Thời kỳ này đã làm nảy sinh những nhà tư tưởng lớn với các học thuyết khác nhau với mộttrăm lẻ tám nhà triết học , mười một trường phái triết học trong đó có ảnh hưởng lớn nhất là ba phá
Trang 1Phần mở đầu
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trung Quốc là một quốc gia phương Đông có diện tích rộng lớn ở khu vực châuÁ.Với nền lịch sử văn hóa hàng ngàn năm, Trung Quốc đã trở thành cái nôi hình thànhnên nền văn hóa của khu vực phương đông Văn hóa Trung Quốc nổi bật với những quanniệm đạo đức, nhân sinh, lễ nghĩa, cùng với đó là những tư tưởng triết học mang ý nghĩanhân sinh sâu sắc, đã ảnh hưởng sâu rộng đến việc hình thành tư tưởng triết học của cácquốc gia phương Đông Một trong những trường phái triết học lớn có tư tưởng giá trị nhấttrong nền triết học Trung Quốc là trường phái Nho gia, một trường phái triết học lấy luân
lý đạo đức làm cơ sở cốt lõi để phát triền.Trải qua bao thời kỳ từ thời kỳ Tam Hoàng rồiđến nhà Hạ (2205 TCN), nhà Thương (1766 TCN), nhà Chu (1200 TCN), rồi đến thờiXuân Thu Chiến Quốc (720 TCN) Có thể nói, ở mỗi thời kỳ mỗi giai đoạn thì lịch sửTrung Quốc lại phát triển thêm theo một giai đoạn mới Trong các thời kỳ đó, một thời kỳ
để lại nhiều dấu ấn và bước phát triển nhất cả về mặt kinh tế lẫn xã hội đó là thời kỳXuân Thu Chiến Quốc (720 TCN), Xuân Thu, thời kỳ giao thời giữa hai chế độ xã hội -giai đoạn suy vong của chế độ chiếm hữu nô lệ và sơ kỳ phong kiến đang lên Nhữngcuộc nội chiến kéo dài diễn ra Thời Xuân thu có 438 cuộc chiến phạt lẫn nhau giữa cácthế lực chính trị, đó là “ngũ bá đồ vương” sang thời Chiến quốc có “thất bá tranh hùng”.Những cuộc chiến tranh như vậy đã làm đảo lộn các thiết chế, nghi lễ truyền thống nhàChu; làm cho xã hội ở tình trạng loạn lạc, phá hoại sức sản xuất hết sức nặng nề Đươngthời, Khổng Tử đã than rằng: Vua không ra đạo vua, bề tôi không làm đúng đạo bề tôi,cha chẳng ra đạo cha, con chẳng làm đúng đạo làm con Còn Mạnh Tử thì nhận xét
“Đánh nhau tranh thành thì giết người thây chất đầy thành; đánh nhau giành đất thì giếtngười thây chất đầy đồng.” Xã hội lâm vào cảnh loạn lạc, rối ren và chiến tranh xảy raliên miên
Điều kiện lịch sử ấy đòi hỏi giải thể chế độ nô lệ thị tộc nhà Chu để xây dựng chế
độ phong kiến nhằm giải phóng lực lượng sản xuất, mở đường cho xã hội phát triển.Chính thời đại lịch sử đầy biến động với những chuyển biến lớn lao động và toàn diện đó
đã dẫn tới những thay đổi sâu sắc ở nhiều lĩnh vực kinh tế, chính trị, tư tưởng, pháp
Trang 2luật… , sự quá độ giao thời giữa hai chế độ, trong đó có trật tự lễ nghĩa, hình pháp, chuẩntắc xã hội mới hình thành còn non yếu; trước những vấn đề đã được đặt ra buộc các nhà
tư tưởng đương thời phải quan tâm, xuất hiện những trung tâm kẻ sĩ luôn tranh luận vềtrật tự xã hội cũ và đề ra những hình mẫu cho một xã hội tương lai, những người tài giỏiđương thời tìm cách lí giải, và tìm ra phương pháp để cứu đời, cứu người, “tu thần, tề gia,trị quốc, bình thiên hạ” Lịch sử gọi đây là thời kỳ "Bách gia chư tử" (trăm nhà trămthầy), "Bách gia tranh minh" (trăm nhà đua tiếng) Chính trong quá trình ấy đã sản sinh ranhững nhà tư tưởng lớn và hình thành nên các trường phái triết học khá hoàn chỉnh Thời
kỳ này đã làm nảy sinh những nhà tư tưởng lớn với các học thuyết khác nhau với mộttrăm lẻ tám nhà triết học , mười một trường phái triết học trong đó có ảnh hưởng lớn nhất
là ba phái Nho gia, Mặc gia, Đạo gia Có thể nói, Nho giáo đã phát triển qua nhiều thờiđại khác nhau và ở thời đại nào, nơi mà mình đứng chân, nó cũng đều để lại những dấu
ấn, với tư tưởng của những cây đại thụ tiêu biểu không thể không kể đến là Khổng Tử,Mạnh Tử và Tuân Tử Nhìn về lịch sử Trung Quốc cổ đại, ta thấy có một điểm khá thú vị.Tuân Tử cũng như Mạnh Tử, cả hai đều là nhân vật lịch sử, thừa kế tư tưởng, phát triểnhọc thuyết của đức thầy Khổng Tử, nhưng kết cuộc thì khác nhau về tao ngộ Nhưngtrong lịch sử Trung quốc, Mạnh Tử đã giành được một địa vị chỉ có dưới một nấc, so vớiKhổng Tử, sách của Mạnh Tử được liệt vào mười ba kinh thư, mà tầng lớp trí thức cổkim, ai nấy đều nên học hỏi theo truyền thống Còn sách của Tuân Tử thì trái lại, khôngđược người đời coi trọng, thậm chí có chỗ còn bị coi như “dị đoan” Tuy rằng các nhàNho, chính trị gia đời sau trong việc “trị quốc an dân” nói chung ít nhiều đều có vân dụngphát huy tư tưởng kinh tế - chính trị xã hội của ông.Vậy nội dung và đặc điểm tư tưởngcủa ông như thế nào, tại sao tư tưởng của ông dù lãng quên thậm chí còn không đượcngười đời coi trọng? Đó chính là nguyên nhân người viết muốn chọn đề tài này, để làm rõthêm nội dung và đặc điểm tư tưởng triết học của Tuân Tử
2 Mục đích của đề tài.
Hiểu rõ những quan điểm, tư tưởng của triết gia Tuân Tử về các vấn đề căn bảntrong triết học như bản thể luận, nhận thức luận, các vấn đề đạo đức nhân sinh Có hiểubiết nhất định về một giai đoạn phát triển của lịch sử triết học Trung Quốc
Trang 33 Phương pháp nghiên cứu đề tài
Phương pháp nghiên cứu của đề tài dựa trên nền tảng triết học Mác Lênin và tưtưởng Hồ Chí Minh, sự dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vậy lịch sử làmchủ đạo kết hợp với các phương pháp lịch sử, phương pháp phân tích và tổng hợp,phương pháp Logic, so sánh để nghiên cứu và hoàn thành
4 Đối tượng nghiên cứu của đề tài
Đề tài nghiên cứu đến các quan điểm về thế giới, cách nhận thức về thế giới củacon người, và những lý luận đạo đức, nhân sinh trong học thuyết triết học của triết giaTuân Tử thuộc trường phái triết học Nho gia của Trung Quốc
5 Ý nghĩa của đề tài:
Ý nghĩa lí luận: Nghiên cứu đề tài Triết học Tuân Tử giúp hiểu thêm về một tư
tưởng triết học lớn trong trường phái Nho Gia Trung Quốc, từ đó tìm hiểu được nhữngtiến bộ và phát triển trong lịch sử triết học phương Đông nói chung cũng như triết họcTrung Quốc nói riêng
Ý nghĩa thực tiễn: Đề tài nghiên cứu về triết học Tuân Tử có thể được sử dụng để
làm tài liệu cho các công trình nghiên cứu khác - Nghiên cứu triết học Tuân Tử để nhận
ra các tư tưởng giá trị trong về tự nhiên, xã hội và con người đối với thế giới xung quanhmình để vận dụng vào đời sống thực tế, cách đối nhân xử thế và quan hệ giữa con người
và con người
6 Kết cấu đề tài:
Tiểu luận gồm 3 phần ( phần mở đầu, phần nội dung và phần kết luận) và danhmục tài liệu tham khảo
Trang 4Phần nội dung
Chương I: Những điều kiện tiền đề, cơ sở hình thành tư tưởng triết học của Tuân Tử
1 Bối cảnh lịch sử xã hội Trung Quốc vào thời Xuân Thu –Chiến Quốc:
1.1 Điều kiện tự nhiên:
1.1.1 Địa lí
Trung Quốc là một đất nước rộng lớn và là một trong những nền văn minh nhânloại xuất hiện sớm nhất Văn minh Trung Quốc ra đời bên cạnh hai con sông lớn: phíabắc là Hoàng Hà và sông Trường Giang ở phía nam Vào khoảng thế kỉ XXI Tr.CN,Trung Hoa chỉ là một vùng lãnh thổ nhỏ ở trung lưu sông Hoàng Hà Con sông mười támkhúc này bắt nguồn ở Thanh Hải, giống như con rồng hung dữ khiến cho Lý Bạch cứtưởng như nước của nó từ trên trời đổ xuống (Hoàng hà chi thủy thiện thượng lai) Nhưngdẫu sao nó cũng tạo ra được một vùng đất màu mỡ chiếm 40% đất canh tác toàn quốc 1.1.2 Dân cư:
Tiền thân của dân tộc Trung Hoa hiện nay có nguồn gốc Mông Cổ, được gọi làHoa Hạ (hay Hoa /Hạ), sống du mục, thích săn bắn và chinh phục Còn cư dân ở phíanam Trường Giang là các dân tộc Bắc Việt, chủ yếu sống bằng nông nghiệp, định canh,định cư, có nền văn hóa riêng, nhưng sau này dần dần bị dân tộc Hán đồng hóa
1.2 Kinh tế
“Chế độ chia đất cày cho dân, chế độ "tỉnh điền" có lẽ xuất hiện từ đời Hạ, sang đời Chu được chỉnh đốn lại, mỗi miếng đất vuông vức 900 mẫu chia làm 9 phần bằng nhau, mỗi phần 100 mẫu Tám phần chung quanh chia đều cho 8 gia đình; phần ở giữa
để lại một ít làm chỗ ở cho 8 gia đình, còn bao nhiêu 8 gia đình cày cấy chung, nộp lúa cho nhà vua Hình miếng đất khi chia như vậy, giống chữ 井 nên gọi là phép tỉnh điền”(Nguyễn Hiến Lê và Giản Chi,1994,tr64).
Vào thời kì Xuân Thu với sự ra đời của đồ sắt đã thúc đẩy phát triển mạnh mẽ củanền kinh tế xã hội Ngoài ra còn tạo điều kiện cho việc khai khẩn đất đai, phát triển kĩ
Trang 5thuật canh tác “dẫn thủy nhập điền” cũng như việc sử dụng sức kéo của động vật trongnông nghiệp Thủ công nghiệp cũng rất phát triển với những tiến bộ của kĩ thuật như đúcthau, làm mộc, làm muối… Kế đó còn xuất hiện thêm nhiều nghề mới như luyện kim,đúc sắt, luyện gang thép Việc giao thương giữa các nước chư hầu cũng rất phát đạt, tiền
tệ xuất hiện cùng với tầng lớp thương nhân ngày càng lớn mạnh
Qua thời Chiến Quốc, kinh tế phát triển mạnh mẽ, nghề luyện sắt hưng thịnh , vậtdụng bằng sắt được sử dụng phổ biến và rộng rãi; thêm đồ sơn, đồ thuỷ tinh, kỹ thuật đồgốm, kỹ thuật dệt và nhuộm (có khi người ta nhuộm tới bảy màu), rất tiến bộ và người ta
đã tìm được những hợp kim để chế tạo những tấm gương soi mặt rất tốt Từ đó hàng hóa
đa dạng, nhiều chủng loại, hoạt động thương mại diễn ra rất sôi nổi Những nơi như HàmDương ở Tần, Lâm Tri ở Tề, Hàm Đan ở Triệu, Đại Lương ở Nguỵ đều là những thị trấnthương mại rất đông dân và thịnh vượng Trong xã hội đã xuất hiện nhưng lái buôn lớnchuyên đầu cơ tích trữ lũng đoạn thị trường
1.2.2 Văn hóa tư tưởng:
Vào thời kì các nước Hạ, Thương và Tây Chu, thế giới quan thần thoại, tôn giáo và chủnghĩa duy tâm thần bí thống trị trong đời sống tinh thần văn hóa và xã hội Trung Hoa lúcbấy giờ Đã có sự xuất hiện của các tư tưởng triết học, song vẫn chưa được phát triểnthành một hệ thống Nó gắn chặt thần quyền với thế quyền, lí giải sự liên hệ mật thiếtgiữa đời sống chính trị -xã hội với lĩnh vực luân lí đạo đức Lúc này đã có sự xuất hiệncủa những quan niệm duy vật có tính chất phác, ngây thơ
Đến thời kì Đông Chu hay còn gọi là Xuân Thu –Chiến Quốc, với sự phát triển sôi nổicủa xã hội đã xuất hiện các tụ điểm, những nơi tập trung các “kẻ sĩ” luận tranh luận vềnhững trật tự của xã hội cũ và đề ra những mô hình của một xã hội trong tương lai Thời
kì này được gọi là thời kì “bách gia chư tử”, làm sản sinh các nhà tư tưởng với những hệthống triết học khá hoàn chỉnh
1.2.3 Chính trị:
Trang 6Theo truyền thuyết Trung Hoa, triều đại đầu tiên là Hạ, bắt đầu từ khoảng 2070Tr.CN Tuy nhiên, triều đại này bị các sử gia cho là thần thoại cho đến các khai quật khoahọc phát hiện ra những di chỉ đầu thời kỳ đồ đồng tại Nhị Lý Đầu, Hà Nam vào năm
1959 Vẫn chưa rõ về việc liệu các di chỉ này là tàn tích của triều Hạ hoặc của một vănhóa khác cùng thời kỳ
Triều đại đầu tiên để lại các ghi chép lịch sử là Thương với thể chế phong kiếnlỏng lẻo, định cư dọc Hoàng Hà tại miền Đông Trung Quốc từ thế kỷ 17 đến thế kỷ 11Tr.CN Giáp cốt văn của triều Thương tiêu biểu cho dạng chữ viết Trung Quốc cổ nhấttừng được phát hiện, và là tổ tiên trực tiếp của chữ Hán hiện đại Triều Thương bị triềuChu chinh phục vào thế kỷ 12 Tr.CN
Quyền lực tập trung của triều Chu dần suy yếu trước các chư hầu phong kiến,nhiều quốc gia độc lập cuối cùng xuất hiện từ triều Chu và liên tục tiến hành chiến tranhvới nhau trong thời kỳ Xuân Thu kéo dài 300 năm
“Từ thế kỷ 8 Tr.CN, trước sức ép của các bộ tộc phía tây thường xuyên tấn công
và cướp bóc, nhà Chu đã bỏ kinh đô phía tây để chuyển sang phía đông ở châu thổ Hoàng Hà Nhà Chu đã nhờ cậy các vương hầu của mình bảo vệ trước sự tấn công của các bộ lạc, nhân cơ hội nhà Chu suy yếu các vương hầu đã lần lượt tiêu diệt các đối thủ nhỏ hơn Cuối cùng, còn lại vài chục nước, trong đó các chư hầu mạnh nhất lần lượt nổi lên tranh ngôi bá chủ Trung Quốc là Tề,Tấn, Sở, Tần, Tống, Ngô, Việt Trên danh nghĩa nhà Chu nắm thiên mệnh, nhưng thực sự quyền lực nằm trong tay các chư hầu”
Đến thời Chiến Quốc trong thế kỷ 5–3 Tr.CN, “thời đại này xảy ra vì sự cân bằng mong manh giữa các nước chư hầu biến thành hỗn loạn trong một thế kỷ và vì một phần ở sự kết thúc thời đại cai trị của nhà Chu Các liên minh dễ thay đổi và thường bị tan rã khi các nước lớn bắt đầu xâm chiếm và sáp nhập các nước nhỏ hơn Bắt đầu từ thế kỷ 4 Tr.CN, chỉ tám hay chín nước lớn còn sót lại Tất cả các
Trang 7cuộc xung đột thời Chiến quốc đều có mục đích tìm kiếm kẻ có thể kiểm soát toàn
bộ Trung Quốc”
1.2.4 Xã hội:
Nhà Hạ mở màn cho chế độ chiếm hữu nô lệ Chế độ này được chia làm hai thờikì: Thời kì hình thành và phát triển (từ thế kỉ 21 -770 TCN), thời kì suy vong (770 -476TCN) Sau thời kì chiếm hữu nô lệ là sự giao hòa và chuyển sang chế độ phong kiến
“từ chế độ tông tộc chuyển sang chế độ gia trưởng, giá trị tư tưởng, đạo đức của
xã hội cũ bị bang hoại, những giá trị tư tưởng, đạo đức mới còn manh nha và đang trên con đường xác lập”(PGS TS Doãn Chính,2015,tr234)
2.Tiền đề lí luận hình thành tư tưởng triết học Tuân tử:
Thời Xuân Thu –Chiến Quốc, chiến tranh loan lạc liên miên, nhân dân rơi vàocảnh lầm than, sự suy đồi đạo đức của xã hội Trung Quốc bấy giờ đã thúc đẩy phát triểncác học thuyết Trải qua các thời kì, lần lượt các tư tưởng khác nhau đã ra đời Vào cuốithời Chiến Quốc, nổi lên có Tuân Tử một nhà triết học mang những tư tưởng vượt bậc,cách xa thời đại lúc bấy giờ Tư tưởng của ông được nhận định rằng “ hấp thụ triết lí tựnhiên của Lão – Trang, lấy tư tưởng chính trị nhân bản của Mạnh tử, xuyên suốt họcthuyết của mình, có duy vật, có duy tâm song Tuân Tử đã thể hiện lòng trung thành vớiluân lí chính trị của người đã sáng lập ra Nho gia”(Nguyễn Đăng Thục,1991,tr269) Vào thời này, Tuân tử, Nho giáo, Lão giáo và Mặc gia đều thịnh hành; các trường pháitriết học nở rộ, vừa kế thừa tư tưởng của nhau, vừa phê phán , công kích nhau từ nhiềuphía Tuân tử là người theo học thuyết của Khổng tử, đề cao “nhân nghĩa”, “lễ nhạc”, chủtrương “chính danh”, trọng vương khinh bá , nhưng tư tưởng của ông lại tương phảnvới Khổng tử và Mạnh tử cả về thế giới quan cũng như những triết lý về đạo đức, chínhtrị
Tuy có sự kế thừa là thế nhưng ông cũng có những quan điểm và lập luận củariêng mình
Trang 8Chương 2: Nội dung tư tưởng triết học Tuân Tử
Khi nghiên cứu về Tuân Tử, ta phải chú ý tới sự quan hệ của ông với các nhà tưtưởng đương thời Trong sách của ông có nhiều phê bình các nhà tư tưởng và có nhiềugiá trị
Trong thiên Thiên luận có nói “ Thận Tử có thấy được việc sau, không thấy đượcviệc trước Lão Tử có thấy được lẽ co lại, không thấy được lẽ duỗi ra Mặc Tử thấy đượccái đầy đủ, không thấy được cái vụn vặt Tống Tử thấy được cái ít, không thấy được cáinhiều Có việc sau mà không có việc trước ắt quần chúng không có cửa mà ra vào Có colại mà không có duỗi ra ắt sang hèn không phân biệt Có cái đầy đủ mà không có cái vụnvặt ắt chính lệnh không thi thố Có cái ít mà không có cái nhiều ắt quần chúng khônghóa”
“Huệ Tử bị che lấp bởi từng chương mà không biết đến thực dụng Trang Tử bịche lấp bởi trời mà không biết đến người Chỉ theo cái dụng mà thôi thì dạo trongthiên hạ sẽ dừng ở sự ích lợi vậy Chỉ theo lòng dục mà thôi thì đạo trong thiên hạ
sẽ dừng ở sự khoái cảm vậy Chỉ theo pháp luật mà thì đạo tong thiên hạ sẽ dừng ởthuật số vậy Chỉ theo quyền thế mà thôi thì đạo trong thiên hạ sẽ dừng ở sự tiệnlợi vậy Chỉ theo từng chương mà thôi thì đạo trong thiên hạ sẽ dừng ở sự biệnluận vậy Chỉ theo trời mà thôi thì đạo trong thiện hạ sẽ dừng cả ở nguyên nhânvậy”(Hồ Thích,tr448)
Qua đó ta thấy học vấn của Tuân Tử rất uyên bác, ông từng nghiên cứu các họcthuyết đồng thời của các nhà Cũng vì có học thức rộng lớn đó ông đã tách mình khỏiNho gia hình thành một phái khác
“Tuân Tử (315 tr.CN – 238 tr.CN), tên Huống, tự là Khanh người nước Triệu,làmviệc cho Tề Vương Vương Thời Tuân Tử, Nho giáo, Lão giáo và Mặc gia điều ;các trường phái nở rộ vừa kế thừa tư tưởng vủa nhau, vừa công kích nhau từ nhiềuphía Tuân tử là người theo học thuyết Khổng Tử đề cao “nhân nghĩa”,”lễ nhạc”chủ trương “chính danh” trọng vương khinh bá” (Doãn Chính,2015,tr349),thịnh
Trang 9hành Tuân Tử chính là thầy của thừa tương nhà Tần là Lý Tư Ông vừa là quantrong triều đình vừa dạy học và viết sách Tác phẩm chính của ông là bộ Tuân Tửgồm 32 thiên Trong tác phẩm đó, ông trình bày toàn bộ quan điểm triết học củamình phần lớn bằng những câu chuyện ngụ ngôn, hay những lời nói mang tínhgiáo huấn
1 Thế giới quan:
Tuân Tử đặt vấn đề về mối quan hệ giữa trời và người, mệnh đề: “Trời và người có
sự phân biệt”, là một nội dung quan trọng nhất trong tư tưởng triết học của Tuân tử Ôngphản bác lối lập luận duy tâm thần bí vầ mối quan hệ giữa trời và người của các nhà tưtưởng khác
Tuân Tử đã phê bình triết học Trang Tử, ông cho rằng Trang Tử qúa chú trọng vềđạo trời nên mới sinh ra chủ nghĩa an mệnh, chủ nghĩa thủ cựu Ông đã phản đối kịchliệt: “ chỉ có thánh nhân là không cần biết trời” (Thiên luận) ”Cho nên người quân tửkính cái ở mình mà không mộ cái ở trời Kẻ tiểu nhân bỏ cái ở mình mà mộ cái ở trời.Người quân tử kính cái ở mình mà không mộ cái ở trời cho nên ngày một tiến bộ Kẻ tiểunhân bỏ cái ở mình mà mộ cái ở trời cho nên ngày một thoái bộ” (Thiên luận) “
Trời là tự nhiên: Tuân Tử gạt bỏ tín ngưỡng truyền thống xem trời là chủ tể tốicao, có lý trí, có ý chí và tình cảm, tận thiện và toàn năng Ông chấp nhận trời là gốc của
sự sống, nhưng không tin trời như một tồn tại siêu nhiên Đối với ông, trời chỉ là tự nhiên– một thế lực ngang hàng với đất và người, một sự vận hành theo phép tắc tự nhiên, vĩnhcửu và thường hằng bất biến
Trong Thiên luận ông cho rằng: “Trời hoạt động theo bình thường không vì vuaNghiêu mà để cho còn, không vì vua Kiệt mà làm cho mất” Ông lại nói: “Không phảingười ta ghét giá lạnh mà trời bỏ mùa đông, không phải người ta ngại xa xôi mà đất rúthẹp bề mặt lại”
Từ đó ông đi đến khẳng định, trời không thể quyết định được vận mệnh của conngười Việc trị hay loạn, lành hay dữ là do con người làm ra chứ không phải tại trời Đây
là tư tưởng biểu hiện rõ nét tính chất duy vật và vô thần trong triết học của ông
Trang 10Đạo trời là đạo trời, đạo người là đạo người: “Cái đạo thường của trời đất ấy không liên quan gì đến đạo của người”(Nguyễn Hiếu Lê – Giản Chi,1994,tr20) “Gọi là đạo, không
phải là cái đạo của trời, không phải là cái đạo của đất, mà là cái đạo do người đặt ra”(Thiên luận)
Ông cho rằng, trời có thiên chức của trời, người có thiên chức của người Ngườiquân tử, bậc chí nhân là người hiểu đạo trời, không ỷ lại ở trời, không phụ thuộc vào trời
mà lo làm tốt việc của người Theo ông, “Trời có bốn mùa, đất có sản vật, người có văntự” (Thiên luận) Thiên chức của trời, đất là toàn bộ sự sinh thành , biến hóa của các sựvật trong tự nhiên như sự chiếu sáng của mặt trời, mặt trăng; sự chuyển động của các vìtinh tú; sự vận hành của bốn mùa Đó là những cái không làm mà nên, không cầu màđược Thiên chức của con người là luôn luôn nghĩ về đạo của mình, đừng tranh thiênchức của trời; và biết phục tùng đạo trời, biết dùng những cái trời đất đã tạo ra phục vụcho cuộc sống của mình “Trời sinh ra người quân tử, người quân tử sửa trị trời đất ( )Không có người quân tử thì trời đất không được sửa, lễ nghĩa không có đầu mối” (Vươngchế) “Trời có thời của trời, đất có tài sản của đất, người có việc của người, ấy gọi là cóthể ngang với trời đất Bỏ cái mình có thể ngang với trời đất, mà chỉ muốn ngang với trờiđất thì lầm vậy” (Thiên luận)
Quan điểm này tiến lên một bước nữa khi ông “đề ra học thuyết con người có thể cải tạo được tự nhiên, cho rằng con người không thể chờ đợi tự nhiên ban phát một cách
bị động phải vận dụng tài trí, khả năng của mình, dựa vào quy luật của tự nhiên mà sáng tạo ra nhiều của cải, sản vật để phục vụ đời sống của con người Ông chủ trương sửa trị việc nước, giáo hóa đạo đức, lễ nghĩa làm cho xã hội tiến bộ văn minh hơn Đó là chức năng của con người – có thể sánh ngang với Trời đất vậy”(Doãn Chính,2015,tr353)
Theo Tuân Tử “Sao mà sa, cây mà kêu, đó là cái biến hóa của trời đất âm dương,
là sự ít khi xảy ra của vạn vật, cho là quái lạ thì nên, mà lo sợ thì không nên” (Thiênluận) Ngay cả “Mặt trời, mặt trăng cũng có khi ăn lẫn nhau, mưa gió cũng có khi khônghợp thời, những ngôi sao lạ cũng có khi xuất hiện từng chùm, những cái đó không thờinào mà không thấy” (Thiên luận) Những việc do con người làm ra như “ chính trị hiểm
Trang 11ác mất lòng dân, đất đai bỏ hoang không cày cấy, gạo đắt dân đói, chiến tranh loạn lạc,thây chết đầy đường, lễ nghĩa không sửa, trong ngoài trên dưới không phân biệt, trai gáidâm loạn, cha con nghi nhau, vợ chồng lìa nhau mới là quái gở, đáng sợ và là thâm họanhất” (Thiên luận)
Ông quả quyết rằng quỷ thần không chi phối được vận mệnh con người Trờikhông làm hại cũng không cứu giúp được con người Trong cuộc sống của mình, sựthành công hay thất bại của con người phụ thuộc vào việc con người hành động thuậnhay trái với lẽ tự nhiên Với tư tưởng này ông xứng đáng là nhà vô thần vĩ đại của TrungQuốc cổ đại Ngoài ra trong quan niệm về vũ trụ, khi giải thích về tự nhiên ông còn đưa
ra học thuyết về “khí” và cho rằng khí là nhân tố vật chất cấu tạo nên vạn vật, đồng thờiông phân biệt sự khác nhau của vật chất vô cơ, thực vật, động vật và loài người
Ông nhận thấy: nước, lửa có khí nhưng không có sinh mệnh; cây cỏ có sinh mệnhnhưng không có tri giác; cầm thú có tri giác nhưng không có luân thường đạo lý và tổchức xã hội; còn loài người có tất cả: có khí, có sinh mệnh, có tri giác, có khuôn phép và
có cả kỷ cương nề nếp Chính vì vậy con người được coi là sản phẩm cao nhất của tựnhiên
Có thể nói thế giới quan của Tuân Tử là bước tiến rõ rệt trong triết học Nho gia
Dù vẫn nói đến trời, đất trong học thuyết của mình song Tuân Tử thể hiện rõ nét tư tưởngduy vật và đạo trời của ông là cái gì rất gần gũi với các quy luật khách quan Phủ nhậnthuyết thiên mệnh, phân biệt thiên chức của các bộ phận trong vũ trụ, Tuân Tử đã đứng
về chủ nghĩa vô thần và đưa ý hức con người từ hướng về một thế giới siêu nhiên đếnhướng về chính bản thân mình Và cũng chính trong quan điểm về thế giới, ta thấy Tuân
Tử là nhà triết học duy vật triệt để
2 Nhận thức luận:
2.1.Mối quan hệ giữa “tâm” và “thiên quan”:
Khi trình bày về nhận thức luận, Tuân Tử đã thể hiện lập trường duy vật về nhậnthức, khi cho rằng con người có khả năng nhận thức về thế giới giới vạn vật cũng nhưcác quy luật của thế giới