Với lý do đó, tác giả thực hiện đề tài nghiên cứu “Nhận diện khả năng tồn tại sai phạm trọng yếu trên báo cáo tài chính của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
LÊ THỊ CẨM GIANG
NHẬN DIỆN KHẢ NĂNG TỒN TẠI SAI PHẠM TRỌNG YẾU TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Đà Nẵng – Năm 2015
Trang 2ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
LÊ THỊ CẨM GIANG
NHẬN DIỆN KHẢ NĂNG TỒN TẠI SAI PHẠM TRỌNG YẾU TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
Chuyên ngành: Kế toán
Mã số: 60.34.03.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Người hướng dẫn khoa học: TS Đường Nguyễn Hưng
Đà Nẵng – Năm 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả
LÊ THỊ CẨM GIANG
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 3
3 Câu hỏi nghiên cứu 3
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
5 Phương pháp nghiên cứu 4
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 5
7 Tổng quan tài liệu 5
8 Kết cấu của luận văn 10
CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ SAI PHẠM TRỌNG YẾU VÀ CÁC MÔ HÌNH NHẬN DIỆN SAI PHẠM TRỌNG YẾU TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH 11
1.1 TỔNG QUAN VỀ KHẢ NĂNG TỒN TẠI SAI PHẠM TRỌNG YẾU TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH 11
1.1.1 Khái niệm sai phạm trọng yếu trên báo cáo tài chính 11
1.1.2 Các sai phạm trọng yếu thường gặp trên báo cáo tài chính 15
1.2 CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CHUNG VỀ SAI PHẠM 18
1.2.1 Thuyết đại diện 18
1.2.2 Lý thuyết về phân loại xã hội của Edwin Hardin Sutherland (1883-1950) 20
1.2.3 Tam giác gian lận của Donald R Cressey (1919-1987) 21
1.2.4 Mô hình bàn cân gian lận của D.W Steve Albrecht 22
1.2.5 Công trình nghiên cứu của Hiệp hội các nhà điều tra gian lận Hoa Kỳ (ACFE) 23
1.3 CÁC MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ SAI PHẠM TRỌNG YẾU TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH 24
Trang 51.3.1 Mô hình nhận diện sai phạm trọng yếu của Beneish 24
1.3.2 Mô hình nhận diện gian lận trên báo cáo tài chính của Dr Obeua S Persons 25
1.3.3 Mô hình nhận diện gian lận của nhóm tác giả Hawariah Dalnial, Amrizah Kamaluddin, Zuraidah Mohd Sanusi, và Khairun Syafiza Khairuddin 27
1.3.4 Mô hình nhận diện gian lận của Trần Thị Giang Tân và cộng sự 29 TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 31
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ SAI PHẠM TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NIÊM YẾT VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2010-2013 32
2.1 TÌNH HÌNH CHÊNH LỆCH SỐ LIỆU TRƯỚC VÀ SAU KIỂM TOÁN CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NIÊM YẾT VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2010 – 2013 33
2.2 TỔNG KẾT MỘT SỐ CÁC SAI PHẠM CHỦ YẾU CÁC DOANH NGHIỆP THƯỜNG VI PHẠM GIAI ĐOẠN 2010 – 2013 37
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 40
CHƯƠNG 3 XÂY DỰNG MÔ HÌNH NHẬN DIỆN KHẢ NĂNG TỒN TẠI SAI PHẠM TRỌNG YẾU TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NIÊM YẾT VIỆT NAM 41
3.1 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 41
3.1.1 Các giả thiết và mô hình đề xuất 41
3.1.2 Đo lường các biến của mô hình 54
3.1.3 Chọn mẫu 57
3.2 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 58
3.2.1 Thống kê mô tả các biến mô hình 58
3.2.2 Mối quan hệ tương quan giữa các biến trong mô hình 60
3.2.3 Kết quả ước lượng mô hình nghiên cứu 64
Trang 63.3 PHÂN TÍCH KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 65
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 73
CHƯƠNG 4 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 74
4.1 KẾT LUẬN 74
4.2 KIẾN NGHỊ NHẰM HẠN CHẾ SAI PHẠM TRỌNG YẾU TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH 75
4.2.1 Đối với Bộ tài chính, tổ chức nghề nghiệp kế toán kiểm toán 75
4.2.2 Đối với kiểm toán viên 79
4.2.3 Đối với các đối tượng sử dụng thông tin báo cáo tài chính khác 81
KẾT LUẬN 83 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (bản sao)
PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC BẢNG
1.1 Các loại gian lận phổ biến trên báo cáo tài chính 16
1.3 Kết quả ước lượng mô hình nhận diện gian lận của Dr
Obeua S Persons
27
1.4 Đo lường biến độc lập và biến kiểm soát trong nghiên
cứu của nhóm tác giả Hawariah Dalnial, Amrizah
Kamaluddin, Zuraidah Mohd Sanusi, và Khairun Syafiza
Khairuddin
28
2.1 Một số các doanh nghiệp phải điều chỉnh chỉ tiêu lợi
nhuận sau thuế sau kiểm toán năm 2010
34
2.2 Một số các doanh nghiệp phải điều chỉnh chỉ tiêu lợi
nhuận sau thuế sau kiểm toán năm 2011
35
2.3 Một số các doanh nghiệp phải điều chỉnh chỉ tiêu lợi
nhuận sau thuế sau kiểm toán năm 2012
36
2.4 Một số các doanh nghiệp phải điều chỉnh chỉ tiêu lợi
nhuận sau thuế sau kiểm toán năm 2013
3.3 Bảng tổng hợp tóm tắt kết quả tham khảo ý kiến chuyên gia
về các biến độc lập được chọn trong mô hình nghiên cứu
44
3.5 Bảng tham khảo tỷ lệ % để xác định mức trọng yếu tổng
thể báo cáo tài chính trên thế giới
55
3.6 Bảng tham khảo tỷ lệ % để xác định mức trọng yếu tổng
thể báo cáo tài chính của VACPA
55
Trang 83.7 Kết quả chọn mẫu 58
3.9 Bảng mô tả sự tương quan giữa các biến trong mô hình 61
3.14 Bảng tóm tắt các biến không ảnh hưởng đến biến phụ
thuộc
68
3.15 Bảng tóm tắt các biến có ảnh hưởng đến biến phụ thuộc 68
Trang 9DANH MỤC HÌNH VẼ
Số hiệu
2.1 Biểu đồ thể hiện tình hình điều chỉnh số liệu lợi nhuận
sau thuế của các doanh nghiệp niêm yết Việt Nam giai
đoạn 2010 – 2013
33
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Sự sụp đổ của nhiều đại gia danh tiếng trên thế giới sau nhiều năm bưng bít số liệu mặc dù được kiểm toán bởi các công ty kiểm toán độc lập hàng đầu thế giới như Enron, Worldcom… đã cảnh báo về tình trạng sai phạm báo cáo tài chính ngày càng gia tăng và tinh vi Những vụ phá sản này gây ra hậu quả nghiêm trọng không chỉ đối với các cổ đông, mà còn ảnh hưởng đến các chủ nợ, hệ thống ngân hàng, khách hàng, nhà cung cấp… từ đó ảnh hưởng nghiêm trọng đến nền kinh tế đất nước Bên cạnh đó, các đối tượng gián tiếp gây ra những thiệt hại này là các công ty kiểm toán danh tiếng hàng đầu cũng chịu những thiệt hại nặng nề, ảnh hưởng nghiêm trọng đến cả một nghề nghiệp kiểm toán trên toàn thế giới
Việt Nam cũng không nằm ngoài tình trạng này Mặc dù các sai phạm không tinh vi, và tổn thất do các sai phạm gây ra chưa nghiêm trọng so với thế giới, nhưng vẫn đang là một vấn đề đáng báo động hiện nay Theo thống
kê của Vietstock, trong số 500 doanh nghiệp đã ra báo cáo tài chính cho năm
2013, chỉ xét riêng các chỉ tiêu trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, có đến 80% kết quả có chênh lệch trước và sau kiểm toán Những chênh lệch này
cứ diễn ra hàng năm và không hề có dấu hiệu thuyên giảm Mặc dù các chênh lệch này có thể xuất phát từ nhiều lý do khách quan và chủ quan, nhưng không thể phủ nhận sự ảnh hưởng tiêu cực từ vấn đề này đối với phần lớn các đối tượng quan tâm số liệu báo cáo tài chính Trên một diễn đàn, nguyên Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông Lê Doãn Hợp đã thẳng thắn cảnh báo:
“Chất lượng thông tin của chúng ta hiện rất đáng báo động và là vấn đề lớn của đất nước!”
Việc nhận diện sai phạm trọng yếu báo cáo tài chính không chỉ là vấn
đề kiểm toán viên quan tâm, mà còn là mối quan tâm chung của các đối tượng
sử dụng thông tin báo cáo tài chính khác, khi báo cáo tài chính trước kiểm
Trang 11toán vẫn được công bố rộng rãi hiện nay Xuất phát từ nhu cầu thực tế đó, trên thế giới, từ lâu đã có nhiều phương pháp khác nhau được các tác giả xây dựng
để nhằm giúp các kiểm toán viên độc lập nhận diện được khả năng có tồn tại sai phạm trên báo cáo tài chính, từ đó thiết kế các thủ tục kiểm toán phù hợp
để phát hiện sai phạm Nhiều nhà nghiên cứu trước đó đã nhận ra vai trò của phân tích trong việc nhận diện và phát hiện ra các sai phạm trọng yếu trên báo cáo tài chính, đặc biệt là báo cáo của các doanh nghiệp niêm yết Điển hình như việc sử dụng qui trình phân tích để nhận diện sai phạm, bằng phương pháp mô phỏng như nghiên cứu của Loebbecke et al.(1987), Kinney (1987); hay việc dùng các mô hình để xác định sai lệch dựa các chỉ số tài chính như
mô hình của Persons (1995), Beneish (1999), Kaminski et al (2004) Tuy nhiên, các mô hình này đều có chung một đặc điểm là xây dựng dựa trên thực tiễn các nước có nền kinh tế phát triển, thị trường chứng khoán phát triển, nền kinh tế thị trường, và kế toán theo giá trị hợp lý Trong khi nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế đang phát triển, chưa phải là nền kinh tế thị trường, kế toán hạch toán dựa trên cơ sở giá gốc, và còn nhiều điểm khác biệt so với thế giới, dẫn đến việc áp dụng các mô hình nước ngoài vào nước ta có thể có những điểm không phù hợp Với lý do đó, tác giả thực hiện đề tài nghiên cứu
“Nhận diện khả năng tồn tại sai phạm trọng yếu trên báo cáo tài chính của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam” với
mong muốn xây dựng được một mô hình phù hợp cho Việt Nam, giúp các kiểm toán viên Việt Nam có cơ sở để nhận diện sự tồn tại của các sai phạm trên báo cáo tài chính của các doanh nghiệp niêm yết Bên cạnh đó, việc xây dựng thành công mô hình nhận diện khả năng tồn tại sai phạm trọng yếu trên báo cáo tài chính thông qua các chỉ số tài chính có ý nghĩa khá lớn đối với các nhà đầu tư và các đối tượng quan tâm, giúp họ có thêm công cụ hữu ích để đánh giá độ tin cậy của các thông tin sử dụng cho việc ra quyết định tài chính, giảm thiểu những thiệt hại không đáng có xảy ra
Trang 122 Mục tiêu nghiên cứu
- Xây dựng được mô hình nhận diện khả năng tồn tại các sai phạm trọng yếu trên báo cáo tài chính của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam thông qua các tỷ số tài chính, phù hợp với điều kiện của Việt Nam
3 Câu hỏi nghiên cứu
- Có thể nhận diện khả năng tồn tại sai phạm trọng yếu trên báo cáo tài chính thông qua các chỉ số tài chính hay không?
- Mô hình xây dựng được dự báo được bao nhiêu phần trăm các trường hợp có và không có khả năng tồn tại sai phạm trọng yếu trên báo cáo tài chính?
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: khả năng tồn tại sai phạm trọng yếu trên
báo cáo tài chính
Trước khi đi vào nghiên cứu, có hai khái niệm cần được làm rõ, là khái
niệm về sai phạm và khả năng tồn tại sai phạm trọng yếu trên báo cáo tài chính
Thứ nhất, về khái niệm sai phạm: Theo khái niệm của Chuẩn mực kiểm
toán hiện hành có hiệu lực từ ngày 1/1/2014, các sai sót trong báo cáo tài chính có thể phát sinh từ gian lận hoặc nhầm lẫn Tuy nhiên, theo quan điểm
cá nhân, tác giả đồng tình với cách sử dụng thuật ngữ của Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam trước đây, là sai phạm trên báo cáo tài chính xuất phát từ gian lận và sai sót Những thuật ngữ này theo tác giả phản ánh đúng bản chất của
vấn đề hơn Do đó, trong nghiên cứu của mình, tác giả sử dụng thuật ngữ sai
phạm, và tập trung vào sai phạm trọng yếu trên báo cáo tài chính bao gồm gian lận và sai sót trọng yếu
Thứ hai, về khái niệm khả năng tồn tại sai phạm trọng yếu trên báo
cáo tài chính: trong phạm vi nghiên cứu này, tác giả nghiên cứu về khả năng
tồn tại sai phạm trọng yếu trên báo cáo tài chính, chứ không nghiên cứu về những sai phạm đã được khẳng định một cách chắc chắn là gian lận hay sai
Trang 13sót trọng yếu thực sự Và khả năng tồn tại sai phạm trọng yếu trong phạm vi
luận văn này được đo lường bằng chênh lệch của chỉ tiêu lợi nhuận trước
thuế trước và sau kiểm toán ở một giá trị nhất định ( ≥ 5%) Tình trạng chênh
lệch trước và sau kiểm toán của chỉ tiêu lợi nhuận trước thuế là dấu hiệu cho thấy có khả năng có tồn tại sai phạm trọng yếu, chứ không khẳng định sai phạm đó là gian lận hay là sai sót trọng yếu, vì không có cơ sở để khẳng định điều này
Phạm vi nghiên cứu
+ Phạm vi không gian: Các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
+ Phạm vi thời gian: giai đoạn 2010 – 2013
5 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu chủ đạo là nghiên cứu định lượng
Phương pháp thu thập dữ liệu
- Thiết kế các biến độc lập: thu thập từ hai nguồn:
Thu thập dữ liệu sơ cấp: lập bảng câu hỏi để thu thập ý kiến của các
chuyên gia về các chỉ số tài chính giúp nhận diện khả năng tồn tại các sai phạm trọng yếu trên báo cáo tài chính Các chuyên gia là các kiểm toán viên
có kinh nghiệm, các nhà quản lý của doanh nghiệp, và các chuyên gia khác trong lĩnh vực tài chính kế toán đang làm việc trên lãnh thổ Việt Nam Mẫu thu thập ý kiến gồm 30 phiếu khảo sát ý kiến Việc thực hiện này nhằm giúp cho mô hình xây dựng được phù hợp với Việt Nam hơn
Thu thập dữ liệu thứ cấp: ngoài việc thu thập ý kiến của chuyên gia
như đã mô tả ở trên, tác giả còn thu thập thêm các tài liệu nghiên cứu trước đây về các chỉ số tài chính được cho là có khả năng giúp nhận diện sai phạm trọng yếu trên báo cáo tài chính
Tổng hợp từ hai nguồn dữ liệu, tác giả sẽ chọn ra được các biến độc lập
là các chỉ số tài chính dự kiến có khả năng giúp nhận diện sai phạm trọng yếu trên báo cáo tài chính
Trang 14- Cách thức thu thập số liệu: số liệu về các chỉ số tài chính của các
doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam được lấy từ báo cáo tài chính công bố trên các website chuyên về đầu tư chứng khoán như s.cafef.vn, stox.vn, vietstock.vn…
Phương pháp xử lý số liệu: số liệu được xử lý thông qua Excel và phần
mềm SPSS, sử dụng mô hình hồi qui Binary Logistic
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Đề tài nghiên cứu có ý nghĩa khoa học trong việc phân tích về mặt lý luận các nghiên cứu trước đây về việc nhận diện sai phạm trọng yếu trên báo cáo tài chính Phát huy thêm các vấn đề mà đề tài nghiên cứu trong nước chưa thực hiện, kết hợp kế thừa có chọn lọc các nghiên cứu từ nước ngoài, từ đó phát triển nên một mô hình nhận diện khả năng tồn tại sai phạm trọng yếu báo cáo tài chính phù hợp với đặc điểm Việt Nam, dựa trên việc phân tích dữ liệu báo cáo tài chính
Việc xây dựng thành công mô hình này mang một ý nghĩa thực tiễn rất lớn, không chỉ được sử dụng bởi các kiểm toán viên, mà còn phục vụ cho các đối tượng sử dụng báo cáo tài chính để ra quyết định dựa trên các dữ liệu tài chính đã được công khai Việc nhận định khả năng có hay không các sai phạm trọng yếu trên báo cáo tài chính sẽ phần nào giúp người sử dụng thông tin cân nhắc kỹ hơn về quyết định tài chính của mình
7 Tổng quan tài liệu
Tại Việt Nam, tác giả thu thập được hai nghiên cứu về việc xây dựng
mô hình nhận diện gian lận báo cáo tài chính của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Tác giả Trần Thị Giang Tân và cộng sự (2014), “Đánh giá rủi ro gian
lận báo cáo tài chính của các công ty niêm yết tại Việt Nam”, Nghiên cứu khoa học [6]
Nhóm tác giả này dựa trên nghiên cứu về tam giác gian lận được đề
Trang 15xuất bởi Cressey (1953) và một số nghiên cứu trước để nghiên cứu về mối quan hệ giữa các yếu tố của tam giác gian lận và khả năng xảy ra gian lận trên báo cáo tài chính Nghiên cứu của tác giả Cressey (1953) cho thấy, hành vi gian lận thường xuất hiện khi có sự hiện diện của ba yếu tố (tam giác gian lận) là động cơ/áp lực, cơ hội và thái độ/cá tính Kết hợp với hướng dẫn của Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 240 hiện hành – Trách nhiệm của kiểm toán viên liên quan đến gian lận trong quá trình kiểm toán báo cáo tài chính [2], nhóm tác giả tiến hành xây dựng các biến đại diện cho các yếu tố của tam giác gian lận, từ đó chạy mô hình hồi quy logit với mẫu nghiên cứu là 78 công
ty niêm yết tại sàn giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh năm 2012
Kết quả nghiên cứu này cho thấy khả năng xảy ra gian lận có mối quan
hệ có ý nghĩa thống kê với 3 yếu tố về Động cơ/Áp lực, với 1 yếu tố về cơ hội
và với 2 yếu tố về thái độ
Đây là nghiên cứu đầu tiên của Việt Nam về mối quan hệ giữa các yếu
tố của tam giác gian lận với gian lận trên báo cáo tài chính, phù hợp với yêu cầu của chuẩn mực VSA 240 hiện hành [2] và đồng nhất với chuẩn mực kiểm toán số 240 của quốc tế (ISA 240) cũng như chuẩn mực kiểm toán số 99 của
Mỹ (SAS 99) [6] yêu cầu kiểm toán viên phải đánh giá rủi ro có sai phạm trọng yếu trên báo cáo tài chính dựa trên các yếu tố Động cơ/Áp lực, cơ hội
và thái độ Một ưu điểm nữa của nghiên cứu này là mô hình xây dựng được
có khả năng dự báo đúng 83,33% các công ty thuộc mẫu nghiên cứu, và dự báo đúng 80% cho 20 công ty ngoài mẫu nghiên cứu Kết quả này cho thấy khả năng dự báo khá tốt của mô hình
Tuy nhiên, mô hình này được xây dựng chỉ nhằm mục đích giúp cho kiểm toán viên và các công ty kiểm toán dự báo gian lận xảy ra trên báo cáo tài chính, chứ chưa quan tâm đến các đối tượng sử dụng báo cáo tài chính khác như các cổ đông, nhà đầu tư, chủ nợ… Theo đó, cần có một mô hình phù hợp để các đối tượng này có thể tự đánh giá một cách tương đối về độ tin cậy
Trang 16của số liệu trình bày trên báo cáo tài chính chưa được kiểm toán, từ đó đưa ra quyết định tài chính phù hợp Bên cạnh đó, dữ liệu của nghiên cứu này chỉ trong năm 2012 với các công ty niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh Do đó, mẫu nghiên cứu còn nhỏ và kết quả nghiên cứu có thể chưa bao quát và chưa đại diện được Như vậy, cần mở rộng nghiên cứu trên toàn lãnh thổ Việt Nam, và nên xem xét trong một giai đoạn để cho kết quả tốt hơn
Tác giả Nguyễn Trần Nguyên Trân (2014), “Vận dụng mô hình Beneish
nhận diện gian lận trên báo cáo tài chính của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam”, Luận văn Thạc sĩ kinh tế [7]
Tác giả này đã nghiên cứu về việc vận dụng mô hình nhận diện khả năng gian lận báo cáo tài chính của Beneish áp dụng dự báo đối với các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam Trong nghiên cứu của mình, tác giả này đã áp dụng mô hình Beneish với 30 công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam bị phát hiện có sai phạm trọng yếu trên báo cáo tài chính năm 2012 Và kết quả nghiên cứu cho thấy, mô hình đã phát hiện được 53,33% (16/30 công ty) trong số các công ty bị phát hiện gian lận báo cáo tài chính
Ưu điểm của nghiên cứu này là kết quả nghiên cứu cho thấy, các đối tượng quan tâm có thể sử dụng mô hình của Beneish để nhận diện khả năng
có gian lận báo cáo tài chính đối với các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam với tỷ lệ phát hiện là 53,33% Tuy nhiên, tác giả này chỉ mới dừng lại ở việc áp dụng mô hình một cách chưa có chọn lọc khi áp dụng mô hình này vào Việt Nam Cụ thể, khi xây dựng mô hình trên, Beneish đã dựa vào đặc điểm của các nước có nền kinh tế phát triển và thị trường chứng khoán đã phát triển khá lâu đời để lập luận đưa các biến vào xây dựng mô hình Tác giả Nguyễn Trần Nguyên Trân trong nghiên cứu của mình chưa đánh giá sự phù hợp của việc sử dụng mô hình Beneish đối với
Trang 17điều kiện của Việt Nam, do đó, khi áp dụng vào Việt Nam, có thể có nhiều yếu tố chưa phù hợp để sử dụng
Điểm nổi bật của luận văn so với hai nghiên cứu trên
- Thứ nhất, tác giả có xem xét đến yếu tố sự phù hợp của mô hình xây dựng được đối với đặc thù Việt Nam
Việc xây dựng được một mô hình nhận diện khả năng tồn tại sai phạm trọng yếu trên báo cáo tài chính có phù hợp với Việt Nam hay không trước hết thể hiện ở việc lựa chọn các biến độc lập Các biến độc lập trong nghiên cứu này là các chỉ số tài chính được đánh giá là có khả năng giúp nhận diện sai phạm trọng yếu trên báo cáo tài chính
Nghiên cứu của hai tác giả trên cũng có sử dụng các chỉ số tài chính để giúp nhận diện gian lận trên báo cáo tài chính Tuy nhiên, việc lựa chọn ra các chỉ số tài chính đều mang tính chất kế thừa các nghiên cứu của thế giới trước đây Theo tác giả, thị trường chứng khoán cũng như nền kinh tế của Việt Nam
có một số các đặc điểm không giống với thế giới, thể hiện rõ nét nhất ở sự non trẻ của nền kinh tế đang phát triển, qui mô thị trường, hay sự mâu thuẫn, chồng chéo trong các qui định, các chính sách Do đó, khi kế thừa kết quả nghiên cứu về các yếu tố tác động đến sai phạm trọng yếu trên báo cáo tài chính, nên xem xét đến sự phù hợp của các yếu tố đó ở thị trường Việt Nam
Khắc phục vấn đề này, trong nghiên cứu của mình, để lựa chọn ra các
tỷ số tài chính được cho là có khả năng nhận diện được sự tồn tại của các sai phạm trên báo cáo tài chính, tác giả thu thập từ hai nguồn:
+ Kế thừa các nghiên cứu trước có liên quan: trong nghiên cứu của
mình, tác giả kế thừa hai nghiên cứu của các tác giả nước ngoài, gồm nghiên cứu của tác giả Dr Obeua S Persons (Mỹ) và nghiên cứu của nhóm tác giả Hawariah Dalnial, Amrizah Kamaluddin, Zuraidah Mohd Sanusi, và Khairun Syafiza Khairuddin (Malaysia) Các nghiên cứu này dựa trên một số nền tảng
lý thuyết và các nghiên cứu được thừa nhận rộng rãi trên thế giới Do đó, tác
Trang 18giả nhận thấy việc kế thừa hai nghiên cứu này là hoàn toàn phù hợp Tuy nhiên, vì đặc thù của nền kinh tế Mỹ và Malaysia có nhiều điểm khác so với Việt Nam, nên khi áp dụng các mô hình được xây dựng cho các nước này vào Việt Nam có thể chưa phù hợp Do đó, trong việc lựa chọn các biến độc lập là các chỉ số tài chính, tác giả còn phải thu thập thêm từ nguồn thứ hai
+ Thực hiện thu thập ý kiến của các chuyên gia trong các lĩnh vực kiểm
toán, kinh doanh, ngân hàng… trên lãnh thổ Việt Nam: Theo tác giả, các
chuyên gia này khi hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam sẽ nắm rõ hơn các đặc thù của thị trường chứng khoán và các doanh nghiệp trên thị trường chứng khoán Việt Nam Ngoài ra, khi hoạt động lâu năm trong các lĩnh vực này, các chuyên gia sẽ nắm được các qui định hiện hành liên quan đến kế toán, kiểm toán, thuế và một số các qui định có liên quan đến việc lập và trình bày báo cáo tài chính còn lỏng lẻo, mâu thuẫn ở chỗ nào, các doanh nghiệp thường sai phạm ở khoản mục nào trên báo cáo tài chính… Việc lập bảng câu hỏi có lồng ghép vào các tỷ số được sử dụng trong hai nghiên cứu trên
Từ hai nguồn trên, tác giả tổng hợp lại và lựa chọn các tỷ số tài chính
có thể sử dụng để nhận diện khả năng tồn tại sai phạm trọng yếu trên báo cáo tài chính
- Thứ hai, mô hình xây dựng được không chỉ phục vụ cho công tác kiểm
toán của kiểm toán viên, mà còn phục vụ cho các đối tượng sử dụng thông tin báo cáo tài chính khác
Các đối tượng khác như các cổ đông, các nhà đầu tư, ngân hàng… sử dụng thông tin báo cáo tài chính để ra các quyết định đầu tư, cho vay Theo
đó, sự tin cậy của các thông tin báo cáo tài chính là điều mà các đối tượng này hết sức quan tâm Trên thực tế, các đối tượng này có thể sử dụng báo cáo tài chính sau kiểm toán để phân tích, ra quyết định Tuy nhiên, trong một số trường hợp, doanh nghiệp chưa công bố báo cáo tài chính sau kiểm toán, chỉ mới công bố báo cáo tài chính trước kiểm toán Khi đó, các đối tượng này cần
có một cơ sở nào đó để đánh giá độ tin cậy của số liệu chưa được kiểm toán
Trang 19Hai nghiên cứu trên của hai tác giả Trần Thị Giang Tân và Nguyễn Trần Nguyên Trân xây dựng mô hình với mục tiêu phục vụ cho công tác kiểm toán của kiểm toán viên, theo đó, các biến độc lập của hai mô hình này đưa ra
có một số biến chỉ có kiểm toán viên mới có thể tiếp cận và đánh giá được Các đối tượng khác muốn sử dụng được mô hình khá khó khăn và mất nhiều thời gian hơn
Theo đó, trong nghiên cứu của mình, tác giả chỉ sử dụng các yếu tố là các chỉ số tài chính được tính toán từ dữ liệu báo cáo tài chính được công bố rộng rãi, tất cả các đối tượng có thể tiếp cận và đánh giá được liệu báo cáo tài chính có khả năng tồn tại các sai phạm trọng yếu trong đó hay không, từ đó phục vụ cho công tác kiểm toán cũng như việc phân tích ra quyết định tài chính của một số đối tượng khác
Ngoài ra, dữ liệu mẫu của nghiên cứu được xem xét trong một giai
đoạn, từ 2010-2013 với các doanh nghiệp niêm yết trên toàn lãnh thổ Việt Nam Điều này sẽ giúp mô hình xây dựng được mang tính bao quát và mang
tính ứng dụng cao hơn
Như vậy, trên cơ sở kế thừa và bổ sung các nghiên cứu trước đây, đề tài tập trung xây dựng mô hình nhận diện khả năng tồn tại sai phạm trọng yếu trên báo cáo tài chính của các doanh nghiệp niêm yết phù hợp với điều kiện Việt Nam, phục vụ cho công tác kiểm toán và việc phân tích ra quyết định tài chính của các đối tượng sử dụng thông tin báo cáo tài chính khác
8 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn bao gồm các nội dung chính sau:
- Chương 1: Một số vấn đề lý luận về sai phạm trọng yếu và các mô hình nhận diện sai phạm trọng yếu trên báo cáo tài chính
- Chương 2: Thực trạng vấn đề sai phạm trên báo cáo tài chính của các doanh nghiệp niêm yết Việt Nam giai đoạn 2010-2013
- Chương 3: Xây dựng mô hình nhận diện khả năng tồn tại sai phạm trọng yếu trên báo cáo tài chính của các doanh nghiệp niêm yết Việt Nam
- Chương 4: Kết luận và kiến nghị
Trang 20CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ SAI PHẠM TRỌNG YẾU
VÀ CÁC MÔ HÌNH NHẬN DIỆN SAI PHẠM TRỌNG YẾU
TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH
1.1 TỔNG QUAN VỀ KHẢ NĂNG TỒN TẠI SAI PHẠM TRỌNG YẾU TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH
1.1.1 Khái niệm sai phạm trọng yếu trên báo cáo tài chính
Hiện nay, các thuật ngữ được sử dụng không đồng nhất với nhau giữa các văn bản, các tổ chức Do đó, trước khi đi vào nghiên cứu, tác giả sẽ làm rõ
hai khái niệm, là khái niệm về sai phạm và khái niệm khả năng tồn tại sai
phạm trọng yếu trên báo cáo tài chính
Sai phạm
Theo khái niệm của Chuẩn mực kiểm toán hiện hành có hiệu lực từ ngày 1/1/2014 [2], các sai sót trong báo cáo tài chính có thể phát sinh từ gian lận hoặc nhầm lẫn Tuy nhiên, theo quan điểm cá nhân, tác giả đồng tình với cách
sử dụng thuật ngữ của Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam [1] trước đây, là sai phạm trên báo cáo tài chính xuất phát từ gian lận và sai sót Những thuật ngữ
này theo tác giả phản ánh đúng bản chất của sai phạm hơn Do đó, trong nghiên
cứu của mình, tác giả sử dụng thuật ngữ sai phạm, và tập trung vào sai phạm trọng yếu trên báo cáo tài chính bao gồm gian lận và sai sót trọng yếu
Sai sót trọng yếu trên báo cáo tài chính
Sai sót được định nghĩa là “những lỗi không cố ý có ảnh hưởng đến
báo cáo tài chính, như:
- Lỗi về tính toán số học hoặc ghi chép sai;
- Bỏ sót hoặc hiểu sai, làm sai các khoản mục, các nghiệp vụ kinh tế
phát sinh;
Trang 21- Áp dụng sai các chuẩn mực, nguyên tắc, phương pháp và chế độ kế
toán, chính sách tài chính nhưng không cố ý” [1]
Theo đó, sai sót trọng yếu là những sai sót không cố ý ảnh hưởng đến thông tin trên báo cáo tài chính, từ đó ảnh hưởng đến quyết định của người sử dụng báo cáo tài chính Tác giả đồng tình với khái niệm này
Gian lận trên báo cáo tài chính
Để hiểu rõ về khái niệm gian lận trên báo cáo tài chính, trước tiên cần phải hiểu khái niệm về gian lận
- Gian lận
Theo từ điển Tiếng Việt, gian lận được hiểu là hành vi thiếu trung thực, dối trá, mánh khóe nhằm lừa gạt người khác Theo nghĩa rộng, gian lận là việc xuyên tạc sự thật, thực hiện các hành vi không hợp pháp nhằm lường gạt, dối trá để thu được một lợi ích nào đó Ba biểu hiện thường thấy của gian lận là: chiếm đoạt, lừa đảo và ăn cắp
Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam VSA 240 hiện hành – Trách
nhiệm của kiểm toán viên liên quan đến gian lận trong quá trình Kiểm toán báo cáo tài chính, đồng nhất với chuẩn mực kiểm toán quốc tế ISA 240 - The Auditor’s responsibilities relating to Fraud in Audit of Financial statement,
định nghĩa gian lận là hành vi cố ý do một hay nhiều người trong Ban quản trị, Ban Giám đốc, các nhân viên hoặc bên thứ ba thực hiện bằng các hành vi gian dối để thu lợi bất chính hoặc bất hợp pháp [2]
Trong việc phân loại gian lận có sự khác nhau của một số tổ chức Theo chuẩn mực kiểm toán hiện hành được ban hành bởi Bộ tài chính đồng nhất với chuẩn mực kiểm toán quốc tế, gian lận là các sai phạm do cố ý, xuất phát
từ việc lập báo cáo tài chính gian lận và sai phạm do biển thủ tài sản Còn theo sự phân loại của Hiệp hội các nhà điều tra gian lận Hoa Kỳ (ACFE – Association of Certified Fraud Examiners), gian lận bao gồm biển thủ tài sản, tham ô và gian lận trên báo cáo tài chính [12]
Trang 22- Biển thủ tài sản: là hành vi nhân viên lấy cắp tiền của một tổ chức thông qua các hình thức điển hình như biển thủ tiền, đánh cắp hàng tồn kho, gian lận về tiền lương…
- Tham ô: là hành động của người quản lý lợi dụng trách nhiệm và quyền hạn của họ tham ô tài sản của công ty hay hành động trái ngược với các nghĩa vụ họ đã cam kết với tổ chức để làm lợi cho bản thân hay một bên thứ ba
- Gian lận trên báo cáo tài chính: là các hành vi cố ý điều chỉnh số liệu, phản ánh thông tin không trung thực về tình hình tài chính thông qua báo cáo tài chính một cách có chủ ý, nhằm lường gạt người sử dụng thông tin
Trong đó, gian lận báo cáo tài chính thường chiếm tỷ lệ thấp nhất trong
ba loại gian lận, nhưng thiệt hại do loại gian lận này gây ra lại nhiều nhất theo thống kê của ACFE
Báo cáo của National Commission on Fraudulent Financial Reporting
năm 1987 định nghĩa về gian lận báo cáo tài chính: “fraudulent financial
reporting as intentional or reckless conduct, whether act or omission, that results in materially misleading financial statements”[10], tạm dịch: “gian lận báo cáo tài chính là hành vi cố ý hoặc thiếu thận trọng, dù là cố ý hay bỏ sót, làm sai lệch trọng yếu báo cáo tài chính”
Như vậy, nhìn chung, khái niệm gian lận ở mọi nơi trên thế giới đều tương đồng nhau, đều là hành vi cố ý là gây hại cho một số đối tượng khác
Vì bản chất gian lận là hành vi có chủ đích và ảnh hưởng không nhỏ đến các
cá nhân, tổ chức khác, nên việc nhận diện và phát hiện ra được sự tồn tại của gian lận là một vấn đề đang rất được quan tâm trên thế giới và ở Việt Nam hiện nay
Khả năng tồn tại sai phạm trọng yếu trên báo cáo tài chính
Khả năng xảy ra một sự việc, hiện tượng là một khái niệm trừu tượng, dùng để mô tả một sự việc, hiện tượng có thể xảy ra nhưng chưa khẳng định chắc chắn là sẽ xảy ra
Trang 23Nghiên cứu về khả năng tồn tại sai phạm trọng yếu trên báo cáo tài chính tức là nghiên cứu xem báo cáo tài chính có thể chứa đựng các sai phạm trọng yếu hay là không Hay nói một cách khác, tác giả nghiên cứu về xác suất chứa đựng các sai phạm trọng yếu trên báo cáo tài chính của một doanh nghiệp là cao hay thấp, và phụ thuộc vào các yếu tố nào Nghiên cứu này sẽ giúp cảnh báo người sử dụng thông tin báo cáo tài chính về độ tin cậy của thông tin sử dụng Nếu khả năng tồn tại sai phạm trọng yếu trên báo cáo tài chính là thấp, tức thông tin đó đáng tin cậy hơn, và ngược lại, nếu khả năng tồn tại sai phạm trọng yếu trên báo cáo tài chính là cao, người sử dụng cần thận trọng trong việc sử dụng thông tin để ra các quyết định tài chính
Theo nhiều nghiên cứu trước đây, có nhiều yếu tố giúp nhận diện khả năng tồn tại sai phạm trọng yếu trên báo cáo tài chính bao gồm cả yếu tố định lượng và yếu tố định tính Nhưng trong phạm vi nghiên cứu này, tác giả sử dụng các tỷ số tài chính để nhận diện xem báo cáo tài chính có khả năng chứa đựng các sai phạm trọng yếu hay không Lí do tác giả sử dụng các tỷ số tài chính để nhận diện khả năng tồn tại các sai phạm trọng yếu trên báo cáo tài chính vì mục tiêu của tác giả muốn hướng đến người sử dụng báo cáo tài chính là kiểm toán viên và cả các cổ đông, nhà đầu tư, các chủ nợ… Thông tin về tỷ số tài chính có thể thu thập được từ báo cáo tài chính công khai trên các trang thông tin điện tử, và tất cả các đối tượng có thể tiếp cận được Với các nghiên cứu khác, điển hình như nghiên cứu của tác giả Trần Thị Giang Tân và cộng sự (2014), mô hình được xây dựng phù hợp với hướng dẫn của chuẩn mực kiểm toán hiện hành, tuy nhiên chủ yếu chỉ phục vụ cho quá trình đánh giá rủi ro của kiểm toán viên, các đối tượng sử dụng báo cáo tài chính khác khó có thể sử dụng mô hình vì thiếu thông tin về các biến độc lập định tính cũng như sự phức tạp trong tính toán
Mặt khác, đối tượng của nghiên cứu này là tác giả nghiên cứu về khả năng tồn tại các sai phạm trọng yếu trên báo cáo tài chính, không khẳng định
Trang 24sai phạm đó là gian lận hay sai sót trọng yếu, cũng không khẳng định gian lận bắt nguồn từ hành động tham ô, biển thủ hay là báo cáo tài chính gian lận, vì không có cơ sở để khẳng định điều này Khả năng tồn tại sai phạm trọng yếu trên báo cáo tài chính trong nghiên cứu này thể hiện ở kết quả chỉ tiêu lợi nhuận trước thuế trước và sau kiểm toán chênh lệch nhau một giá trị nhất định Lợi nhuận trước thuế sau kiểm toán được xem là lợi nhuận tương đối trung thực và hợp lý vì được kiểm toán viên chấp nhận, dựa trên các tiêu chuẩn, các qui định hiện hành Do đó, các chênh lệch ở chỉ tiêu lợi nhuận trước thuế trước và sau kiểm toán cho thấy, số liệu báo cáo tài chính trước kiểm toán có khả năng chứa đựng các sai phạm trọng yếu
Sai phạm trọng yếu trên báo cáo tài chính có thể là sai phạm về mặt giá trị (xét về tiêu chuẩn định lượng) hoặc sai phạm về mặt bản chất của vấn đề (xét về tiêu chuẩn định tính)
- Về mặt định lượng, trọng yếu là khi sai lệch trên báo cáo tài chính cao hơn một số tiền nhất định và có thể sẽ gây ảnh hưởng đến quyết định của người sử dụng báo cáo tài chính
- Về mặt định tính, khái niệm trọng yếu gắn liền với tính hệ trọng của các nghiệp vụ, khoản mục Thông thường, các khoản mục, nghiệp vụ có gian lận hoặc chứa đựng khả năng gian lận thì thường được coi là trọng yếu
Việc nhận diện các sai lệch về mặt định tính khá khó và không rõ ràng
Do đó, trong phạm vi nghiên cứu này, sai phạm trọng yếu được tác giả xem xét là sai phạm về mặt định lượng Cụ thể, các báo cáo tài chính có chênh lệch
số liệu ở chỉ tiêu lợi nhuận trước và sau kiểm toán lớn hơn hoặc bằng 5% được cho là báo cáo tài chính khả năng có tồn tại sai phạm trọng yếu
1.1.2 Các sai phạm trọng yếu thường gặp trên báo cáo tài chính
Đối với các sai sót trọng yếu, vì là hành vi vô ý nên việc nghiên cứu về các sai sót trọng yếu không phổ biến so với hành vi gian lận
Theo tổng hợp từ nghiên cứu của tác giả Trần Thị Giang Tân (2007)
Trang 25[5], một đóng góp rất lớn của Hiệp hội các nhà điều tra gian lận Hoa Kỳ (ACFE – Association of Certified Fraud Examiners) là đã thống kê được các loại gian lận phổ biến trên báo cáo tài chính Qua khảo sát 120 trường hợp về báo cáo tài chính gian lận, ACFE đã thống kê các loại gian lận phổ biến trên báo cáo tài chính được phát hiện như sau:
Bảng 1.1 Các loại gian lận phổ biến trên báo cáo tài chính
(Nguồn: Trích từ tổng hợp của tác giả Trần Thị Giang Tân [5] )
a Che giấu công nợ và chi phí
Thủ thuật này thường được sử dụng đối với các doanh nghiệp muốn khai khống lợi nhuận nhằm làm “đẹp” báo cáo tài chính, thu hút đầu tư hoặc
vì nhiều mục đích khác Đây là một trong những kỹ thuật gian lận phổ biến trên báo cáo tài chính ACFE đã thống kê được ba phương pháp chính thường dùng để thực hiện che giấu công nợ và chi phí:
- Không ghi nhận công nợ và chi phí, đặc biệt không lập đầy đủ các khoản dự phòng: đối với các khoản dự phòng phải trả, theo qui định hiện hành, đơn vị phải thực hiện trích lập dự phòng phải trả khi đáp ứng đủ các điều kiện Tuy nhiên, đa số các doanh nghiệp thường bỏ qua việc lập dự phòng này Khi đó, đơn vị đã che giấu đi một khoản chi phí, và lợi nhuận trước thuế sẽ tăng một khoản tương ứng với số chi phí dự phòng đã giấu đi
- Vốn hoá chi phí: đây cũng là một thủ tục các đơn vị thường thực hiện
để che giấu chi phí Cụ thể, đơn vị thường cố tình vốn hóa các chi phí không
Trang 26đủ điều kiện theo qui định Khi đó, đơn vị đã giấu đi một khoản chi phí, và lợi nhuận trước thuế sẽ tăng tương ứng với số chi phí đã vốn hóa
- Không ghi nhận hàng bán trả lại – các khoản giảm trừ và không trích trước chi phí bảo hành: các khoản giảm trừ doanh thu có tính chất như một khoản chi phí, làm giảm doanh thu của đơn vị Việc không ghi nhận các khoản giảm trừ, nhất là trong trường hợp hàng bán bị trả lại, hay việc không trích trước chi phí bảo hành theo qui định, tức đơn vị đang khai thiếu chi phí, dẫn đến lợi nhuận trước thuế bị khai cao hơn một khoản tương ứng
b Ghi nhận doanh thu không có thật hay khai cao doanh thu
Ghi nhận doanh thu không có thật là việc ghi nhận vào sổ sách một nghiệp vụ bán hàng hóa hay cung cấp dịch vụ không có thực, không có căn cứ ghi sổ, hoặc căn cứ ghi sổ là chứng từ giả mạo Kỹ thuật thường dùng trong trường hợp này là đơn vị tạo ra các khách hàng giả mạo bằng cách giả mạo chứng từ để làm căn cứ ghi sổ, nhưng hàng hóa không được giao, nhằm làm tăng doanh thu trong kỳ, từ đó tăng lợi nhuận trong kỳ Và để giải quyết chênh lệch số liệu hàng hóa thực tế và sổ sách, vào đầu niên độ sau, kế toán lập bút toán hàng bán bị trả lại bằng đúng với lô hàng bán không có thực đã ghi nhận ở kỳ trước
Khai cao doanh thu còn được thực hiện thông qua việc cố ý ghi tăng các nhân tố trên Hóa đơn như số lượng, giá bán… hoặc ghi nhận doanh thu khi các điều kiện giao hàng chưa hoàn tất, chưa chuyển quyền sở hữu và chuyển rủi ro đối với hàng hoá – dịch vụ được bán
c Định giá sai tài sản
Định giá sai tài sản được thực hiện thông qua việc hàng tồn kho bị hư hỏng, không còn sử dụng được nhưng lại không hạch toán giảm giá trị hàng tồn kho đó xuống; hay không lập đầy đủ dự phòng giảm giá hàng tồn kho đối với hàng tồn kho bị giảm giá trị theo đúng qui định; hay việc không lập đầy
đủ các khoản dự phòng nợ phải thu khó đòi, các khoản đầu tư ngắn, dài hạn…
Trang 27Các tài sản thường bị định giá sai như là: các tài sản mua qua hợp nhất kinh doanh, tài sản cố định, không vốn hoá đầy đủ các chi phí vô hình, phân loại không đúng tài sản…
d Ghi nhận sai niên độ
Theo qui định, doanh thu hay chi phí được ghi nhận phải đúng với thời
kỳ mà nó phát sinh Theo đó, nếu một khoản doanh thu, chi phí ghi nhận không đúng thời kỳ phát sinh, mà hạch toán chuyển sang kỳ kế tiếp hay ngược lại sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chỉ tiêu lợi nhuận Thủ thuật này thường được sử dụng khi nhà quản lý muốn điều chỉnh tăng hay giảm lợi nhuận theo mong muốn
e Không khai báo đầy đủ thông tin
Việc không khai báo đầy đủ các thông tin nhằm hạn chế khả năng phân tích của người sử dụng báo cáo tài chính Các thông tin thường không đựợc khai báo đầy đủ trong thuyết minh như nợ tiềm tàng , các sự kiện phát sinh sau ngày khóa sổ kế toán, thông tin về bên có liên quan, các những thay đổi về chính sách kế toán… Điều này ảnh hưởng đến khả năng phân tích thông tin, từ
đó ảnh hưởng đến quyết định của người sử dụng thông tin báo cáo tài chính
1.2 CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CHUNG VỀ SAI PHẠM
Như đã đề cập ở phần trên, sai phạm trọng yếu bao gồm gian lận và sai sót trọng yếu Tuy nhiên, vì mức độ nghiêm trọng của các hành vi gian lận ảnh hưởng đến người sử dụng báo cáo tài chính, nên đa số các nghiên cứu trên thế giới đều tập trung nghiên cứu hành vi cố ý này
1.2.1 Thuyết đại diện
Đối với hành vi thực hiện các sai sót trọng yếu trên báo cáo tài chính, đây là hành vi vô ý, nên nguyên nhân của hành vi này có thể xuất phát từ sự cẩu thả trong công việc, hay nhiều nguyên nhân khách quan khác Đối với hành vi gian lận, đây là hành vi có chủ đích Theo đó, nguyên nhân của hành
vi này có thể được giải thích bởi lý thuyết đại diện của Jensen & Meckling
Trang 28(1976) Các tác giả này cho rằng, do có sự tách biệt giữa quyền sở hữu và quyền điều hành công ty, nên các nhà quản lý (đại diện cho bên điều hành công ty – người được ủy nhiệm) có thể thực hiện các hành vi tư lợi, trong đó
có gian lận trên báo cáo tài chính, thay vì phục vụ lợi ích của bên sở hữu
Vấn đề này thể hiện khá rõ nét trong các công ty cổ phần, khi mà các
cổ đông đại diện cho bên sở hữu hay bên ủy nhiệm, còn các nhà quản lý như Giám đốc là đại diện cho bên điều hành hay bên đại diện Bên sở hữu ủy nhiệm cho bên điều hành thay mặt mình để điều hành công việc kinh doanh của doanh nghiệp
Sở dĩ đối với các công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần, quan
hệ đại diện thể hiện khá phổ biến vì kiểu quan hệ đại diện này mang lại khá nhiều các thuận lợi trong công việc Cụ thể:
- Thứ nhất, việc chuyển nhượng quyền sở hữu không ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, vì chỉ thay đổi bên sở hữu, không ảnh hưởng đến bên điều hành doanh nghiệp;
- Thứ hai, người sở hữu chưa chắc có khả năng tốt trong việc điều hành Việc tách biệt giữa người sở hữu và người điều hành sẽ giúp đơn vị thuê được những nhà quản lý chuyên nghiệp đảm bảo thực hiện mục tiêu của doanh nghiệp
Tuy nhiên, việc tách biệt trên lại dẫn tới một vấn đề nổi bật khác – vấn
đề đại diện, hay còn gọi là vấn đề về xung đột lợi ích giữa nhà quản lý và các chủ sở hữu Cụ thể:
- Mục tiêu của các chủ sở hữu là tối đa hóa giá trị doanh nghiệp, nghĩa
là tối đa hóa giá trị thị trường của vốn cổ phần doanh nghiệp Trong khi đó, mục tiêu của các nhà quản lý quan tâm là mức lương, thưởng hay uy tín của mình đối với doanh nghiệp Để thực hiện các mục tiêu đó, các nhà quản lý thường hướng đến các mục tiêu trong ngắn hạn như: tăng doanh số, tăng thị phần, tối đa hóa lợi nhuận
Trang 29Do vậy, lý thuyết về đại diện cho rằng, nếu cả hai bên trong mối quan
hệ này đều muốn tối đa hóa lợi ích của mình, thì có cơ sở để tin rằng bên điều hành công ty sẽ không luôn luôn hành động vì lợi ích tốt nhất cho bên sở hữu
Sự tách biệt việc sở hữu và điều hành doanh nghiệp còn tạo ra hiện tượng thông tin không cân xứng [4] Cụ thể, bên điều hành có ưu thế hơn bên sở hữu
về thông tin, nên dễ dàng hành động tư lợi Với vị trí của mình, người quản lý công ty được cho là luôn có xu hướng tư lợi và không đủ siêng năng, mẫn cán, và có thể tìm kiếm các lợi ích cá nhân cho mình chứ không phải cho doanh nghiệp Trong khi đó, vì nhiều lí do khách quan mà việc giám sát của các chủ sở hữu đối với những hành động của người đại diện rất tốn kém, khó khăn, phức tạp
Trên thực tế, nhà quản lý thường chịu áp lực rất lớn trước các cổ đông
là phải hoàn thành các chỉ tiêu kinh doanh, trong đó, quan trọng nhất là chỉ tiêu về lợi nhuận Nếu kết quả kinh doanh không được như mong muốn, sự xung đột lợi ích như trên có thể là tác nhân dẫn đến hành vi quản trị lợi nhuận của nhà quản lý, đưa ra các thông tin không chính xác về tình hình hoạt động của doanh nghiệp để đánh lừa các cổ đông và các bên liên quan
Các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam đa
số được thành lập dưới hình thức là các công ty cổ phần Như vậy, vấn đề đại diện tất yếu xảy ra ở các doanh nghiệp này khi có sự tách biệt giữa cổ đông và người quản lý công ty Điều này cho thấy, khả năng xảy ra các sai phạm trọng yếu trên báo cáo tài chính là điều hoàn toàn có thể xảy ra ở các công ty này
1.2.2 Lý thuyết về phân loại xã hội của Edwin Hardin Sutherland (1883-1950)
Edwin Hardin Sutherland (1883-1950) là một nhà xã hội học người
Mỹ Ông được coi là một trong những nhà tội phạm học có ảnh hưởng nhất thế kỷ XX White collar Crime (tội phạm cổ cồn trắng) là thuật ngữ nổi tiếng
do ông sáng lập ra để nói đến loại hình tội phạm liên quan đến kinh doanh,
Trang 30không có tính chất bạo lực mà thường liên quan đến tiền bạc, phạm tội vì mục đích kiếm lợi cho bản thân
Một đóng góp lớn trong sự nghiệp của Sutherland là lý thuyết về phân loại xã hội Nghiên cứu này chủ yếu dựa vào việc quan sát tội phạm đường phố: những kẻ lưu manh, sát thủ hay những kẻ du thủ du thực Qua đó, Sutherland đã rút ra một kết luận: việc phạm tội thường phát sinh từ môi trường sống, vì thế hành vi phạm tội không thể được tiến hành nếu như không
có sự tác động của yếu tố bên ngoài Để hiểu rõ bản chất và nhận diện tội phạm, cần nghiên cứu thái độ cũng như động cơ thúc đẩy hành vi phạm tội
[5] Lý thuyết này đã là khởi nguồn cho rất nhiều các nghiên cứu về hành vi
gian lận báo cáo tài chính sau này
1.2.3 Tam giác gian lận của Donald R Cressey (1919-1987)
Là học trò xuất sắc của Edwin Hardin Sutherland – người đưa ra lý thuyết về phân loại xã hội - tại trường đại học Indiana Tuy nhiên, Donald R Cressey tập trung hướng phân tích gian lận dưới góc độ tham ô và biển thủ tài sản thông qua khảo sát khoảng 200 trường hợp tội phạm kinh tế nhằm tìm ra nguyên nhân dẫn đến các hành vi vi phạm pháp luật trên Ông là người đã phát minh ra tam giác gian lận, là mô hình được sử dụng rộng rãi trong rất nhiều nghề nghiệp có liên quan như kiểm toán, an ninh, điều tra tội phạm…
Hình 1.1 Tam giác gian lận của Donald R Cressey
(Nguồn: nghiên cứu của tác giả Trần Thị Giang Tân [5])
Cơ hội
Thái độ, cá tính
Áp lực
Tam giác gian lận
Trang 31Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 240 hiện hành [2] - Trách nhiệm của kiểm toán viên liên quan đến gian lận trong quá trình Kiểm toán báo cáo tài chính – yêu cầu kiểm toán viên phải đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu trên báo cáo tài chính dựa trên các yếu tố động cơ/áp lực, cơ hội và thái độ Đây cũng chính là ba nhân tố chính của tam giác gian lận được đề suất bởi Cressey Yêu cầu này VSA 240 cũng tương tự Chuẩn mực kiểm toán quốc tế
số 240 (ISA 240) và chuẩn mực kiểm toán số 99 của Mỹ (SAS 99) Điều này
cho thấy ứng dụng của nghiên cứu này trong thực tiễn là rất lớn
1.2.4 Mô hình bàn cân gian lận của D.W Steve Albrecht
Ông là nhà tội phạm học làm việc tại trường Đại học Brigham Young (Mỹ) Ông cùng với 2 đồng sự Keith Howe và Marshall Rommey đã tiến hành phân tích 212 trường hợp gian lận vào những năm 1980 dưới sự tài trợ của Hiệp hội các nhà sáng lập nghiên cứu về kiểm toán nội bộ Ông đã xuất bản tác phẩm: “Chôn vùi gian lận, viển cảnh của kiểm toán nội bộ” Phương pháp luận nghiên cứu của Albrecht là khảo sát thông tin thông qua sử dụng bảng câu hỏi Những người tham gia vào công trình nghiên cứu này là kiểm toán viên nội bộ ở các công ty tại Mỹ Thông qua khảo sát, ông đã thiết lập các biến số liên quan đến gian lận và đã xây dựng danh sách 50 dấu hiệu đỏ về chỉ dẩn gian lận, lạm dụng Các biến số này tập trung vào 2 vấn đề chính: dấu hiệu của nhân viên và đặc điểm của tổ chức Mục đích công trình nghiên cứu này là giúp xác định các dấu hiệu quan trọng của sự gian lận để người quản lý
có thể ngăn ngừa và phát hiện chúng
Dựa vào kết quả nêu trên, ông đã xây dựng một mô hình nổi tiếng: mô hình về bàn cân gian lận Mô hình này gồm có ba nhân tố: Hoàn cảnh tạo ra
áp lực, nắm bắt cơ hội và tính trung thực của cá nhân
Theo Albercht, khi hoàn cảnh tạo áp lực, cơ hội thực hiện gian lận cao cùng với tính liêm chính của cá nhân thấp thì nguy cơ xảy ra gian lận là rất cao và ngược lại, khi hoàn cảnh tạo áp lực, cơ hội thực hiện gian lận thấp
Trang 32cùng với tính liêm chính cao thì nguy cơ xảy ra gian lận là rất thấp
Hoàn cảnh tạo áp lực có thể là liên quan tới những khó khăn về tài chính Cơ hội để thực hiện gian lận có thể do cá nhân đó tự tạo ra hay do sự yếu kém của hệ thống kiểm soát nội bộ Công trình nghiên cứu này đã đóng góp rất lớn cho việc thiết lập hệ thống kiểm soát nội bộ [5]
1.2.5 Công trình nghiên cứu của Hiệp hội các nhà điều tra gian lận Hoa Kỳ (ACFE)
Hiệp hội các nhà điều tra gian lận Hoa Kỳ (ACFE – Association of Certified Fraud Examiners) là một tổ chức nghiên cứu về gian lận ra đời bên cạnh Ủy ban quốc gia về chống gian lận Hoa Kỳ
Cho đến nay, các nghiên cứu và thống kê từ tổ chức này đã cung cấp khá nhiều thông tin hữu ích cho rất nhiều đối tượng sử dụng trên thế giới Theo ACFE, gian lận được phân loại thành các hành vi: biển thủ tài sản, tham
ô và gian lận trên báo cáo tài chính Và theo nghiên cứu thống kê của tổ chức này, gian lận trên báo cáo tài chính thường chiếm tỷ lệ thấp nhất trong ba loại gian lận, nhưng thiệt hại do loại gian lận này gây ra là nhiều nhất
Bảng 1.2 Thống kê các loại gian lận theo ACFE
Biển thủ tài sản 86.3 135,000 86.7 120,000 85.4 130,000
Gian lận báo
cáo tài chính 4.8 4,100,000 7.6 1,000,000 9.0 1,000,000
(Nguồn: ACFE website – tạm dịch)[12]
Các nghiên cứu này của ACFE đã tổng hợp được những thiệt hại do gian lận gây ra đối với nền kinh tế thế giới, dựa trên khảo sát của các thành
Trang 33viên CFEs (Certified Fraud Examiners) Tuy không phải thống kê được tất cả những thiệt hại mà gian lận đã gây ra, nhưng những con số thống kê từ những nghiên cứu này của ACFE cũng đã giúp những người quan tâm và giới chức
các nước nhìn nhận sâu sát hơn về vấn đề gian lận hiện nay
1.3 CÁC MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ SAI PHẠM TRỌNG YẾU TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH
Trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, có rất nhiều các nghiên cứu xây dựng mô hình giúp nhận diện sai phạm trọng yếu trên báo cáo tài chính Ở đây, tác giả giới thiệu một số các nghiên cứu có liên quan gần nhất đến nghiên cứu của tác giả, bao gồm ba nghiên cứu nước ngoài và một nghiên cứu trong nước
1.3.1 Mô hình nhận diện sai phạm trọng yếu của Beneish
Nghiên cứu của Beneish (1999) là nghiên cứu đầu tiên về việc xây dựng một mô hình dự đoán khả năng gian lận báo cáo tài chính, giúp các kiểm toán viên, nhà đầu tư, các đối tượng sử dụng báo cáo tài chính nhận diện được khả năng có sai phạm trọng yếu trên báo cáo tài chính
Dựa vào các kỹ thuật gian lận thường sử dụng, Beneish thiết lập một mô hình dự đoán (gọi là tỷ số M-Score) để đánh giá có hay không khả năng công
ty gian lận báo cáo tài chính Mô hình bao gồm tám biến giải thích như sau:
DSRI: Chỉ số phải thu khách hàng so với doanh thu
GMI: Chỉ số tỷ lệ lãi gộp
AQI: Chỉ số chất lượng tài sản
SGI: Chỉ số tăng trưởng doanh thu bán hàng
DEPI: Chỉ số tỷ lệ khấu hao
SGAI: Chỉ số chi phí bán hàng và quản lý doanh nghiệp
LVGI: Chỉ số đòn bẩy tài chính
TATA: chỉ số biến dồn tích accruals so với tổng tài sản
Với tám biến như mô tả ở trên, mô hình xây dựng được của Beneish có
Trang 34khả dự đoán với xác suất đúng 76% đối với các doanh nghiệp gian lận và 56,1% đối với các doanh nghiệp không gian lận Và mô hình này được ứng dụng để nhằm phát hiện sớm một số các công ty có khả năng thực hiện các hành vi thao túng trên báo cáo tài chính [7]
1.3.2 Mô hình nhận diện gian lận trên báo cáo tài chính của
Dr Obeua S Persons
Dr Obeua S Persons là nhà nghiên cứu thuộc lĩnh vực kế toán trường
Đại học Rider, Mỹ Nghiên cứu của ông với tiêu đề “Using Financial
statement data to identify factors associated with fraudulent financial reporting” [11], tạm dịch là “Sử dụng dữ liệu báo cáo tài chính để xác định các yếu tố có liên quan đến gian lận trên báo cáo tài chính” Dựa trên mô
hình Stepwise – logistic, nghiên cứu đã chứng minh được các nhóm tỷ số như: đòn bẩy tài chính, vòng quay vốn, cấu trúc tài sản và qui mô doanh nghiệp là những yếu tố có khả năng nhận diện các báo cáo tài chính gian lận
Cụ thể, nghiên cứu của Persons được thực hiện như sau:
Trong năm gian lận, Persons chọn ra 103 công ty gian lận và 103 công
ty không gian lận báo cáo tài chính Đồng thời, trong năm liền trước năm gian lận, chọn thêm 100 công ty gian lận và 100 công ty không gian lận báo cáo tài chính Trong đó, năm gian lận là năm mà gian lận được phát hiện ra Các công ty không gian lận được chọn phải tương đồng với các công ty gian lận
về qui mô, lĩnh vực hoạt động, và cùng kỳ báo cáo
Tổng hợp từ các nghiên cứu trước đây về các tỷ số tài chính có khả năng nhận diện gian lận trên báo cáo tài chính, Persons đưa ra được 10 biến độc lập được cho là có khả năng nhận diện gian lận trên báo cáo tài chính, bao gồm:
TLTA: Tổng nợ trên tổng tài sản (Total liabitities/total assets)
NITA: Lợi nhuận ròng trên tổng tài sản (Net income/Total assets)
RETA: Lợi nhuận giữ lại trên tổng tài sản (Retained earnings/Total assets) CATA: Tài sản ngắn hạn trên tổng tài sản (Current assets/Total assets)
Trang 35RVTA: Phải thu trên tổng tài sản (Receivables/Total assets)
IVTA: Hàng tồn kho trên tổng tài sản (Inventory/ Total assets)
WCTA: Vốn lưu động trên tổng tài sản (Working captital/ Total assets) SATA: Doanh thu trên tổng tài sản (Sales/ Total assets)
LOGTA: Giá trị logaric của giá trị ghi sổ tổng tài sản vào thời điểm cuối năm tài chính
Z-score: Chỉ số đo lường khả năng phá sản của doanh nghiệp (Altman 1968) Nghiên cứu này dựa trên mô hình hồi qui logistic, chạy cho hai mô hình: mô hình với mẫu là dữ liệu của 206 công ty năm gian lận (gồm 103 công ty gian lận và 103 công ty không gian lận), và mô hình thứ hai với mẫu
là dữ liệu của 200 công ty năm trước năm gian lận (gồm 100 công ty gian lận
và 100 công ty không gian lận) Biến phụ thuộc Y là biến định tính, nhận hai giá trị: 1 là gian lận và 0 là không gian lận
Mười biến độc lập được đưa vào hồi qui từng bước theo phương pháp Stepwise logistic Thực hiện hồi quy Logistic cho cả hai mô hình năm gian lận và năm liền trước năm gian lận, kết quả thu được như sau:
- Cả hai mô hình đều bao gồm 4 biến giải thích được mô hình bao gồm: TLTA, SATA, CATA, LOGTA, trong đó biến TLTA có ý nghĩa cao nhất (sig
<0.001) Kết quả này cho thấy, dữ liệu của báo cáo tài chính các công ty gian lận thật sự khác so với dữ liệu báo cáo tài chính các công ty không có gian lận, cụ thể:
+ Các công ty gian lận có đòn bẩy tài chính cao hơn;
+ Các công ty gian lận có vòng quay vốn thấp hơn;
+ Các công ty gian lận có tỷ trọng tài sản ngắn hạn cao hơn, mà thành phần chủ yếu là các khoản phải thu và hàng tồn kho;
+ Các công ty gian lận thường có qui mô nhỏ hơn các công ty không gian lận
Trang 36Bảng 1.3 Kết quả ước lượng mô hình nhận diện gian lận của
Dr Obeua S Persons [11]
1.3.3 Mô hình nhận diện gian lận của nhóm tác giả Hawariah Dalnial, Amrizah Kamaluddin, Zuraidah Mohd Sanusi, và Khairun Syafiza Khairuddin [9]
Đây là một nghiên cứu gần đây, dựa trên nghiên cứu của Persons Nhóm tác giả này đã thực hiện xây dựng mô hình nhận diện gian lận báo cáo tài chính, dựa trên các dữ liệu của báo cáo tài chính của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Malaysia Cũng như nghiên cứu của Persons, nghiên cứu của nhóm tác giả này một lần nữa chứng minh rằng, các dữ liệu thu thập được trên báo cáo tài chính có khả năng giúp nhận diện sự tồn tại của gian lận trên báo cáo tài chính Cụ thể, nghiên cứu được thực hiện như sau:
Nhóm tác giả thực hiện chạy mô hình hồi quy đa biến với mẫu là 130 báo cáo tài chính của các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán Malaysia,
Trang 37trong đó 65 báo cáo tài chính của các công ty được cho là có gian lận và 65 báo cáo tài chính của các công ty không có gian lận Việc chọn các công ty không có gian lận phải phù hợp với các công ty gian lận về mặt qui mô, ngành nghề, và cùng kỳ báo cáo Dữ liệu của 130 công ty được thu thập trong năm (5) năm Đầu tiên là xác định năm gian lận, là năm mà gian lận bị phát hiện Tiếp theo là thu thập dữ liệu của 4 năm liền trước năm gian lận
Nhóm tác giả thực hiện ước lượng hồi quy đa biến với biến phụ thuộc là biến gian lận và 9 biến độc lập Các biến độc lập được mô tả trong bảng sau:
Bảng 1.4 Đo lường biến độc lập và biến kiểm soát trong nghiên cứu của nhóm tác giả Hawariah Dalnial, Amrizah Kamaluddin, Zuraidah Mohd
Sanusi, và Khairun Syafiza Khairuddin [9]
TABLE I MEASUREMENT OF INDEPENDENT VARIABLE AND CONTROL VARIABLE
Independent Variable
Control Variable
of total assets at the end of the fiscal year
SIZE
Trang 38Kết quả nghiên cứu của nhóm tác giả này cho thấy, mô hình họ xây dựng để nhận diện gian lận trên báo cáo tài chính phát hiện được 85.71% các trường hợp không gian lận, và nhận diện được 55.1% các trường hợp có gian lận báo cáo tài chính Và mô hình nhận diện gian lận báo cáo tài chính xây dựng được như sau:
FFR = 1.008 + 0.945 (Square/Log TD/TE) + 2.049 (Lg REC/REV) – 0.565 (Lg INV/TA) + 1.181 (LgREV/TA) + e
Trong đó:
FFR: (Fraudulent financial reporting) Báo cáo tài chính gian lận
TD/TE: Tổng nợ/Tổng vốn chủ sở hữu
REC/REV: Phải thu/Doanh thu
INV/TA: Hàng tồn kho/Tổng tài sản
REV/TA: Doanh thu / Tổng tài sản
Kết quả này cũng phù hợp với nghiên cứu của Persons về các tỷ số tài chính có khả năng nhận diện gian lận báo cáo tài chính Và một lần nữa, thêm một nghiên cứu được thực hiện khẳng định rằng, có thể sử dụng các tỷ số tài chính để nhận diện sự tồn tại của gian lận trên báo cáo tài chính của một doanh nghiệp
1.3.4 Mô hình nhận diện gian lận của Trần Thị Giang Tân và cộng
sự [6]
Tác giả Trần Thị Giang Tân cùng cộng sự thực hiện nghiên cứu mô hình nhận diện gian lận trên báo cáo tài chính, dựa trên các yếu tố của tam giác gian lận là Động cơ/Áp lực, cơ hội và thái độ Sử dụng 78 doanh nghiệp niêm yết tại Sở giao dịch Chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh năm 2012, bao gồm 39 doanh nghiệp được cho là có gian lận và 39 doanh nghiệp được cho là không gian lận, nhóm tác giả này đã thực hiện phân tích hồi qui Logit
để xem xét mối quan hệ giữa các yếu tố của tam giác gian lận và khả năng xảy ra gian lận trên báo cáo tài chính Kết quả nghiên cứu cho thấy, khả năng
Trang 39xảy ra gian lận có mối quan hệ có ý nghĩa thống kê với 3 yếu tố về Động cơ/Áp lực, với 1 yếu tố về cơ hội và với 2 yếu tố về thái độ Cụ thể:
- 3 yếu tố về Động cơ/Áp lực bao gồm: SALAR (Tỷ lệ doanh thu trên nợ phải thu), INVTA (tỷ trọng hàng tồn kho trên tổng tài sản), LEV (Đòn cân nợ);
- 1 yếu tố về Cơ hội là BIG4 (Kiểm toán viên thuộc nhóm Big 4);
- 2 yếu tố về Thái độ là AUDREPORT (Ý kiến của kiểm toán viên độc lập về báo cáo tài chính) và RST (Tiền sử gian lận)
Phương trình hồi quy xây dựng được có dạng:
FRAUD = -2.387 – 0.065 SALAR – 3.446 INVTA + 3.517 LEV + 1.183 BIG4 + 2.259 AUDREPORT + 1.052 RST + ε
Mô hình sử dụng các biến trên có khả năng dự báo đúng bình quân là 83,33% các doanh nghiệp trong mẫu nghiên cứu, và dự báo đúng 80% cho 20 doanh nghiệp ngoài mẫu nghiên cứu
Trang 40TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Hiện tại, các thuật ngữ được sử dụng để mô tả về các sai phạm trên báo cáo tài chính đang không thống nhất giữa các văn bản, các nghiên cứu Do đó,
ở chương này, tác giả thống nhất lại cách sử dụng thuật ngữ trong phạm vi
nghiên cứu này Cụ thể, trong nghiên cứu này sử dụng thuật ngữ sai phạm trên báo cáo tài chính bao gồm gian lận và sai sót; và thuật ngữ thứ hai là khả
năng tồn tại các sai phạm trọng yếu trên báo cáo tài chính được đo lường
bằng sự chênh lệch giá trị lợi nhuận trước thuế trước và sau kiểm toán của các doanh nghiệp
Các mô hình nghiên cứu của các tác giả nước ngoài được đề cập trong bài như mô hình của tác giả Persons và nhóm tác giả Malaysia, xây dựng dựa trên cơ sở các doanh nghiệp có sai phạm thực sự, được cung cấp bởi những nguồn đáng tin cậy như Ủy ban chứng khoán… Trong nghiên cứu này, dữ liệu tác giả thu thập được không có đủ cơ sở để khẳng định đó là sai phạm thật sự hay không Ở đây tác giả chỉ nghiên cứu về khả năng tồn tại các sai phạm trọng yếu trên báo cáo tài chính, và các doanh nghiệp được cho là khả năng có tồn tại sai phạm trọng yếu được đánh giá bằng sự chênh lệch giá trị chỉ tiêu lợi nhuận trước thuế trước và sau kiểm toán của các doanh nghiệp niêm yết, thu thập từ báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp
Mặc dù các dữ liệu về mẫu được sử dụng không được khẳng định một cách chắc chắn rằng có chứa sai phạm trọng yếu trên báo cáo tài chính, tuy nhiên, tác giả cho rằng, việc xác định các yếu tố ảnh hưởng đến sai phạm và khả năng tồn tại sai phạm là như nhau Do đó, tác giả nhận thấy việc kế thừa các nghiên cứu của các tác giả nước ngoài này trong mô hình nghiên cứu của mình là hoàn toàn có cơ sở