1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu ảnh hưởng của quản trị công ty đối với sai phạm trên báo cáo tài chính của các doanh nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán việt nam

115 99 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 115
Dung lượng 1,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Qua việc nghiên cứu mức độ và các yếu tố của quản trị công ty ảnh hưởng đến sai phạm trên báo cáo tài chính, tác giả mong muốn đưa ra một đánh giá khách quan về tình hình quản trị công t

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

TRẦN THỊ KIỀU OANH

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA QUẢN TRỊ

CÔNG TY ĐỐI VỚI SAI PHẠM TRÊN BÁO CÁO

TÀI CHÍNH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NIÊM YẾT

TRÊN SÀN CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

Chuyên ngành : Kế toán

Mã số : 60.34.30

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH

Người hướng dẫn khoa học : TS ĐƯỜNG NGUYỄN HƯNG

Đà Nẵng, Năm 2015

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được

ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

Trần Thị Kiều Oanh

Trang 3

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu 3

5 Bố cục của đề tài 3

6 Tổng quan tài liệu 3

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA QUẢN TRỊ CÔNG TY ĐẾN SAI PHẠM BÁO CÁO TÀI CHÍNH 8

1.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUẢN TRỊ CÔNG TY VÀ BÁO CÁO TÀI CHÍNH 8

1.1.1 Khái quát chung về quản trị công ty 8

1.1.2 Khái quát chung về báo cáo tài chính 18

1.1.3.Mối quan hệ giữa quản trị công ty và chất lượng báo cáo tài chính 21

1.2 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG CỦA QUẢN TRỊ CÔNG TY ĐẾN SAI PHẠM TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH 23

1.2.1 Hiệu quả giám sát của hội đồng quản trị 24

1.2.2 Hiệu quả của ủy ban kiểm toán 27

1.2.3 Chất lượng kiểm toán 28

1.2.4 Các nhân tố khác ảnh hưởng đến sai phạm báo cáo tài chính 29

CHƯƠNG 2 PHÂN TÍCH ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC YẾU TỐ QUẢN TRỊ CÔNG TY ĐẾN SAI PHẠM TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NIÊM YẾT TRÊN SÀN CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 31

2.1 TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 31

2.1.1 Ngành nghề kinh doanh 31

2.1.2 Thực trạng thị trường chứng khoán Việt Nam 34

Trang 4

2013 37

2.3 TÌNH HÌNH QUẢN TRỊ CÔNG TY CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NIÊM YẾT TRÊN SÀN CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 44

2.3.1 Kết quả chung 45

2.3.2 Tình hình thực hiện quản trị công ty theo quy mô công ty 47

2.3.3 Tình hình thực hiện quản trị công ty theo cơ cấu sở hữu 48

2.3.4 Quản trị công ty và thành phần hội đồng quản trị 49

2.4 ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC YẾU TỐ QUẢN TRỊ CÔNG TY ĐẾN SAI PHẠM TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NIÊM YẾT TRÊN SÀN CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 50

2.4.1 Thiết kế nghiên cứu 50

2.4.2 Chọn mẫu nghiên cứu và thu thập số liệu 58

2.4.3 Phân tích kết quả nghiên cứu 59

CHƯƠNG 3 CÁC GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG VAI TRÒ CỦA QUẢN TRỊ CÔNG TY VÀ CÁC ĐỐI TƯỢNG CÓ LIÊN QUAN TRONG VIỆC NGĂN NGỪA VÀ PHÁT HIỆN SAI PHẠM TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NIÊM YẾT TRÊN SÀN CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 67

3.1 SỰ CẦN THIẾT PHẢI TĂNG CƯỜNG VAI TRÒ QUẢN TRỊ CÔNG TY CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NIÊM YẾT TRÊN SÀN CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 67

3.2 QUAN ĐIỂM ĐƯA RA GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG VAI TRÒ QUẢN TRỊ CÔNG TY CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NIÊM YẾT TRÊN SÀN CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM CỦA TÁC GIẢ 68 3.3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG VAI TRÒ CỦA QUẢN TRỊ CÔNG

TY VÀ CÁC ĐỐI TƯỢNG CÓ LIÊN QUAN TRONG VIỆC NGĂN NGỪA

Trang 5

3.3.1 Giải pháp nhằm ngăn ngừa sai phạm báo cáo tài chính 70 3.3.2.Giải pháp nâng cao khả năng phát hiện sai phạm báo cáo tài chính 82

KẾT LUẬN 90 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN THẠC SĨ (BẢN SAO)

PHỤ LỤC

Trang 6

2.4 Thống kê các doanh nghiệp sai phạm báo cáo tài chính

2.12 Bảng tổng hợp chiều tác động của các biến độc lập lên

Trang 7

Số hiệu

2.1 Tình hình điều chỉnh lợi nhuận của các doanh nghiệp

2.2 Chênh lệch giảm lợi nhuận trước và sau kiểm toán năm

2.3 Chênh lệch tăng lợi nhuận trước và sau kiểm toán năm

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Với sự phát triển của thị trường chứng khoán, thông tin là yếu tố then chốt, nhạy cảm, ảnh hưởng mạnh mẽ đến hành vi của tất cả đối tượng tham gia vào thị trường như các nhà đầu tư, cơ quan pháp quyền, các công ty chứng khoán… Thông tin được huy động từ mọi nguồn, cả thông tin chính thống và thông tin không chính thống từ các phương tiện thông tin đại chúng như internet, báo chí, truyền hình,… thậm chí cả thông tin mang tính truyền miệng trên các diễn đàn, sàn giao dịch,… để đáp ứng yêu cầu thông tin ngày càng cao của các đối tượng sử dụng Tuy vậy, báo cáo tài chính của các doanh nghiệp vẫn là kênh thông tin quan trọng nhất chi phối quyết định của các nhà đầu tư và sự tin tưởng của thị trường dành cho doanh nghiệp

Trong khi đó, quản trị công ty đã trở thành đề tài quan trọng trong những năm gần đây Những nhà điều hành, chủ sở hữu, và những người quản lý doanh nghiệp tin tưởng rằng nếu doanh nghiệp có một mô hình quản trị công

ty tốt thì sẽ đem lại rất nhiều lợi ích cho doanh nghiệp Hệ thống quản trị công

ty hiệu quả có nghĩa là việc quản lý và điều hành doanh nghiệp theo cách mà quyền lợi của tất cả cổ đông được bảo vệ Quản trị công ty tốt sẽ dẫn tới sự gia tăng giá cổ phiếu và giúp doanh nghiệp dễ dàng hơn trong việc tiếp cận vốn đầu tư với chi phí thấp hơn Bên cạnh đó, quản trị công ty còn giúp doanh nghiệp ngăn ngừa và phát hiện những gian lận tài chính và các hành vi tham nhũng Có như vậy, báo cáo tài chính hằng năm của doanh nghiệp mới phản ánh trung thực, khách quan và làm cơ sở cho các đối tượng quan tâm đánh giá đúng tình hình kinh doanh của doanh nghiệp

Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về quản trị công ty và mối quan hệ giữa nó với chất lượng báo cáo tài chính, trong đó có sự xuất hiện không chỉ của những quốc gia phát triển mà còn cả những nền kinh tế đang phát triển

Trang 9

hoặc mới nổi như Ba Lan, Thái Lan, Indonesia, Trung Quốc… nhưng tuyệt nhiên không có nghiên cứu được thiết kế riêng cho Việt Nam Vậy hiện nay, tình hình quản trị công ty tại các doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam như thế nào và chúng ảnh hưởng ra sao đến chất lượng báo cáo tài chính là câu hỏi cấp thiết Qua việc nghiên cứu mức độ và các yếu tố của quản trị công ty ảnh hưởng đến sai phạm trên báo cáo tài chính, tác giả mong muốn đưa ra một đánh giá khách quan về tình hình quản trị công ty của các doanh nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam thời gian qua Từ đó đề xuất giải pháp tăng cường quản trị công ty trong việc ngăn ngừa và phát hiện sai phạm trên báo cáo tài chính của các doanh nghiệp niêm yết, góp phần phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam theo hướng bền vững

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

Luận văn nhằm hướng đến các mục tiêu sau:

- Phân tích các yếu tố của quản trị công ty ảnh hưởng đến sai phạm trên báo cáo tài chính của các công ty niêm yết

- Đề xuất một số giải pháp tăng cường quản trị công ty trong việc ngăn ngừa và phát hiện sai phạm trên báo cáo tài chính của các doanh nghiệp niêm yết, góp phần phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam theo hướng bền vững

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu về quản trị công ty, sai phạm trên báo cáo tài chính và ảnh hưởng của quản trị công ty đến sai phạm trên báo cáo tài chính

- Phạm vi nghiên cứu: Mẫu nghiên cứu bao gồm 79 doanh nghiệp niêm yết có sai phạm và 79 doanh nghiệp niêm yết không có sai phạm trên BCTC giai đoạn 2011- 2013

Trang 10

4 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài vận dụng phương pháp định lượng để đánh giá tình hình quản trị công ty và mức độ ảnh hưởng của các yếu tố quản trị công ty đến sai phạm trên báo cáo tài chính của các doanh nghiệp niêm yết Cụ thể:

- Thu thập báo cáo tài chính của các doanh nghiệp niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh và sàn giao dịch chứng khoán Hà Nội

- Xác định, phân loại các sai phạm trên báo cáo tài chính

- Thiết lập các biến, đo lường ảnh hưởng của các biến đến sai phạm trên báo cáo tài chính của các doanh nghiệp niêm yết thông qua mô hình hồi quy logictis

5 Bố cục của đề tài

Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài được chia thành 3 chương, gồm: Chương 1- Cơ sở lý luận về ảnh hưởng của quản trị công ty đến sai phạm báo cáo tài chính

Chương 2- Phân tích ảnh hưởng của các yếu tố quản trị công ty đến sai phạm trên báo cáo tài chính của các doanh nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam

Chương 3: Các giải pháp tăng cường vai trò của quản trị công ty và các đối tượng có liên quan trong việc ngăn ngừa và phát hiện sai phạm trên báo cáo tài chính của các doanh nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam

6 Tổng quan tài liệu

Nội dung quản trị công ty đã được nghiên cứu tại nhiều quốc gia, trong nhiều thời điểm và phạm vi khác nhau:

Tại Trung Quốc, Yi Zhang (2006) đã thu thập và phân tích một tập hợp chứa thông tin chi tiết các đặc điểm quản trị công ty của hai mẫu các doanh nghiệp, một mẫu gồm 160 doanh nghiệp niêm yết Trung Quốc đã vi phạm

Trang 11

pháp luật chứng khoán thời kỳ 1993- 2003 và một mẫu 160 doanh nghiệp không mắc phải các vụ bê bối có kích thước, ngành nghề tương đương Kết quả nghiên cứu cho thấy tại Trung Quốc, đặc điểm sở hữu doanh nghiệp có liên quan đến xác suất một doanh nghiệp mắc phải sai phạm, trong khi các đặc điểm quản trị công ty khác như quy mô hội đồng quản trị, sự độc lập của hội đồng quản trị và thể chế sở hữu thì không Những phát hiện này cho thấy rằng trong quản lý chung, cơ chế không giúp tránh được những vụ bê bối doanh nghiệp nghiêm trọng ở Trung Quốc Hơn nữa, phân tích cũng chỉ ra rằng mức độ phát triển của hệ thống luật pháp của một quốc gia có liên quan đến xác suất một doanh nghiệp mắc phải sai phạm Các bằng chứng cho thấy trong thị trường mới nổi Trung Quốc, sự phát triển của pháp luật là một yếu

tố quan trọng hơn cơ chế quản trị công ty trong việc ảnh hưởng một doanh nghiệp có lựa chọn gian lận Nói cách khác, do sự yếu kém của hệ thống pháp luật, cơ chế quản trị công ty không có hiệu quả ở Trung Quốc

Năm 2013, Nadia Smaili, Réal Labelle tiến hành nghiên cứu trên mẫu gồm 107 doanh nghiệp Canada sai phạm ở ba cấp độ (doanh nghiệp có thể xác định lại, doanh nghiệp bị đề nghị ngừng hoạt động và doanh nghiệp lừa đảo) và 107 doanh nghiệp không sai phạm có cùng quy mô, ngành nghề, cùng niêm yết trên thị trường chứng khoán Canada nhằm xem xét mức độ mà quản trị công ty hoạt động như một phương tiện hiệu quả bảo vệ các nhà đầu tư đối với những sai phạm kế toán So sánh với các doanh nghiệp không sai phạm, các tác giả thấy rằng các doanh nghiệp sai phạm: (1) có ít giám đốc độc lập trong ban giám đốc và ủy ban kiểm toán hơn, (2) gần đây đã thay đổi kiểm toán viên, (3) có một giám đốc điều hành cũng là chủ tịch, và (4) cho thấy sự giao tiếp kém giữa ủy ban kiểm toán và kiểm toán viên Các doanh nghiệp này tìm cách đáp ứng nhu cầu tài chính của họ thông qua nơi riêng lẻ chứ không phải là quỹ công cộng, điều đó phù hợp với thực tế là các tổ chức phát

Trang 12

hành báo cáo có sai phạm ít có khả năng trở lại vị trí trên thị trường công cộng để đáp ứng nhu cầu tài chính của họ So với các doanh nghiệp đã có thể xác định lại, các tác giả nhận thấy chất lượng quản trị thấp hơn trong những công ty bị đề nghị ngừng hoạt động và các công ty lừa đảo, nhưng không có

sự khác biệt trong đặc điểm quản trị công ty giữa hai loại công ty này

Trong nghiên cứu của Nesrine Klai, Abdelwahed Omri về quản trị công

ty và chất lượng báo cáo tài chính- trường hợp các công ty Tunisia (2011), các tác giả đã kiểm tra hiệu quả của cơ chế quản trị công ty đối với chất lượng báo cáo tài chính cho một mẫu gồm 22 công ty phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Tunisia trong khoảng thời gian 1997-2007 Trước hết, các tác giả sử dụng mô hình của McNichols (2002) và mô hình của Ball và Brown (1968), Collins và Kothari (1989) để đo lường chất lượng thông tin tài chính Tiếp theo đó, các tác giả xác định các đặc tính quản trị công ty của các công ty Tunisia, tập trung vào các yếu tố thuộc về hội đồng quản trị (thành phần, quy mô), kiểm toán độc lập và cơ cấu sở hữu Kết quả cho thấy rằng cơ chế quản trị công ty ảnh hưởng đến chất lượng báo cáo tài chính của các công

ty Tunisia Đặc biệt, sức mạnh của cổ đông nước ngoài, sở hữu gia đình và các quỹ đầu tư làm giảm chất lượng báo cáo tài chính, trong khi sự kiểm soát của Nhà nước và các tổ chức tài chính có tác động tích cực đến chất lượng báo cáo tài chính

Trong nghiên cứu thực nghiệm trên các doanh nghiệp niêm yết Italia về mối quan hệ giữa đặc điểm báo cáo tài chính và gian lận báo cáo tài chính (2012), Giuseppe D’Onza, Rita Lamboglia đã xác định 26 công ty niêm yết liên quan đến các trường hợp bị cáo buộc gian lận kế toán trong thời kỳ 10 năm từ 2001- 2011 Kết quả phân tích hồi quy của 26 công ty gian lận và 26 công ty tương tự không gian lận cho thấy không có sự khác biệt đáng kể liên quan đến sự hiện diện của chủ sở hữu nội bộ giữa hai nhóm công ty Trong

Trang 13

khi đó, sự tồn tại của một ban kiểm soát phù hợp với các yêu cầu về quản trị công ty tại Italia làm giảm khả năng gian lận Hơn nữa, khả năng báo cáo tài chính gian lận cũng giảm khi số lượng các cuộc họp ủy ban kiểm toán tăng lên

Có thể thấy, đã có nhiều nghiên cứu về mối quan hệ giữa quản trị công

ty và chất lượng báo cáo tài chính tại các quốc gia trên thế giới Tuy nhiên, Việt Nam vẫn là một quốc gia ít được nghiên cứu trong các công trình về quản trị công ty Trong một số cuốn sách và bài báo khoa học tổng quan về quản trị công ty tại nhiều quốc gia trên thế giới vẫn chưa thấy xuất hiện nội dung nào về Việt Nam Ví dụ như cuốn “Corporate Governance and Accountability” (Solomon 2007) có giới thiệu khái quát về quản trị công ty tại

36 nước trên thế giới, bao gồm không chỉ các nước phát triển mà cả những nền kinh tế đang phát triển hoặc chuyển đổi như Ba Lan, Thái Lan, Indonesia, Hungary, nhưng hoàn toàn không có một dòng nào nhắc đến Việt Nam

Trong các nghiên cứu và báo cáo các năm sau này của Tổ chức hợp tác phát triển kinh tế (OECD) như “Báo cáo về tình hình tuân thủ chuẩn mực và nguyên tắc quản trị công ty” (2006), cái tên Việt Nam được nhắc tới thường xuyên hơn với tư cách là một trong những quốc gia tham gia khảo sát Đây là các khảo sát tình hình tiến bộ của các quốc gia dựa trên sáu nhóm yếu tố quản trị công ty được OECD khuyến nghị (đảm bảo cơ sở cho một khuôn khổ quản trị công ty hiệu quả; quyền của cổ đông và các chức năng sở hữu cơ bản; đối

xử bình đẳng đối với cổ đông; vai trò của các bên có quyền lợi liên quan trong quản trị công ty; công bố thông tin và tính minh bạch; trách nhiệm của hội đồng quản trị)

Tại Việt Nam, nghiên cứu về chất lượng quản trị công ty ở cấp độ doanh nghiệp cũng đang trong giai đoạn phát triển Có thể kể đến “Báo cáo thẻ điểm quản trị công ty” của Tổ chức tài chính Quốc tế (IFC) được thực hiện hằng

Trang 14

năm kể từ năm 2010 Dựa vào hệ thống sáu nguyên tắc quản trị công ty mà

OECD khuyến cáo, IFC tiến hành đánh giá tình hình thực thi các nguyên tắc

này ở 100 công ty niêm yết lớn nhất trên hai sàn giao dịch HSX và HNX Kết

quả bốn năm đều cho thấy mức điểm quản trị công ty của các công ty đại

chúng lớn nhất Việt Nam chưa vượt quá mức 50%

Một phân tích đầy đủ hơn về đặc điểm riêng có của quản trị công ty của

các doanh nghiệp Việt Nam và ảnh hưởng của chúng đến sai phạm báo cáo tài

chính còn đang bị bỏ ngỏ, và đó chính là mục tiêu mà nghiên cứu này hướng đến

Trang 15

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA QUẢN TRỊ CÔNG

TY ĐẾN SAI PHẠM BÁO CÁO TÀI CHÍNH

1.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUẢN TRỊ CÔNG TY VÀ BÁO CÁO TÀI CHÍNH

1.1.1 Khái quát chung về quản trị công ty

a Khái niệm quản trị công ty

Quan niệm và nội dung của quản trị công ty ở các quốc gia khác nhau là rất khác nhau Điều này do sự khác nhau về văn hóa, trình độ phát triển của thị trường tài chính, thể chế luật pháp tại mỗi nước… từ đó ảnh hưởng đến quyền của cổ đông, quyền của chủ nợ và các bên liên quan khác

Năm 1999, tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) đã xuất bản tài liệu “Các nguyên tắc quản trị công ty” trong đó đưa ra một định nghĩa về quản trị công ty được nhiều quốc gia, tổ chức chấp nhận và sử dụng định

nghĩa này trong các nghiên cứu của mình:

Quản trị công ty là những biện pháp nội bộ để điều hành và kiểm soát công ty, liên quan tới các mối quan hệ giữa ban giám đốc, hội đồng quản trị

và các cổ đông của một công ty với các bên có quyền lợi liên quan Quản trị công ty cũng tạo ra một cơ cấu để đề ra các mục tiêu của công ty, và xác định các phương tiện để đạt được mục tiêu đó, cũng như để giám sát kết quả hoạt động của công ty Quản trị công ty chỉ được cho là có hiệu quả khi khích lệ được ban giám đốc và hội đồng quản trị theo đuổi các mục tiêu vì lợi ích của công ty và của các cổ đông, cũng như phải tạo điều kiện thuận lợi cho việc giám sát hoạt động của công ty một cách hiệu quả, từ đó khuyến khích công

ty sử dụng các nguồn lực một cách tốt hơn

Trang 16

Quản trị công ty được đặt trên cơ sở của sự tách biệt giữa quản lý và sở hữu doanh nghiệp Công ty là của chủ sở hữu nhưng để công ty tồn tại và phát triển phải có sự dẫn dắt của hội đồng quản trị, sự điều hành của ban giám đốc

và sự đóng góp của người lao động, những người này không phải lúc nào cũng có chung ý chí và quyền lợi Điều này dẫn đến cần phải có một cơ chế

để nhà đầu tư, cổ đông có thể kiểm soát việc điều hành công ty nhằm đem lại hiệu quả cao nhất

Quản trị công ty tập trung xử lý các vấn đề phát sinh trong mối quan hệ

ủy quyền trong công ty, ngăn ngừa và hạn chế người quản lý lạm dụng quyền hạn và nhiệm vụ được giao sử dụng tài sản và thông tin của công ty phục vụ cho lợi ích riêng của bản thân hoặc người khác, làm thất thoát nguồn lực công

ty

Tóm lại, quản trị công ty là mô hình cân bằng và kiềm chế quyền lực giữa các bên liên quan của công ty, nhằm đảm bảo cho sự phát triển dài hạn

và bền vững của công ty

b Lý thuyết của quản trị công ty

Quản trị công ty được xây dựng và phát triển trên lý thuyết được cho là gốc và phổ biến nhất là lý thuyết vấn đề đại diện Theo quan điểm trong lý thuyết vấn đề đại diện, sự phân tách giữa chủ sở hữu và quản lý có thể dẫn tới việc nhà quản lý hành động không nhằm mục tiêu tối đa hóa giá trị của cổ đông, mà có thể vì lợi ích của chính bản thân họ, do đó một cơ chế kiểm soát cần được thiết kế để bảo vệ lợi ích của các cổ đông

Theo lý thuyết đại diện, quản trị công ty được định nghĩa là mối quan hệ giữa những người đứng đầu, chẳng hạn như các cổ đông và các đại diện như các giám đốc điều hành công ty hay quản lý công ty Trong lý thuyết này, các

cổ đông là các chủ sở hữu hoặc người đứng đầu công ty, thuê những người khác thực hiện công việc Những người đứng đầu ủy quyền hoạt động của

Trang 17

công ty cho các giám đốc hoặc những người quản lý, họ là các đại diện cho các cổ đông

Các cổ đông lý thuyết đại diện kỳ vọng các đại diện hành động và ra các quyết định vì lợi ích của những người đứng đầu Ngược lại, các đại diện không nhất thiết phải ra quyết định vì các lợi ích lớn nhất của cổ đông Cổ đông quan tâm đến giá trị công ty, giá cổ phiếu (cũng là lợi ích của chính họ), trong khi đó, người quản lý về cơ bản quan tâm đến lợi ích của mình (lương, thưởng, phụ cấp, nguồn thu khác dựa trên vị trí công tác) hơn là lợi ích cổ đông Xung đột lợi ích cũng có thể tồn tại ngay trong mỗi bộ phận quản trị, chẳng hạn giữa các cổ đông (đa số và thiểu số, kiểm soát và không kiểm soát, các nhân và tổ chức) và các thành viên hội đồng quản trị (điều hành và không điều hành, bên trong và bên ngoài, độc lập và phụ thuộc)

Như vậy, một trong những vấn đề mà lý thuyết đại diện đặt ra đó là thiết lập cấu trúc hội đồng quản trị nhằm đảm bảo lợi ích của các cổ đông, những người chủ sở hữu của công ty Xuất phát từ hai quan điểm đối lập, hội đồng quản trị có thể được thiết lập theo nhiều cách khác nhau nhằm đạt được mục tiêu chung của tổ chức Quan điểm thứ nhất cho rằng hội đồng quản trị được thiết lập để hỗ trợ sự kiểm soát của đội ngũ quản lý, tạo ra kết quả hoạt động vượt trội dựa trên sự hiểu biết tường tận tình hình công ty của ban giám đốc điều hành Quan điểm thứ hai cho rằng, hội đồng quản trị được thiết lập để tối thiểu hóa các “chi phí đại diện” thông qua các cấu trúc cho phép thành viên hội đồng quản trị bên ngoài phê chuẩn và giám sát các hành vi của đội ngũ quản lý, vì vậy cũng giảm được sự khác nhau về mặt lợi ích giữa cổ đông và nhà quản lý

Một cơ chế quan trọng của cấu trúc hội đồng quản trị là cấu trúc lãnh đạo,

nó phản ánh vị trí, vai trò của chủ tịch hội đồng quản trị và giám đốc điều hành Cấu trúc lãnh đạo hợp nhất diễn ra khi giám đốc đảm nhiệm cùng lúc

Trang 18

hai vai trò là giám đốc điều hành và chủ tịch hội đồng quản trị Mặt khác, cấu trúc lãnh đạo phân tách diễn ra khi vị trí chủ tịch hội đồng quản trị và giám đốc điều hành được đảm nhiệm bởi hai người khác nhau Lý thuyết đại diện

đề cập đến sự tách biệt vai trò của giám đốc điều hành và chủ tịch hội đồng quản trị, bởi vai trò của hội đồng quản trị chính là giám sát đội ngũ quản lý để bảo vệ lợi ích của các cổ đông Hơn nữa, việc hợp nhất vai trò của giám đốc điều hành với chủ tịch hội đồng quản trị sẽ tạo ra một giám đốc điều hành có quyền lực tuyệt đối và có thể dẫn tới sự giám sát kém hiệu quả đội ngũ quản

lý của hội đồng quản trị

Thành phần của hội đồng quản trị cũng là một cơ chế quan trọng trong cấu trúc hội đồng quản trị Hội đồng quản trị với đa số thành viên không điều hành được củng cố và đề cập nhiều trong lý thuyết đại diện Theo đó, một hội đồng quản trị hiệu quả nên bao gồm đa số thành viên hội đồng quản trị không điều hành, những người được tin rằng sẽ tạo ra kết quả hoạt động vượt trội bởi tính độc lập của họ đối với hoạt động quản lý của công ty Bởi vì các thành viên hội đồng quản trị điều hành có trách nhiệm thực hiện các hoạt động hằng ngày của công ty như tài chính, marketing Với vai trò hỗ trợ cho giám đốc điều hành, họ sẽ không thể thực hiện một cách trọn vẹn vai trò giám sát hay kỷ luật giám đốc điều hành Do đó, xây dựng một cơ chế để giám sát các hoạt động của giám đốc điều hành và các thành viên hội đồng quản trị điều hành là rất quan trọng Hội đồng quản trị với đa số thành viên bên ngoài thực hiện rất tốt vai trò giám sát của họ, đặc biệt là trong báo cáo tài chính Tuy nhiên, cần lưu ý là tính độc lập của các thành viên hội đồng quản trị không điều hành có thể sẽ giảm dần khi thời gian làm việc tại hội đồng quản trị càng dài

Các ủy ban trong hội đồng quản trị cũng là cơ chế quan trọng của cấu trúc hội đồng quản trị, cung cấp sự giám sát chuyên môn độc lập cho các hoạt

Trang 19

động của công ty nhằm bảo vệ lợi ích của các cổ đông Nguyên tắc phân tách chức năng giám sát và thực thi của lý thuyết đại diện được thiết lập cũng nhằm mục đích giám sát các chức năng thực thi như kiểm toán, tiền lương và

bổ nhiệm Tầm quan trọng của các ủy ban này đã được công nhận trong mọi môi trường kinh doanh Do đó, năm 1992, ủy ban Cadbury đã khuyến nghị rằng các hội đồng quản trị nên bổ nhiệm các tiểu ban đảm nhận các chức năng sau:

- Ủy ban kiểm toán có trách nhiệm giám sát quy trình kế toán và kiểm toán độc lập

- Ủy ban tiền lương quy định chế độ tiền lương cho thành viên hội đồng quản trị, đội ngũ quản lý điều hành công ty

- Ủy ban bổ nhiệm có trách nhiệm giới thiệu, chỉ định thành viên hội đồng quản trị tới hội đồng quản trị

Các ủy ban trên có thể sẽ chỉ mang tính hình thức trừ khi chúng độc lập,

có khả năng tiếp cận tới thông tin và các nghiệp vụ chuyên môn, và có các thành viên có nghiệp vụ về tài chính Vì vậy, ủy ban Cadbury và tổ chức OECD đã khuyến nghị các ủy ban này nên bao gồm các thành viên hội đồng quản trị không điều hành để nâng cao khả năng kiểm soát nội bộ của công ty Các ủy ban này sẽ giúp cho hội đồng quản trị đương đầu với vấn đề giới hạn

về mặt thời gian cũng như sự phức tạp của thông tin mà họ cần giải quyết

c Vai trò của hội đồng quản trị, nhà đầu tư tổ chức, sự minh bạch, kiểm soát nội bộ và quản trị rủi ro trong quản trị công ty

* Vai trò của hội đồng quản trị trong quản trị công ty:

Cơ cấu và hoạt động của hội đồng quản trị các quốc gia là rất khác nhau Một số quốc gia có hội đồng quản trị theo mô hình hai cấp, tách chức năng kiểm soát và chức năng quản lý thành hai cơ quan riêng biệt Hệ thống như vậy thường có “Ban kiểm soát” bao gồm các thành viên hội đồng quản trị

Trang 20

không điều hành và “Ban giám đốc” bao gồm toàn bộ các cán bộ quản lý Các quốc gia khác có hội đồng quản trị một cấp “thống nhất”, bao gồm cả thành viên hội đồng quản trị điều hành và không điều hành

Cùng với chiến lược chỉ đạo công ty, hội đồng quản trị chủ yếu chịu trách nhiệm giám sát hiệu quả công tác quản lý và đem lại lợi nhuận thỏa đáng cho cổ đông đồng thời ngăn ngừa các xung đột lợi ích và cân bằng yêu cầu cạnh tranh cho công ty Để hội đồng quản trị có thể thực thi hiệu quả trách nhiệm của mình, họ phải thực hiện việc phân tích, đánh giá một cách khách quan và độc lập Một trách nhiệm quan trọng khác của hội đồng quản trị là giám sát các hệ thống được xây dựng để đảm bảo công ty tuân thủ các luật lệ có liên quan Hội đồng quản trị không chỉ chịu trách nhiệm đối với công ty và cổ đông mà còn có nhiệm vụ hoạt động vì lợi ích cao nhất của cổ đông Ngoài ra, hội đồng quản trị phải quan tâm và giải quyết công bằng lợi ích của các bên có quyền lợi liên quan

Để đảm bảo cho quản trị công ty phát huy được những lợi ích của nó, các thành viên hội đồng quản trị phải làm việc với thông tin đầy đủ, tin cậy, siêng năng và cẩn trọng, vì lợi ích cao nhất của công ty và cổ đông Khi quyết định của hội đồng quản trị có thể ảnh hưởng tới các nhóm cổ đông khác nhau theo các cách khác nhau thì hội đồng quản trị phải đối xử bình đẳng với mọi

cổ đông

* Vai trò của nhà đầu tƣ tổ chức trong quản trị công ty:

Có 4 dạng nhà đầu tư tổ chức là quỹ hưu trí, công ty bảo hiểm nhân thọ,

ủy thác đơn vị, ủy thác đầu tư Việc các nhà đầu tư tổ chức nắm giữ cổ phần trong các công ty ngày càng phổ biến Vì vậy, hiệu quả và độ tin cậy của toàn

bộ hệ thống quản trị công ty và giám sát công ty sẽ phụ thuộc phần lớn vào việc các nhà đầu tư tổ chức có thể sử dụng quyền cổ đông và thực thi có hiệu quả chức năng sở hữu của họ trong công ty mà họ đầu tư đến đâu

Trang 21

Các nhà đầu tư tổ chức cần công bố thông tin về cách thức họ thực thi quyền sở hữu Đối với tổ chức hoạt động ủy thác như quỹ hưu trí, các chương trình đầu tư tập thể và một số hoạt động của công ty bảo hiểm, quyền biểu quyết có thể được coi làm một phần giá trị của khoản đầu tư được thực hiện thay mặt khách hàng Không thực hiện quyền sở hữu có thể gây thua lỗ cho nhà đầu tư Vì vậy, họ cần được thông báo về chính sách mà nhà đầu tư tổ chức sẽ thực hiện

Thêm vào đó, các nhà đầu tư tổ chức hoạt động ủy thác cần công bố cách thức quản lý các xung đột lợi ích quan trọng có thể ảnh hưởng tới việc thực hiện các quyền sở hữu cơ bản liên quan đến các khoản đầu tư của họ Trong nhiều trường hợp, động lực để các nhà đầu tư trung gian biểu quyết và thực hiện các quyền sở hữu cơ bản có thể khác với chủ đầu tư trực tiếp Sự khác biệt đó đôi khi có thể do lý do thuần túy thương mại nhưng cũng có thể nảy sinh từ xung đột lợi ích đặc biệt nghiêm trọng khi tổ chức ủy thác là một chi nhánh hay công ty con của một tổ chức tài chính khác Khi những xung đột như vậy nảy sinh từ các quan hệ kinh doanh chủ chốt thì chúng cần được xác định và công bố Đồng thời, các nhà đầu tư tổ chức cũng cần phải công bố các biện pháp mà họ đang thực hiện để giảm thiểu tác động tiêu cực tiềm tàng đối với khả năng thực hiện các chức năng sở hữu cơ bản của họ

* Vai trò của sự minh bạch, kiểm soát nội bộ và quản trị rủi ro trong quản trị công ty:

Hệ thống công bố thông tin tốt nâng cao tính minh bạch là đặc điểm then chốt của việc giám sát công ty dựa vào thị trường, và đóng vai trò chủ yếu giúp cổ đông có thể thực hiện quyền sở hữu của mình một cách có hiểu biết Đây cũng có thể là một công cụ hiệu quả để tác động tới hoạt động của công

ty và bảo vệ nhà đầu tư Một hệ thống công bố thông tin tốt có thể giúp thu hút vốn và duy trì lòng tin của thị trường Ngược lại, công bố thông tin yếu

Trang 22

kém và không minh bạch có thể dẫn đến hành vi phi đạo đức và làm mất đi tính trung thực của thị trường, gây thiệt hại lớn không chỉ cho công ty và cổ đông mà cho cả nền kinh tế nói chung Cổ đông và nhà đầu tư tiềm năng cần phải được tiếp cận thông tin thường xuyên, tin cậy và so sánh được một cách chi tiết đủ để họ đánh giá trình độ của ban giám đốc và đưa ra các quyết định sáng suốt về giá trị, quyền sở hữu và biểu quyết của cổ phần Thông tin không đầy đủ và không rõ ràng có thể cản trở khả năng hoạt động của thị trường, làm tăng chi phí vốn và dẫn tới việc phân bổ nguồn lực không hiệu quả Công

bố thông tin cũng giúp nâng cao hiểu biết của công chúng về cơ cấu và hoạt động của công ty, chính sách công ty và hoạt động liên quan đến các tiêu chuẩn môi trường và đạo đức, quan hệ của công ty với cộng đồng nơi công ty hoạt động,…

Kiểm soát nội bộ là hệ thống các phương pháp, các quy trình chịu ảnh hưởng bởi hội đồng quản trị, các nhà quản lý và nhân viên của một tổ chức, được thiết kế để cung cấp một sự đảm bảo hợp lý trong việc thực hiện các mục tiêu mà doanh nghiệp mong muốn Hệ thống kiểm soát nội bộ được thiết lập nhằm phòng tránh những rủi ro, gian lận có thể xảy ra trong doanh nghiệp, giảm thiểu các lỗi lầm, tăng tính hiệu quả trong hoạt động hằng ngày của doanh nghiệp, đảm bảo tính chính xác về dữ liệu kế toán, cũng như báo cáo tài chính Nhiệm vụ của hệ thống kiểm soát nội bộ là ngăn ngừa các sai phạm trong quy trình xử lý nghiệp vụ, phát hiện và sửa chữa kịp thời những sai phạm trong xử lý nghiệp vụ giúp cho doanh nghiệp tránh khỏi thất thoát tài sản, giúp doanh nghiệp thực hiện được chính sách đường lối kinh doanh và đảm bảo an toàn tài sản Như vậy, có thể thấy rõ rằng đối tượng, mục tiêu của kiểm soát nội bộ khác với quản trị công ty, kiểm soát nội bộ hướng tới việc hỗ trợ, kiểm soát công việc hằng ngày của doanh nghiệp, còn quản trị công ty hướng tới việc bảo vệ quyền lợi của các bên liên quan, đặc biệt là các cổ đông

Trang 23

Tuy nhiên, kiểm soát nội bộ đóng một vai trò quan trọng, hỗ trợ cho quản trị công ty được hoàn thiện hơn

d Khuôn khổ quản trị công ty

Năm 1999, Bộ Nguyên tắc Quản trị Công ty của OECD được Hội đồng

Bộ trưởng OECD phê chuẩn lần đầu và từ đó trở thành chuẩn mực quốc tế cho các nhà hoạch định chính sách, nhà đầu tư, công ty và các bên có quyền lợi liên quan khác trên toàn thế giới Từ năm 2002 đến năm 2004, bộ Nguyên tắc được sửa đổi dựa trên cuộc khảo sát toàn diện về cách thức các quốc gia thành viên giải quyết các vấn đề trong quản trị công ty mà họ gặp phải Bộ nguyên tắc là tài liệu sống cung cấp khuôn khổ không bắt buộc và thông lệ tốt cũng như hướng dẫn thực hiện khuôn khổ và thông lệ này, có thể điều chỉnh cho phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của từng quốc gia

Quản trị công ty chỉ là một phần của bối cảnh kinh tế rộng lớn hơn trong

đó công ty hoạt động, bao gồm các chính sách kinh tế vĩ mô, mức độ cạnh tranh trong thị trường sản phẩm và thị trường tư liệu sản xuất Khuôn khổ quản trị công ty cũng phụ thuộc vào môi trường pháp lý, quản lý và tổ chức Ngoài ra, các yếu tố như đạo đức kinh doanh và ý thức của công ty về các lợi ích môi trường và xã hội của cộng đồng nơi công ty hoạt động cũng có thể ảnh hưởng tới danh tiếng và sự thành công lâu dài của công ty

Trong khi có vô số các yếu tố ảnh hưởng tới quản trị và quá trình ra quyết định cũng như giữ vai trò quan trọng đối với thành công lâu dài của công ty, bộ Nguyên tắc tập trung vào các vấn đề quản trị bắt nguồn từ việc tách rời quyền sở hữu và quyền kiểm soát, cụ thể như sau:

[1] Đảm bảo cơ sở cho một khuôn khổ quản trị công ty hiệu quả:

Khuôn khổ quản trị công ty cần thúc đẩy tính minh bạch và hiệu quả của thị trường, phù hợp với quy định của pháp luật, và phân định rõ ràng trách nhiệm giữa các cơ quan giám sát, quản lý và cưỡng chế thực thi

Trang 24

[2] Quyền của cổ đông và các chức năng sở hữu cơ bản: Khuôn khổ

quản trị công ty phải bảo vệ và tạo điều kiện thực hiện quyền cổ đông, bao gồm: a) Đảm bảo các phương thức đăng ký quyền sở hữu; b) Chuyển nhượng

cổ phần; c) Tiếp cận các thông tin liên quan và quan trọng về công ty mình một cách thường xuyên; d) Tham gia và biểu quyết tại Đại hội đồng cổ đông; e) Bầu và bãi nhiệm các thành viên Hội đồng quản trị; f) Hưởng lợi nhuận của công ty

[3] Đối xử bình đẳng đối với cổ đông: Khuôn khổ quản trị công ty cần

đảm bảo sự đối xử bình đẳng đối với mọi cổ đông, trong đó có cổ đông thiểu

số và cổ đông nước ngoài Mọi cổ đông phải có cơ hội khiếu nại hiệu quả khi quyền của họ bị vi phạm

Thành viên Hội đồng quản trị và cán bộ quản lý cấp cao phải công khai cho Hội đồng quản trị biết họ có lợi ích đáng kể nào trong bất kỳ giao dịch hay vấn đề gì ảnh hưởng trực tiếp tới công ty hay không, cho dù đó là trực tiếp, gián tiếp hay thay mặt cho bên thứ ba

[4] Vai trò của các bên có quyền lợi liên quan trong quản trị công ty:

Khuôn khổ quản trị công ty phải công nhận quyền của các bên có quyền lợi liên quan đã được pháp luật hay quan hệ hợp đồng quy định và phải khuyến khích sự hợp tác tích cực giữa công ty và các bên có quyền lợi liên quan trong việc tạo dựng tài sản, việc làm và ổn định tài chính trong doanh nghiệp

[5] Công bố thông tin và tính minh bạch: Khuôn khổ quản trị công ty

phải đảm bảo việc công bố thông tin kịp thời và chính xác về mọi vấn đề quan trọng liên quan đến công ty, bao gồm tình hình tài chính, tình hình hoạt động,

sở hữu và quản trị công ty

[6] Trách nhiệm của Hội đồng quản trị: Khuôn khổ quản trị công ty

cần đảm bảo định hướng chiến lược của công ty, giám sát có hiệu quả công

Trang 25

tác quản lý của Hội đồng quản trị và trách nhiệm của Hội đồng quản trị đối với công ty và cổ đông

1.1.2 Khái quát chung về báo cáo tài chính

a Khái niệm báo cáo tài chính

Báo cáo tài chính là kênh thông tin mang tính chính thống quan trọng nhất mà các đối tượng sử dụng thông tin làm căn cứ để ra các quyết định Theo chuẩn mực kế toán quốc tế số 1 (2008), các báo cáo tài chính theo nghĩa hẹp là các báo cáo trình bày về tình hình tài chính, tình hình kinh doanh cũng như việc quản lý các nguồn vốn kinh doanh của một đơn vị kinh tế Tuy nhiên, theo nghĩa rộng thì các báo cáo tài chính công bố thông tin về một công ty, không chỉ bao gồm các báo cáo tài chính như trên mà còn bao gồm báo cáo phân tích và đánh giá của nhà quản lý, báo cáo kiểm toán và các báo cáo khác Nghiên cứu này tiếp cận báo cáo tài chính theo nghĩa thứ nhất, là báo cáo về tình hình tài chính được trình bày theo mẫu trong quyết định số 15/2006-BTC

và các văn bản liên quan

Báo cáo tài chính là những báo cáo tổng hợp nhất về tình hình tài sản, vốn và công nợ cũng như tình hình tài chính và kết quả kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp

b Vai trò của báo cáo tài chính

Nhìn chung, giống như “một cây cầu” kết nối một công ty với rất nhiều đối tượng sử dụng thông tin khác nhau bên ngoài doanh nghiệp, thông tin kế toán- những thông tin được trình bày trong báo cáo tài chính của một công ty- đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc cung cấp những thông tin hữu ích giúp cho người sử dụng thông tin ra quyết định:

- Đối với doanh nghiệp: Báo cáo tài chính giúp cho nhà quản trị phân tích đánh giá kết quả và hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh, tình hình thực hiện các chỉ tiêu trong kế hoạch sản xuất, kỹ thuật, tài chính, trong hợp

Trang 26

đồng hợp tác kinh doanh , xác định những nguyên nhân tồn tại để đưa ra biện pháp khắc phục Như vậy, báo cáo tài chính góp phần cung cấp thông tin

để nhà quản trị đưa ra chiến lược kinh doanh, chính sách quản lý cho công ty trong tương lai

- Đối với chính phủ: Báo cáo tài chính là căn cứ để cơ quan quản lý tài chính, kinh tế của nhà nước kiểm tra, kiểm soát hoạt động của doanh nghiệp, tổng hợp chỉ tiêu tình hình tài chính kinh tế của mỗi ngành, mỗi cấp và toàn

bộ nền kinh tế quốc dân Đồng thời, các chỉ tiêu trong báo cáo tài chính là cơ

sở để tính toán thuế và các nghĩa vụ khác của doanh nghiệp đối với nhà nước

- Đối với các đối tượng khác như nhà đầu tư, ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác, : Thông tin từ việc phân tích báo cáo tài chính giúp họ đánh giá tình hình tài chính hiện tại và dự đoán khả năng phát triển của doanh nghiệp trong tương lai gần, từ đó đưa ra quyết định nhanh chóng, chính xác hơn về việc nên hay không nên đầu tư, góp vốn hay rút vốn, cho vay, đối với doanh nghiệp

Do ý nghĩa quan trọng của báo cáo tài chính, chuẩn mực kế toán Việt Nam số 21- “Trình bày báo cáo tài chính” yêu cầu “báo cáo tài chính phải được trình bày một cách trung thực và hợp lý tình hình tài chính, tình hình và kết quả kinh doanh và các luồng tiền của doanh nghiệp Để đảm bảo yêu cầu trung thực và hợp lý, báo cáo tài chính phải được lập và trình bày trên cơ sở tuân thủ các chuẩn mực kế toán, chế độ kế toán và các quy định có liên quan hiện hành”

c Quy định về công bố thông tin đối với các doanh nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam

* Yêu cầu về công bố thông tin trong chuẩn mực kế toán Việt Nam:

Theo Chuẩn mực kế toán VAS 01- “Chuẩn mực chung”, yêu cầu đối với thông tin kế toán được công bố bao gồm:

Trang 27

- Tính trung thực và khách quan: Các thông tin và số liệu kế toán phải

được ghi chép và báo cáo trên cơ sở các bằng chứng đầy đủ, khách quan và đúng với thực tế về hiện trạng, bản chất nội dung và giá trị của nghiệp vụ kinh

tế phát sinh Các thông tin và số liệu kế toán phải được ghi chép và báo cáo đúng với thực tế, không bị xuyên tạc, không bị bóp méo

- Tính đầy đủ: Mọi nghiệp vụ kinh tế- tài chính phát sinh liên quan đến

kỳ kế toán đều phải được ghi chép và báo cáo đầy đủ, không được bỏ sót

- Tính kịp thời: Các thông tin và số liệu kế toán phải được ghi chép và

báo cáo kịp thời, đúng hạn hoặc trước thời hạn quy định, không được chậm trễ

- Tính dễ hiểu: Các thông tin và số liệu kế toán trình bày trong báo cáo

tài chính phải rõ ràng, dễ hiểu đối với người sử dụng Người sử dụng ở đây được hiểu là người có hiểu biết về kinh doanh, về kinh tế, tài chính, kế toán ở mức trung bình Thông tin về những vấn đề phức tạp trong báo cáo tài chính phải được giải trình trong phần thuyết minh

- Tính có thể so sánh: Các thông tin và số liệu kế toán giữa các kỳ kế

toán trong một doanh nghiệp và giữa các doanh nghiệp chỉ có thể so sánh được khi tính toán và trình bày nhất quán Trường hợp không nhất quán thì phải giải trình trong phần thuyết minh để người sử dụng báo cáo tài chính có thể so sánh thông tin giữa các kỳ kế toán, giữa các doanh nghiệp hoặc giữa thông tin thực hiện với thông tin dự toán, kế hoạch

Để trở nên hữu ích, thông tin tài chính phải thể hiện được từng tính chất trong một chừng mực tối thiểu Mặc dù trong hệ thống có sự phân định giữa các tính chất sơ cấp và các tính chất khác nhưng không tính chất nào được chỉ định là ưu tiên hơn; hơn nữa, một loại tính chất nào đó có thể bị hy sinh để có được những tính chất khác mà không làm giảm sự hữu ích của thông tin

Trang 28

* Yêu cầu về công bố thông tin đối với công ty niêm yết:

Đối với các công ty niêm yết, khi mà đối tượng chủ sở hữu được mở rộng, đồng thời khoảng cách giữa sở hữu và quản lý trở nên lớn hơn, áp lực công bố thông tin tăng lên nhiều lần Để đảm bảo quyền lợi của các nhà đầu

tư, sự phát triển bền vững của thị trường và đáp ứng yêu cầu quản lý của nhà nước, Luật chứng khoán yêu cầu một sự công bố thông tin cao hơn Cụ thể, thông tư số 52/2012/TT-BTC yêu cầu việc công bố thông tin của các công ty

niêm yết phải đảm bảo tính “đầy đủ, chính xác và kịp thời”

Tính đầy đủ thể hiện ở các quy định cụ thể về thể loại, nội dung và hình thức công bố, cả thông tin công bố thường niên và mang tính bất thường có khả năng ảnh hưởng đến quyết định của người sử dụng

Tính chính xác tức là các thông tin phải hàm chứa tính trung thực, khách quan và đáng tin cậy Đặc biệt ở đây quy định cụ thể việc công bố phải do người đại diện theo pháp luật hoặc người được ủy quyền công bố thực hiện, chính là nhà quản trị doanh nghiệp

Ngoài ra, trong thị trường chứng khoán, mọi sự chậm trễ đều làm thông tin mất đi hoặc giảm phần lớn tác dụng Chính vì thế, yêu cầu về tính kịp thời của thông tin không thể chỉ mang tính tự nguyện từ các doanh nghiệp Việc quy định chặt chẽ thời gian tối đa để công bố các thông tin trong từng trường hợp, chẳng hạn trong công bố thông tin định kỳ, các công ty đại chúng phải cung cấp báo cáo tài chính năm đã được kiểm toán chậm nhất là 10 ngày kể từ ngày tổ chức kiểm toán ký báo cáo kiểm toán, thể hiện yêu cầu về tính kịp thời được đưa lên rất cao

1.1.3 Mối quan hệ giữa quản trị công ty và chất lƣợng báo cáo tài chính

Thông tin về những cuộc khủng hoảng tài chính trong những năm gần đây đã đặt ra câu hỏi vai trò của chính sách quản trị của các doanh nghiệp trên

Trang 29

phạm vi toàn cầu Điều này thúc đẩy các nhà quản lý đề xuất luật lệ mới về hành vi đúng đắn và an toàn tài chính cung cấp các khuyến nghị được coi là thông lệ tốt nhất về quản trị Các đề xuất đó được coi là chuẩn mực trong quản trị công ty, chúng giúp doanh nghiệp giảm bớt các yếu kém trong quản

lý, khắc phục những thiếu sót trong cơ chế quản trị để ngăn chặn việc lạm dụng quyền lực và để quản lý rủi ro Việc tuân thủ các khuyến cáo là cơ sở cần thiết để đánh giá chất lượng của hệ thống quản trị và bảo vệ danh tiếng của doanh nghiệp

Trong bối cảnh này, chất lượng quản trị công ty là điều kiện cần thiết để đảm bảo và duy trì niềm tin của các bên liên quan Trên thực tế, người ta cảm nhận rằng các doanh nghiệp có chất lượng quản trị tốt có vẻ ít rủi ro hơn và điều đó dường như góp phần làm gia tăng giá cổ phiếu Quy tắc ứng xử chú trọng đến chất lượng thông tin tài chính được cung cấp bởi các công ty Cải thiện tính minh bạch và công bố thông tin có thể dẫn đến hiệu ứng tích cực đối với hệ thống quản trị công ty Mối quan hệ giữa hai biến này thu hút sự chú ý của nhiều nhà nghiên cứu

Với cùng cách thức nghiên cứu thực nghiệm là xem xét một mẫu gồm các doanh nghiệp có sai phạm báo cáo tài chính trong một giai đoạn nhất định

và các doanh nghiệp so sánh với sự tương đồng về ngành nghề, quy mô và không có sai phạm trong giai đoạn đó, các nghiên cứu ở nhiều quốc gia cho kết quả chung rằng quản trị công ty có mối quan hệ với chất lượng báo cáo tài chính, nhưng ảnh hưởng của từng cơ chế quản trị công ty cụ thể đến chất lượng báo cáo tài chính ở các quốc gia khác nhau là khác nhau

Trong các nghiên cứu, các tác giả quan tâm đến mối quan hệ giữa chất lượng của các thông tin tài chính được công bố và hệ thống quản trị công ty được đại diện bởi các đặc tính của hội đồng quản trị, hiệu quả của hệ thống kiểm soát và cấu trúc sở hữu Những cơ chế này có hiệu quả là bằng chứng

Trang 30

cho một hệ thống quản trị công ty tốt và có ảnh hưởng tích cực đến chất lượng

và mức độ các thông tin được công bố Theo lý thuyết đại diện, quản trị công

ty tốt cho phép giảm thiểu xung đột và chi phí đại diện, do đó ngăn ngừa hoặc hạn chế hành vi quản trị lợi nhuận Người ta cho rằng việc tách biệt giữa quyết định quản lý và quyết định kiểm soát làm giảm chi phí đại diện Và theo

lý thuyết tín hiệu, quản trị tốt có thể được cho là một tín hiệu cho thấy sự vắng mặt của hành vi điều chỉnh lợi nhuận Khi đó, một công bố thông tin tài chính sẽ có chất lượng cao hơn Trong thực tế, chất lượng quản trị phụ thuộc nhiều vào hệ thống thông tin của một đơn vị Thông tin tài chính phải đáng tin cậy và cung cấp dấu hiệu rõ ràng về chất lượng hệ thống quản trị công ty Tín hiệu này phải đáng tin cậy, đáng giá với doanh nghiệp và sẽ là cơ chế để giảm

sự bất đối xứng thông tin hiện có trên thị trường

1.2 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG CỦA QUẢN TRỊ CÔNG TY ĐẾN SAI PHẠM TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH

Trong phần này, tác giả tập trung vào việc nhận diện các nhân tố của quản trị công ty đến sai phạm trên báo cáo tài chính, nội dung này được thực hiện thông qua tổng hợp từ các nghiên cứu trước

Theo Yi Zhang (2006) [15], sai phạm báo cáo tài chính chịu ảnh hưởng

từ các nhân tố xuất phát từ bên trong doanh nghiệp và cả bên ngoài doanh nghiệp Các nhân tố bên trong thuộc về đặc tính của doanh nghiệp, ngoài các yếu tố có thể dễ dàng xác định như quy mô, mức độ tập trung quyền sở hữu, mức hoạt động, thì yếu tố từ bản thân nhà quản trị cũng có tác động không nhỏ Các nhân tố bên ngoài như hệ thống pháp luật, trình độ phát triển của nền kinh tế luôn có tác động chi phối các mối quan hệ của doanh nghiệp và gián tiếp ảnh hưởng đến sai phạm báo cáo tài chính Tuy nhiên, nghiên cứu này chỉ đi sâu vào các nhân tố thuộc về đặc tính của doanh nghiệp Xem xét

Trang 31

trong cùng môi trường kinh tế, các doanh nghiệp sai phạm sẽ có đặc tính gì khác hơn so với các doanh nghiệp không sai phạm

Nghiên cứu của Nadia Smaili, Réal Labelle (2013) [13] mô tả các nhân

tố của quản trị công ty ảnh hưởng đến sai phạm báo cáo tài chính được phân thành ba nhóm: Các nhân tố về hiệu quả giám sát của hội đồng quản trị, bao gồm tỷ lệ thành viên hội đồng quản trị độc lập, có hay không sự kiêm nhiệm chức danh chủ tịch hội đồng quản trị và tổng giám đốc Các nhân tố liên quan đến hiệu quả của ủy ban kiểm toán, bao gồm tỷ lệ thành viên độc lập trong ủy ban kiểm toán, tỷ lệ chuyên gia tài chính trong ủy ban kiểm toán Các nhân tố liên quan đến chất lượng kiểm toán, bao gồm chất lượng kiểm toán viên và nhiệm kỳ kiểm toán viên Theo nghiên cứu của Jouini Fathi (2013) [9], nhóm các nhân tố về hiệu quả giám sát của hội đồng quản trị được bổ sung thêm quy mô hội đồng quản trị và số lượng các cuộc họp hội đồng quản trị Ngoài

ra, còn các các nhân tố khác mô tả bối cảnh hoạt động của doanh nghiệp như quy mô doanh nghiệp, tỷ lệ nợ, khả năng thanh toán, mức độ sinh lời Các nhân tố này được trình bày chi tiết dưới đây:

1.2.1 Hiệu quả giám sát của hội đồng quản trị

* Tỷ lệ thành viên hội đồng quản trị độc lập:

Hội đồng quản trị là bộ phận quan trọng trong cơ chế quản lý của các công ty cổ phần, nó đóng vai trò lớn trong việc giảm thiểu các vấn đề đại diện

có nguồn gốc từ sự mâu thuẫn lợi ích giữa nhà quản trị và chủ sở hữu doanh nghiệp Hội đồng quản trị đóng vai trò kiểm soát và ra các quyết định quan trọng đối với doanh nghiệp Tuy nhiên, vai trò này sẽ bị hạn chế nếu thành viên hội đồng quản trị đảm nhận vai trò nhà quản lý Lúc đó sẽ nảy sinh nhiều nguy cơ tiềm ẩn đối với các cổ đông còn lại Điều này có nghĩa là những thành viên hội đồng quản trị độc lập đóng một vai trò quan trọng Họ thực

Trang 32

hiện những cuộc kiểm tra và cân nhắc cần thiết để nâng cao hiệu quả hội đồng quản trị của doanh nghiệp

Bằng chứng về mối quan hệ ngược chiều giữa tỷ lệ thành viên hội đồng quản trị độc lập và sai phạm báo cáo tài chính được đưa ra bởi Nadia Smaili, Réal Labelle (2013) [13], Jouini Fathi (2013) [9] Tuy nhiên, cũng có nghiên cứu cho thấy mối quan hệ giữa tỷ lệ thành viên hội đồng quản trị độc lập và sai phạm báo cáo tài chính không có ý nghĩa thống kê, chẳng hạn của Yi Zhang (2006) [15]

* Chức danh chủ tịch hội đồng quản trị và tổng giám đốc do cùng một người đảm nhận:

Một vấn đề trung tâm không chỉ đối với quản lý nhà nước mà cả quản lý doanh nghiệp, đó là có nên khuyến khích việc kiêm nhiệm chức danh chủ tịch hội đồng quản trị và tổng giám đốc hay nên tách biệt hai chức danh này Lý thuyết đại diện dự đoán một nguy cơ lớn đối với việc kiêm nhiệm này Thứ nhất, hành vi kiêm nhiệm sẽ làm giảm đáng kể vai trò kiểm soát, thi hành kỷ luật và thỏa thuận mức thưởng cho các nhà quản trị cấp cao tại doanh nghiệp Thứ hai, việc nắm giữ đồng thời hai chức danh quan trọng nhất, là đại diện pháp lý cho cổ đông và là nhà điều hành cao nhất, người kiêm nhiệm dễ dàng thể hiện sự thống trị quyền lực trong tổ chức, điều này làm gia tăng đáng kể khả năng thực hiện những hành vi cơ hội, có lợi cho bản thân và nguy hại cho các cổ đông khác

Giuseppe D’Onza, Rita Lamboglia (2012) [12] đã chứng minh bằng thực nghiệm sự tương quan ngược chiều giữa việc kiêm nhiệm và sai phạm Jouini Fathi (2013) [9] cũng đánh giá việc kiêm nhiệm hai chức danh này làm gia tăng khả năng gian lận báo cáo tài chính của doanh nghiệp Tuy nhiên, trong nghiên cứu tại Trung Quốc, Yi Zhang (2006) [15] đã không tìm được bằng chứng về mối quan hệ giữa nhân tố này với sai phạm báo cáo tài chính

Trang 33

* Quy mô của hội đồng quản trị doanh nghiệp:

Với vai trò đại diện cho hội đồng cổ đông, hội đồng quản trị doanh nghiệp có quy mô lớn hay nhỏ thì giúp làm giảm sai phạm báo cáo tài chính? Lập luận rằng quy mô hội đồng quản trị càng lớn thì năng lực kiểm soát và ra quyết định càng cao bởi: thứ nhất, số lượng thành viên tăng, sự giàu có về kiến thức và khả năng theo dõi hoạt động của doanh nghiệp, đánh giá tình hình sẽ tăng lên; thứ hai, cũng là yếu tố quan trọng nhất, tăng số lượng thành viên sẽ tránh được sự tập trung quyền lực vào một vài nhân vật then chốt, cũng do đó mà quyền lợi của cổ đông nhỏ hoặc không có mặt trong hội đồng quản trị được bảo vệ ở mức cao hơn

Nhân tố quy mô của hội đồng quản trị được đưa vào trong nghiên cứu của Jouini Fathi (2013) [9] với các doanh nghiệp tại Pháp hay Yi Zhang (2006) [15] tại Trung Quốc Tuy nhiên, các tác giả đã không tìm thấy bằng chứng về mối liên hệ có ý nghĩa thống kê giữa nhân tố này với sai phạm báo cáo tài chính

* Số lƣợng các cuộc họp hội đồng quản trị:

Với lập luận tần số các cuộc họp cho phép các thành viên hội đồng quản trị giám sát và hỗ trợ các nhà quản lý trong việc cung cấp thông tin, Jouini Fathi (2013) [9] đã đưa ra bằng chứng chứng minh mối tương quan ngược chiều giữa số lượng các cuộc họp hội đồng quản trị với sai phạm báo cáo tài chính

Hơn nữa, để xem xét sức mạnh tổng hợp có thể có và sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các biến đại diện cho hiệu quả giám sát của hội đồng quản trị, Nadia Smaili, Réal Labelle (2013) [13] đã tổng hợp thành điểm số để đo lường hiệu quả của hội đồng quản trị Và bằng thực nghiệm, nghiên cứu đó đã

chứng minh hiệu quả của hội đồng quản trị cũng có mối quan hệ ngược

chiều với sai phạm báo cáo tài chính

Trang 34

1.2.2 Hiệu quả của ủy ban kiểm toán

Ủy ban kiểm toán là ủy ban trực thuộc hội đồng quản trị, có chức năng

tư vấn và giúp việc cho hội đồng quản trị trong việc đảm bảo có được một hệ thống hiệu quả về kiểm soát nội bộ và tuân thủ pháp luật; đáp ứng đầy đủ các yêu cầu về báo cáo tài chính ra bên ngoài Ủy ban Kiểm toán chịu trách nhiệm kiểm tra, giám sát tính trung thực của các báo cáo tài chính liên quan đến tình hình hoạt động kinh doanh của công ty trước khi trình hội đồng quản trị; kiểm tra, giám sát kế hoạch kiểm toán nội bộ, tính hiệu quả của hoạt động kiểm toán nội bộ và sự hợp tác giữa kiểm toán nội bộ với tổ chức kiểm toán độc lập

Ở Việt Nam, tất cả những nhiệm vụ này trong cơ chế quản trị công ty thuộc

về ban kiểm soát Ban kiểm soát do đại hội cổ đông bầu ra và so với ủy ban kiểm toán, nó có thêm chức năng giám sát công việc của hội đồng quản trị và ban giám đốc

* Tỷ lệ thành viên độc lập trong ủy ban kiểm toán:

Ủy ban kiểm toán đóng vai trò quan trọng trong việc tăng mức độ tin cậy của báo cáo tài chính bằng việc hạn chế các sai sót kỹ thuật, hành vi bất hợp pháp và nhận biết các dấu hiệu của một báo cáo tài chính sai phạm Thông thường trong các tổ chức, hội đồng quản trị ủy quyền giám sát hoạt động cho

ủy ban kiểm toán, điều này thể hiện vai trò của ủy ban kiểm toán trong tổ chức Tuy nhiên, vai trò này chỉ được thực thi hiệu quả khi ủy ban kiểm toán thực sự “độc lập” Nadia Smaili, Réal Labelle (2013) [13] đã tìm thấy mối quan hệ ngược chiều giữa nhân tố này với sai phạm báo cáo tài chính

* Tỷ lệ chuyên gia tài chính trong ủy ban kiểm toán:

Cũng theo nghiên cứu của Nadia Smaili, Réal Labelle (2013) [13], sự hiện diện của chuyên gia tài chính trong ủy ban kiểm toán thể hiện năng lực của ủy ban kiểm toán và đóng góp đáng kể vào việc thực hiện tốt vai trò giám sát của mình Các tác giả đã chứng minh rằng sự tương quan ngược chiều

Trang 35

giữa tỷ lệ chuyên gia tài chính và sai phạm báo cáo tài chính là có ý nghĩa thống kê

Một điểm số tổng hợp về hiệu quả của ủy ban kiểm toán cũng được

Nadia Smaili, Réal Labelle (2013) [13] xây dựng và chỉ ra rằng hiệu quả của

ủy ban kiểm toán có mối quan hệ ngược chiều với sai phạm trên báo cáo tài chính

1.2.3 Chất lƣợng kiểm toán

Mặc dù độc lập với doanh nghiệp, nhưng đặc điểm về chất lượng, chuyên môn của công ty kiểm toán lại phụ thuộc vào sự quyết định của doanh nghiệp bởi quyền lựa chọn thuê công ty nào và trách nhiệm trả chi phí kiểm toán thuộc về doanh nghiệp Chính vì thế, một cách gián tiếp, công ty kiểm toán độc lập là một yếu tố xuất phát từ nội bộ doanh nghiệp

* Chất lƣợng kiểm toán viên:

Kiểm toán độc lập là khâu cuối cùng kiểm định báo cáo tài chính trước khi công bố ra bên ngoài, do đó trình độ hay đạo đức kiểm toán viên phản ánh qua quy mô hay đẳng cấp của công ty kiểm toán là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến sai phạm báo cáo tài chính Các công ty kiểm toán lớn quan tâm nhiều hơn đến danh việc bảo vệ danh tiếng của mình, chính vì vậy nó sẽ đầu tư nhiều hơn vào công tác kiểm toán báo cáo tài chính của doanh nghiệp Hơn nữa, nếu có thất bại xảy ra trong việc kiểm toán, các công ty kiểm toán lớn sẽ thiệt hại nhiều hơn các công ty kiểm toán nhỏ Ngoài ra, các công ty kiểm toán lớn có nhiều khách hàng hơn, chính vì vậy sự phụ thuộc vào từng khách hàng sẽ nhỏ hơn so với các công ty nhỏ

Trong nghiên cứu của mình, Khalid Abu Masdoor (2011) [11], Giuseppe D’Onza, Rita Lamboglia (2012) [12], Nadia Smaili, Réal Labelle (2013) [13]

đã chứng minh mối quan hệ giữa chất lượng kiểm toán viên- được đại diện

Trang 36

bởi kiểm toán viên có phải thuộc Big 4 hay không- với sai phạm báo cáo tài chính, trong khi Yi Zhang (2006) [15] lại không tìm thấy mối liên hệ này

* Nhiệm kỳ kiểm toán viên:

Mối quan hệ giữa sự thay đổi của kiểm toán viên, nhiệm kỳ của họ và khả năng gian lận là không rõ ràng Nhiệm kỳ kiểm toán viên có thể có tác dụng trái ngược đến việc phát hiện và/hoặc phát giác hành vi gian lận quản

lý Một mặt, nếu một kiểm toán viên thực hiện kiểm toán một đơn vị nhiều lần, tập trung và liên tục, hiệu suất và kết quả kiểm toán sẽ tốt hơn Do vậy, nếu thay đổi kiểm toán viên, khả năng của kiểm toán viên phát hiện gian lận tài chính có thể yếu trong thời gian sau sự thay đổi kiểm toán viên Nhưng mặt khác, một kiểm toán viên mới có thể độc lập hơn với nhà quản lý và có thể có “tác dụng độc lập”

Nadia Smaili, Réal Labelle (2013) [13] đã chứng minh tại Canada, việc thay đổi kiểm toán viên có tác động thuận chiều với sai phạm báo cáo tài chính Họ cũng đã kết hợp các biến này thành một điểm số cho hiệu quả kiểm toán và đặt ra giả thuyết hiệu quả kiểm toán có quan hệ ngược chiều với sai phạm báo cáo tài chính, tuy nhiên thực nghiệm không tìm thấy bằng chứng về mối liên hệ này

1.2.4 Các nhân tố khác ảnh hưởng đến sai phạm báo cáo tài chính

* Quy mô doanh nghiệp:

Trong các nghiên cứu về ảnh hưởng của quản trị công ty đến chất lượng báo cáo tài chính, quy mô doanh nghiệp được đo lường thông qua chỉ tiêu tổng tài sản Theo Nadia Smaili và Réal Labelle (2013) [13], một doanh nghiệp có quy mô càng lớn thì mức độ quản lý càng chặt chẽ và hệ thống thông tin càng tốt, do vậy hạn chế được sai phạm báo cáo tài chính và họ đã đưa ra bằng chứng chứng minh mối liên hệ này là có ý nghĩa thống kê trong nghiên cứu của mình

Trang 37

* Tỷ lệ nợ:

Tỷ lệ nợ được tính bằng tổng nợ chia cho tổng tài sản và đại diện cho khả năng tự chủ tài chính của doanh nghiệp Khi tỷ lệ nợ càng cao thì doanh

nghiệp càng có khả năng sai phạm bởi để có thể tồn tại trong suy thoái Mối

quan hệ này đã được chứng minh trong nghiên cứu của Yi Zhang (2006) [15]

* Khả năng thanh toán:

Khi khả năng thanh toán càng cao, doanh nghiệp công bố thông tin một cách trung thực để chứng minh tình trạng hoạt động tốt của mình Ngược lại, các doanh nghiệp có khả năng thanh toán càng thấp thì có khuynh hướng gian lận để biện minh tình trạng công ty với các đối tượng bên ngoài doanh nghiệp Nadia Smaili và Réal Labelle (2013) [13] và Yi Zhang (2006) [15] đã tìm thấy bằng chứng chứng minh khi doanh nghiệp an toàn về khả năng thanh toán, nó ít thực hiện hành vi gian lận báo cáo tài chính

* Mức độ sinh lời:

Khi mức độ sinh lời của một doanh nghiệp là cao, tức doanh nghiệp hoạt động hiệu quả, nhà quản trị chủ động công bố những thông tin trung thực để cải thiện thỏa thuận về mức thưởng cũng như nâng cao giá trị của họ trên thị trường lao động Ngược lại, ở các doanh nghiệp có mức sinh lời thấp, nhà quản trị sẽ có xu hướng gian lận về công bố thông tin vì lợi ích cá nhân của

họ, bản thân doanh nghiệp cũng có xu hướng gian lận để giữ giá cổ phiếu trên thị trường và che giấu thực trạng hoạt động kém hiệu quả với cổ đông

Yi Zhang (2006) [15] và Nadia Smaili và Réal Labelle (2013) [13] cũng

đã tìm thấy mối liên hệ ngược chiều giữa mức độ sinh lời- được đại diện bởi chỉ tiêu ROA (tỷ số lợi nhuận trên tài sản)- với sai phạm báo cáo tài chính Như vậy, có nhiều nhân tố đã được nhận diện, tuy nhiên chiều hướng và mức

độ tác động của mỗi nhân tố là không đồng nhất Điều này xuất phát từ nhiều nguyên nhân: do giữa các nghiên cứu công tác thu thập dữ liệu khác nhau, được thực hiện ở những thời gian và bối cảnh các nền kinh tế quốc gia khác nhau

Trang 38

CHƯƠNG 2

PHÂN TÍCH ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC YẾU TỐ QUẢN TRỊ CÔNG TY ĐẾN SAI PHẠM TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NIÊM YẾT TRÊN SÀN CHỨNG

KHOÁN VIỆT NAM

2.1 TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 2.1.1 Ngành nghề kinh doanh

Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HoSE) công bố danh sách phân ngành của 302 công ty niêm yết trên sàn với tổng giá trị vốn hóa trên thị trường 1,015,159 tỷ đồng Kết quả phân ngành bao gồm 3 cấp ngành với 15 ngành cấp 1 được thống kê như sau:

Bảng 2.1 Giá trị vốn hóa của các doanh nghiệp niêm yết trên HoSE

Số lượng DNNY

Giá trị vốn hóa trên thị trường (Tỷ đồng)

Tỷ lệ (%)

1 Nông nghiệp, lâm nghiệp và

4

Sản xuất và phân phối điện, khí

đốt, nước nóng, hơi nước và

điều hòa không khí

5 Cung cấp nước và hoạt động xử

Trang 39

tô, mô tô, xe máy và xe có động

cơ khác

11 Hoạt động tài chính, ngân hàng

Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội (HNX) áp dụng Hệ thống ngành kinh

tế HaSIC (Hanoi Stock Exchange Standard Industrial Classification) để phân ngành cho các doanh nghiệp niêm yết/đăng ký giao dịch trên HNX Theo đó,

Hệ thống ngành kinh tế HaSIC bao gồm 3 cấp ngành với 11 ngành cấp I, 39 ngành cấp II và 193 ngành cấp III

Trang 40

Kết quả phân ngành 392 doanh nghiệp niêm yết trên HNX theo 11 mã ngành cấp I như sau:

Bảng 2.2 Giá trị vốn hóa của các doanh nghiệp niêm yết trên HNX

Số lượng DNNY

Vốn hóa thị trường tính đến tháng 8/2012 (Tỷ đồng)

Tỷ lệ (%)

Ngày đăng: 04/10/2018, 18:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w