ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG LÊ THỊ CẨM GIANG NHẬN DIỆN KHẢ NĂNG TỒN TẠI SAI PHẠM TRỌNG YẾU TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM Chuyên ngành: K
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
LÊ THỊ CẨM GIANG
NHẬN DIỆN KHẢ NĂNG TỒN TẠI SAI PHẠM TRỌNG YẾU TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
Chuyên ngành: KẾ TOÁN
Mã số: 60.34.03.01
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Đà Nẵng – Năm 2015
Trang 2ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
Người hướng dẫn khoa học: TS ĐƯỜNG NGUYỄN HƯNG
Phản biện 1: TS Đoàn Thị Ngọc Trai
Phản biện 2: PGS.TS Lê Đức Toàn
Luận văn đã được bảo vệ trước Hội đồng chấm Luận văn tốt nghiệp thạc sĩ Quản trị kinh doanh họp tại Đại học Đà Nẵng vào ngày
30 tháng 08 năm 2015
Có thể tìm hiểu luận văn tại:
Trung tâm Thông tin-Học liệu, Đại học Đà Nẵng
Thư viện trường Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nhận diện sai phạm trọng yếu báo cáo tài chính không chỉ là vấn đề kiểm toán viên quan tâm, mà còn là mối quan tâm chung của các đối tượng sử dụng báo cáo tài chính khác, khi tình trạng công bố thông tin không trung thực đang diễn ra không chỉ ở Việt Nam mà còn trên thế giới Đã có nhiều phương pháp được xây dựng nhằm giúp nhận diện sai phạm báo cáo tài chính trên thế giới, tuy nhiên, khi áp dụng vào Việt Nam có nhiều điểm chưa phù hợp Theo đó, tác
giả thực hiện đề tài nghiên cứu “Nhận diện khả năng tồn tại sai phạm trọng yếu trên báo cáo tài chính của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam” với mong muốn xây
dựng được một mô hình phù hợp cho Việt Nam, hỗ trợ các kiểm toán viên và các đối tượng quan tâm đánh giá độ tin cậy của các thông tin
sử dụng cho việc ra quyết định tài chính
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Xây dựng được mô hình nhận diện khả năng tồn tại các sai phạm trọng yếu trên báo cáo tài chính thông qua các tỷ số tài chính
3 Câu hỏi nghiên cứu
- Có thể nhận diện khả năng tồn tại sai phạm trọng yếu trên báo cáo tài chính thông qua các chỉ số tài chính hay không?
- Mô hình xây dựng được dự báo được bao nhiêu phần trăm các trường hợp có và không có khả năng tồn tại sai phạm trọng yếu trên báo cáo tài chính?
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: khả năng tồn tại sai phạm trọng
yếu trên báo cáo tài chính
Trang 4 Phạm vi nghiên cứu
+ Phạm vi không gian: Các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
+ Phạm vi thời gian: giai đoạn 2010 – 2013
5 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu chủ đạo là nghiên cứu định lượng
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Phân tích về mặt lý luận các nghiên cứu trước đây về việc nhận diện sai phạm trọng yếu trên báo cáo tài chính
- Mô hình xây dựng được sẽ hỗ trợ công tác kiểm toán cũng như đánh giá thông tin ra quyết định của các đối tượng quan tâm
7 Tổng quan tài liệu
Tác giả Trần Thị Giang Tân và cộng sự (2014), “Đánh giá rủi ro gian lận báo cáo tài chính của các công ty niêm yết tại Việt Nam”, Nghiên cứu khoa học [6]
Dựa trên nghiên cứu về tam giác gian lận của Cressey (1953), kết hợp với hướng dẫn của VSA 240 [2], nhóm tác giả xây dựng các biến đại diện cho các yếu tố của tam giác gian lận, từ đó chạy mô hình hồi quy logit với mẫu nghiên cứu là 78 công ty niêm yết tại sàn giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh năm 2012 Kết quả nghiên cứu cho thấy khả năng xảy ra gian lận có mối quan hệ
có ý nghĩa thống kê với 3 yếu tố về Động cơ/Áp lực, với 1 yếu tố về
cơ hội và với 2 yếu tố về thái độ, và khả năng dự báo đúng của mô hình là 83,33% các công ty thuộc mẫu nghiên cứu
Tác giả Nguyễn Trần Nguyên Trân (2014), “Vận dụng mô hình Beneish nhận diện gian lận trên báo cáo tài chính của các công
ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam” [7]
Trang 5Tác giả này đã áp dụng mô hình nhận diện gian lận của Beneish với 30 công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam có sai phạm trọng yếu trên báo cáo tài chính năm 2012 Và kết quả nghiên cứu cho thấy, mô hình đã phát hiện được 53,33% (16/30 công ty) trong số các công ty bị phát hiện gian lận báo cáo tài chính
Điểm nổi bật của luận văn so với hai nghiên cứu trên
- Thứ nhất, tác giả có xem xét đến yếu tố sự phù hợp của mô hình xây dựng được đối với đặc thù Việt Nam
- Thứ hai, mô hình xây dựng được không chỉ phục vụ cho công tác kiểm toán của kiểm toán viên, mà còn phục vụ cho các đối tượng sử dụng thông tin báo cáo tài chính khác
Ngoài ra, dữ liệu mẫu của nghiên cứu được xem xét trong một giai đoạn, từ 2010-2013 với các doanh nghiệp niêm yết trên toàn lãnh thổ Việt Nam Điều này sẽ giúp mô hình xây dựng được mang tính bao quát và mang tính ứng dụng cao hơn
8 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn bao gồm các nội dung chính sau:
- Chương 1: Một số vấn đề lý luận về sai phạm trọng yếu và các mô hình nhận diện sai phạm trọng yếu trên báo cáo tài chính
- Chương 2: Thực trạng vấn đề sai phạm trên báo cáo tài chính của các doanh nghiệp niêm yết Việt Nam giai đoạn 2010-2013
- Chương 3: Xây dựng mô hình nhận diện khả năng tồn tại sai phạm trọng yếu trên báo cáo tài chính của các doanh nghiệp niêm yết Việt Nam
- Chương 4: Kết luận và kiến nghị
Trang 6CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ SAI PHẠM TRỌNG YẾU VÀ CÁC MÔ HÌNH NHẬN DIỆN SAI PHẠM TRỌNG YẾU TRÊN
BÁO CÁO TÀI CHÍNH
1.1 TỔNG QUAN VỀ KHẢ NĂNG TỒN TẠI SAI PHẠM TRỌNG YẾU TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH
1.1.1 Khái niệm sai phạm trọng yếu trên báo cáo tài chính
Trước khi đi vào nghiên cứu, tác giả sẽ làm rõ hai khái niệm,
là khái niệm về sai phạm và khái niệm khả năng tồn tại sai phạm trọng yếu báo cáo tài chính
Sai phạm
Theo khái niệm của Chuẩn mực kiểm toán hiện hành có hiệu lực từ ngày 1/1/2014 [2], các sai sót trong báo cáo tài chính có thể phát sinh từ gian lận hoặc nhầm lẫn Tuy nhiên, theo quan điểm cá nhân, tác giả đồng tình với cách sử dụng thuật ngữ của Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam trước đây [1], là sai phạm trên báo cáo tài chính xuất phát từ gian lận và sai sót Những thuật ngữ này theo tác giả
phản ánh đúng bản chất của sai phạm hơn Do đó, trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng thuật ngữ sai phạm, và tập trung vào sai phạm trọng yếu báo cáo tài chính bao gồm gian lận và sai sót trọng yếu
Khả năng tồn tại sai phạm trọng yếu báo cáo tài chính
Nghiên cứu về khả năng tồn tại sai phạm trọng yếu trên báo cáo tài chính tức là nghiên cứu xem báo cáo tài chính có thể chứa đựng các sai phạm trọng yếu hay là không
Một báo cáo tài chính được coi là khả năng có tồn tại sai phạm trọng yếu trong nghiên cứu này là khi chênh lệch số liệu ở chỉ tiêu lợi nhuận trước và sau kiểm toán lớn hơn 5% Việc chênh lệch
Trang 7này có thể xuất phát từ nhiều lý do khách quan và chủ quan, nên trong phạm vi nghiên cứu này, tác giả chỉ cho rằng là có khả năng tồn tại sai phạm, chứ không khẳng định chắc chắn đó là sai phạm
1.1.2 Các sai phạm trọng yếu thường gặp trên báo cáo tài chính
Khảo sát 120 trường hợp về báo cáo tài chính gian lận, Hiệp hội các nhà điều tra gian lận Hoa Kỳ-ACFE đã thống kê các loại gian lận phổ biến trên báo cáo tài chính bao gồm [5]:
a Che giấu công nợ và chi phí
b Ghi nhận doanh thu không có thật hay khai cao doanh thu
c Định giá sai tài sản
d Ghi nhận sai niên độ
e Không khai báo đầy đủ thông tin
1.2 CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CHUNG VỀ SAI PHẠM
1.2.1 Thuyết đại diện
1.2.2 Lý thuyết về phân loại xã hội của Edwin Hardin Sutherland (1883-1950)
1.2.3 Tam giác gian lận của Donald R Cressey (1919-1987) 1.2.4 Mô hình bàn cân gian lận của D.W Steve Albrecht 1.2.5 Công trình nghiên cứu của Hiệp hội các nhà điều tra gian lận Hoa Kỳ (ACFE)
1.3 CÁC MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ SAI PHẠM TRỌNG YẾU TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH
1.3.1 Mô hình nhận diện sai phạm trọng yếu của Beneish 1.3.2 Mô hình nhận diện gian lận trên báo cáo tài chính của Dr Obeua S Persons
Tổng hợp từ các nghiên cứu trước đây, Persons đưa ra được
10 biến độc lập được cho là có khả năng nhận diện gian lận trên báo
Trang 8cáo tài chính, bao gồm:
TLTA: Tổng nợ trên tổng tài sản
NITA: Lợi nhuận ròng trên tổng tài sản
RETA: Lợi nhuận giữ lại trên tổng tài sản
CATA: Tài sản ngắn hạn trên tổng tài sản
RVTA: Phải thu trên tổng tài sản
IVTA: Hàng tồn kho trên tổng tài sản
WCTA: Vốn lưu động trên tổng tài sản
SATA: Doanh thu trên tổng tài sản
LOGTA: Giá trị logarit của giá trị ghi sổ tổng tài sản vào thời điểm cuối năm tài chính
Z-score: Chỉ số đo lường khả năng phá sản của doanh nghiệp Nghiên cứu này dựa trên mô hình hồi qui logistic, chạy cho hai mô hình: mô hình với mẫu là dữ liệu của 206 công ty năm gian lận (gồm 103 công ty gian lận và 103 công ty không gian lận), và mô hình thứ hai với mẫu là dữ liệu của 200 công ty năm trước năm gian lận (gồm 100 công ty gian lận và 100 công ty không gian lận) Năm gian lận là năm mà gian lận được phát hiện Biến phụ thuộc Y là biến định tính, nhận hai giá trị: 1 là gian lận và 0 là không gian lận
Kết quả nghiên cứu này cho thấy, so với các công ty không gian lận:
+ Các công ty gian lận có đòn bẩy tài chính cao hơn;
+ Các công ty gian lận có vòng quay vốn thấp hơn;
+ Các công ty gian lận có tỷ trọng tài sản ngắn hạn cao hơn, mà thành phần chủ yếu là các khoản phải thu và hàng tồn kho;
+ Các công ty gian lận thường có qui mô nhỏ hơn
Trang 9Bảng 1.3: Kết quả ước lượng mô hình nhận diện gian lận của
Dr Obeua S Persons [11]
1.3.3 Mô hình nhận diện gian lận của nhóm tác giả Hawariah Dalnial, Amrizah Kamaluddin, Zuraidah Mohd Sanusi, và Khairun Syafiza Khairuddin [9]
Nhóm tác giả thực hiện ước lượng hồi quy đa biến với mẫu là
130 báo cáo tài chính của các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán Malaysia, trong đó 65 báo cáo tài chính gian lận và 65 báo cáo tài chính không có gian lận Điều kiện về các công ty gian lận và không gian lận tương tự nghiên cứu Persons Kết quả nghiên cứu cho thấy,
mô hình nhận diện được 85.71% các trường hợp không gian lận, và nhận diện được 55.1% các trường hợp có gian lận báo cáo tài chính
Và mô hình xây dựng được như sau:
FFR = 1.008 + 0.945 (Square/Log TD/TE) + 2.049 (Lg REC/REV) – 0.565 (Lg INV/TA) + 1.181 (LgREV/TA) + e
Trong đó: FFR: Báo cáo tài chính gian lận
TD/TE: Tổng nợ/Tổng vốn chủ sở hữu
Trang 10REC/REV: Phải thu/Doanh thu INV/TA: Hàng tồn kho/Tổng tài sản REV/TA: Doanh thu / Tổng tài sản
1.3.4 Mô hình nhận diện gian lận của Trần Thị Giang Tân và cộng sự [6]
Nhóm tác giả sử dụng dữ liệu của 78 doanh nghiệp niêm yết tại Sở giao dịch Chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh năm 2012, bao gồm 39 doanh nghiệp được cho là có gian lận và 39 doanh nghiệp được cho là không gian lận Kết quả cho thấy, gian lận có mối quan
hệ có ý nghĩa thống kê với:
- 3 yếu tố về Động cơ/Áp lực bao gồm: SALAR (Tỷ lệ doanh thu trên nợ phải thu), INVTA (tỷ trọng hàng tồn kho trên tổng tài sản), LEV (Đòn cân nợ);
- 1 yếu tố về Cơ hội là BIG4 (Kiểm toán viên thuộc Big 4);
- 2 yếu tố về Thái độ là AUDREPORT (Ý kiến của kiểm toán viên độc lập về báo cáo tài chính) và RST (Tiền sử gian lận)
Phương trình hồi quy xây dựng được có dạng:
FRAUD = -2.387 – 0.065 SALAR – 3.446 INVTA + 3.517 LEV + 1.183 BIG4 + 2.259 AUDREPORT + 1.052 RST + ε
Mô hình dự báo đúng 83.33% các doanh nghiệp trong mẫu nghiên cứu, và 80% cho 20 doanh nghiệp ngoài mẫu nghiên cứu
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Chương này tác giả thống nhất lại cách sử dụng thuật ngữ trong phạm vi nghiên cứu này Đồng thời tổng hợp các nghiên cứu chung và mô hình nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến sai phạm trọng yếu báo cáo tài chính, làm cơ sở thực hiện nghiên cứu
Trang 11CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ SAI PHẠM TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NIÊM YẾT VIỆT NAM
GIAI ĐOẠN 2010-2013
2.1 TÌNH HÌNH CHÊNH LỆCH SỐ LIỆU TRƯỚC VÀ SAU KIỂM TOÁN CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NIÊM YẾT VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2010 – 2013
Tổng hợp nguồn nghiên cứu của tác giả Nguyễn Trần Nguyên Trân [7] cùng với thống kê của trang vietstock.vn cho thấy, các doanh nghiệp phải điều chỉnh số liệu sau kiểm toán chiếm phần lớn trong các doanh nghiệp công bố báo cáo tài chính Đây là một tỉ
lệ đáng báo động về khả năng tồn tại các sai phạm trên báo cáo tài chính của các doanh nghiệp niêm yết Việt Nam
Hình 2.1 Biểu đồ thể hiện tình hình điều chỉnh số liệu lợi nhuận sau thuế của các doanh nghiệp niêm yết Việt Nam giai đoạn 2010 – 2013
Trang 122.2 TỔNG KẾT MỘT SỐ CÁC SAI PHẠM CHỦ YẾU CÁC DOANH NGHIỆP THƯỜNG VI PHẠM GIAI ĐOẠN 2010 – 2013
Không ghi nhận hoặc ghi nhận doanh thu không có thật
Ghi nhận chi phí không đúng kỳ
Chênh lệch ở các khoản trích lập dự phòng, khấu hao
Đánh giá chênh lệch tỷ giá ngoại tệ
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2
Chương này tác giả thống kê lại thực trạng tình hình chênh lệch số liệu trước và sau kiểm toán để cho thấy mức độ báo động của việc công bố thông tin và sự lỏng lẻo trong quản lý Đồng thời thống
kê một số các hình thức sai phạm chủ yếu mà các doanh nghiệp đang thực hiện
CHƯƠNG 3 XÂY DỰNG MÔ HÌNH NHẬN DIỆN KHẢ NĂNG TỒN TẠI SAI PHẠM TRỌNG YẾU TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NIÊM YẾT VIỆT NAM
3.1 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU
3.1.1 Các giả thiết và mô hình đề xuất
Các biến độc lập trong mô hình nghiên cứu được xây dựng thông qua khảo sát ý kiến 30 chuyên gia lĩnh vực kế toán kiểm toán, tài chính ngân hàng… trên lãnh thổ Việt Nam, có lồng ghép các biến thuộc nghiên cứu của Persons và nhóm tác giả Malaysia Việc khảo sát nhằm mục đích để mô hình xây dựng được phù hợp với đặc điểm của Việt Nam Sau khi thực hiện khảo sát, tác giả sẽ chọn lọc các tỷ
số tài chính có trên 50% chọn lựa từ các chuyên gia để đưa vào mô hình nghiên cứu
Trang 13Bảng 3.4 Đo lường biến độc lập của mô hình đề xuất
Loại tỷ số Tỷ số tài chính Kí hiệu
Dấu
kỳ vọng
Tỷ số thanh toán
(Tài sản ngắn hạn – Hàng tồn kho) /Nợ ngắn hạn
Giá trị logarit của tổng tài sản
Ủy ban chứng khoán Hoa Kỳ khi nhận định về báo cáo tài chính
gian lận (1987) có nêu rằng: “Báo cáo tài chính gian lận thường liên
quan đến các công ty gặp khó khăn về tài chính”[11] Kinney và
McDaniel (1989, p.74) cũng cho rằng: “Các nhà quản lý của các công ty
trong tình trạng tài chính yếu kém có nhiều khả năng sẽ nỗ lực “làm đẹp” báo cáo tài chính để che giấu những khó khăn tạm thời”[11]
Ngoài ra, các nghiên cứu khác như nghiên cứu của Kreutzfeldt và Wallace (1986), St.Piere và Anderson (1984), Simunic (1980) [11] cũng cho kết luận tương tự, rằng các doanh nghiệp gặp khó khăn về tài chính thì khả năng báo cáo tài chính chứa đựng các sai phạm tăng lên, thể hiện thông qua các tỷ số tài chính Tác giả nhận thấy có cơ sở để đưa ra giả thuyết tương tự trong điều kiện Việt Nam Theo đó, tác giả xây dựng các giả thuyết cho mô hình như sau:
Trang 14 Tỷ số thanh toán
- Giả thuyết H 1 : Khả năng tồn tại sai phạm trọng yếu trên
báo cáo tài chính có quan hệ ngược chiều với tỷ số Tài sản ngắn hạn/Nợ ngắn hạn (TSNH/NNH)
- Giả thuyết H 2: Khả năng tồn tại sai phạm trọng yếu trên
báo cáo tài chính có quan hệ ngược chiều với tỷ số Tài sản ngắn hạn
không bao gồm Hàng tồn kho/Nợ ngắn hạn ((TSNH- HTK) /NNH)
Tỷ số cấu trúc tài sản
- Giả thuyết H 3 : Khả năng tồn tại sai phạm trọng yếu trên
báo cáo tài chính có quan hệ cùng chiều với tỷ số Tài sản ngắn
hạn/Tổng tài sản (TSNH/TTS)
- Giả thuyết H 4: Khả năng tồn tại sai phạm trọng yếu trên
báo cáo tài chính có quan hệ cùng chiều với tỷ số Phải thu/Tổng tài
sản (PT/TTS)
- Giả thuyết H 5: Khả năng tồn tại sai phạm trọng yếu trên
báo cáo tài chính có quan hệ cùng chiều với tỷ số Hàng tồn kho/Tổng
tài sản (HTK/TTS)
Tỷ số hoạt động
- Giả thuyết H 6: Khả năng tồn tại sai phạm trọng yếu trên
báo cáo tài chính có quan hệ ngược chiều với tỷ số Doanh thu
thuần/Phải thu (DTT/PT)
Giả thuyết H 7: Khả năng tồn tại sai phạm trọng yếu trên báo
cáo tài chính có quan hệ ngược chiều với tỷ số Giá vốn hàng bán/Hàng tồn kho (GVHB/HTK)
- Giả thuyết H 8: Khả năng tồn tại sai phạm trọng yếu trên
báo cáo tài chính có quan hệ ngược chiều với tỷ số Doanh thu thuần/Tổng tài sản (DTT/TTS)