1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận án tiến sĩ: Nghiên cứu tác động của công bố thông tin trách nhiệm xã hội đến hiệu quả tài chính của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

195 57 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 195
Dung lượng 2,35 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu tác động của công bố thông tin trách nhiệm xã hội đến hiệu quả tài chính của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt NamNghiên cứu tác động của công bố thông tin trách nhiệm xã hội đến hiệu quả tài chính của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt NamNghiên cứu tác động của công bố thông tin trách nhiệm xã hội đến hiệu quả tài chính của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt NamNghiên cứu tác động của công bố thông tin trách nhiệm xã hội đến hiệu quả tài chính của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt NamNghiên cứu tác động của công bố thông tin trách nhiệm xã hội đến hiệu quả tài chính của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt NamNghiên cứu tác động của công bố thông tin trách nhiệm xã hội đến hiệu quả tài chính của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt NamNghiên cứu tác động của công bố thông tin trách nhiệm xã hội đến hiệu quả tài chính của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt NamNghiên cứu tác động của công bố thông tin trách nhiệm xã hội đến hiệu quả tài chính của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt NamNghiên cứu tác động của công bố thông tin trách nhiệm xã hội đến hiệu quả tài chính của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt NamNghiên cứu tác động của công bố thông tin trách nhiệm xã hội đến hiệu quả tài chính của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt NamNghiên cứu tác động của công bố thông tin trách nhiệm xã hội đến hiệu quả tài chính của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

- 

-TẠ THỊ THÚY HẰNG

NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA CÔNG BỐ

THÔNG TIN TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI ĐẾN HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÀNH KẾ TOÁN

HÀ NỘI - 2019

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

- 

-TẠ THỊ THÚY HẰNG

NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA CÔNG BỐ

THÔNG TIN TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI ĐẾN HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

Chuyên ngành: KẾ TOÁN, KIỂM TOÁN VÀ PHÂN TÍCH

Mã số: 9340301

LUẬN ÁN TIẾN SĨ

Người hướng dẫn khoa học:

PGS.TS ĐẶNG THÁI HÙNG PGS.TS TRẦN VĂN THUẬN

HÀ NỘI - 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi đã đọc và hiểu về các hành vi vi phạm sự trung thực trong học thuật Tôi cam kết bằng danh dự cá nhân rằng nghiên cứu này do tôi thực hiện và không vi phạm

về sự trung thực trong học thuật

Người hướng dẫn

Hà Nội, ngày tháng năm 2019

Nghiên cứu sinh

PGS.TS Đặng Thái Hùng Tạ Thị Thúy Hằng

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Luận án này là kết quả những nỗ lực của tác giả sau bốn năm học tập, nghiên

cứu với sự hỗ trợ về vật chất, tinh thần của gia đình, thầy cô, đồng nghiệp, bạn bè và

cả các em sinh viên yêu quí

Trước hết tác giả xin gửi lời cảm ơn đến tập thể các Thầy Cô, cán bộ Viện Sau Đại học, Viện Kế toán Kiểm toán – Đại học Kinh tế Quốc dân đã tạo điều kiện cho NCS trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu Đặc biệt, tác giả xin gửi cảm ơn sâu

sắc đến hai Thầy hướng dẫn PGS.TS Đặng Thái Hùng, PGS.TS Trần Văn Thuận đã động viên, khích lệ, hướng dẫn và tạo mọi điều kiện tốt nhất để NCS hoàn thành Luận

án của mình

Tác giả vô cùng biết ơn bố mẹ đẻ, bố mẹ chồng, chồng và hai con Tuấn Duy, Bảo Phương đã chia sẻ, động viên, hỗ trợ tác giả về mặt vật chất, tinh thần, thời gian

để tác giả có thể tập trung cho Luận án

Tác giả cũng xin chân thành cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp, các em sinh viên đã chia sẻ, hỗ trợ tác giả trong quá trình tác giả thực hiện Luận án

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC BẢNG viii

DANH MỤC HÌNH VÀ SƠ ĐỒ ix

DANH MỤC PHỤ LỤC x

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA CÔNG BỐ THÔNG TIN TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI ĐẾN HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 5

1.1 Tổng quan nghiên cứu tác động của công bố thông tin trách nhiệm xã hội đến hiệu quả tài chính 5

1.1.1 Sự khác biệt về nội dung thông tin TNXH DN 5

1.1.2 Sự khác biệt đo lường hiệu quả tài chính doanh nghiệp 6

1.2 Khoảng trống nghiên cứu 18

Kết luận chương 1 20

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LÝ LUẬN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA CÔNG BỐ THÔNG TIN TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI ĐẾN HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 21

2.1 Lý luận chung về trách nhiệm xã hội và công bố thông tin trách nhiệm xã hội 21

2.1.1 Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp 21

2.1.2 Công bố thông tin trách nhiệm xã hội 23

2.1.3 Đo lường công bố thông tin trách nhiệm xã hội 28

2.2 Hiệu quả tài chính và các chỉ tiêu đo lường hiệu quả tài chính 32

2.2.1 Hiệu quả tài chính 32

2.2.2 Các chỉ tiêu đo lường hiệu quả tài chính 32

2.3 Cơ sở lý thuyết mối quan hệ công bố thông tin trách nhiệm xã hội và hiệu quả tài chính doanh nghiệp 35

2.3.1 Lý thuyết các bên liên quan 35

2.3.2 Lý thuyết hợp pháp 37

2.3.3 Lý thuyết tín hiệu 38

Kết luận chương 2 43

Trang 6

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 44

3.1 Xây dựng giả thuyết nghiên cứu 44

3.2 Mô hình nghiên cứu 44

3.3 Xây dựng phương trình nghiên cứu định lượng 49

3.4 Đo lường các biến trong mô hình nghiên cứu 51

3.4.1 Biến công bố thông tin trách nhiệm xã hội 51

3.4.2 Đo lường biến hiệu quả tài chính 62

3.4.3 Đo lường các biến kiểm soát 63

3.5 Dữ liệu nghiên cứu 63

3.6 Phương pháp hồi quy thực hiện trong nghiên cứu 65

3.6.1 Phương pháp hồi quy dữ liệu bảng 65

3.6.2 Trình tự thực hiện nghiên cứu định lượng 67

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VỀ TÁC ĐỘNG CỦA CÔNG BỐ THÔNG TIN TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI ĐẾN HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 72

4.1 Đặc điểm thị trường chứng khoán Việt Nam và các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam 72

4.1.1 Đặc điểm thị trường chứng khoán Việt Nam 72

4.1.2 Đặc điểm hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam 73

4.1.3 Hoạt động công bố thông tin và công bố thông tin trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam 76

4.2 Thống kê mô tả dữ liệu 78

4.2.1 Thống kê kết quả công bố thông tin trách nhiệm xã hội 78

4.2.2 Thống kê mô tả các biến ROA và TBQ 86

4.3 Phân tích tương quan 86

4.4 Phân tích hồi quy 87

4.4.1 Lựa chọn mô hình hồi quy với biến phụ thuộc ROA 87

4.4.2 Lựa chọn mô hình phù hợp với biến phụ thuộc TBQ 89

4.4.3 Kiểm định kết quả hồi quy 90

4.4.4 Kết quả hồi quy các phương trình 95

Kết luận chương 4 104

Trang 7

CHƯƠNG 5: THẢO LUẬN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, KHUYẾN NGHỊ VÀ

KẾT LUẬN 105

5.1 Thảo luận kết quả nghiên cứu 105

5.1.1 Thảo luận về xây dựng chỉ mục báo cáo trách nhiệm xã hôi 105

5.1.2 Thảo luận thực trạng công bố thông tin trách nhiệm xã hội 106

5.1.3 Thảo luận về tác động của công bố thông tin trách nhiệm xã hội đến hiệu quả tài chính doanh nghiệp 108

5.1.4 Thảo luận ảnh hưởng của pháp luật và chất lượng kiểm toán đến công bố thông tin trách nhiệm xã hội 110

5.2 Kiến nghị 111

5.2.1 Đối với Nhà nước 111

5.2.2 Đối với DN niêm yết 114

5.2.3 Đối với các nhà đầu tư 117

5.2.4 Đối với các bên quan khác của DN 117

5.3 Những đóng góp mới của luận án 118

5.3.1 Về mặt khoa học và lý luận 118

5.3.2 Về mặt thực tiễn 118

5.4 Hạn chế nghiên cứu 119

5.5 Hướng nghiên cứu trong tương lai 120

Kết luận chương 5 121

KẾT LUẬN 122

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 123

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 125

PHỤ LỤC 139

Trang 8

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Kí hiệu Tiếng Việt Tiếng Anh

2SLS Mô hình hồi quy hai giai đoạn Two-Stage Least Squares Regression ACCA Hiệp hội kế toán công chứng

Anh quốc

The Association of Chartered Certified Accountants

AUDIT Chất lượng kiểm toán

CBTT Công bố thông tin

CK Chứng khoán

COM Thông tin trách nhiệm với

cộng đồng

Community responsibility information

COP Báo cáo tiến bộ Communication of Progress

CSRD Công bố thông tin trách

nhiệm xã hội

Corporate social responsibility disclosure

CUS Thông tin trách nhiệm với

Employment responsibility information

ENV Thông tin trách nhiệm với

môi trường

Environmental responsibility information

EPS Thu nhập trên cổ phiếu Earning Per Share

FEM Mô hình ảnh hưởng cố định Fixed effects model

GLS Mô hình bình quân tối thiểu

tổng quát

Generalized Least Square regression model

GMM Phương pháp hồi quy GMM Generalized method of moment

GRI Sáng kiến báo cáo toàn cầu Global Reporting Initiative

GRW Tỷ lệ tăng trưởng Sale Growth Ratio

IFC Công ty tài chính quốc tế International FinanceCorporation

Trang 9

Kí hiệu Tiếng Việt Tiếng Anh

IIRC Hội đồng Báo cáo Tích hợp

quốc tế

International integrated reporting Council

ISO Bộ tiêu chuẩn quốc tế International Standards Organization

LAW Quy định pháp luật

LEV Đòn bẩy tài chính Financial leverage

ROA Tỷ suất lợi nhuận trên tài sản Return on Assets

SIZE Quy mô doanh nghiệp Corporate size

United Nations Global Compact

VCCI Phòng thương mại và công

nghiệp Việt Nam

WB Ngân hàng thế giới World Bank

WBCSD Hội đồng doanh nghiệp vì sự

phát triển bền vững thế giới

World Business Council for Sustainable Development

Trang 10

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1: Mười nguyên tắc thực hành trách nhiệm xã hội của UNGC được yêu cầu

trình bày trong COP 25

Bảng 2.2: Danh mục các nội dung thông tin trách nhiệm xã hội theo GRI4 26

Bảng 2.3: Các vấn đề trách nhiệm xã hội theo ISO 26000:2010 27

Bảng 2.4: Nhóm các bên liên quan trọng yếu của DN 37

Bảng 3.1: Bảng danh sách kiểm tra thông tin TNXH khảo sát thử 54

Bảng 3.2: Bảng danh sách kiểm tra thông tin TNXH khảo sát 59

Bảng 4.1: Tổng tài sản của các ngành niêm yết 2012 - 2016 74

Bảng 4.2: ROA của các ngành niêm yết giai đoạn 2012 - 2016 75

Bảng 4.3: Thống kê kết quả CBTT trung bình cuả các DN 2006 - 2016 78

Bảng 4.4: Thống kê kết quả CBTT TNXH 80

Bảng 4.5: Ma trận tương quan giữa các biến 87

Bảng 4.6: Bảng tổng hợp kết quả hồi quy biến phụ thuộc ROA 88

Bảng 4.7: Bảng tổng hợp kết quả hồi quy biến phụ thuộc TBQ 89

Bảng 4.8: Kết quả kiểm định VIF với biến phụ thuộc ROA 90

Bảng 4.9: Kết quả kiểm định VIF với biến phụ thuộc TBQ 91

Bảng 4.10: Kết quả kiểm định phương sai thay đổi các mô hình 91

Bảng 4.11: Kết quả kiểm định hiện tượng tự tương quan các mô hình 92

Bảng 4.12: Kết quả kiểm định hiện tượng nội sinh các mô hình 94

Bảng 4.13: Bảng tổng hợp khuyết tật các mô hình 95

Bảng 4.14: Kết quả hồi quy GMM mô hình 1 và 3 với biến phụ thuộc ROA 96

Bảng 4.15: Kết quả hồi quy GLS mô hình 4 biến phụ thuộc TBQ 98

Bảng 4.16: Kết quả hồi quy mô hình giữa biến công cụ và biến nội sinh 99

Bảng 4.17: Kết quả hồi quy hai giai đoạn 2SLS mô hình 2 100

Bảng 4.18: Kết quả hồi quy GMM mô hình 5 với biến phụ thuộc ROA 101

Bảng 4.19: Kết quả hồi quy 2SLS mô hình 6 với biến phụ thuộc TBQ 102

Bảng 5.1: Bảng tổng hợp và so sánh kết quả với giả thuyết 108

Trang 11

DANH MỤC HÌNH VÀ SƠ ĐỒ

Hình 2.1: Mô hình TNXH của Freeman 35

Hình 2.2: Mối quan hệ giữa CBTT TNXH và HQTC DN 42

Hình 3.1: Mô hình nghiên cứu 45

Hình 4.1: Diễn biến thị trường giai đoạn 2000 – 2016 73

Hình 4.2: DN niêm yết đạt chuẩn CBTT 2012 - 2017 76

Hình 4.3: Mức độ CBTT TNXH trung bình theo thành phần thông tin của DN năm 2006 - 2016 79

Hình 4.4: DN niêm yết thực hiện CBTT TNXH riêng biệt 2006- 2016 81

Hình 4.5: Mức độ CBTT TNXH tại DN sản xuất và DN phi sản xuất 2006- 2016 82

Hình 4.6: Mức độ CBTT môi trường tại DN SX và DN phi SX 2006- 2016 82

Hình 4.7: Mức độ CBTT lao động tại DN sản xuất và DN phi sản xuất 2006- 2016 83

Hình 4.8: Mức độ CBTT cộng đồng tại DN sản xuất và DN phi sản xuất 2006- 2016 84

Hình 4.9: Mức độ CBTT sản phẩm tại DN SX và DN phi SX 2006- 2016 85

Hình 4.10: TBQ và ROA trung bình của DN niêm yết năm 2006 - 2016 86

Trang 12

DANH MỤC PHỤ LỤC

Phụ lục 1: Bằng chứng ảnh hưởng của công bố thông tin trách nhiệm xã hội tới giá trị

thị trường doanh nghiệp

Phụ lục 2: Bằng chứng ảnh hưởng của công bố thông tin trách nhiệm xã hội tới hiệu

quả tài chính - theo số liệu kế toán

Phụ lục 3: Bằng chứng ảnh hưởng công bố thông tin trách nhiệm xã hội tới hiệu quả

tài chính tại Việt Nam

Phụ lục 4: Bảng danh sách doanh nghiệp lựa chọn khảo sát thử

Phụ lục 5: Danh sách doanh nghiệp trong mẫu khảo sát chính thức

Phụ lục 6: Kết quả các kiểm định mô hình 1 – biến phụ thuộc ROA

Phụ lục 7: Kết quả các kiểm định mô hình 3 – biến phụ thuộc ROA

Phụ lục 8: Kết quả các kiểm định mô hình 2 – biến phụ thuộc TBQ

Phụ lục 9: Kết quả các kiểm định mô hình 4 – biến phụ thuộc TBQ

Phụ lục 10: Kết quả các kiểm định mô hình 5 – biến phụ thuộc TBQ

Phụ lục 11: Kết quả các kiểm định mô hình 6 – biến phụ thuộc TBQ

Trang 13

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Thông tin trách nhiệm xã hội (TNXH) của doanh nghiệp (DN) là một phần của thông tin phi tài chính công khai cho thấy các hoạt động tương tác của DN với xã hội

và môi trường sống Thông qua những thông tin này các bên liên quan có thể đánh giá

mức độ thực hành TNXH của DN Vì vậy CBTT TNXH DN có ý nghĩa rất lớn trong

việc quảng bá hình ảnh của DN với các bên liên quan về các hoạt động TNXH của DN nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh, thu hút đầu tư, cải thiện hiệu quả hoạt động của

DN Nhiều DN trên thế giới đã có những thành quả nhất định thông qua thực hành và CBTT TNXH của DN chẳng hạn như Microsoft trở thành tập đoàn công nghệ uy tín hàng đầu trên thế giới do hãng tư vấn toàn cầu Reputation Institute khảo sát năm 2012

với những chương trình hỗ trợ cộng đồng, chương trình từ thiện hay hãng giày thể thao Nike vực dậy sau thời gian doanh số tụt dốc với những cáo buộc và kiện cáo do những

bê bối liên quan đến việc các nhà cung cấp của Nike bóc lột lao động với mức lương rẻ mạt nhờ vào việc công khai danh sách các nhà cung cấp của Nike để các tổ chức phi chính phủ có thể giám sát vào năm 2004 Thật vậy, những thành quả từ thực hành và CBTT này của các DN cũng đã được chứng minh bằng công trình khoa học của các nhà nghiên cứu trên thế giới: thực hành và CBTT TNXH giúp tạo dựng uy tín cho DN (Hess

và cộng sự, 2002; Brammer and Millington, 2005; Yingjun Lu và cộng sự, 2015), gia tăng giá trị thị trường (Belkaoui, 1976; Frankle and Anderso,1980; Robert,1978; Martin Freedman and Stagliano, 1991; Berthelot và cộng sự, 2012; Clarkson và cộng sự, 2013; Klerk và cộng sự, 2015, Cahan và cộng sự, 2015), giảm thiểu chi phí vốn (Dhaliwal và cộng sự, 2011; Orens và công sự, 2010), tăng sự hài lòng của nhân viên (Kim và cộng sự, 2010) Chính nhờ những lợi ích như vậy mà thực hành và CBTT TNXH đã trở thành xu thế của thời đại giúp DN tồn tại và phát triển bền vững

Tại Việt Nam, không nằm ngoài xu thế thế giới, Nhà nước và các DN ngày càng quan tâm đến TNXH DN nhằm mục tiêu phát triển bền vững Nhà nước cũng đã

có những cơ chế để hỗ trợ hướng dẫn các DN thực hiện và báo cáo các hoạt động trách nhiệm xã hội phục vụ mục tiêu phát triển bền vững Chẳng hạn, năm 2012 Ủy ban

Chứng khoán Nhà nước kết hợp với một số tổ chức như VCCI, IFC, ACCA, GRI đã đưa ra những hướng dẫn lập báo cáo phát triển bền vững dựa trên tiêu chuẩn báo cáo được sử dụng phổ biến trên toàn cầu Năm 2015, đánh dấu sự gia tăng áp lực của phía Nhà nước đối với các DN Việt Nam đó là sự ra đời của Thông tư số 155/2015/TT-BTC ngày 6/10/2015 của Bộ Tài chính được xem là văn bản pháp lý đầu tiên về yêu

cầu CBTT về phát triển bền vững của các DN niêm yết Về phía các DN Việt Nam,

Trang 14

trong những năm qua, hoạt động trách nhiệm xã hội đã được các DN lồng ghép phần nào vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhưng tập trung chủ yếu ở những DN niêm yết trên TTCK Một số DN niêm yết đã tiên phong trong việc CBTT TNXH ngay cả khi

chưa có quy định pháp lý yêu cầu bắt buộc lập báo cáo bền vững như Tập đoàn Bảo Việt, Công ty cổ phần Sữa Việt Nam, Công ty cổ phần chứng khoán TP Hồ Chí Minh, Công ty cổ phần Tập đoàn Hoa Sen

Tuy nhiên câu hỏi đặt ra liệu có phải tất cả các DN Việt Nam đều quan tâm và thực hành tốt CBTT TNXH và liệu rằng thực hành và CBTT TNXH có mang lại những lợi ích cho các DN Việt Nam như các bằng chứng trên thế giới đã chỉ ra Để tìm hiểu câu trả lời này nhiều nhà nghiên cứu cũng đã thực hiện khảo sát các DN Việt Nam và cung cấp bằng chứng rằng TNXH làm nâng cao HQTC (Châu Thị Lệ Duyên, 2013; Trần Thị Hoàng Yến, 2016), gia tăng lòng trung thành của khách hàng (Nguyễn Thị Anh Bình và Phạm Long, 2015), ảnh hưởng đến hành vi mua hàng của người tiêu dùng (Nguyễn Phương Mai, 2015) Bên cạnh đó cũng có một số nghiên cứu về CBTT TNXH cho thấy CBTT TNXH ảnh hưởng đến HQTC DN chẳng hạn như nghiên cứu

của Ho Ngoc Thao Trang and Liafisu Sina Yekini (2014), Nguyễn Thị Bích Ngọc và

cộng sự (2015), Nguyễn Xuân Hưng và Trịnh Hiệp Thiện (2016), Tạ Thị Thúy Hằng (2017), Hồ Thị Vân Anh (2018) Tuy nhiên các nghiên cứu này có kết quả nghiên cứu không đồng nhất và mới chỉ dừng lại ở mẫu có số lượng quan sát nhỏ, thời gian nghiên

cứu ngắn và chỉ dừng lại ở việc sử dụng hồi quy đa biến thông thường (OLS, FEM, REM) để tìm hiểu ảnh hưởng của CBTT TNXH đến HQTC DN mà chưa giải quyết

hiện tượng nội sinh trong mô hình nghiên cứu do biến CBTT TNXH và HQTC có thể

có mối quan hệ tương quan hai chiều Đồng thời do môi trường thực hành và CBTT TNXH ở Việt Nam ngày càng được gia tăng nhưng chưa có nghiên cứu nào thực hiện xem liệu sự gia tăng này có kéo theo sự gia tăng của HQTC DN hay không Vì vậy

việc sử dụng phương pháp ước lượng mô hình bổ sung nhằm khắc phục hiện tượng nội sinh giữa các biến và tìm kiếm sự khác biệt theo thời gian về ảnh hưởng của CBTT TNXH đến HQTC DN là việc cần thiết để khẳng định kết luận về ảnh hưởng của CBTT TNXH đến HQTC DN đầy đủ và đáng tin cậy hơn

Từ những lý do trên, tác giả thấy rằng cần phải mở rộng các nghiên cứu trước đây về ảnh hưởng của CBTT TNXH đến HQTC DN đưa ra kết luận rõ ràng và đáng tin cậy hơn Đó chính là lý do tác giả chọn đề tài “Nghiên cứu tác động của công bố

thông tin trách nhiệm xã hội đến hiệu quả tài chính của các doanh nghiệp niêm yết

cứu này

Trang 15

2 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu của luận án

2.1 Mục tiêu nghiên cứu của luận án

Như đã trình bày ở phần lý do chọn đề tài, mục tiêu cơ bản của nghiên cứu này

là tìm hiểu ảnh hưởng của CBTT TNXH đến HQTC của các DN niêm yết trên TTCK

Việt Nam Từ mục tiêu cơ bản đó, các mục tiêu cụ thể của nghiên cứu này được xác định là:

- Tính toán và đo lường mức độ CBTT TNXH trong các DN niêm yết trên TTCK Việt Nam trong giai đoạn 2006 -2016

- Tìm kiếm sự khác biệt CBTT TNXH tại các DN sản xuất và DN phi sản xuất niêm yết trên TTCK Việt Nam

- Tìm kiếm ảnh hưởng của CBTT TNXH tới HQTC của DN niêm yết trên TTCK Việt Nam

- Đưa ra những kết luận và kiến nghị nhằm tăng cường CBTT TNXH góp phần nâng cao HQTC tại niêm yết trên TTCK Việt Nam

2.2 Câu hỏi nghiên cứu của luận án

Từ mục tiêu nghiên cứu đề ra, luận án xác định các câu hỏi nghiên cứu:

1 Có sự khác biệt giữa CBTT TNXH của các DN sản xuất và DN phi sản xuất trên TTCK Việt Nam hay không?

2 CBTT TNXH có ảnh hưởng đến HQTC của các DN niêm yết trên trên TTCK Việt Nam hay không? Ảnh hưởng này có sự khác biệt ở khoảng thời gian khác nhau hay không? CBTT TNXH năm trước có ảnh hưởng đến HQTC năm tiếp theo hay không?

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Mức độ CBTT TNXH DN, HQTC DN, ảnh hưởng của mức độ CBTT TNXH đến HQTC của các DN niêm yết trên TTCK Việt Nam

3.2 Phạm vi nghiên cứu

+ Phạm vi nội dung: Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, tác giả thực hiện đo

lường CBTT TNXH theo mức độ CBTT TNXH và HQTC DN được xác định theo hai

chỉ tiêu đại diện là tỷ suất lợi nhuận trên tài sản ROA và giá trị thị trường Tobin’Q

Nội dung thông tin TNXH được tác giả lựa chọn là cộng hợp của 4 thành phần thông

Trang 16

tin: Thông tin về trách nhiệm môi trường, Thông tin về trách nhiệm với lao động, Thông tin về trách nhiệm với cộng đồng xã hội, Thông tin về trách nhiệm với người tiêu dùng

+ Phạm vi không gian: Các doanh nghiệp niêm yết phi tài chính trên TTCK

Việt Nam trên cả 2 sàn giao Hồ Chí Minh và Hà Nội Các DN niêm yết trên sàn UPCOM sẽ không thuộc phạm vi nghiên cứu của Luận án

+ Phạm vi thời gian: Các DN niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội được công bố công khai với dữ liệu từ năm 2006 - 2016

Những DN có thời gian niêm yết sau năm 2006 và hủy niêm yết trong thời gian 2006 -

2016 sẽ không thuộc phạm vi nghiên cứu của Luận án

4 Kết cấu luận án

Ngoài phần lời mở đầu, kết luận, các phụ lục và tài liệu tham khảo, Luận án có kết cấu gồm 5 chương:

Chương 1: Tổng quan nghiên cứu tác động của công bố thông tin trách nhiệm

xã hội đến hiệu quả tài chính doanh nghiệp

Chương 2: Cơ sở lý luận về tác động của công bố thông tin trách nhiệm xã hội đến hiệu quả tài chính doanh nghiệp

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Chương 4: Kết quả nghiên cứu tác động của công bố thông tin trách nhiệm xã hội đến hiệu quả tài chính của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

Chương 5: Thảo luận kết quả nghiên cứu, khuyến nghị và kết luận

Trang 17

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA CÔNG BỐ THÔNG TIN TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI ĐẾN HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP

CBTT TNXH được xem là một công cụ đánh giá hiệu quả xã hội của một

DN Nhiều năm qua, TNXH đã trở thành một vấn đề ngày càng được quan tâm trong giới nghiên cứu cũng như trong giới kinh doanh trên thế giới Nhiều DN tự nguyện tiết lộ thông tin về các hoạt động của họ liên quan đến các vấn đề về đạo đức, quản trị DN, xã hội và môi trường Bên cạnh đó CBTT TNXH được coi là

một công cụ để tăng tính minh bạch thể hiện trách nhiệm giải trình của một DN đối với xã hội Tổng quan cho thấy nhiều nghiên cứu đã được tiến hành để kiểm tra ảnh hưởng của CBTT TNXH đến HQTC DN trên toàn thế giới Tuy nhiên, mỗi nghiên cứu có cách thức tiếp cận thông tin TNXH riêng và kết quả nghiên cứu không đồng nhất

1.1 Tổng quan nghiên cứu tác động của công bố thông tin trách nhiệm xã hội đến hiệu quả tài chính

1.1.1 Sự khác biệt về nội dung thông tin TNXH DN

TNXH là một phạm trù rộng, đa dạng về các tiêu chuẩn hướng dẫn TNXH trên thế giới Vậy nên các nghiên cứu về vấn đề này cũng có sự khác biệt về nội dung thông tin TNXH DN Đa số các nghiên cứu chọn bốn nội dung thông tin chủ yếu TNXH DN: lao động, sản phẩm, cộng đồng và môi trường như nghiên cứu của (Mustaruddin Saleh và cộng sự (2011), Jitaree (2015), Nagib Salem Bayoud và cộng

sự (2012), Mohammed Nma Ahmed và cộng sự (2016) Tuy nhiên cũng có những nghiên cứu lựa chọn thành phần thông tin khác như Khlif và cộng sự (2015) lựa chọn: môi trường và xã hội, Makni và cộng sự (2009) lựa chọn thành phần thông tin:

cộng đồng và xã hội, quản trị DN, khách hàng, lao động, môi trường và quyền con người hay Nina karina Karim và cộng sự (2013) với mẫu là các DN kinh doanh dịch

vụ niêm yết trên TTCK Indonesia chọn những tiêu chí TNXH theo hướng dẫn của GRI 3.1 đó là những thông tin về kinh tế, môi trường, xã hội Tại Việt Nam, những nghiên cứu về ảnh hưởng CBTT TNXH đến HQTC cũng có sự khác biệt trong lựa

chọn thành phần thông tin TNXH Nguyễn Thị Bích Ngọc và cộng sự (2015), Hồ

Viết Tiến và Hồ Thị Vân Anh (2017) lựa chọn bốn thành phần thông tin chính là môi

trường, lao động, sản phẩm, cộng đồng và Ho Ngoc Thao Trang và Liafisu Sina

Trang 18

Yekini (2014) ngoài bốn thành phần thông tin đó còn tìm hiểu thành phần thông tin

về năng lượng và các vấn đề khác thuộc TNXH DN dựa trên cơ sở các nghiên cứu trước đó Khác biệt hẳn với các nghiên cứu này Nguyễn Xuân Hưng và Trịnh Hiệp Thiện (2016) lại lựa chọn tiêu chuẩn TNXH của tổ chức sáng tạo toàn cầu GRI (GRI4) để thực hiện nghiên cứu bao gồm 3 thành phần thông tin TNXH: kinh tế, môi

trường, xã hội

Sự khác nhau về các nội dung thông tin TNXH công bố giữa các nghiên cứu là

do vẫn còn những quan điểm và cách tiếp cận khác nhau về TNXH DN ở những thời điểm khác nhau Song về cơ bản quan niệm và nhận thức về thông tin TNXH trong các nghiên cứu này cũng đã có sự tương đồng theo thông lệ quốc tế tập trung vào các nội dung thông tin về trách nhiệm của doanh nghiệp đối với xã hội

1.1.2 Sự khác biệt đo lường hiệu quả tài chính doanh nghiệp

Tổng quan nghiên cứu cho thấy các nghiên cứu sử dụng hai nhóm chỉ tiêu đo lường HQTC DN đó là: nhóm chỉ tiêu đo lường HQTC DN theo giá trị thị trường và nhóm chỉ tiêu đo lường HQTC theo số liệu kế toán

Nghiên cứu đo lường HQTC DN theo giá trị thị trường

Nhiều nghiên cứu trên thế giới đã thực hiện để xem xét ảnh hưởng của CBTT TNXH đến giá trị thị trường DN thông qua các chỉ số đo lường như: giá cổ phiếu

(Belkaoui (1976), Robert (1978), Edmund và cộng sự (1997), Clarkson và cộng sự (2013), Klerk (2015), Murray và cộng sự (2005), Freedman and Stagliano (1991), Verbeeten và cộng sự (2016)), lợi nhuận trên cổ phiếu EPS (Jitaree (2015), Mohammed và cộng sự (2016)), giá trị vốn hóa (Berthelot và cộng sự (2012)), phản

ứng thị trường – mô hình CAR (Blacconiere and Patten (1994), Hassel và cộng sự

(2005)), giá trị doanh nghiệp Tobin’Q (Saleh và cộng sự (2011), Cahan và cộng sự (2015), Khlif và cộng sự (2015), Jitaree (2015)), tỷ lệ giá trị thị trường trên giá trị ghi

sổ PBV (Dewi và Monalisa (2016)) Kết quả về mối quan hệ này rất đa dạng có thể chia thành 3 nhóm như sau:

Nhóm 1: Có mối quan hệ thuận giữa CBTT TNXH với giá trị thị trường DN

Có nhiều bằng chứng đã chỉ ra rằng thực hành và CBTT TNXH làm tăng giá cổ phiếu DN Những nghiên cứu này cho thấy các nhà đầu tư có xu hướng đầu tư vào

những DN thực hiện báo cáo về những vấn đề về môi trường hơn là những DN không báo cáo Belkaoui (1976) thực hiện nghiên cứu về ảnh hưởng thông tin môi trường đến

Trang 19

sự biến động giá cổ phiếu của DN với số liệu được khảo sát từ báo cáo thường niên

của 50 DN của Mỹ năm 1970 Bằng kỹ thuật tính trung bình phần dư giá cổ phiếu các

DN này của các tháng trước khi công bố và sau khi công bố, kết quả cho thấy rằng sau khi CBTT kết quả hoạt động của cổ phiếu của DN trên thị trường tốt hơn Kết quả nghiên cứu tương tự Frankle và Anderso (1980) thực hiện nghiên cứu về CBTT xã hội

tự nguyện đến thị trường vốn của DN của 500 công ty trong danh sách Fortune dựa trên báo cáo thường niên tháng 7/1972 đến tháng 8/1973 thông qua kỹ thuật t-test phân tích mức biến động giá của cổ phiếu so với mức biến động chung của toàn thị trường Bên cạnh những nghiên cứu về CBTT môi trường, một số nghiên cứu với phạm vi thông tin TNXH DN rộng hơn như Robert (1978) tìm hiểu nội dung thông tin liên quan đên môi trường, công bằng trong kinh doanh, sức khỏe và an toàn lao động cho nhân viên, thông tin hỗ trợ cộng đồng, thông tin về sản phẩm.Thông qua khảo sát 287

DN trong số 500 DN xếp hạng của tạp chí Fortune theo báo cáo thường niên từ 1970 –

1976, kết quả cho thấy rằng nội dung thông tin TNXH DN tiết lộ có ảnh hưởng tích

cực đến giá cổ phiếu DN

Bên cạnh đó, một số tác giả thực hiện nghiên cứu gắn liền với các sự kiện về môi trường xã hội cũng cho thấy mối tương quan tích cực giữa CBTT TNXH với giá

cổ phiếu DN Martin Freedman and Stagliano (1991) kiểm tra CBTT môi trường ở 27

DN trong ngành công nghiệp dệt của Mỹ sau sự kiện tòa án tối cao Mỹ ra quy định

thắt chặt phát thải khói bụi cotton Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng, trước khi có quy định thắt chặt phát thải khói bụi cotton của tòa án tối cao Mỹ, những DN mà không CBTT hoặc chỉ công bố những thông tin chung chung đánh giá những tác động tiềm

ẩn của quy định này thì giá cổ phiếu này bị giảm tương đối so với những DN có những CBTT định lượng về đánh giá những tác động của nó Điều này cho thấy rằng một trong những nhân tố tác động đến thị trường đó chính là nội dung và mức độ của những thông tin trước đó đã công bố liên quan đến tiêu chuẩn mới ra đời Giải thích điều này tác giả cho rằng với những DN CBTT định lượng về những chi phí liên quan đến xử lý khói bụi thì nhà đầu tư có phản ứng ít tiêu cực hơn đối với các DN không công bố hoặc công bố chung chung Một nghiên cứu khác cũng gắn với một sự kiện

lớn tại Ấn Độ, Blacconiere and Patten (1994) thực hiện kiểm tra phản ứng của TTCK

của 47 DN hóa chất của Mỹ (ngoài công ty đa quốc gia Union Carbide) sau thảm họa

rò rỉ hóa chất ở Bhopal, Ấn Độ do công ty Union Carbide gây ra Bằng chứng chỉ ra rằng các DN có công bố rộng rãi về thông tin môi trường trong báo cáo tài chính của

họ trước khi bị rò rỉ hóa học đã trải qua một phản ứng tiêu cực ít hơn so với các công

Trang 20

ty CBTT ít hơn Giải thích điều này tác giả cho rằng các nhà đầu tư đã nhìn thấy tín

hiệu về khả năng đối mặt của DN với rủi ro sau sự cố ở Bhopal thông qua những thông tin được công bố trước đó Kết quả này là một bằng chứng cho thấy nếu DN tiết lộ

những “tin tốt” thì có thể trấn áp được những tin xấu liên quan đến những tai tiếng sau

sự cố về môi trường

Nhằm giải thích rõ hơn về mức độ tương quan giữa biến CBTT TNXH và HQTC, nhiều nghiên cứu đã xây dựng phương trình hồi quy chỉ ra tương quan tích cực

giữa hai biến số này (Berthelot và cộng sự (2012), Clarkson và cộng sự (2013), Klerk

và cộng sự (2015), Cahan và cộng sự (2015)) Với bối cảnh nghiên cứu khác nhau các nghiên cứu này sử dụng phương pháp đo lường khác nhau để xác định mức độ CBTT TNXH nhưng kết quả giống nhau về mối tương quan tích cực giữa CBTT TNXH với giá trị DN (Tobin’Q) Berthelot và cộng sự (2012) với nghiên cứu DN niêm yết trên thị trường Toronto, Canada cho thấy lập báo cáo bền vững ảnh hưởng tích cực đến giá

trị vốn hóa thị trường của các DN Ở bối cảnh khác Clarkson và cộng sự (2013) kiểm tra ở DN nhạy cảm với môi trường ở Mỹ thấy rằng mức độ CBTT TNXH theo chuẩn GRI có ảnh hưởng tích cực đến giá cổ phiếu của các DN này Nghiên cứu ở tầm quốc

tế có xét đến khía cạnh đặc thù quốc gia và đặc tính của DN, Cahan và cộng sự (2015)

kiểm tra 676 công ty từ 22 quốc gia khác nhau với dữ liệu về TNXH được khảo sát bởi KPMG thông qua phương pháp hồi quy hai giai đoạn tác giả thấy rằng ở những quốc gia quốc gia thuộc trường phái kế toán Anglo - Saxon linh hoạt và xét đoán nghề nghiệp cao, có các tổ chức quốc tế lớn thì ảnh hưởng của thông tin TNXH đến giá trị doanh nghiệp Tobin’Q là lớn hơn so với các quốc gia khác Tương tự, Mohammed và

cộng sự (2016) trong bối cảnh nước đang phát triển ở Nigenia với dữ liệu báo cáo thường niên (2001-2012) của 10 doanh nghiệp cũng đã được tìm thấy ảnh hưởng CBTT TNXH ảnh hưởng tích cực đến HQTC của DN thông qua chỉ tiêu lợi nhuận trên

cổ phiếu (EPS) thông qua hồi quy OLS

Nhóm 2: Có mối quan hệ nghịch hoặc không có mối tương quan giữa CBTT TNXH với giá trị thị trường DN

Bên cạnh những nghiên cứu cho kết quả tích cực thì cũng có những nghiên cứu cho kết quả tiêu cực hoặc không mối tương quan giữa hai biến số Edmund và cộng sự (1997) thực hiện kiểm tra 64 DN quốc phòng của Mỹ năm 1986 theo 2 nhóm: 25 DN

có ký vào bản ghi nhớ sáng kiến công nghiệp quốc phòng về đạo đức và hành xử trong kinh doanh (DII) và 39 DN không kí DII Kết quả chỉ ra thị trường phản ứng tiêu cực

tất cả DN nhưng phản ứng là tiêu cực hơn với nhưng DN ký DII Giải thích điều này,

Trang 21

tác giả cho rằng thị trường phản ứng với DII bởi các nhà đầu tư coi việc các DN ký DII là một sự thừa nhận về hành vi phi đạo đức và khi đó việc giám sát các DN này sẽ được chú trọng hơn khiến cho cơ hội tìm kiếm lợi nhuận của các DN này bị giảm sút

Ở một bối cảnh khác ở quốc gia phát triển Hassel và cộng sự (2005) kiểm tra 71 DN niêm yết trên TTCK Stockholm Thụy điển, năm 1998 – 2000 Tác giả xây dựng 23 tiêu chí về môi trường và gán điểm 0-3 để đánh giá mức độ CBTT môi trường Mô hình OLS của nghiên cứu cho kết quả về ảnh hưởng tiêu cực của CBTT môi trường đến giá trị thị trường Giải thích cho kết quả đó tác giả cho rằng có hai nguyên nhân:

thứ nhất, thị trường là ngắn hạn và các nhà đầu tư không xem xét thông tin TNXH có lợi ích lâu dài để quyết định đầu tư, thứ hai, các nhà đầu tư nhận thấy rằng các hoạt động về TNXH làm tăng chi phí của DN khiến các nhà đầu tư phản ánh tiêu cực vì lợi nhuận dự kiến giảm mà rủi ro không giảm tương ứng Kết quả là tương tự với ảnh

hưởng ngược chiều của thông tin về sản phẩm và môi trường đến giá trị thị trường DN Tobin’Q trong nghiên cứu của Mustaruddin Saleh và cộng sự (2011) trong bối cảnh Malaysia – một quốc gia đang phát triển với mẫu là 200 doanh nghiệp vốn hóa thị

trường cao nhất trong thời gian 1999-2005

Cũng với những giải thích tương tự, một số nghiên cứu không tìm thấy ảnh

hưởng của CBTT TNXH đến giá trị thị trường DN Lý giải kết quả các nhà nghiên cứu cho rằng giá của cổ phiếu không phụ thuộc vào mức độ thực hành TNXH DN bởi đơn

giản là các nhà đầu tư không xem xét việc tiết lộ TNXH như là một quyết định để đầu

tư (Alexander and Buchloz (1978), Murray và cộng sự (2005), Xu và cộng sự (2012)

mà giá cổ phiếu phụ thuộc vào những yếu tố khác như thực trạng của nền kinh tế Jitaree (2015) Cụ thể, Alexander and Buchloz (1978) nghiên cứu mối quan hệ giữa TNXH với hoạt động của thị trường của chứng khoán của các tập đoàn tại Hoa Kỳ trong giai đoạn 1970-1974 Bằng việc xếp hạng mối tương quan giữa TNXH và sự biến động giá cổ phiếu của từng DN trong hai giai đoạn: 5 năm 1970 – 1974 và giai đoạn 3 năm 1971- 1973 không thấy sự mối tương quan giữa hai biến số này Tương tự, Murray và cộng sự (2005) nghiên cứu thực hiện ở một bối cảnh khác với mẫu là 100 công ty hàng đầu Vương quốc Anh Với dữ liệu công bố về xã hội và môi trường được

lưu trữ tại Trung tâm Nghiên cứu Kế toán Xã hội và Môi trường (CSEAR) thông qua

phương pháp phân tích hồi quy OLS tác giả cũng không tìm thấy mối liên hệ giữa CBTT môi trường và xã hội với giá mức tăng giá của cổ phiếu DN Chi tiết và cụ thể hơn với phương pháp ước lượng hồi quy hai giai đoạn để khắc phục hiện tượng nội sinh giữa biến CBTT TNXH và giá trị doanh nghiệp Tobin’Q trong mô hình Jitaree

Trang 22

(2015) với mẫu nghiên cứu 323 DN niêm yết trên TTCK Thai Lan trong đó 82 DN sản

xuất và 241 DN phi sản xuất, với dữ liệu năm 2009-2011 cũng không thấy ảnh hưởng CBTT TNXH đến giá trị doanh nghiệp Tobin’Q Tương tự, với bối cảnh ở quốc gia Đông Nam Á là Indonesia, Dewi and Monalisa (2016) với mẫu 26 DN niêm yết trong ngành khai thác mỏ trong thời gian 2010 -2012 OLS Thông qua phương pháp hồi quy OLS, tác giả cung cấp bằng chứng CBTT TNXH không ảnh hưởng đến tỷ lệ giá trị thị trường trên giá trị ghi sổ (Price to book value – PBV) Điều này được tác giả lý giải là

do các nhà đầu tư ở các quốc gia này có nhận thức thấp về TNXH DN và không có

một tiêu chuẩn chung nào về TNXH nên việc CBTT nhiều hay ít cũng không ảnh hưởng đến quyết định của nhà đầu tư

Nhóm 3: Có mối quan hệ hỗn hợp giữa CBTT TNXH với giá trị thị trường DN

Kết quả hỗn hợp là do các nghiên cứu thực hiện nghiên cứu ở các bối cảnh khác nhau hoặc xem xét các khía cạnh khác nhau của TNXH Ví dụ, Khlif và cộng sự (2015) nghiên cứu mối quan hệ này với bối cảnh ở hai nền kinh tế khác nhau là Nam Phi và Maroc với mẫu là 28 DN niêm yết (14 DN Nam Phi và 14 DN Maroc) trong

năm 2004 – 2009 Kết quả nghiên cứu này là hỗn hợp bởi với tổng thể mẫu thì tác

giả không thấy ảnh hưởng của CBTT TNXH đến giá trị DN Tobin’Q nhưng xét

từng thị trường thì lại thấy kết quả ảnh hưởng là dương tại Nam Phi và còn tại Maroc thì ngược lại Kết quả này được tác giả lý giải do có sự khác biệt giữa hai hệ

thống luật pháp của hai quốc gia Nam Phi với hệ thống luật thông thường (Conmon law) có sự chuyên nghiệp, minh bạch và thực thi pháp luật mạnh mẽ hơn

so với Maroc với hệ thống luật dân sự (Civil Law) Hay một nghiên cứu khác, Verbeeten và cộng sự (2016) thực hiện nghiên cứu hai khía cạnh môi trường và xã

hội với 130 DN lớn nhất niêm yết trên TTCK Đức năm 2005 – 2008 Kết quả cho thấy thông tin môi trường không ảnh hưởng nhưng thông tin xã hội lại ảnh tưởng tích cực đến giá cổ phiếu DN Kết quả này cho thấy rằng việc cung cấp thêm thông tin TNXH có thể ảnh hưởng tới nhóm bên liên quan khác nhau Đối với những thông tin về trách nhiệm môi trường DN cung cấp thỏa mãn yêu cầu của Chính phủ

và của các tổ chức bảo vệ môi trường nhưng lại có thể tác động tiêu cực tới các cổ đông bởi nó báo hiệu có thể DN đầu tư quá mức vào hoạt động môi trường Đối với

những thông tin xã hội được công bố thì lại mang tới cho nhà đầu tư kỳ vọng về HQTC trong tương lai của DN vì nó thể hiện DN có nguồn nhân lực tốt và không

rủi ro với các sự kiện xấu của nền kinh tế Tổng hợp bằng chứng của các nghiên

Trang 23

cứu nước ngoài về ảnh hưởng của CBTT TNXH đến HQTC doanh nghiệp đo lường

bằng giá trị thị trường được tác giả trình bày phụ lục 1

Nghiên cứu đo lường hiệu quả DN theo số liệu kế toán

Bên cạnh những nghiên cứu sử dụng chỉ tiêu giá trị thị trường để kiểm tra ảnh

hưởng của CBTT TNXH tới HQTC DN thì nhiều nghiên cứu sử dụng ROA, ROE, ROI là chỉ tiêu đại diện cho HQTC Đây là những chỉ tiêu đo lường phản ánh giá trị

lịch sử do kế toán ghi chép được sử dụng phổ biến và dễ thu thập nhất đại diện cho chỉ tiêu đo lường HQTC Kết quả cũng là khác biệt giữa các nghiên cứu

Đầu tiên, theo các tác giả những DN sản xuất hoặc những DN kinh doanh trong ngành công nghiệp nhạy cảm chịu áp lực và bị yêu cầu nhiều hơn từ phía các bên liên quan về những hoạt động TNXH đặc biệt là những vấn đề liên quan đến môi trường thì nhu cầu CBTT TNXH của những DN này là nhiều hơn các DN khác và hiệu ứng về ảnh hưởng của những thông tin này đối với HQTC DN là nhiều hơn các DN khác (Jitaree, 2015) Kết quả nghiên cứu về mối quan hệ giữa CBTT TNXH với HQTC với

mẫu là các DN sản xuất thường cho kết quả là tích cực Điều này có nghĩa thực hành

và CBTT TNXH có thể giúp cải thiện HQTC trong năm hiện tại (Deegan and Gordon, 1996; Ngwakwe, 2009; Kimbro and Melendy, 2010; Mishra and Suar, 2010; Chen and Wang, 2011; Kartika Dewi and Monalisa, 2016) và trong năm kế tiếp (Chen and Wang, 2011; Jitaree, 2015) Ví dụ, Ngwakwe (2009) kiểm tra mối quan hệ thực hành trách nhiệm môi trường và HQTC cho 60 DN sản xuất niêm yết trên TTCK Nigeria

Bằng việc tách các DN trong mẫu thành hai nhóm DN có trách nhiệm với môi trường

và vô trách nhiệm với môi trường Kết quả cho thấy rằng việc thực hành TNXH có ảnh

hưởng đánh kể đến chỉ tiêu ROA Tương tự, một kết quả khác được chứng minh bởi Kimbro and Melendy (2010) khi thực hiện khảo sát tại các DN sản xuất niêm yết trên TTCK Hồng Kông Kết quả nghiên cứu cho thấy những DN có tiết lộ môi trường tự nguyện có ROE, ROA cao hơn những DN khác Dewi & Monalisa (2016) với mẫu 26

DN khai thác mỏ niêm yết trên TTCK Indonesia, dựa trên kết quả khảo sát báo cáo

thường niên 2010-2012 của doanh nghiệp và hồi quy OLS tác giả cũng cho kết quả

tương tự CBTT TNXH ảnh hưởng tích cực đến ROA Điều này được tác giả lý giải

thực hành và CBTT TNXH của khiến cho các cộng đồng xã hội tin tưởng và tôn trọng

DN góp phần gia tăng hiệu quả sử dụng tài sản Kết quả ngược với nghiên cứu này,

với các DN phi sản xuất đặc biệt là các ngân hàng được xem là ít gây ảnh hưởng đến môi trường nhất Perkins Cheung and Wilson Mak (2010) với mẫu 57 ngân hàng từ các nước Châu Âu và Bắc Mỹ bằng cơ dữ liệu có sẵn về ESG (môi trường, xã hội,

Trang 24

quản trị doanh nghiệp) trên Blomberg năm 2006 – 2009, tác giả không tìm thấy mối

tương quan giữa CBTT TNXH với ROA, ROE Giải thích cho kết quả này, tác giả cho rằng các hoạt động các DN ngân hàng không liên quan trực tiếp đến môi trường bởi

vậy tác động của các hoạt động TNXH đến các bên liên quan là không nhiều

Tiếp đó, sự khác biệt về thời gian và phương pháp nghiên cứu cũng khiến cho các nghiên cứu cho các kết quả nghiên cứu là khác nhau Ở những thời điểm khác nhau có thể những yêu cầu của các bên liên quan đối với DN về TNXH là khác nhau

Xã hội ngày càng phát triển thì những yêu cầu về thực hành TNXH của các bên đối

với DN càng nhiều Abbott and Monsen (1979) kiểm tra 500 DN niêm yết Mỹ theo

xếp hạng của Fortune với thời gian nghiên cứu 1964 – 1974 Đo lường mức độ CBTT TNXH thông qua kiểm tra sự có mặt hay vắng mặt của các thuộc tính TNXH Bằng

việc so sánh giá trị trung bình của lợi nhuận từ đầu tư ROI giữa 2 nhóm DN có mức độ CBTT thấp và nhóm DN có mức độ CBTT TNXH cao, tác giả không thấy ảnh hưởng

của CBTT TNXH đến lợi nhuận từ đầu tư ROI Giải thích cho điều này tác giả cho rằng những hoạt động đầu tư của nhà đầu tư không bị ảnh hưởng bởi những áp lực chính trị và xã hội Kết quả tương tự Robert and Frazier (1983) với mẫu là 79 DN niêm yết Mỹ trong 3 ngành: sản xuất và chế tạo, dầu khí và hóa học trong năm 1978

Bằng phương pháp đo thông tin công bố bằng việc đếm từ trong báo cáo thường niên

và thực hiện phân tích mô hình hồi quy OLS tác giả cũng không tìm thấy ảnh hưởng

của các thông tin công bố trong phần thông điệp của nhà quản trị với ROI Tuy nhiên, cùng với bối cảnh các DN ở Mỹ năm 2007 Frank Montabon và cộng sự (2007) tìm thấy mối liên hệ tích cực của CBTT TNXH với ROI khi thực hiện nghiên cứu 45 DN thông qua phân tích tương quan chính tắc (Canonical correlation analysis)

Sự khác biệt về nội dung thông tin TNXH cũng là nguyên nhân gây ra sự khác biệt giữa các kết quả nghiên cứu Cùng trong bối cảnh Indonesia Nagib Salem Muhammad Bayoud (2012) khảo sát 135 DN niêm yết trên TTCK Indonesia trong 4 ngành công nghiệp bằng hồi quy OLS cho thấy CBTT lao động ảnh hưởng tích cực đến ROE Nhưng ngược lại với kết quả của nghiên cứu này, Dewi and Monalisa (2016) dựa trên khung báo cáo TNXH của GRI thực hiện nghiên cứu 26 DN trong ngành khai thác mỏ niêm yết trên TTCK Indonesia không thấy ảnh hưởng CBTT TNXH đến ROE Lý giải điều này tác giả cho rằng nhà đầu tư ở Indonesia có nhận thức thấp về TNXH và tại Indonesia không có một tiêu chuẩn chung nào về TNXH chính nên việc các DN CBTT TNXH theo GRI nhiều hay ít cũng không ảnh hưởng đến quyết định của nhà đầu tư Ở bối cảnh khác cùng quốc gia Đông Nam Á,

Trang 25

Mustaruddin Saleh và cộng sự (2011) thực hiện nghiên cứu tác động của CBTT đến HQTC DN, với mẫu 200 DN vốn hóa thị trường cao nhất trên thị trường Bursa Malaysia Thông qua phân tích nội dung báo cáo thường niên DN năm 1999 – 2005

với hồi quy dữ liệu bảng FEM và REM tác giả thấy rằng CBTT TNXH ảnh hưởng tích

cực đến tỷ suất lợi nhuận của tài sản (ROA) Bên cạnh đó, nghiên cứu còn chỉ rõ thông tin công bố về cộng đồng, lao động có ảnh hưởng tích cực đến tỷ suất lợi nhuận trên tài sản ROA.Tuy nhiên, thông tin về môi trường và sản phẩm lại có ảnh hưởng ngược chiều với giá trị DN Tobin’Q Điều này được lý giải chi phí đầu tư về môi trường và phát triển sản phẩm là tốn kém làm tăng chi phí vốn của DN, trong khi điều này không làm thay đổi hình ảnh và uy tín của DN Bảng tổng hợp các nghiên cứu nước ngoài về ảnh hưởng của CBTT TNXH đến HQTC DN đo lường theo số liệu kế toán được tác giả trình bày trong phụ lục 2

Tại Việt Nam, cùng với sự gia tăng những quan tâm của cộng đồng đối với hoạt động thực hành và CBTT TNXH của DN, các bài viết về CBTT TNXH cũng được nhiều nhà nghiên cứu Việt Nam thực hiện Những bài viết chủ yếu tập trung vào nền

tảng lý thuyết về báo cáo TNXH như: vấn đề như kinh nghiệm quốc tế, tiêu chuẩn hướng dẫn, cơ sở lý thuyết giải thích cho hành vi công bố của DN Ngoài ra, một số ít nghiên cứu về thực hành báo cáo TNXH của các DN Việt Nam

Tác giả Nguyễn Thị Hương Liên (2014) đưa ra kinh nghiệm thực hiện báo cáo TNXH ở các DN Châu Âu và tầm quan trọng của việc thực hiện báo cáo này Ngoài ra, còn có một số những nghiên cứu sơ khai về kế toán TNXH như nghiên cứu của Bùi Đức

Lộng (2016), Lê Kim Ngọc (2016) đề cập đến bản chất, tiêu chuẩn hướng dẫn kế toán TNXH và định hướng áp dụng tại Việt Nam hay Lê Văn Liên và cộng sự (2016) giới thiệu các cơ sở lý thuyết cơ bản để giải thích cho hành vi CBTT môi trường và xã hội DN

Thực hiện nghiên cứu sâu hơn, một số nhà nghiên cứu tiến hành khảo sát thực

tiễn CBTT TNXH của DN Việt Nam Các nghiên cứu xoay quanh trả lời câu hỏi thực

trạng CBTT TNXH của các DN Việt Nam, nhân tố thúc đẩy DN thực hiện CBTT TNXH, sự khác biệt về CBTT TNXH giữa DN sản xuất với những loại hình DN khác… Cụ thể, kết quả nghiên cứu của các nghiên cứu như sau:

Mức độ CBTT TNXH của các DN Việt Nam là thấp, mất cân đối và chủ yếu là thông tin tốt

Kết quả nghiên cứu này được chứng minh bởi Lê Ngọc Mỹ Hằng (2015), Nguyễn Xuân Hưng và Trịnh Hiệp Thiện (2016), Kelly Anh Vu và cộng sự (2017), Ho

Trang 26

Ngoc Thao Trang and Liafisu Sina Yekini (2014), Trần Thảo Nhi (2014), Nguyễn Thị Bích Ngọc và cộng sự (2015) Trong nghiên cứu của Trần Thảo Nhi (2014) với mẫu là

30 DN nằm trong rổ chỉ số VN 30 thông qua việc đo lường các trang có CBTT TNXH trong báo cáo thường niên của các DN này tác giả thấy rằng trong 30 báo cáo được

kiểm tra năm 2013 thì có có 6 báo cáo có số 24 trang trở lên, 18 báo cáo có 9- 23 trang, 6 báo cáo nhỏ hơn 8 trang Nghiên cứu này cũng cho thấy rằng cơ cấu thông tin các DN công bố mất cân đối, DN chủ yếu CBTT về vấn đề kinh tế 63%, 14% lao động, 9% xã hội, 6% môi trường, 6% sản phẩm và vấn đề khác là 3% Trong một nghiên cứu khác Ho Ngoc Thao Trang and Liafisu Sina Yekini (2014) cho thấy rằng CBTT về nguồn nhân lực là nhiều nhất bởi tác giả cho rằng nguồn nhân lực là nguồn

lực sẵn có nhiều nhất của DN Điều này hoàn toàn khác với các quốc gia phát triển như Mỹ, Úc nơi mà khách hàng là nhóm người gây áp lực nhiều đến việc các DN CBTT Xét trên giác độ loại thông tin tác giả chỉ ra rằng 100% DN đưa ra những thông tin trung lập, có 50% DN chỉ rõ thông tin tốt và 20% DN có chỉ ra những thông tin

xấu Lê Ngọc Mỹ Hằng (2016) khảo sát 158 DN yết trên TTCK HOSE thông qua việc phân tích nội dung 474 báo cáo thường niên trong vòng 3 năm 2012- 2014 Kết quả CBTT TNXH cho các DN này chỉ được 15- 16 điểm trung bình trong 3 năm trong khi

số điểm tối đa theo thang đo của tác giả là 147 điểm

Có sự khác biệt về CBTT TNXH giữa các loại DN

Lê Ngọc Mỹ Hằng (2015) thông qua kiểm định Mann-Whitney U test cho thấy rằng mức độ CBTT của 158 DN niêm yết trên TTCK HOSE trong 3 năm cho thấy

rằng những DN hoạt động trong ngành công nghiệp nhạy cảm có ảnh hưởng đến môi trường có mức độ CBTT môi trường nhiều hơn so với những DN khác Tuy nhiên, trong nghiên cứu của Kelly Anh Vu và cộng sự (2017) thì lại không thấy có sự khác biệt này, nhưng tác giả cũng chỉ ra có sự khác biệt về CBTT này giữa những DN được

kiểm toán bởi Big Four và không phải là Big Four

Nhân tố ảnh hưởng đến CBTT TNXH

Tác giả Phạm Đức Hiếu (2012) dựa trên hai lý thuyết là lý thuyết tam giác phát triển của Elkington và lý thuyết quyền lực của người sử dụng báo cáo tài chính (thuyết các bên liên quan) của Feeman để giải thích lý do các DN thực hiện và CBTT TNXH Trong nghiên cứu này tác giả dùng phiếu khảo sát với những nhà quản lý DN và những người tiêu dùng và kết quả cho thấy những nhà quản lý có

nhận thức cao chưa phải là nhân tố đảm bảo cho việc thực hiện và báo cáo TNXH,

Trang 27

về phía người tiêu dùng cho thấy nhận thức của người tiêu dùng và quyết định mua

sắm có ảnh hưởng đến việc thực hiện và CBTT TNXH Kelly Anh Vu & cộng sự (2017) thực hiện kiểm tra ảnh hưởng của quản trị DN và quyền sở hữu đến mức độ CBTT của 200 DN ngẫu nhiên niêm yết trên TTCK HOSE và HNX bằng việc xây

dựng phương trình hồi quy OLS với số liệu tác giả thu thập năm 2013 kết quả kiểm tra cho thấy tỷ lệ sở hữu vốn nhà nước và tỷ lệ sở hữu vốn của nhà quản trị có ảnh hưởng tiêu cực đến CBTT TNXH

Ảnh hưởng CBTT TNXH đến HQTC DN DN

Ho Ngoc Thao Trang and Liafisu Sina Yekini (2014) khảo sát 20 báo cáo thường niên của 20 DN niêm yết trên TTCK Việt Nam trong 3 năm từ 2010 – 2012, tuy nhiên nghiên cứu này mới chỉ thực hiện kiểm định thông qua kiểm tra hồi quy OLS dữ liệu chéo với kết quả ROA năm 2010 có ảnh hưởng tích cực đến CBTT TNXH năm 2011và CBTT TNXH năm 2011 có ảnh hưởng tích cực đến ROA, ROE, ROS năm 2012 Một nghiên cứu khác với quy mô mẫu lớn hơn, Nguyễn Thị Bích

Ngọc & cộng sự (2015) khảo sát 50 DN được lựa chọn ngẫu nhiên niêm yết TTCK Việt Nam (HOSE và HNX) trong thời gian 2010 -2013, kết quả hồi quy dữ liệu bảng cho thấy CBTT TNXH (thông tin về môi trường) có ảnh hưởng tích cực đến giá trị DN Tobin’Q năm sau nhưng lại không ảnh hưởng đến Tobin’Q hiện tại Một nghiên cứu khác của Nguyễn Xuân Hưng và Trịnh Hiệp Thiện (2016) cũng được thực hiện về mối quan hệ này được thực hiện với việc kiểm tra 160 DN trên tổng số 692 DN niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán TPHCM (HOSE) và sàn giao dịch chứng khoán Hà

Nội (HNX) với số liệu trong 5 năm từ năm 2010 đến năm 2014 cho thấy rằng CBTT TNXH năm trước có ảnh hưởng đến kết quả tài chính năm sau của DN Tạ Thị Thúy

Hằng (2017) chọn 44 DN ngẫu nhiên trong số 113 DN niêm yết trên TTCK Việt Nam

có tổng giá trị vốn hóa thị trường 90% tại thời điểm thu thập dữ liệu là tháng 11/2016

Kết quả hồi quy OLS dữ liệu chéo kết quả cho thấy CBTT TNXH không ảnh hưởng đến ROA và ROE nhưng thông tin cộng đồng ảnh hưởng đến lợi nhuận DN Hồ Viết

Tiến và Hồ Thị Vân Anh (2017) chọn ngẫu nhiên 100 DN niêm yết trên TTCK Việt Nam năm 2012 – 2016 Kết quả cho thấy CBTT môi trường, sản phẩm, cộng đồng có ảnh hưởng tích cực đến Tobin’Q và ROA và gần đây nhất Hồ Thị Vân Anh (2018) cùng mẫu nghiên cứu nhưng kết quả cho thấy không có quan hệ giữa CBTT TNXH và TBQ Như vậy, kết quả của các nghiên cứu về mối quan hệ CBTT TNXH và HQTC tại Việt Nam có sự khác biệt Đa số cho kết luận là tích cực tuy nhiên cũng có nghiên

Trang 28

cứu không thấy mối quan hệ giữa hai biến số này Sự khác biệt này là do sự khác biệt

về mẫu, thời gian và phương pháp nghiên cứu Bảng tổng hợp các nghiên cứu ảnh hưởng của CBTT TNXH đến HQTC tại các DN ở Việt Nam được tác giả trình bày

Thứ nhất, Khác biệt về bối cảnh nghiên cứu Mối quan hệ giữa bên liên quan

với DN phụ thuộc vào tầm quan trọng của các bên liên quan (Ullmann, 1985), bởi vậy

yếu tố văn hóa, kinh tế, quy định của pháp luật, ngành nghề kinh doanh có thể đóng vai trò quan trọng trong việc xác định chính sách về thực hành và CBTT TNXH tại

DN Các nghiên cứu cho thấy mối quan hệ giữa CBTT TNXH và HQTC DN có thể cho kết quả khác nhau tùy thuộc vào bối cảnh nghiên cứu Ví dụ, Khlif & cộng sự (2015) cho thấy mối quan hệ tích cực giữa CBTT TNXH và HQTC DN ở Nam Phi - quốc gia phát triển nơi mà hệ thống pháp luật chuyên nghiệp, minh bạch và thực thi pháp luật mạnh mẽ nhưng lại không thấy mối quan hệ này ở Maroc – quốc gia hệ thống pháp luật thông thường hayCahan và cộng sự (2015) thấy rằng những quốc gia

quốc gia thuộc trường phái kế toán Anglo - Saxon thì ảnh hưởng của thông tin TNXH đến giá trị Tobin’Q là lớn hơn so với các quốc gia khác

Thứ hai, Khác biệt về phương pháp nghiên cứu Để kiểm tra mối quan hệ CBTT TNXH với HQTC DN các nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích hồi quy: hồi quy bình phương nhỏ nhất OLS, phương pháp hồi quy tác động ngẫu nhiên REM, hồi quy tác động cố định FEM, hồi quy GMM, phương pháp hồi quy hai giai đoạn 2SLS

dữ liệu bảng Tuy nhiên mối quan hệ giữa CBTT TNXH và HQTC là mối quan hệ hai chiều (Jitaree, 2015), bởi vậy có thể xảy ra hiện tượng nội sinh trong mô hình Bởi vậy đòi hỏi thực hiện phương pháp ước lượng mô hình khắc phục hiện tượng nội sinh giữa các biến Hiện tại còn thiếu vắng những nghiên cứu thực hiện phương pháp hồi quy phù hợp để khắc phục khuyết tật này

Thứ ba, Sự khác biệt về các biến kiểm soát trong mô hình nghiên cứu Theo các tác giả mối quan hệ giữa CBTT TNXH và HQTC bị chi phối bởi các đặc thù khác nhau của DN như quy mô DN (Murray và cộng sự, 2005; Nagib Salem Bayoud

và cộng sự, 2012; Klerk, 2015; Nma Ahmed Mohammed và cộng sự, 2016; Jitaree,

Trang 29

2015), tỷ lệ nợ (Mustaruddin Saleh và cộng sự, 2011; Jitaree, 2015; Klerk, 2015;

Nma AhmedMohammed và cộng sự, 2016), tỷ lệ tăng trưởng (Mustaruddin Saleh và

cộng sự (2011) Nguyễn Thị Bích Ngọc và cộng sự, 2015; Nguyễn Xuân Hưng và

Trịnh Hiệp Thiện, 2016; ngành nghề kinh doanh (Mustaruddin Saleh và cộng sự,

2011; Nagib Salem Bayoud và cộng sự, 2012; Verbeeten và cộng sự, 2016; Khlif và

cộng sự, 2015), tuổi doanh nghiệp (Nagib Salem Muhammad Bayoud, 2012; Jitaree,

2015;Verbeeten và cộng sự, 2016; Alan Murray và cộng sự, 2005) Do vậy, tùy thuộc vào mục tiêu nghiên cứu các tác giả có lựa chọn các biến kiểm soát cho mô hình của mình

Thứ tư, Sự khác biệt về phương pháp đo lường CBTT TNXH và đo lường HQTC Có nghiên cứu đo lường CBTT TNXH bằng việc đo độ rộng, độ sâu, đếm số câu thông tin công bố (Klerk và cộng sự, 2015; Blacconiere and Patten, 1994; Verbeeten và cộng sự, 2016) nhưng cũng có những nghiên cứu thực hiện tính chỉ số công bố dựa trên cơ sở kiểm tra sự có mặt của thông tin DN công bố (Belkaoui, 1976; Frankle and Anderso, 1980; Lars Hassel và cộng sự, 2005; Clarkson và cộng sự, 2013; Khlif và cộng sự, 2015; Dewi and Monalisa, 2016) hoặc cũng có nghiên cứu dựa trên

chỉ số khảo sát của bên thứ ba (Murray và cộng sự, 2005; Cahan và cộng sự, 2015) Bên cạnh đó các chỉ tiêu đo lường HQTC cũng rất đa dạng ở các nghiên cứu Các chỉ tiêu thường được các nghiên cứu sử dụng đó là ROA, ROE (Rim Makni và cộng sự,

2009; Mustaruddin Saleh và cộng sự, 2011; Nagib Salem Bayoud và cộng sự, 2012; Jitaree, 2015; Mahoney and Roberts, 2007; Dewi and Monalisa ,2016; Nagib Salem

Muhammad Bayoud, 2012), EPS (Frankle and Anderso, 1980; Jitaree, 2015; Nma

Ahmed Mohammed & cộng sự, 2016), giá cổ phiếu (Belkaoui, 1976; Robert, 1978;

Freedman and Stagliano, 199; Blacconiere and Patten,1994; Edmund và cộng sự, 1997; Hassel và cộng sự, 2005; Alan Murray và cộng sự, 2005; Clarkson và cộng sự,

2013; Klerk, 2015); Tobin’Q (Cahan và cộng sự 2015; Khlif và cộng sự, 2015; Mustaruddin Saleh và cộng sự, 2011, Jitaree, 2015)

Thứ năm, Sự khác biệt về thời gian nghiên cứu Sự khác biệt về thời gian nghiên cứu cũng có thể cho kết quả khác nhau do vấn đề về nhận thức của các bên liên quan về TNXH ở mỗi thời điểm là khác nhau Ví dụ, Abbott and Monsen (1979), Robert and Frazier (1983) với mẫu nghiên cứu DN ở Mỹ trong giai đoạn 1970 thì không thấy mối tương quan giữa TNXH và HQTC nhưng Frank Montabon và cộng sự (2007) lại tìm thấy mối liên hệ tích cực của hai biến số này

Trang 30

1.2 Khoảng trống nghiên cứu

Như vậy, thông qua nghiên cứu tổng quan nước ngoài và trong nước đã trình bày tác giả nhận thấy vẫn khoảng trống của các nghiên cứu trước:

Thứ nhất, Các nghiên cứu trên thế giới có sự khác biệt về kết quả nghiên cứu: tác động xấu, tác động tốt và tác động không rõ ràng (tức là không làm tăng hay không làm giảm HQTC) Trong bối cảnh Việt Nam đa số các nghiên cứu cho thấy công bố thông tin trách nhiệm xã hội ảnh hưởng tích cực đến hiệu quả tài chính doanh nghiệp, tuy nhiên vẫn còn có những nghiên cứu không tìm thấy ảnh hưởng này, ví dụ như Nguyễn Xuân Hưng và Trịnh Hiệp Thiện (2016) không thấy ảnh hưởng này ở những doanh nghiệp có chất lượng báo cáo thấp, Hồ Thị Vân Anh (2018) không thấy ảnh hưởng của CBTT TNXH đến TBQ Sự khác biệt này là do có

sự khác biệt ở số lượng mẫu trong mỗi nghiên cứu, thời gian nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu Các nghiên cứu này mới chỉ dừng lại ở việc sử dụng hồi quy đa

biến thông thường (OLS, FEM, REM) để tìm hiểu ảnh hưởng của CBTT TNXH đến HQTC DN mà chưa giải quyết hiện tượng nội sinh trong mô hình nghiên cứu do biến CBTT TNXH và HQTC có thể có mối quan hệ tương quan hai chiều Điều này có nghĩa cần thực hiện phương pháp hồi quy bổ sung để có thể khác phục hiện tượng

nội sinh có thể xảy ra trong mô hình nghiên cứu ảnh hưởng của công bố thông tin trách nhiệm xã hội đến hiệu quả tài chính doanh nghiệp

Thứ hai, Các nghiên cứu đa số đo lường mức độ CBTT TNXH dựa trên phương pháp phân tích nội dung Tuy nhiên, cách thực hiện có sự khác biệt giữa các nghiên

cứu và còn có nhiều bàn cãi về độ tin cậy của thang đo Tại Việt Nam các nghiên cứu thường sử dụng phương pháp phân tích nội dung các báo cáo của DN để đo lường mức

độ CBTT TNXH Một số nghiên cứu thực hiện đếm từ, đếm câu liên quan đến TNXH được công bố trong báo cáo thường niên của các doanh ngiệp (Ho Ngoc Thao Trang and Liafisu Sina Yekini, 2014; Nguyễn Thị Bích Ngọc và cộng sự, 2015) Cách làm này là đơn giản và dễ thực hiện đối với các nhà nghiên cứu Tuy nhiên thực hiện đếm

từ, đếm câu có thể gặp phải sai sót do có sự khác biệt trong kích thước phông chữ, hình ảnh báo cáo và đồ họa trong báo cáo của DN Ngoài ra, có những nghiên cứu kiểm tra sự có vặt hay vắng mặt của các mục thông tin được các doanh nghiệp cung

cấp trong báo cáo thường niên dựa trên các mục TNXH trong danh sách kiểm tra mà tác giả tự xây dựng (Hồ Viết Tiến và Hồ Thị Vân Anh, 2017; Hồ Thị Vân Anh, 2018) Cách làm này đơn giản nhưng có thể là thiếu sót khi mà chỉ kiểm tra việc có mặt hay

vắng mặt của chỉ mục thông tin trong danh sách TNXH mà không xét đến lượng thông tin cung cấp đối với từng chỉ mục bởi giữa các DN có sự khác biệt khá lớn về lượng

Trang 31

thông tin cung cấp ở từng khoản mục TNXH Điều này có nghĩa cần phải hoàn thiện việc đo lường CBTT TNXH trong bối cảnh Việt Nam để ngoài việc đánh giá được toàn diện các khía cạnh của các thông tin TNXH còn đo lường được lượng thông tin của từng nội dung mà DN công bố

Thứ ba, Sự đa dạng trong việc sử dụng các chỉ tiêu đo lường hiệu quả tài chính

cũng khiến cho những kết luận về ảnh hưởng của công bố thông tin trách nhiệm xã hội đến hiệu quả tài chính doanh nghiệp là không đồng nhất Trong bối cảnh Việt Nam

vẫn còn thiếu vắng những nghiên cứu sử dụng cả hai nhóm chỉ tiêu này Vì vậy, để có cái nhìn rộng hơn về ảnh hưởng của CBTT TNXH đến HQTC DN đòi hỏi cần nghiên cứu bổ sung sử dụng cả hai nhóm chỉ tiêu (nhóm chỉ tiêu dựa trên cơ sở giá trị kế toán

và nhóm chỉ tiêu dựa trên cơ sở giá trị thị trường) để đo lường HQTC DN Thước đo tài chính dựa trên cơ sở kế toán cho biết hiệu quả của DN trong quá khứ còn thước đo tài chính dựa trên giá trị thị trường cho thấy tiềm năng tăng trưởng trong tương lai

Việc sử dụng 2 nhóm chỉ tiêu này là cần thiết bởi lợi ích của CBTT TNXH có thể không nhận ra ngay trong ngắn hạn

Thứ tư, như đã phân tích ở trên bối cảnh và thời gian nghiên cứu có thể là nhân

tố ảnh hưởng đến kết quả của nghiên cứu ảnh hưởng của CBTT TNXH đến HQTC

DN bởi sự khác biệt về tốc độ tăng trưởng kinh tế ở mỗi thời điểm hay nhận thức

của các bên liên quan đối với DN Với bối cảnh Việt Nam - một quốc gia đang trong giai đoạn phát triển – áp lực từ phía các bên liên quan đối với các doanh nghiệp ngày càng cao, môi trường CBTT được hoàn thiện theo thời gian nhưng các nghiên cứu về vấn đề chưa xét đến sự thay đổi của thực hành và công bố thông tin TNXH theo thời gian Điều này đòi hỏi cần có một nghiên cứu bổ sung

để khẳng định chiều ảnh hưởng của CBTT TNXH đến HQTC DN và xem xét ảnh hưởng này trong bối cảnh thực hành TNXH và môi trường công bố thông tin ở

Việt Nam được hoàn thiện dần theo thời gian

Từ những lý do trên, tác giả thấy rằng cần phải mở rộng các nghiên cứu trước đây về CBTT TNXH để có cái nhìn toàn diện hơn và đáng tin cậy hơn về ảnh hưởng

của công bố thông tin trách nhiệm xã hội đến hiệu quả tài chính doanh ngiệp Tác giả

lựa chọn thời gian nghiên cứu từ năm 2006 – 2016 Năm 2006 thời gian được xem là thời điểm bùng nổ và phát triển của TTCK Việt Nam với những DN có đặc thù khác nhau như quy mô, tỷ lệ vốn chủ, tỷ lệ tăng trưởng, ngành nghề kinh doanh và đặc biệt

là có sự thay đổi về quy định về pháp luật liên quan đến CBTT TNXH trong thời gian này để thấy được ảnh hưởng của CBTT TNXH đến HQTC DN

Trang 32

Kết luận chương 1

Trong chương này tác giả tổng quan các nghiên cứu trước đây có liên quan đến

đề tài nghiên cứu Các nghiên cứu có sự khác biệt nội dung thông tin TNXH và khác

biệt trong chỉ tiêu đo lường HQTC DN Trong phần này tác giả tập trung giới thiệu các nghiên cứu có ảnh hưởng tích cực, ảnh hưởng tiêu cực và kết quả hỗn hợp về ảnh

hưởng CBTT TNXH đến HQTC DN Từ kết quả của các nghiên cứu, tác giả tiến hành phân tích nguyên nhân có sự khác biệt giữa các kết quả nghiên cứu từ đó chỉ ra khoảng

trống nghiên cứu của luận án

Trang 33

CHƯƠNG 2

CƠ SỞ LÝ LÝ LUẬN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA CÔNG BỐ THÔNG TIN TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI

ĐẾN HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP

Mục tiêu của nghiên cứu này là tìm hiểu ảnh hưởng CBTT TNXH đến hiểu quả tài chính DN Vì vậy trong chương này tác giả tập trung giới thiệu những vấn đề lý

luận chung về ảnh hưởng của CBTT TNXH đến HQTC DN Kết cấu chương này được tác giả chia làm 3 phần: phần thứ nhất tác giả trình bày những lý luận chung về TNXH

và CBTT TNXH, phần tiếp theo là HQTC và các chỉ tiêu đo lường HQTC, phần cuối cùng là cơ sở lý thuyết mối quan hệ CBTT TNXH và HQTC DN

2.1 Lý luận chung về trách nhiệm xã hội và công bố thông tin trách nhiệm

xã hội

2.1.1 Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp

TNXH được tiếp cận theo nhiều cách hiểu khác nhau Khái niệm trách nhiệm được hình thành trong những năm 50 của thế kỷ trước được đề cập trong cuốn sách Social Responsibilities of the Businessmen của Howard Rothmann Bowen (1953) TNXH là lòng từ thiện của DN để bù đắp những thiệt hại do DN gây ra làm tổn hại cho xã hội Cùng với sự phát triển của xã hội thì ngày nay quan niệm về TNXH cũng thay đổi và nó ngày càng trở nên phổ biến trong cộng đồng DN trên phạm vi toàn cầu với rất nhiều bộ quy tắc ứng xử về TNXH DN được đưa ra bởi các tổ chức phi chính

phủ, liên chính phủ như Ngân hàng thế giới – WB, Hội đồng DN thế giới về phát triển bền vững - WBCSD, Liên hiệp quốc – UNGC, Tổ chức hợp tác và phát triển thế giới – OECD, Sáng kiến báo cáo toàn cầu GRI…

Theo định nghĩa của WordBank (2003) TNXH là những cam kết của DN đóng góp vào sự phát triển kinh tế bền vững, thông qua các hoạt động nhằm nâng cao chất

lượng đời sống người lao động và cho gia đình họ, cộng đồng địa phương và xã hội theo cách có lợi nhất cho doanh nghiệp cũng như sự phát triển chung của xã hội

Quan điểm rộng hơn TNXH, tổ chức lớn nhất thế giới là Liên hiệp quốc cũng đưa ra 10 nguyên tắc chung cho việc thực hiện TNXH theo bốn chủ đề nhân quyền, lao động, môi trường, chống tham nhũng tại các DN Bao gồm: DN cần hỗ trợ và tôn

Trang 34

trọng tuyên ngôn quốc tế quyền bảo vệ con người; DN đảm bảo rằng họ không phải là đồng lõa trong vụ lạm dụng nhân quyền; DN cần duy trì quyền tự do lập hội và quyền thương lượng tập thể; DN loại bỏ tất cả các hình thức lao động cưỡng bức và bắt buộc, bãi bỏ lao động trẻ em; DN xoá bỏ phân biệt đối xử trong việc làm và nghề nghiệp;

DN cần nỗ lực thực hiện phương pháp phòng ngừa sự thay đổi của môi trường; thực

hiện các sáng kiến để thúc đẩy trách nhiệm với môi trường nhiều hơn; khuyến khích sự phát triển và phổ biến công nghệ thân thiện môi trường; DN cần hành động để chống

lại tất cả các hình thức tham nhũng, bao gồm cả tống tiền và hối lộ

Từ một góc nhìn khác, tổ chức hợp tác và phát triển thế giới (OECD, 2010)

đã đưa ra quan niệm về TNXH với những nội dung tương tự như trên, song nhấn

mạnh vấn đề các chính sách quản lý của DN, vấn đề minh bạch thông tin, việc làm

và quan hệ với nhân viên, bảo vệ môi trường, chống tham nhũng, bảo vệ người tiêu dùng, phát triển khoa học kỹ thuật, cạnh tranh lành mạnh, thực hiện nghiêm túc nghĩa vụ thuế, coi đó là các vấn đề các DN đặc biệt là các DN đa quốc gia phải thực

hiện Theo OECD, ngoài các nội dung đã đề cập, các DN đa quốc gia cần có chính sách quản lý DN và các hành động cụ thể đảm bảo: đóng góp vào phát triển bền

vững kinh tế, xã hội và môi trường, tôn trọng quyền con người, phát triển năng lực địa phương, phát triển nhân lực, tránh tìm kiếm các nhượng bộ liên quan đến môi

trường, sức khỏe, an toàn, lao động, thuế, quản trị tốt DN, phát triển mối quan hệ

với cộng đồng, tạo nhận thức chung cho nhân viên, tránh phân biệt đối xử dưới mọi hình thức, khuyến khích các đối tác và các nhà cung ứng cùng tham gia, không tham gia vào các hoạt động chính trị

Như vậy, có thể thấy TNXH là một phạm trù phức tạp và được định nghĩa theo nhiều tiêu chuẩn khác nhau Tuy nhiên, dù cách thể hiện hình thức diễn đạt ngôn từ có khác nhau song nội hàm phản ánh TNXH về cơ bản đều có điểm chung là bên cạnh

những lợi ích phát triển riêng của từng DN phù hợp với pháp luật hiện hành thì đều phải gắn kết với lợi ích phát triển chung của cộng đồng xã hội

Trong khuôn khổ nghiên cứu này tác giả ủng hộ quan điểm về trách nhiệm xã

hội của ngân hàng thế giới Wordbank làm cơ sở lý luận chính Theo đó, trách nhiệm

xã hội được hiểu là “những cam kết của DN đóng góp vào sự phát triển kinh tế bền

vững, thông qua các hoạt động nhằm nâng cao chất lượng đời sống người lao động và cho gia đình họ, cộng đồng địa phương và xã hội theo cách có lợi nhất cho doanh

Trang 35

nghiệp cũng như sự phát triển chung của xã hội” Theo quan điểm này trách nhiệm xã

hội là phương tiện để doanh nghiệp giải quyết mối quan hệ của doanh nghiệp với các bên liên quan trong quá trình hoạt động, bao gồm: người lao động, khách hàng, đối tác kinh doanh, cộng đồng, môi trường, nhà đầu tư

2.1.2 Công bố thông tin trách nhiệm xã hội

2.1.2.1 Bản chất công bố thông tin trách nhiệm xã hội

Công bố thông tin doanh nghiệp được định nghĩa là sự truyền đạt thông tin từ bên trong của doanh nghiệp tới đối tượng quan tâm, chủ yếu là bên ngoài doanh nghiệp (Etienne Farvaque và cộng sự, 2011) Các doanh nghiệp có thể công bố thông tin thông qua báo cáo tài chính, thuyết minh báo cáo, báo cáo đánh giá của ban giám đốc hoặc các báo cáo theo quy định khác Ngoài ra các doanh nghiệp có thể công bố tự nguyện thông tin thông qua các phương tiện truyền thông khác như:

hội nghị, báo chí, trang web, áp phích Theo Etienne Farvaque và cộng sự (2011) những thông tin mà doanh nghiệp công bố không chỉ là những thông tin đáp ứng yêu cầu của nhà đầu tư và cổ đông của doanh nghiệp mà còn là những thông tin khác (đặc biệt là những thông tin về chính sách môi trường và xã hội của doanh nghiệp) theo yêu cầu của các bên liên quan khác

Công bố thông tin trách nhiệm xã hội là một phần của công bố thông tin doanh nghiệp Nó bắt nguồn từ trách nhiệm xã hội doanh nghiệp cùng với sự thay đổi trong cách tiếp cận thông tin theo lý thuyết cổ đông (Shareholders Theory) sang

lý thuyết các bên liên quan (Stakeholders Theory) đã thúc đẩy doanh nghiệp cần có trách nhiệm thông báo những thông tin tới các bên liên quan về mối quan hệ giữa hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp với môi trường xã hội Rob Gray và cộng

sự (1995) cho rằng CBTT TNXH là quá trình cung cấp thông tin về những ảnh hưởng đến môi trường và xã hội do những hoạt động kinh tế của doanh nghiệp tới các đối tượng quan tâm trong xã hội

2.1.2.2 Phương thức công bố thông tin trách nhiệm xã hội

Cùng với sự phát triển của kinh tế, chính trị xã hội, CBTT TNXH ngày càng phát triển và đang trở thành xu hướng trên toàn cầu vì những lợi ích của nó Có rất nhiều phương thức để các DN thực hiện công bố các thông tin tới các bên liên quan

chẳng hạn như: gặp gỡ hay đối thoại với các bên liên quan; trao đổi thông tin về các dự

án trách nhiệm xã hội với các bên liên quan; trao đổi thông tin giữa nhà quản trị và

Trang 36

người lao động trong doanh nghiệp để nâng cao nhận thức chung và hỗ trợ trách nhiệm

xã hội; trao đổi thông tin về nhu cầu mua sắm liên quan đến trách nhiệm xã hội với nhà cung cấp, trao đổi thông tin với người tiêu dùng liên quan đến sản phẩm… Để thực hiện

những hoạt động này doanh nghiệp có thể sử dụng các phương tiện truyền tin như: thông qua các cuộc họp, các sự kiện công cộng, diễn đàn, báo cáo, bản tin, tạp chí, áp phích, quảng cáo, thư điện tử, thư thoại, video, trang web, podcast, blog, chèn lên nhãn sản phẩm, hoặc có thể thông qua các thông cáo báo chí, phỏng vấn, các bài báo…

Mỗi phương tiện công bố thông tin trên có lợi thế và bất lợi riêng Phương thức trao đổi thông tin của doanh nghiệp với các bên liên quan (đặc biệt là người tiêu dùng) thông qua phương tiện quảng cáo thông qua truyền hình, báo chí, băng rôn… được nhiều DN chọn lựa Phương thức công bố này mang lại hiệu ứng tốt và nhanh đến với các bên liên quan tuy nhiên chi phí cho công bố theo hình thức này là tốn kém, không

chứa đựng được nhiều thông tin cần công bố và các bên liên quan khó có thể lưu trữ các tài liệu thông tin DN công bố Phương thức trao đổi thông tin giữa doanh nghiệp

và các biên liên quan thông qua các báo cáo của DN là hình thức phổ biến được các

DN thực hiện định kỳ đặc biệt là những DN niêm yết trên TTCK do những quy định

bắt buộc của pháp luật Hình thức công bố này không gây tốn kém cho DN, chứa đựng được nhiều thông tin cần công bố và giúp các độc giả lưu trữ được các tài liệu mà DN công bố Chính vì vậy CBTT TNXH thông qua các báo cáo của DN được xem là kênh thông tin đáng tin cậy và đầy đủ nhất đối với các bên liên quan Theo khảo sát của Hội đồng DN vì sự Phát triển Bền vững Thế giới trình bày trong “Báo cáo hiện trạng 2013” thì CBTT TNXH ở các quốc gia trên thế giới được các DN được thể hiện trong các báo cáo khác nhau với các tên gọi: Báo cáo thường niên, Báo cáo phát triển bền

vững, Báo cáo trách nhiệm DN, Báo cáo TNXH của DN và Báo cáo công dân Những báo cáo này được xem là bức tranh cung cấp trung thực và đầy đủ về thực hành trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp

2.1.2.3 Các tiêu chuẩn công bố thông tin trách nhiệm xã hội

Thứ nhất, Hiệp ước toàn cầu của Liên hiệp quốc (United Nations Global Compact - UNGC)

Mạng lưới Hiệp ước toàn cầu của Liên hợp quốc (UNGC) là sáng kiến lớn nhất trên thế giới về phát triển DN bền vững đã được lãnh đạo các cộng đồng DN thông qua

năm 2000 nhằm thúc đẩy vai trò của khối DN tư nhân trong quá trình phát triển UNGC

Trang 37

cung cấp một định hướng nền tảng cho các DN để xây dựng, thực hiện và CBTT về các chính sách và hành động có trách nhiệm và bền vững UNGC mong muốn cộng đồng các DN lồng ghép trong chiến lược sản xuất kinh doanh của mình theo10 nguyên tắc do UNGC đưa ra và các DN cũng như các tổ chức thành viên được yêu cầu hàng năm lập một Báo cáo Tiến bộ (COP - Communication of Progress) trình bày các hoạt động thực

tế mà DN đã thực hiện hoặc có kế hoạch thực hiện 10 nguyên tắc của UNGC Các báo cáo tiến bộ của các DN được công khai trên trang Web của UNGC cung cấp cho các bên liên quan thông tin để đưa ra các quyết định lợp lý về các DN mà họ tương tác và các bên liên quan có thể đánh giá rủi ro dựa trên những thông tin công bố công khai

Bảng 2.1: Mười nguyên tắc thực hành trách nhiệm xã hội

của UNGC được yêu cầu trình bày trong COP

Nhân quy ền Lao động Môi tr ường Ch ống tham nhũng

4 Loại bỏ tất cả các hình thức lao động

c ưỡng bức và bắt buộc

5 Bãi b ỏ lao động trẻ em

6 Xoá b ỏ phân biệt đối

x ử trong việc làm và ngh ề nghiệp

7 Các DN c ần nỗ lực

th ực hiện phương pháp phòng ng ừa sự thay đổi của môi trường 8.Thực hiện các sáng kiến để thúc đẩy trách nhi ệm với môi

tr ường nhiều hơn;

9.Khuy ến khích sự phát triển và phổ biến công ngh ệ thân thiện môi tr ường

10.Các DN c ần hành động để chống lại tất

c ả các hình thức tham nhũng, bao gồm cả tống tiền và hối lộ

Nguồn: United Nations Global Compact (2014) Thứ hai, Sáng kiến Báo cáo Toàn cầu (Global Reporting Initiative - GRI)

GRI là một bộ tiêu chuẩn quốc tế vê lập báo cáo phát triển bền vững được phát hành bởi Ủy ban tiêu chuẩn bền vững quốc tế (Global Sustainability Standards Board) GRI đưa ra những hướng dẫn áp dụng tự nguyện báo cáo phát triển bền vững cho tất

cả các loại hình DN Tiêu chuẩn này đưa ra các nguyên tắc báo cáo và các chỉ số báo cáo về kinh tế, môi trường và xã hội Trong phiên bản gần nhất G4 được phát hành

năm 2013 GRI đưa ra hướng dẫn CBTT chia theo 3 nhóm kinh tế, môi trường và xã

hội với các nội dung như sau:

Trang 38

Bảng 2.2: Danh mục các nội dung thông tin trách nhiệm xã hội theo GRI4

Kinh tế Môi trường Xã hội

- Hiệu quả hoạt động

- Mối quan hệ quản lý/lao động

- An toàn và sức khỏe nghề nghiệp

- Giáo dục và đào tạo nghề

- Đa dạng hóa và cơ hội bình đẳng

- Thù lao công bằng cho nam và nữ

- Đánh giá của nhà cung

cấp về cách đối xử với

người lao động

- Cơ chế khiếu nại về cách đối xử với người lao động

Xã hội

Tiểu mục: Bảo đảm

quyền con người

Tiểu mục: Xã hội Tiểu mục: Trách nhiệm

- Truyền thông tiếp thị

- Bảo đảm quyền riêng

tư của khách hàng

- Tính tuân thủ

Nguồn: Sáng kiến báo cáo toàn cầu (2013)

Trang 39

Thứ ba, Bộ tiêu chuẩn Quốc tế ISO 26000 (International Standards Organization – ISO 26000:2010)

Bộ tiêu chuẩn Quốc tế ISO 26000 đưa ra những hướng dẫn thực hành trách nhiệm xã hội tự nguyện tất cả các tổ chức ở mọi loại hình, cả ở lĩnh vực công cộng lẫn

tư nhân, tại các nước phát triển và đang phát triển, cũng như các nền kinh tế chuyển đổi Bộ tiêu chuẩn này xác định các mục tiêu cốt lõi của TNXH DN trong 7 nhóm vấn đề: quản trị DN, nhân quyền, thực hành lao động, môi trường, thực hành công bằng, các vấn đề của người tiêu dùng, tham gia và phát triển cộng đồng

Bảng 2.3: Các vấn đề trách nhiệm xã hội theo ISO 26000:2010

Qu ản trị DN Quy ền con người Th ực hành lao động Môi tr ường

N ỗ lực thích đáng Tình huống rủi ro về quy ền con người

Tránh đồng lõa Giải quyết khiếu nại Phân biệt đối xử và nhóm dễ

b ị tổn thương Quy ền dân sự và chính trị Quyền kinh tế, xã hội và

v ăn hóa Các nguyên t ắc cơ bản và quy ền tại nơi làm việc

Vi ệc làm và mối quan h ệ với việc làm Điều kiện làm việc

và b ảo trợ xã hội Đối thoại xã hội S ức khỏe và an toàn

t ại nơi làm việc Phát tri ển con người và đào tạo nơi làm việc

Phòng ng ừa ô nhiễm Sử dụng nguồn lực

b ền vững Gi ảm nhẹ và thích nghi

v ới biến đổi khí hậu B ảo vệ môi trường

và đa dạng sinh học và khôi ph ục môi trường

s ống tự nhiên

Th ực tiễn kinh doanh

công b ằng Vấn đề người tiêu dùng

Tham gia và phát tri ển

c ộng đồng Ch ống tham nhũng

Tham gia chính trị có

trách nhi ệm

Cạnh tranh bình đẳng

Thúc đẩy TNXH trong

chu ỗi giá trị

Tôn tr ọng quyền sở hữu

Th ực hành marketing công

b ằng, thông tin xác thực, không định kiến và thực hành hợp đồng công bằng

Bảo vệ sức khỏe và an toàn ng ười tiêu dùng

Tiêu dùng b ền vững D ịch vụ hỗ trợ người tiêu dùng và gi ải quyết tranh

ch ấp khiếu nại B ảo vệ dữ liệu và sự riêng

t ư của người tiêu dùng Tiếp cận các dịch vụ thiết yếu Giáo d ục và nhận thức

Giáo d ục và văn hóa Tạo việc làm và phát triển kỹ

n ăng Phát triển và tiếp cận công ngh ệ

T ạo ra của cải và thu nhập S ức khỏe

Đầu tư xã hội

Nguồn: The International Organization for Standardization (2010)

Trang 40

Thứ tư, Hội đồng Báo cáo Tích hợp quốc tế (International integrated reporting Council - IIRC)

Hội đồng báo cáo tích hợp quốc tế (IIRC) là một liên minh toàn cầu của các nhà quản lý, các nhà đầu tư, các DN, các chuyên gia kế toán, hiệp hội chuẩn mực

quốc tế và các tổ chức phi chính phủ nhằm xây dựng khuôn khổ toàn cầu đối với Báo cáo Tích hợp IIRC được hình thành xuất phát từ lời kêu gọi của Giáo sư Mervyn King- Chủ tịch GRI từ diễn đàn Kế toán vì sự phát triển bền vững có tiêu

đề "Nhu cầu cấp thiết thành lập một khuôn khổ báo cáo kết nối và tích hợp nhằm đáp ứng quy định và yêu cầu quản trị” Sau đó, Paul Druckman - chủ tịch của dự án

kế toán vì sự phát triển bền vững kêu gọi thành lập Ủy ban báo cáo tích hợp quốc tế

và và đưa ra một khuôn khổ báo cáo tích hợp được chấp nhận trên toàn cầu và IIRC đã được thành lập vào tháng 9 năm 2012 IIRC đã công bố dự thảo Khuôn khổ Nguyên mẫu đối với Báo cáo Tích hợp hướng dẫn phương pháp và nguyên tắc lập báo cáo tích hợp Báo cáo tích hợp xây dựng nhằm cung cấp thông tin định hướng kinh doanh cho DN, phân bổ nguồn lực kinh doanh hiệu quả, đảm bảo phát triển ổn định và bền vững Báo cáo tích hợp được xây dựng trên cơ sở báo cáo tài chính có

sẵn, kết hợp với các chỉ tiêu phi tài chính DN có thể lựa chọn việc công bố báo cáo bền vững một cách độc lập và/hoặc được lồng ghép về nội dung trong báo cáo

thường niên Thông qua việc tích hợp thông tin tài chính và thông tin bền vững, DN cung cấp bức tranh toàn diện hơn và ý nghĩa hơn về mô hình và hoạt động kinh doanh của mình đối với nhà đầu tư và bên liên quan

2.1.3 Đo lường công bố thông tin trách nhiệm xã hội

Các tài liệu nghiên cứu về CBTT TNXH cho thấy có nhiều cách thức đo lường khác nhau Trong thực tế, không đơn giản để đo lường việc CBTT TNXH vì đây là

một khái niệm đa hướng bao gồm nhiều nội dung thuộc các vấn đề khác nhau Nhiều nhà nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích nội dung báo cáo của DN để thực hiện

đo lường CBTT TNXH của DN Tuy nhiên, cách thức thực hiện và và đơn vị đo lường được các tác giả sử dụng là khác nhau

Đo lường mức độ CBTT TNXH bằng số ký tự, số từ, số câu, số trang

Đo lường mức độ CBTT TNXH bằng việc tính số lượng thông tin thông qua đếm số ký tự, số từ, số câu, số trang, và tỷ lệ lượng thông tin TNXH so với tổng thông tin DN công bố trên các báo cáo (Blacconiere and Patten, 1994; Verbeeten và

cộng sự, 2016, Deegan and Gordon, 1996; ClodiaVurro and Francesco Perrini,

Ngày đăng: 27/07/2019, 07:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN