1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận tư tưởng HCM

18 96 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 46,26 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nguyễn Ái Quốc ở Hongkongnhiều sự kiệntư tưởng Hồ Chí MinhTiểu luận Nguyễn Ái Quốc ở Hongkongnhiều sự kiệntư tưởng Hồ Chí MinhTiểu luận Nguyễn Ái Quốc ở Hongkongnhiều sự kiệntư tưởng Hồ Chí MinhTiểu luận Nguyễn Ái Quốc ở Hongkongnhiều sự kiệntư tưởng Hồ Chí MinhTiểu luận

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

-oOo -QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH THỜI KỲ 1930-1945: VƯỢT QUA THỬ THÁCH, KIÊN TRÌ

GIỮ VỮNG LẬP TRƯỜNG CÁCH MẠNG

Giảng viên hướng dẫn:

Hà Nội – 9/2018

Trang 2

Họ và tên STT MSV Nhiệm vụ Đánh giá

Trang 3

DANH SÁCH ĐỀ MỤC VIẾT TẮT

BCH Ban Chấp hành

CNXH Chủ nghĩa Xã hội

ĐCSVN Đảng Cộng sản Việt Nam

QTCS Quốc tế Cộng sản

Trang 4

THỜI KỲ 1930-1945: VƯỢT QUA THỬ THÁCH, KIÊN TRÌ

GIỮ VỮNG LẬP TRƯỜNG CÁCH MẠNG

CHƯƠNG I VỤ ÁN NGUYỄN ÁI QUỐC Ở HỒNG KÔNG

1 Khái quát bối cảnh

- Kể từ khi thay mặt Hội những người Việt Nam yêu nước tại Pháp ký tên vào bản Yêu sách của nhân dân An Nam gửi Hội nghị Vecxay - Pháp, cho đến khi sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc đã trở thành một nhân vật quan trọng trong kế hoạch lùng bắt của thực dân Pháp Vì vậy, hoạt động giữa vòng vây của nhiều kẻ thù, kèm theo một án tử hình vắng mặt của toà Đại hình Vinh theo phán quyết số 115 (10/10/1929), cùng lệnh truy nã ráo riết của thực dân Pháp luôn là những khó khăn, là những hiểm nguy cận kề đối với Nguyễn Ái Quốc

- Đặc biệt những năm 1930 chính quyền thực dân Anh - Pháp thẳng tay đàn áp, truy tìm bắt bớ những người cộng sản yêu nước tại hầu khắp các nước Đông Nam Á, một số nước châu Á và người An Nam

- Mùa xuân năm 1930, sau khi triệu tập và chủ trì thành công Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc- Tống Văn Sơ tiếp tục ở lại Hồng Kông, hoạt động cách mạng

2 Quá trình Nguyễn Ái Quốc bị bắt

- Tới nửa đầu năm 1930, Nguyễn Ái Quốc đã hoàn thành bước đầu một số công tác ở các nước (Xiêm, Malaysia, Indonesia, Singapore…) Sau khi thoát khỏi cuộc vây bắt

ở Singapore, đầu tháng 5/ 1930, Nguyễn Ái Quốc trở lại Hồng Kông

- Trong thời gian ở Hồng Kông, giấy căn cước của Nguyễn Ái Quốc mang tên Trung Quốc là Tống Văn Sơ Địa chỉ thường trú là số nhà 186 Tam Kung Nơi đây là cơ sở

bí mật, có mật hiệu an toàn cho các đồng chí đến liên lạc cảnh báo để không bị bắt Mật thám Pháp đã phối hợp với mật thám Anh tìm ra được địa chỉ này của Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông

- Ngày 30/4/1931, mật thám Pháp tại Sài Gòn bắt được một số người "tình nghi cộng sản" trong đó có Nguyễn Thái, sau này được biết là "Thư ký Công hội Nam kỳ", Xứ

ủy viên Khám trong người Thái, chúng bắt được thư của Nguyễn Ái Quốc viết ngày 24/4/1931

Trang 5

- Sáng sớm, ngày 6/6/1931 Một tốp cảnh sát ập vào xích tay Nguyễn Ái Quốc và lục soát Không tìm được chứng cứ gì nhưng Nguyễn Ái Quốc vẫn bị giam ở Sở cảnh sát Hồng Kông suốt một tuần Nguyễn Ái Quốc khai tên là Tống Văn Sơ, sinh tại Trung Quốc Ngày 12/6 cảnh sát đưa Nguyễn Ái Quốc chuyển về nhà tù Victoria và giam ở đây suốt gần hai năm, từ tháng 6/1931 đến tháng 1/1933

- Sau khi Nguyễn Ái Quốc bị bắt ở Hồng Kông, các giới chức của Pháp ở Đông Dương

và các Bộ trưởng ở chính quốc tỏ thái độ chúc tụng, mừng rỡ; đồng thời vạch kế hoạch vận động chính quyền Hồng Kông không để Nguyễn Ái Quốc tiếp tục hoạt động và tuyệt đối tránh trả tự do cho Nguyễn Ái Quốc bằng mọi giá

3 Luật sư tham gia bào chữa

- Hồ Tùng Mậu, qua Liên đoàn Quốc tế cứu tế đỏ đã đến gặp ông Francis Henry Loseby – một luật sư dân chủ tiến bộ người Anh, đang hành nghề ở Hồng Kông nhờ giúp đỡ

- Ngày 8/6, Luật sư Loseby quyết định đi tìm gặp Tống Văn Sơ ở trại giam Việc bắt lén người trái pháp luật đã bị bại lộ khi báo chí đồng loạt đưa tin sự kiện Nguyễn Ái Quốc bị bắt Và để hợp pháp hóa việc bắt giữ, Thống đốc Hồng Kông đã phải ra lệnh bắt giam Người nhiều lần và Sở cảnh sát Hồng Kông buộc phải đồng ý để luật sư vào gặp Tống Văn Sơ (24/6/1931)

- Sau lần gặp, Luật sư biết được một số chi tiết quan trọng: Tống Văn Sơ mướn nhà 186 Tam Kung; khi bị bắt, trong người và trong nhà không có tài liệu gì; lúc bắt người, cảnh sát không đọc lệnh, thực tế lúc này chưa có lệnh bắt của ủy viên công tố;…

4 Quá trình xét xử vụ án

- Luật sư đã tìm cách bào chữa và ngăn cản âm mưu của chính quyền Hồng Kông giao nộp Nguyễn Ái Quốc cho chính quyền thực dân Pháp ở Đông Dương

- Tống Văn Sơ phải trải qua ba cuộc thẩm vấn của Thư ký Trung Hoa vụ Hồng Kông

và 9 phiên toà xét xử tại Hồng Kông (ngày 31/7/1931 là phiên thứ nhất và phiên cuối cùng kết thúc vào ngày 12/9/1931)

- Diễn biến 9 phiên toà xét xử Nguyễn Ái Quốc:

Ngày 31/7/1931

Phiên toà thứ nhất

- Chính quyền Hương Cảng đã không đưa ông Tống ra Tòa

và luận tội: “Tống Văn Sơ là tay sai của Liên Xô, phái viên

của Đệ tam Quốc tế, đến HongKong định phá hoại chính quyền ở đây Vì lẽ đó, sẽ bị trục xuất khỏi HongKong vào ngày 18 tháng 8 do chiếc tàu thủy Angiê của Pháp chở về Đông Dương”.

- Luật sư Loseby chỉ thị cho luật sư Jenkin phản đối và đòi hỏi Tòa phải đưa Tống Văn Sơ ra trước Tòa

Trang 6

Ngày 14/8/1931

Phiên toà thứ hai - Luật sư yêu cầu Tòa đề nghị công tố bảo đảm không thựchiện lệnh trục xuất chừng nào tính pháp lý của lệnh đó

chưa được khẳng định

- Lời khai có tuyên thệ của Tống Văn Sơ tố cáo nội dung thẩm vấn của ban Thư ký Trung Hoa vụ do Công tố Alabaxtơ đọc không đúng luật, trong đó nêu rõ ý kiến của nguyên đơn là nếu bị “trục xuất đến Đông Dương, tôi (Tống Văn Sơ) sẽ bị giết, dù có xét xử hay không xét xử” Ngày 15/8/1931

Phiên tòa thứ ba

- Tranh cãi về trục xuất, và phản đối việc giao nộp Tống Văn Sơ cho người Pháp Trong đó Người khẳng định không muốn bị trục xuất, muốn được tự do, muốn sang Anh quốc,…

Ngày 20/8/1931

Phiên tòa thứ tư - Tòa tuyên bố lệnh trục xuất thứ nhất là sai do nội dungthẩm vấn sai

- Công tố tuyên bố lệnh trục xuất thứ hai vừa được ban hành vào chiều ngày thứ 7 (15-8)

- Luật sư cho rằng việc ban hành một lệnh mới giữa hai phiên tòa là sai trái

Ngày 24/8/1931

Phiên tòa thứ năm

- Luật sư đề nghị Tòa áp dụng Luật Bảo thân cho Tống Văn Sơ

- Luật sư cũng khẳng định: cả hai lệnh trục xuất (lệnh trục xuất và lệnh buộc phải lên một tàu biển) cũng đều bất hợp pháp

Ngày 25/8/1931

Phiên tòa thứ sáu - Luật sư yêu cầu Công tố tuyên bố tài liệu đánh máy câuhỏi và câu trả lời của Tống Văn Sơ do Trung Hoa Thư ký

vụ đưa ra, trong đó nêu Tống Văn Sơ cung khai bí danh thứ

ba Nguyễn Ái Quốc “là tài liệu giả” để ép cung

- Trước tòa, công tố viên đã đọc lời khai của Tống Văn Sơ trong các phiên thẩm vấn, nhưng Người đã không công nhận những điều xuyên tạc trong biên bản, đồng thời, sự thông minh, nhất quán và thận trọng trong từng câu trả lời,

đã khiến Tòa không thể khép Người vào bất cứ tội danh nào để đưa về Đông Dương

Ngày 2/9/1931

Phiên tòa thứ bảy

- Sự thừa nhận Tống Văn Sơ bị bắt, bị giam giữ bất hợp pháp cho thấy chính quyền Hoàng gia có hai đuối lý theo điều khoản trong sắc lệnh của Hồng Kông

- Vấn đề đòi trả tự do cho Tống Văn Sơ không được giải quyết dứt điểm để “không làm mất lòng Pháp”, chính quyền Luân Đôn vẫn chỉ thị Thống đốc Hồng Kông ra lệnh trục xuất Nguyễn Ái Quốc về Đông Dương

Trang 7

Ngày 11/9/1931

Phiên tòa thứ tám - Mặc dù đã thừa nhận những điều sai trái trong quá trìnhbắt Người, song Tòa vẫn quyết định thực hiện lệnh trục

xuất Nguyễn Ái Quốc

- Luật sư kịch liệt phản đối và khẳng định sẽ kháng án lên Hội đồng Cơ mật

Ngày 12/9/1931

Phiên tòa thứ chín

- Tòa đã cho phép kháng án lên Hội đồng Cơ mật và chỉ thị rằng: hồ sơ phải được chuẩn bị và gửi đi trong vòng ba tháng

- Sau khi Nguyễn Ái Quốc đã nộp kháng cáo đến Hội đồng Cơ mật, có luật sư Denis Noel Pritt (đại diện cho Tống Văn Sơ) và luật sư Richard Stafford Cripps (đại diện cho Bộ thuộc địa Anh) Hai bên luật sư đã hòa giải và cùng đi đến thỏa thuận như sau: Tống Văn Sơ rút đơn kháng án với cam kết của chính quyền Hồng Kông: 1 Bỏ việc chỉ định “tàu biển” trong lệnh trục xuất; 2 Trong bất cứ trường hợp nào cũng không giao người kháng án cho Pháp hoặc đến một lãnh thổ do Pháp bảo hộ hoặc xuống một tàu biển của Pháp; 3 Chính quyền Hồng Kông sẽ hết sức cố gắng để bảo đảm rằng người kháng án sẽ đến được nơi họ muốn đến; 4 Chi 250 bảng Anh cho phí tổn của người kháng án

- Ngày 21 -7-1932, Hội đồng Cơ mật đã chấp thuận cho Tống Văn Sơ rút đơn kháng

án và chỉ thị cho Thống đốc Hồng Kông và các bên liên quan phải thực hiện nghiêm chỉnh

 Như vậy là theo quyết định của Hội đồng Cơ mật, Tống Văn Sơ (Nguyễn Ái Quốc) phải rời khỏi Hồng Kông nhưng được lựa chọn nơi muốn đến Ý nghĩa của quyết định này là: Thứ nhất, tuyệt đối không có gì chứng tỏ rằng ông Nguyễn là tay sai của Liên Xô Thứ hai, không có chứng cứ ông Nguyễn muốn phá hoại Hồng Kông.Thứ

ba, cộng sản hay quốc gia điều đó không phải là một tội phạm trước pháp luật Anh

5 Kết thúc vụ án: Nguyễn Ái Quốc về lại Liên Xô

- Nhờ sự tận tình giúp đỡ của luật sư, Tòa án đã không đủ chứng cứ kết tội và đã phải trả tự do cho bị cáo – dù việc đó họ không bao giờ muốn mà vẫn phải tuân theo pháp luật Trong cuộc hành trình Nguyễn Ái Quốc rời khỏi Hồng Kông, vợ chồng luật sư Loseby tiếp tục giúp đỡ Nguyễn Ái Quốc vượt qua được nhiều khó khăn “hậu vụ án”

mà cảnh sát, mật thám Anh, Pháp vẫn còn cố đeo bám gây trở ngại cho ông

- Ngày 28/12/1932, Tống Văn Sơ định đi đến nước Anh, song khi đi đến Singapore, Tống Văn Sơ lại bị chính quyền sở tại buộc quay trở lại Hồng Kông và ngày 19/1/1933, Người lại bị bắt giam

Trang 8

- Ngay khi ấy, Người đã kịp thời viết thư báo tin cho luật sư Loseby và nhờ ông giúp

đỡ Luật sư đã đề nghị Thống đốc Hồng Kông can thiệp, và Thống đốc đã buộc phải

ra lệnh thả Tống Văn Sơ và hạn trong ba ngày Tống Văn Sơ phải rời khỏi Hồng Kông

- Cuối cùng ngày 22-1-1933, Nguyễn Ái Quốc đã cải trang thành một thương gia Trung Quốc giàu có, và với một viên thư ký tháp tùng (thư ký của luật sư, tên Lung Ting Chang), Người đi xuồng ra khơi, rồi lên tàu Anhui đi Hạ Môn bí mật rời Hồng Kông Tàu cập bến Hạ Môn vào ngày 25-1-1933, vừa đúng 30 Tết âm lịch

- Ở Hạ Môn một thời gian, Người lên Thượng Hải, và sau khi nhờ bà Tống Khánh Linh giúp đỡ, Nguyễn Ái Quốc bắt liên lạc được với Quốc tế Cộng sản và trở về Liên Xô

an toàn sau đó

6 Tình bạn của Hồ Chí Minh và Loseby

- Sau khi rời khỏi Hồng Kông, Nguyễn Ái Quốc đã hai lần viết thư cho luật sư Loseby, nhưng vì sợ nhà cầm quyền tìm ra địa chỉ của Người nên luật sư đã không trả lời

- Là lãnh tụ, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn bộn bề công việc, song dù bận, Người vẫn không quên gửi thư, thiếp và quà đến gia đình luật sư Loseby mỗi dịp Nôen, khi Xuân về, Tết đến Năm 1956, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư và ảnh của Người đến gia đình luật sư và gia đình luật sư cũng đã gửi thư và ảnh cho Chủ tịch Hồ Chí Minh

- Mùa xuân năm 1960, nhận lời mời của Chủ tịch Hồ Chí Minh, hai vợ chồng luật sư cùng người con gái đã sang ăn Tết cổ truyền với nhân dân Việt Nam (26-1 đến 3-2-1960)

- Trở về Hồng Kông, luật sư đã viết thư cho Chủ tịch Hồ Chí Minh (19-2-1960), bày tỏ lòng cảm ơn Người và sự hiếu khách của nhân dân Việt Nam đối với gia đình ông trong những ngày thăm Việt Nam

- 7 năm sau đó, luật sư Loseby qua đời, không với tư cách Chủ tịch nước, không ở cương vị Quốc gia, giữa nồng hậu thân tình gia đình, vòng hoa gửi Kính viếng Luật

sư của vị Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa giản dị với dòng chữ: "Hồ Chí Minh kính viếng"

CHƯƠNG II QTCS HIỂU SAI QUAN ĐIỂM CỦA HỒ CHÍ MINH

Trang 9

1 Khái quát bối cảnh

- Trong cương lĩnh và chương trình nghị sự, QTCS đã nêu vấn đề Cách mạng thuộc địa

và coi việc giúp đỡ Cách mạng thuộc địa là 1 trọng tâm trong sự nghiệp hoạt động của mình Nhưng trong thực tế, QTCS chưa coi trọng đúng mức loại hình Cách mạng này

- Là 1 tổ chức chính trị cao nhất của phong trào Cộng sản và công nhân quốc tế, nhưng

do áp dụng cơ chế tập trung quan liêu trong khi việc nắm thông tin, hiểu biết thực tiễn còn bất cập…, nên QTCS không tránh khỏi có lúc cứng nhắc, chưa sát thực tế, đã áp đặt, giáo điều

- Vào cuối những năm 20, đầu những năm 30 của thế kỷ XX, do không sát tình hình Đông Dương, lại bị chi phối bởi quan điểm “tả” khuynh của Đại hội VI (1928) QTCS

đã chỉ trích đường lối Hồ Chí Minh vạch ra trong Hội nghị 03/02/1930 (Cải lương, dân tộc chủ nghĩa dẫn tới hẹp hòi, không quan tâm đấu tranh giai cấp, không quan tâm Cách mạng thế giới, không thành lập liên bang Đông Dương)

- Vì thế Hội nghị Trung Ương diễn ra từ ngày 14 đến ngày 31/10/1930, ra Nghị quyết, thủ tiêu Chánh cương, Sách lược của Đảng, Văn kiện 03/02/1930, đổi tên Đảng thành Đảng Cộng sản Đông Dương

- Trong hoàn cảnh đó, Hồ Chí Minh tiếp tục hoạt động ở QTCS, nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lênin và chỉ đạo Cách mạng Việt Nam, kiên định bảo vệ quyết định của mình

2 Nguyên nhân

Bên cạnh những điểm tương đồng thì giữa Hồ Chí Minh với QTCS vẫn có nhiều điểm khác biệt trong suốt thời kỳ tồn tại của QTCS (1919 – 1943) và cũng có những khác biệt trong một kỳ đại hội của Quốc tế này – Đại hội VI QTCS (1928 – 1935) Những điểm khác biệt này tập trung ở những sáng tạo của Hồ Chí Minh khi vận dụng chủ nghĩa Mác – Lênin

và Nghị quyết của QTCS vào điều kiện cụ thể của Việt Nam Đây là nguyên nhân chính dẫn đến việc QTCS hiểu sai quan điểm của Bác:

- Trước hết, khác biệt lâu dài nhất xoay quanh nhận thức vấn đề: Cách mạng vô sản ở chính quốc thành công trước hay Cách mạng giải phóng thuộc địa thành công trước và hai cuộc Cách mạng đó phụ thuộc vào nhau như thế nào?Theo tư tưởng của Lênin, QTCS cho rằng thắng lợi của Cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa, trong đó có Cách mạng ở Đông Dương và Việt Nam, phụ thuộc trực tiếp vào thắng lợi của Cách mạng vô sản ở chính quốc, rằng chỉ có Cách mạng vô sản ở chính quốc thắng lợi rồi mới có điều kiện trực tiếp giúp đỡ Cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa đi tới thành công Khác với những quan điểm đó, Hồ Chí Minh cho rằng mối quan hệ giữa Cách mạng thuộc địa và chính quốc là mối quan hệ bình đẳng, cùng hỗ trợ cho nhau để phát triển chứ không phải quan hệ chính phụ

Trang 10

- Tiếp theo là những khác biệt giữa Hồ Chí Minh với những nghị quyết tại Đại hội QTCS lần thứ VI (1928) về đường lối Cách mạng Việt Nam, kéo dài từ đó cho đến Đại hội lần thứ VII QTCS (1935)

 Nh ữn g

sáng tạo đó của Người đã không được QTCS coi là 1 đóng góp vào kho tàng lý luận Mác-Lênin, trái lại, bị coi là biểu hiện của sự xa rời chủ nghĩa Mác- Mác-Lênin, xa rời lý tưởng Cộng sản…

3 Tính đúng đắn trong quan điểm của Hồ Chí Minh

1.1 Cơ sở lý luận

Cương lĩnh đã dựa trên nền tảng lý luận của Chủ nghĩa Mác-Lênin, một hệ thống lí luận tiến bộ đúng đắn và khoa học :

Tuần tự của con đường

Cách mạng Đông Dương

Thực hiện tuần tự

1 Đánh đổ địa chủ phong kiến

2 Đánh đổ đế quốc thực dân

3 Xây dựng CNXH

Mô hình nửa thể trái học

thuyết Mác- Lênin:

Tiến hành Cách mạng giải phóng dân tộc, từng bước đấu tranh chống phong kiến

và tư sản tay sai, liền sau

đó xây dựng CNXH

Giải quyết mối quan hệ

giữa dân tộc với giai cấp

Đấu tranh giai cấp trước rồi mới đấu tranh giải phóng dân tộc

Đặt đấu tranh giải phóng dân tộc lên trước hết, và từng bước tiến hành đấu tranh giai cấp

Giải quyết vấn đề dân tộc

với quốc tế

Đặt vấn đề quốc tế lên hàng đầu, thứ đến là vấn đề dân tộc

Đặt vấn đề dân tộc lên trước hết, do đó Người đã quyết định thành lập ĐCSVN

Quan điểm về động lực

Cách mạng

Động lực Cách mạng chỉ gồm công- nông, không liên minh với tư sản dân tộc và phú nông, không xem trọng tiểu tư sản thành thị, tầng lớp tiểu thương

Động lực của Cách mạng là khối đoàn kết toàn dân bao gồm giai cấp công nhân, nông dân, tầng lớp tiểu tư sản trí thức, giai cấp tư sản dân tộc và các cá nhân yêu nước thuộc tầng lớp địa chủ vừa và nhỏ trên nền tảng của công nông liên minh

Ngày đăng: 24/07/2019, 01:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w