng, sa khoáng làm biến dạng cảnh quan bờ, đổ thải cácchất thải rắn, lỏng, làm tăng xói lở bờ biển Mỏ than Quảng Ninh có sản lượng khai thác 10 -

15 triệu tấn than/ năm, mỗi năm cũng đổ thải ra khoảng 13 -19 triệu m3 đất đá và khoảng

30-60 triệu m3 chất thải lỏng

Rừng bị tàn phá nặng nề do chiến tranh, làm nương rẫy, cháy rừng và khai thác gỗ, đểlại hậu quả lâu dài Độ phủ rừng 43% vào năm 1943 chỉ còn 28% vào năm 1995 (Cuong,1997) Gần đây do tích cực trồng rừng và đóng cửa rừng, diện tích rừng có tăng nhưng chưanhiều (30% vào năm 1999) Cháy rừng thường xảy ra, đặc biệt vào những năm El-Nino khônóng Vào năm El-Nino 1998, gần 20 nghìn ha rừng bị huỷ hoại trong 1.685 vụ cháy rừng

Trong thời gian 1998-2000 có 2.035 vụ cháy thiêu mất 22.400 ha rừng (Hưng, 2001)

Suốt nghìn năm qua, một hệ thống đê điều được xây dựng để bảo vệ đồng bằng vàcác khu dân cư khỏi ngập nước biển và sông Cả nước có tới 5700 km đê sông và 2100 km đêbiển, trong đó riêng châu thổ sông Hồng có 3000km đê sông và 1500 km đê biển Mấy chụcnăm qua, ở ĐBSCL đã hình thành 12 nghìn km đê bao kín 1.200 vùng với 1,3 triệu ha lúa

Hệ thống đập chứa trên lưu vực làm thay đổi sâu sắc lượng tải, phân bố nước và trầm

tích ven biển, gây xói lở, sa bồi và xâm nhập mặn (WCD, 2000) ở Việt Nam có trên trên 650

hồ, đập chứa cỡ lớn và vừa hơn 3500 hồ, đập chứa cỡ nhỏ (ADB, 1993.; WB et all, 1996).

Tổng khối của 5 đập thủy điện lớn nhất về sức chứa gồm Hoà Bình, Thác Bà, Trị An, Thác

Mơ và Đa Nhim là 18,5km3 Đập Hoà Bình trên sông Đà lớn nhất cả nước khởi công năm

1979, bắt đầu vận hành từ ngày 30/12/1988 Khi đập Sơn La phía trên Hoà Bình và đập ĐạiThị trên sông Gâm được hoàn thành thì tổng sức chứa các đập thuỷ điện trên hệ thống sôngHồng bằng 20% tổng lượng chảy năm của hệ thống này Hiện nay, trên thượng lưu sông MêKông, Trung Quốc đang phát triển mạnh các đập chứa, trong đó có đập Xiaowan (khởi công

từ năm 2001) lớn thứ hai ở Trung Quốc Dự kiến đến 2010, sẽ có 8 đập của Trung Quốc trênthượng lưu sông Mê Kông với tổng lượng chứa trên 40km3 và các công trình này sẽ ảnh

hưởng rất lớn đến ven biển châu thổ của Vệt Nam (Kumma M et al., 2004).

Trang 4

Mỗi năm có 57,3 triệu m3 bùn cát sa lắng dưới đáy đập Hoà Bình (Dũng, 1999) Trước

đắp đập Hoà Bình, tổng lượng bùn cát lơ lửng của sông Hồng tại Sơn Tây là 114 triệu tấn,

sau đắp đập chỉ còn 79,4 triệu tấn/năm (HM Hùng, 2001) Thiệt hại và tác động tiêu cực của các đập lớn trên lưu vực rất lớn (NT Hùng và nnk, 1995; Niêm và nnk 1995), nhưng tác động của chúng đến vùng biển cũng rất đáng kể (Thạnh & Chiến, 2002) Sự mất đi một lượng lớn

nước ngọt, trầm tích và dinh dưỡng do sông đưa ra DVB gây ra những hậu quả môi trườngsinh thái và tai biến nghiêm trọng như xói lở bờ biển, xâm nhập mặn, thay đổi chế độ thủyvăn, mất nơi cư trú và bãi giống, bãi đẻ của sinh vật, suy giảm dinh dưỡng và sức sản xuấtcủa vùng biển ven biển, gây thiệt hại về đa dạng sinh học, nguồn lợi thủy sản đánh bắt vànuôi trồng Thiệt hại lớn về tài nguyên và môi trường ven biển châu thổ Hoàng Hà (Trung

Quốc) liên quan tới tải lượng nước và bùn cát sông giảm mạnh từ mhững năm 50 (Yang et al., 2001) Đập Tam Hiệp làm dòng chảy Trường Giang giảm 10% thì sản lượng cá vùng biển ven biển giảm 9% (Chen , 2000)

Việt Nam có diện tích nông nghiệp trên 7 triệu ha, trong đó 60 % là đất lúa Hàngnăm, một khối lượng lớn nước cần cho nông nghiệp, ví dụ, 7 tỉ m3 nước vào năm 1990 Tảilượng nước sông giảm đi, lượng phân bón và hoá chất tăng lên làm tăng nồng độ chất thải ởnước sông đổ ra biển Năm 1993, có 2,1 triệu tấn phân hoá học, trong đó có 1,2 triệu tấn U rê,

793 nghìn tấn phốt phát và 22 nghìn tấn lân được dùng cho nông nghiệp Lượng thuốc bảo vệthực vật, có cả DDT, Lindan, Monitor, Wafatox v.v dùng cho nông nghiệp không ngừng

tăng, 20 nghìn tấn vào năm 1988, tăng lên 30 nghìn tấn vào năm 1994 (Sandoz, 1996) Một

phần đáng kể dư lượng các loại hoá chất này được nước sông tải ra ven biển

Tăng dân số, đô thị hoá, hoạt động công nghiệp và giao thông đã phát thải lượng lớn

các chất gây ô nhiễm ra vùng ven biển, chủ yếu chưa được xử lý (Diệu và nnk, 2001) Hàng

năm, lượng nước cần cho sinh hoạt và công nghiệp cũng cần đến trên 4 tỉ m3 Khu côngnghiệp Hà Nội -Việt Trì - Hải Phòng đổ ra 657-820 nghìn m3 nước thải mỗi ngày và khu vựcthành phố Hồ Chí Minh đổ ra 550 nghìn m3 mỗi ngày Tính toán cho thấy vào năm 1995 có 47

nghìn tấn dầu thải xuống vùng biển Việt Nam, trong đó từ lục địa 12,8% (Minh, 1996) Hoạt

động du lịch cũng phát thải một lượng lớn chất thải Năm 2003 có 4,2 triệu lượt khách Quốc

tế và 11,4 triệu khách nội địa, với ước tính 70% tổng lượng khách cả nước đến du lịch venbiển Năm 2003, toàn bộ các hoạt động du lich toàn DVB đã thải ra 32.273 tấn rác và

4.817.000 m3 nước thải (Ninh và nnk, 2005).

2.2 Biến động khí hậu và hải văn

Trang 5

Trái đất ấm lên và mực nước biển dâng cao là một nguy cơ đối với các vùng đất thấpđông dân ven biển như ở Việt Nam, dẫn tới ngập lụt, nhiễm mặn, xói lở, sa bồi, đảo lộn cânbằng tự nhiên và sinh thái ven biển Mực biển dâng cao được ghi nhận ở một số trạm ven

biển, ví dụ, tốc độ 2,24mm/năm ở Hòn Dấu trong 1957–1989 (Thuỵ & Khước, 1994)

El-Nino xuất hiện khoảng 4-10 năm một lần, làm tăng xâm nhập mặn, nghèo dinhdưỡng, bồi lấp các cửa sông, cửa đầm phá, làm nhiệt độ nước biển dâng cao, gây chết nhiềuloài sinh vật trong đó có san hô Trong El-Nino 1997-1998, nhiệt độ nước biển tăng trungbình 1,8oC (Diệu và nnk, 2000) Kể từ năm 1982 đến nay, có 12 năm El- Nino, trong đó El-

Nino 1982-1983 và 1997-1998 được coi là mạnh nhất thế kỷ La Nina, thường xảy ra ngaysau El Nino, gây mưa lũ lớn làm ngập lụt, đục hoá, ngọt hoá nước ven biển, xói sạt bờ biển và

cửa sông mạnh Từ đầu thập kỷ 70 đến nay, La Nina xuất hiện 5 lần (Hiền, 2001), thường

kèm theo nhiều bão hơn, đổ bộ nhiều vào Nam Trung Bộ vào các tháng cuối năm

Xu thế chung số lượng bão và áp thấp nhiệt đới (ATNĐ) đổ bộ vào vùng bờ Việt Namtăng theo thời gian Trong thời gian 1975-1994, trung bình mỗi năm có 2,5 cơn bão và 2,2ATNĐ đổ bộ vào, năm 1996 có tới 6 cơn bão, 4 ATNĐ đổ bộ vào Phân bố mưa bão thay đổi

và tính bất thường tăng lên Hơn mười năm qua, bão đổ bộ vào ven biển Bắc Bộ giảm hẳn,bão ở Trung Bộ tăng lên và dịch về phía nam Bão Linda đổ bộ vào Nam Bộ vào cuối năm

1997 lớn bất thường và hiếm gặp trong thế kỷ 20 Riêng tháng 11 năm 1999, có tới 3 cơn bão

đổ bộ liên tiếp vào ven biển Trung Bộ Lượng mưa ven biển được đánh giá chung là suy giảm, nhưng lượng mưa ngày ở nhiều khu vực tăng đáng kể Ví dụ, lượng mưa trung bình nhiềunăm ở Thừa Thiên-Huế 3000mm, riêng năm 1999 là 5642mm, trong đó có lượng mưa 24 giờ

ở Huế đạt 1384mm (Việt & Hùng, 2001).

3 Những vấn đề môi trường bờ nổi bật.

3.1 Ô nhiễm môi trường

Chất lượng nước ven biển Việt Nam còn khá tốt, mặc dù nhiễm bẩn một số chất ở

mức khác nhau đã được ghi nhận ở một số nơi (Hồi và nnk, 2001) Ô nhiễm dầu nghiêm trọng

nhất ở các vùng nước sát bờ, hàm lượng thường vượt mức cho phép 0,05 mg/l đối với thủysản và không ít nơi vượt mức cho phép 0,3 mg/l cho tắm biển ở vùng ngoài khơi, hàm lượngdầu trên 0,05 mg/l, cực đại 0,4 mg/l ghi nhận được ở 10% số trạm vào trước năm 1996, caonhất ở khu vực khai thác dầu và trên tuyến hàng hải quốc tế Hàm lượng dầu trong nước biển

trung bình 0,34 mg/l vào các năm 1997–1998 (Diệu và nnk, 2000), gần đây tiếp tục tăng.

Nhiễm bẩn kim loại nặng như Fe, Cu, Zn, Cd, As, Pb chưa rộng nhưng biểu hiện tậptrung và tăng trong nước, trầm tích và cơ thể sinh vật Ô nhiễm Fe, Zn, Cu rõ ràng ở một số

Trang 6

nơi Ô nhiễm kẽm khá phổ biến ở vùng biển Việt Nam (Ninh và nnk, 2005), hàm lượng 5,30– 53,80 g/l vào 1996–1998, (Diệu và nnk, 2000) Nước và trầm tích các khu khai mỏ và chế

biến khoáng sản thường ô nhiễm đồng, thuỷ ngân và chất phóng xạ

Cyanua trong môi trường biển rất nguy hại do có độc tính rất cao, có thể do tách chiếtvàng ở các mỏ sa khoáng và sử dụng gây mê đánh bắt hải sản Năm 1999, hàm lượng cyanua(CN-) trung bình ở các trạm quan trắc ven biển miền Bắc vượt quá giới hạn cho phép 1,1 lần,

ở miền Trung 1,4 lần và ở miền Nam 1,5 lần Hàm lượng cyanua trong nước biển rất cao với50% số mẫu ở Cồn Cỏ, 100% số mẫu ở Côn Đảo vượt giới hạn cho phép Đặc biệt ở BạchLong Vỹ, 100% số mẫu vượt giới hạn cho phép từ 8 - 22 lần Những năm gần đây, hàm lượngCyanua trong môi trường ven biển giảm hẳn, phần lớn dưới mức độ cho phép

Nói chung, dư lượng hoá chất bảo vệ thực vật còn dưới mức cho phép, mặc dù biểuhiện tích lũy khá phổ biến và đã vượt qúa giới hạn cho phép tại một số điểm, ví dụ ven biển

châu thổ sông Hồng (Cự, 1998) ở các trạm quan trắc ven biển miền Bắc, dư lượng hoá chất

bảo vệ thực vật năm 1999, tuy chưa quá giới hạn cho phép nhưng tăng 25 lần so với năm

1998

Ô nhiễm chất hữu cơ cục bộ, nhưng tập trung khá cao ở một số điểm Chỉ số Coliformtrong nước ven biển thường cao và vượt mức cho phép ở gần các khu đông dân cư, du lịchnhư Cửa Lục, Sầm Sơn, Nha Trang và Vũng Tàu Hàm lượng các chất dinh dưỡng - phôtphát(PO4-3 ), amonium ( NH4+), nitrit (NO2-), nitrat (NO3-) đã vượt quá giới hạn cho phép từ mộtvài đến vài chục phần trăm số trạm quan trắc Phú dưỡng là một vấn đề môi trường nổi bật ởphía nam do chất dinh dưỡng và vật chất hữu cơ phát thải từ nguồn sinh hoạt, nông nghiệp vànuôi trồng thủy sản Đã xuất hiện các rủi ro nuôi nước lợ ở phía nam liên quan đến phú dưỡng

và thủy triều đỏ Năm 1996, nghề nuôi tôm nước lợ ở ven biển châu thổ sông Mê Kông thiệt

hại đến hàng nghìn tỉ đồng do dịch bệnh Hiện tượng “nở hoa” của loài tảo Silic Skeletonema costatum ở Đồ Sơn vào tháng 8/1999 là dấu hiệu của hiện tượng phú dưỡng - dư thừa dinh

dưỡng trong nước Gần đây nhất, vào tháng 11 năm 2002, thuỷ triều đỏ đã bùng phát tạivùng ven biển Nam Trung Bộ (Khánh Hoà, Bình Thuận) trên diện rộng, gây thiệt hại lớn vềkinh tế và môi trường

3.2 Mất haibitat và suy giảm tài nguyên sinh học

Các hệ sinh thái ven biển bị suy thoái do ngọt hoá, đục, phú dưỡng, nhiễm bẩn, mấthaibitat, làm giảm năng xuất sinh học và đa dạng sinh học Biến động khí hậu và nhân táclàm mất haibitat ven biển như các bãi triều, đầm lầy sú vẹt, bãi biển, thảm cỏ biển và rạn san

hô Rừng ngập mặn bị hủy hoại nặng nề do chiến tranh, khai hoang nông nghiệp, nuôi trồng

Trang 7

thủy sản, xây dựng các khu định cư và do cả xói lở bờ biển như ở Đông bắc Bắc Bộ và Đôngnam bán đảo Cà Mâu Năm 1943, cả nước có khoảng 400 nghìn ha rừng ngập mặn, riêng ởchâu thổ Mê Kông 250 nghìn ha (Hong and San, 1993), năm 2000 chỉ còn khoảng 155 nghìn

ha (P V Ninh và nnk, 2005) Diện tích bãi triều giảm mạnh do xói lở và khai thác cát Cácrạn san hô và thảm cỏ biển bị hủy hoại do bùn đục, ngọt hoá, sóng bão, nhiễm bẩn và các hoạtđộng khai thác huỷ diệt như cào xới nền đáy, dùng thuốc nổ, hoá chất khai thác thuỷ sản Cảnước hiện có khoảng trên 1000 km2 rạn san hô, tập trung ở ven biển Trung Bộ và vùng biểnTrường Sa, Hoàng Sa Thời gian qua độ phủ các rạn giảm rất nhanh Trong El–Nino 1997–

1998, san hô chết trắng đã xuất hiện ở một số nơi, điển hình ở Bạch Long Vỹ Tại đây, độphủ san hô lớn nhất giảm từ 90% xuống 50% trong thời gian 1993-1998 Thảm cỏ biển năm

2003 giảm mất 6774ha (63%) so với 1997 DVB, đặc biệt là các cửa sông, vũng vịnh, đầmphá có mặt các bãi giống, bãi đẻ duy trì sản lượng nghề cá, nhiễm bẩn và mất haibitat đã làm

giảm tài nguyên sinh học, ảnh hưởng đến cả nghề cá ven biển và ngoài khơi (Bộ thủy sản, 1996)

Tác động của hiện tượng ENSO ở Việt Nam còn ít hiểu biết đối với môi trường biển.Chẳng hạn, san hô chết trắng hàng loạt ở Bạch Long Vỹ vào năm 1997-1998 do El Nino hay

do ô nhiễm Cyanua? Có thể san hô vùng Cát Bà - Hạ Long chết nhiều vào năm 1998-1999 do

cả đục hoá và ngọt hoá vào thời gian La Nina sau El Nino Khoảng 14% san hô ở Côn Đảo bịchết trẵng có thể cũng liên quan đến El Nino năm 1998 Khi có El Nino khô nóng và mưa ít,dòng nước ngọt từ sông ra giảm hẳn và lượng cá đánh bắt cũng giảm theo ở biển Đông

Trung Hoa, sau El- Nino 1982-1983, sản lượng cá thương phẩm Navodon sepient giảm trên 60%, tương ứng lượng mưa ven biển giảm 50% (Chen , 2000)

Nguồn lợi nghề cá vùng biển ven biển có xu hướng giảm rõ rệt do khai thác quá mức vàhuỷ diệt, mất nơi cư trú, bãi giống, bãi đẻ và ô nhiễm Năng xuất sản lượng/ cường lực khaithác (tấn/cv) liên tục giảm từ 0,92tấn/cv vào năm 1990, chỉ còn 0,35tấn/cv vào năm 2003

(Khương & Hồi, 2005) Phát triển mạnh đập chứa trên thượng nguồn cũng là một nguyên

nhân quan trọng giảm nguồn lợi cá biển Đập Hoà Bình làm mất bãi đẻ và chặn đường di cư

đi đẻ của nhiều loài cá kinh tế trong đó có cá mòi, cá cháy sống ở biển, mỗi năm mất 500triệu cá bột, giảm 50% trữ lượng tôm, cua cá, nước lợ và biển nông Sản lượng cá cháy

Maerura reeverssi ở sông Hồng, cửa Ba Lạt, cửa Bạch Đằng trong 1962-1964 là 8-15 nghìn tấn/ năm, nay không còn khai thác Cá mòi Clupanodon thrisa, trên sông Hồng trong 1964-

1979 có sản lượng khai thác là 40-356 tấn /năm, nay cũng không còn Nguồn lợi mỏ tôm CátBà- Ba Lạt giảm 50% Tính toán cho thấy qua nhiều năm, trữ lượng cá biển ven biển vịnhBắc Bộ phần Việt Nam giảm đi 185.500 tấn, bằng khoảng 24,6% tổng trữ lượng cá ban đầu

Trang 8

Tác động của việc xây dựng và điều tiết hồ thuỷ điện Hoà Bình đã góp phần làm giảm trữ

lượng 42.665 tấn (Thạnh và Chiến, 2003) Sau đắp đập cửa Hà trên sông Châu Trúc (Bình Định) cá chình, cá dày và tôm sú giảm rõ rệt ở khu vực đầm Thị Nại (Bộ Thuỷ Sản, 1996).

Tình trạng tương tự xảy ra ở nhiều khu vực cửa sông ven biển Trung Bộ, nơi phổ biến các đậptrữ cho nước tưới và sinh hoạt, làm giảm nguồn nước ngọt và dinh dưỡng ra biển

3.3 Gia tăng thiên tai và sự cố môi trường

Hiện tượng dâng cao mực nước biển gây mất đất, tăng cường ngập lụt, gia tăng xói lởdọc bờ biển và cửa sông, gây mặn hóa và gia tăng xâm nhập mặn và làm đảo lộn cân bằng tựnhiên, sinh thái ven biển Mmực nước biển dâng cao 1m, nếu không có ứng xử hữu hiệu nào,

sẽ có khoảng 40,000 km2 đất thấp ven biển Việt Nam sẽ bị ngập lụt hàng năm; hơn 17 triệudân, trong đó có triệu 14 triệu ở đồng bằng sông Cửu Long sẽ chịu cảnh ngập lụt Lũ lụt sẽ

gây thiệt hại khoảng 17 tỉ USD mỗi năm (Huan, et al 1996).

Hàng năm, bão gây ra những thiệt hại đáng kể về sinh mạng, tài sản nhân dân ven biển

và để lại nhiều hậu quả nặng nề về vệ sinh và môi trường Trong lịch sử, đã có những cơnbão gây hậu quả khủng khiếp Bão Kate đổ bộ vào Hải Phòng - Quảng Yên Ngày 26/9/1955gây sạt lở 158 đoạn đê, hàng nghìn người thiệt mạng, 20 000 ha lúa và 1 000 ha hoa màu bịchết do nhiễm mặn Bão Cecil đổ bộ vào Trung Bộ ngày 15 – 16/10/1985 kèm theo nướcdâng cao bất thường làm 910 người chết và mất tích, 47 751 ngôi nhà bị phá hủy, 3300thuyền đánh cá bị chìm, 60 000 ha lúa và màu bị ngập úng Bão Linda vào tháng 11/1997 ởNam Bộ gây thiệt hại lớn nhất trong số các cơn bão đổ bộ vào vùng bờ biển Việt Nam với 3

111 người chết và mất tích, 3 078 tàu thuyền bị chìm, 220 00 ngôi nhà, trường học bị phá hủy

và hư hại nặng, v.v và tổng giá trị thiệt hại tới 7 180 tỷ đồng Trong thời gian 1999 - 6/2004,bão làm chết 924 người, 60.640 ngôi nhà bị sập, 1256 tàu thuyền bị chìm, 549215ha đất nôngnghiệp bị tổn hại, thiệt hại ước tính 2000 tỷ đồng

Ngập lụt ven biển tăng lên cả về cường độ và tần xuất xuất hiện Đó là hậu quả kếthợp của quá trình phá rừng đầu nguồn, mưa lớn, mực nước biển dâng cao và lấp kín các cửasông, cửa lạch biển do sa bồi Ngập lụt ven biển đặc biệt nghiêm trọng và nguy hiểm khi xuấthiện mưa lớn trùng nước dâng trong bão và triều cường Ngập lụt hàng năm ở châu thổ MêKông kéo dài 2-6 tháng, chủ yếu là tháng 8-10, trên diện rộng 1,7 trệu ha và ảnh hưởng trực

tiếp đến 9 triệu dân Trong khoảng 1926-2000 có 24 trận ngập lụt lớn (Trâm, 2001) Lũ tăng

cả về mức ngập, tốc độ truyền đến sớm hơn và rút chậm hơn Các trận lũ lớn gần đây xuấthiện liên tục vào 1991, 1994, 1996 và 2000 Trận lũ năm 2000 khốc liệt nhất trong 70 nămqua, phủ trên diện tích 34 nghìn km2, trong đó 2/5 diện tích trên lãnh thổ Việt Nam Lũ tháng

Trang 9

11 năm 1999 gây ngập lụt trên diện rộng từ Quảng Bình đến Quảng Ngãi ở Thừa Thiên-Huế,90% diện tích dân cư và đồng bằng ngập sâu 1,5-4m, có 379 người chết, thiệt hại trên 1.700

tỷ đồng, lớn nhất trong vòng gần một thế kỷ qua Trong thời gian 1999 - 6/2004, lũ lụt làm

2172 người chết, 689.505 ha đất nông nghiệp bị ngập hại, 2.400.242 ngôi nhà bị ngập, thiệt

hại ước tính 12 nghìn tỷ đồng (Ninh và nnk, 2005).

Xói lở bờ biển tăng cả về qui mô và tính chất nguy hiểm Có đến 397 đoạn bờ đã vàđang bị xói lở với tổng chiều dài 920 km, tốc độ phổ biến 5-10 m/năm, cá biệt 30-50 m/năm,thậm chí 100-200 m/năm ở hai châu thổ sông Hồng và Mê Kông nổi tiếng về bồi tụ, xói lởxuất hiện trên một phần tư chiều dài bờ mỗi châu thổ ở châu thổ Mê Kông, bờ Bồ Đề dài 36

km bị xói lở 30-50 m/năm trong nhiều năm ở châu thổ sông Hồng, dải bờ Giao Hải - Văn Lý

dài 30km bị xói lở 10-15 m hơn nửa thế kỷ qua, mặc dù đã có đê kè ngăn chặn (Tiến và nnk, 2002) Việc xây đập Hoà Bình có thể liên quan đến gia tăng xói lở bờ biển Hải Hậu nằm giữa

cửa Ba Lạt và Lạch Giang, dù hơn mười năm qua khu vực này ít bão So sánh hai giai đoạn1991-2000 và 1965-1990, trên chiều dài gần 20km tốc độ xói lở tăng từ 8,6m/năm lên

14,5m/năm và diện tích xói sạt tăng từ 17 ha/năm lên 25ha/năm (Thanh et al., 2004) Sự thiếu

hụt bùn cát ra biển do bị lưu giữ lại ở đáy các hồ chứa là một nguyên nhân quan trọng tăngcường xói lở bờ biển nước ta

Sa bồi là tai biến phổ biến, có tác động tiêu cực đến cảng bến Hơn một thế kỷ, HảiPhòng đã từng là cảng lớn nhất nước, nhưng gần đây luồng cảng bị sa bồi nặng nề Một trong

những nguyên nhân là việc đắp đập Đình Vũ vào năm 1981 (Thạnh, 1995) ở ven biển miền

Trung, sa bồi làm lấp các cửa sông và đầm phá, làm các vực nước ven biển bị ngọt hoá, ảnhhưởng đến nuôi thủy sản mặn lợ, mất lối ra biển và tăng cường ngập lụt ven biển Việc pháttriển các đập nước phục vụ nước tưới và sinh hoạt ở thượng nguồn có thể góp phần tăngcường bồi lấp cửa sông, cửa đầm phá Vào năm El Nino, nguồn nước ngọt suy giảm và đượctích vào các đập dẫn đã góp phần bồi cạn cửa sông, đầm phá Vào năm La Nina có mưa lớntiếp theo, cửa bồi cạn hoặc bị đóng kín đã góp phần gây ra ngập lụt ven biển như trường hợptrận lũ lịch sử ở Trung Bộ vào tháng 11 năm 1999

Theo áp lực triều, xâm nhập mặn vào sâu 30-40 km trên hệ thống sông Hồng và 60-70

km trên hệ thống sông Mê Kông Hơn 1,7 triệu ha châu thổ Mê Kông chịu tác động nhiễmmặn và có thể tăng lên 2,2 triệu ha, nếu không có giải pháp quản lý phù hợp Độ mặn châu thổsông Mê Kông tăng lên vào mùa khô, cực đại khoảng tháng 3- 4 và đường đẳng mặn 4%odịch về phía lục địa 20km trong 1978-1998 Quá trình này có quan hệ với các đập chứa thuộc

địa phận Trung Quốc (Nguyen et all, 1999) Sự kết hợp giữa giảm tải lượng nước sông do đắp

Trang 10

đập, tưới tiêu và mực biển dâng cao đã dẫn đến xâm nhập mặn tăng lên, gây thiệt hại chonông nghiệp và một số lĩnh vực kinh tế khác Dọc bờ miền Trung, nhiều tỉnh thiếu nước trầmtrọng cho nông nghiệp, sinh hoạt và công nghiệp do xâm nhập mặn ngược sông vào mùa khô.

Một phần biển Việt Nam nhiễm dầu thải từ hoạt động tàu thuyền, khai thác dầu khítrên thềm lục địa Tràn dầu là một tai biến gây ô nhiễm đáng kể, được biết có trên 40 vụ tràndầu ở vùng nước ven biển và cửa sông Việt Nam Vụ nghiêm trọng nhất xảy ra vào ngày 3tháng 10 năm 1994 tại cảng dầu Sài Gòn do tai nạn của tàu Neptune Aries, quốc tịch

Singapore, làm tràn 1865 tấn dầu (Cầu, 1999) Từ năm 1999 đến tháng 6 năm 2004 đã xảy ra

18 vụ tràn dầu, làm tràn ước tính 1300m3 dầu (Ninh và nnk, 2005) Vụ tràn dầu lớn vào cuối

năm 2001 tại vùng biển Vũng Tàu gây nhiều thiệt hại cho môi trường và hoạt động du lịch

Vụ đắm tàu Mỹ Đình sát Khu dự trữ sinh quyển Quần đảo Cát Bà vào đầu năm 2005 gây ranỗi lo lớn ô nhiễm dầu cho khu vực

4 Quản lý và bảo vệ môi trườngven biển

4.1 Quan điểm vĩ mô

Hiện nay, những vấn đề môi trường tầm vĩ mô liên quan đến sự tồn tại của con người

ở DVB biển thuộc về ba nguồn động lực quan trọng nhất Thứ nhất là sự gia tăng tần xuất vàcường độ các quá trình nội sinh như động đất, sóng thần và núi lửa có tiềm năng gây tai biếnlớn bất thường Thứ hai là biến đổi khí hậu và trái đất nóng lên do hoạt động công nghiệp vàphá rừng gây các tác động tiềm ẩn và dài lâu Thứ ba là những hoạt động nhân tác trên lưuvực và tại DVB biển gây suy thoái môi trường và các hệ sinh thái ven biển Nguồn lực thứnhất có bản chất hoàn toàn tự nhiên, có tính khu vực, bất khả kháng, chỉ có thể giảm thiểu tácđộng bằng cách phòng tránh Nguồn lực thứ hai phát sinh do cả quá trình tự nhiên, có sự canthiệp của con người ở quy mô toàn cầu, có thể hạn chế và phòng tránh chủ động Nguồn lựcthứ ba do nhân tác và con người có thể hạn chế chủ động nhờ các hành vi ứng xử tích cực củamình Các nguồn động lực tác động từ các hướng, tương tác với nhau tại DVB

Hướng từ trên lục địa gây ra các áp lực suy giảm nghiêm trọng và thay đổi phân bốnguồn vật chất (nước, trầm tích và dinh dưỡng) do sử dụng nước trên lưu vực (đặc biệt là xâydựng các đập lớn), đồng thời gia tăng tải lượng các chất gây ô nhiễm (75% các chất gây ônhiễm ở vùng ven biển có nguồn từ lục địa) Những vấn đề môi trường trọng yếu liên quan là

ô nhiễm, xói lở, sa bồi và xâm nhập mặn Hướng từ đại dương gây ra các áp lực như mựcbiển dâng cao, sóng lớn, bão lốc, nước dâng trong bão và tiềm năng động đất, sóng thần.Những vấn đề trọng yếu liên quan là xói lở, xâm nhập mặn, ngập lụt, những thiệt hại trực tiếp

về sinh mạng, kinh tế và ô nhiễm đi kèm Nguồn phát sinh tại DVB biển tạo ra các áp lực phát

Ngày đăng: 01/08/2019, 11:50

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w