Quan điểm của Hồ Chí Minh về vai trò của thanh niên và tầm quan trọng của việc xây dựng ý thức tự phê bình và phê bình cho thanh niên...10 1.2.1.. Quan điểm của Hồ Chí Minh về xây dựng ý
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tổng quan về nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 5
5 Cơ sở lý luận và Phương pháp nghiên cứu 6
6 Đóng góp của đề tài 8
7 Kết cấu của đề tài 8
CHƯƠNG 1 TƯ TƯỞNG CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ XÂY DỰNG Ý THỨC TỰ PHÊ BÌNH VÀ PHÊ BÌNH TRONG THANH NIÊN 9
1.1.Ý thức tự phê bình và phê bình 9
1.2 Quan điểm của Hồ Chí Minh về vai trò của thanh niên và tầm quan trọng của việc xây dựng ý thức tự phê bình và phê bình cho thanh niên 10
1.2.1 Vai trò của thanh niên trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta 10
1.2.2 Quan điểm của Hồ Chí Minh về xây dựng ý thức tự phê bình và phê bình trong thanh niên để nâng cao đạo đức cách mạng 15
1.3 Quan điểm của Hồ Chí Minh về nội dung và phương pháp xây dựng ý thức phê bình và tự phê bình 18
Tiểu kết chương 1 27
CHƯƠNG 2 VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH TRONG VIỆC XÂY DỰNG Ý THỨC TỰ PHÊ BÌNH VÀ PHÊ BÌNH CHO SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÀI GÒN 29
2.1 Thực trạng về ý thức tự phê bình và phê bình trong sinh viên Đại học Sài Gòn trong giai đoạn hiện nay 29
2.1.1 Vài nét về sinh viên trường Đại học Sài Gòn 29
2.1.2 Ý thức tự phê bình và phê bình trong sinh viên Đại học Sài Gòn trong giai đoạn hiện nay 29
2.2 Nguyên nhân ảnh hưởng đến việc xây dựng ý thức tự phê bình và phê bình trong sinh viên Đại học Sài Gòn 44
2.2.1 Nguyên nhân khách quan 47
2.2.1.1 Xã hội 47
2.2.1.2 Nhà trường 48
Trang 22.2.1.3 Tổ chức Đoàn – Hội 53
2.1.1.4 Nguyên nhân khác 54
2.2.2 Nguyên nhân chủ quan 55
Tiểu kết chương 2 56
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP VỀ XÂY DỰNG Ý THỨC TỰ PHÊ BÌNH VÀ PHÊ BÌNH TRONG SINH VIÊN ĐẠI HỌC SÀI GÒN 58
3.1 Phương hướng xây dựng ý thức tự phê bình và phê bình 58
3.2 Giải pháp xây dựng ý thức tự phê bình và phê bình trong sinh viên Đại học Sài Gòn 60
3.2.1 Nhóm giải pháp đối với xã hội 62
3.2.2 Nhóm giải pháp đối với nhà trường 66
3.2.3 Nhóm giải pháp đối với tổ chức đoàn thể (Tổ chức Đoàn – Hội) 71
3.2.4 Nhóm giải pháp đối với bản thân mỗi sinh viên 78
3.2.5 Những giải pháp khác 79
Tiểu kết chương 3 80
KẾT LUẬN 81
TÀI LIỆU THAM KHẢO 85
PHỤ LỤC 89
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Sinh thời, chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói:
“Dao có mài, mới sắcVàng có thui, mới trongNước có lọc, mới sạchNgười có tự phê bình, mới tiến bộ Đảng cũng thế” 1
Theo Người, bản thân chúng ta ai cũng có ưu và khuyết điểm Muốn tiến bộ, mỗingười cần phải thật thà tự phê bình và tìm cách khắc phục những hạn chế, khuyếtđiểm Song đó, chúng ta cũng cần phải phê bình người khác, giúp họ thấy được ưuđiểm mà phát huy, khuyết điểm mà khắc phục Phê bình và tự phê bình luôn song hànhvới nhau Có phê bình và tự phê bình, chúng ta mới hoàn thiện, vươn tới chân, thiện,
mỹ Qua đó còn thể hiện sự đồng lòng, thống nhất ý kiến giữa những cá nhân trongmột tập thể, nhất là trong Đảng
Trong suốt chiều dài lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước, trải qua các cuộcđấu tranh khó khăn, gian khổ, có lúc đất nước ở tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”, bị bọnthực dân khủng bố gắt gao trong những năm hoạt động bí mật, nhưng Đảng ta vẫnngày càng phát triển mạnh mẽ và lãnh đạo nhân dân làm cách mạng thành công, khángchiến thắng lợi Để đạt được thành quả đó, theo Người: “Đảng ta đã khéo dùng cái vũkhí sắc bén phê bình và tự phê bình”2 Chính vũ khí sắc bén này đã giúp ta củng cố,xây dựng được khối đại đoàn kết dân tộc, tạo sự thống nhất trong mọi hành động, gópphần đưa đất nước thoát khỏi áp bức, bóc lột trở thành một nước tự do, độc lập
Ngày nay, trong công cuộc đổi mới đất nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng theo conđường xã hội chủ nghĩa, nước ta dần chuyển mình và đạt được nhiều thành tựu to lớn,khẳng định được vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng cao Bên cạnhnhững cơ hội, thuận lợi để khẳng định mình, nước ta cũng có nhiều nguy cơ và thách
1 Hồ Chí Minh toàn tập: tập 7, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, trang 80.
Trang 4thức đe dọa đến nền hòa bình quốc gia, dân tộc Vì vậy, mỗi cá nhân cần phải học tập,phấn đấu và rèn luyện tư tưởng đạo đức hơn nữa Mỗi Đảng viên cần phải thấm nhuầnđạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao ý thức phê bình và tự phêbình trong Đảng Kế thừa những nhiệm vụ, giải pháp của Đại hội XI, Đại hội XII nêu
rõ trong công tác xây dựng Đảng về chính trị: “Kiên định những vấn đề có tính nguyêntắc trong công tác xây dựng Đảng Nâng cao năng lực cầm quyền của Đảng có hiệulực, hiệu quả; giữ vững bản lĩnh chính trị của Đảng, của các tổ chức Đảng, của cán bộ,đảng viên Hoàn thiện cơ chế, quy chế và tổ chức thực hiện nghiêm túc, có hiệu quảviệc tự phê bình, phê bình, chất vấn trong các kỳ họp của Ban chấp hành Trung ương,cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy các cấp Xây dựng và tổ chức thực hiện có hiệu quả cơchế phát huy vai trò của nhân dân tham gia xây dựng Đảng”
Hiện nay, ý thức phê bình và tự phê bình đang là một vấn đề đáng quan tâm khôngchỉ trong Đảng, mà còn trong môi trường học đường, nhất là đối với sinh viên cáctrường Đại học, Cao đẳng Sinh viên – những người chủ tương lai của đất nước và làthế hệ trẻ đang được ươm mầm bởi sự giáo dục và rèn luyện tư tưởng đạo đức cáchmạng Họ là những người kế thừa vừa “hồng” vừa “chuyên”, tiếp thu và phát huynhững thành công của cha ông ta đi trước, xây dựng đất nước ngày một giàu mạnhhơn Muốn làm được như vậy, trước hết mỗi sinh viên cần phải có ý thức phê bình và
tự phê bình để nhận thấy được những ưu và khuyết điểm của mình cũng như của ngườikhác Qua đó ngày một hoàn thiện bản thân mình hơn Tuy nhiên thực tế hiện nay,sinh viên nói chung và sinh viên trường Đại học Sài Gòn nói riêng chưa có ý thức phêbình và tự phê bình trong học tập, trong tham gia các hoạt động của nhà trường Điềunày làm cho mỗi sinh viên ngay khi còn ngồi trên giảng đường chưa thấy được nhữngđiểm mạnh, điểm yếu của mình, chưa phát huy được tối đa trí tuệ, năng lực của bảnthân cũng như sự thống nhất, đoàn kết giữa mọi người nhất là trong bối cảnh hội nhậpđất nước
Thế nhưng, hiện nay chưa có một nghiên cứu nào về việc xây dựng ý thức phê bình
và tự phê bình trong sinh viên Vì vậy, tôi thực hiện đề tài “Xây dựng ý thức tự phêbình và phê bình trong sinh viên Đại học Sài Gòn theo tư tưởng Hồ Chí Minh”
Trang 52 Tổng quan về nghiên cứu
Sinh viên chính là thế hệ trẻ tương lai của đất nước, là những thanh niên năngđộng, sáng tạo, luôn phải học hỏi, phấn đấu rèn luyện để nâng cao cả “tài” và “đức”.Trong bối cảnh hiện nay, điều đó càng hết sức cần thiết hơn nữa Để làm được nhưvậy, mỗi sinh viên cần phải có ý thức phê bình và tự phê bình, nhất là trong môitrường học đường
Các công trình nghiên cứu về ý thức tự phê bình và phê bình như:
Trong tạp chí Xây dựng Đảng, các tác giả Bùi Thị Oanh, Lương Thị Tâm Uyên
đã viết “Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, tự phê bình và phê bình là quy luật phát triển củaĐảng; là một nguyên tắc, nội dung sinh hoạt chi bộ; là vũ khí sắc bén để xây dựng chi
bộ luôn trong sạch, vững mạnh Thực hiện tự phê bình và phê bình thông qua sinh hoạtchi bộ hằng tháng là một giải pháp quan trọng để nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ,sửa đổi lối làm việc, lối sống, nếp sống, ý thức tổ chức, kỉ luật của mỗi cán bộ, đảngviên” Bài viết đã nói lên tầm quan trọng của phê bình và tự phê bình, giải pháp đểthực hiện có hiệu quả Tuy nhiên bài viết chủ yếu nói về tự phê bình và phê bình trongsinh hoạt Đảng, chứ không đi vào đối tượng sinh viên
Theo tác giả Phạm Thị Tươi: “ Bản thân tôi nhận thấy Đoàn viên, thanh niên lànhững người đang mang trong mình bầu nhiệt huyết, sức sống của tuổi trẻ, là thế hệđầy “hăng hái, kiên cường”, “thanh niên là người tiếp sức cách mạng cho thế hệ thanhniên già, đồng thời là người phụ trách dìu dắt thế hệ thanh niên tương lai” Nhưng ở họcũng thiếu sự từng trải, thiếu kinh nghiệm cuộc sống những thói quen làm việc chưađược hình thành một cách ổn định, vì vậy khi được đóng góp chân thành họ rất dễ tiếpthu và sửa chữa khuyết điểm của mình Thực tế, lòng dũng cảm không phải bao giờcũng gắn với những hành động mạnh mẽ, những lời nói hùng hồn mà đôi khi đó lại lànhững gì nhẹ nhàng hơn rất nhiều Vì vậy, nếu công tác tự phê bình và phê bình thựchiện tốt thì không những hiệu quả làm việc của Ban Chấp Hành được nâng cao mà mỗicán bộ đoàn cũng sẽ tích luỹ cho mình một vốn kinh nghiệm nhất định, phục vụ choviệc thao tác kỹ năng nghề nghiệp góp phần xây dựng Đoàn - Đảng cũng như đất nước
ta ngày một phát triển vững mạnh hơn, giàu đẹp hơn nữa.” Tác giả đã thấy được sự
Trang 6cần thiết việc thực hiện phê bình và tự phê bình ở đối tượng Đoàn viên thanh niên nóichung Mà mỗi sinh viên lại là một Đoàn viên thanh niên - những người chủ tương laicủa đất nước
Theo tác giả Lê Thị Hồng Thủy (48A, khoa Giáo dục Chính trị - Đại học Vinh)trong bài viết có nhan đề “Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về tự phê bình và phê bìnhđối với sinh viên trong giai đoạn hiện nay” Tác giả có viết “Chủ tịch Hồ Chí Minh đãtừng nói: “Một dân tộc, một Đảng, mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấpdẫn lớn không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và cangợi; nếu lòng dạ không còn trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân” Tư tưởng
đó của Người vừa như là một lời cảnh báo với những ai đang quên đi việc hoàn thiệnmình, vừa như là một ánh sáng soi đường cho những ai muốn vượt qua chính mình.Giữ cho lòng dạ luôn trong sáng, tránh sa vào chủ nghĩa cá nhân không còn cách nàokhác là tự nhận thức về mình một cách đúng đắn, tự điều chỉnh cho phù hợp với nhũngchuẩn mực, giá trị của xã hội Có một con đường để thực hiện điều đó là việc: Tự phêbình” Ở bài viết này, tác giả đã trình bày rõ quan điểm của mình trong việc vận dụng
tư tưởng Hồ Chí Minh về tự phê bình, nhưng lại chưa đi sâu về khía cạnh phê bình,chưa thấy được tầm quan trọng của phê bình đối với sinh viên trong giai đoạn hiệnnay
Trong luận văn “Tư tưởng Hồ Chí Minh về tự phê bình, phê bình và ý nghĩacủa nó đối với việc tu dưỡng đạo đức cách mạng của cán bộ Đảng viên hiệnnay”củaTh.S Đỗ Thị Thanh Nga, tác giả đã trình bày được quan điểm của Hồ ChíMinh về khái niệm, mục đích, nội dung cũng như phương pháp thực hiện tự phê bình
và phê bình nhằm làm rõ ý nghĩa của nó đối với việc tu dưỡng đạo đức cách mạng củacon người Qua đó, tác giả đã tìm hiểu về thực trạng tự phê bình và phê bình trong cán
bộ Đảng viên ở Việt Nam hiện nay và đưa ra những giải pháp nhằm phát huy công tác
tự phê bình và phê bình trong cán bộ đảng viên Tuy nhiên luận văn chỉ quan tâm đếnđối tượng là cán bộ Đảng viên hiện nay
Trong đề tài nghiên cứu khoa học, nhan đề: “Vấn đề giáo dục đạo đức mới chosinh viên Việt Nam hiện nay”, Th.S Nguyễn Thị Thủy đã đề cao vai trò của sự tu
Trang 7dưỡng của bản thân trong việc giáo dục đạo đức cho sinh viên hiện nay “Đạo đức mớichỉ được hình thành trên cơ sở sự tự giác tu dưỡng của mỗi sinh viên Nó đòi hỏi mỗingười phải tự giác rèn luyện thông qua hoạt động thực tiễn, học tập, trong các mốiquan hệ của mình, không tự lừa dối; phải thấy rõ cái hay, cái tốt, cái thiện cũng như cáichưa tốt, cái xấu, cái ác của mình để khắc phục” Ở đây tác giả đã thấy được tầm quantrọng của tự phê bình trong việc giáo dục đạo đức thông qua việc bản thân mỗi sinhviên nhận thấy rõ ưu và khuyết điểm của mình, nhưng chưa thấy được việc phê bìnhcũng ảnh hưởng không kém trong việc hình thành, rèn luyện nhân cách mỗi người.
Ngoài ra, còn nhiều tác phẩm khác như: Tác phẩm “Đảng, Bác Hồ về tự phêbình và phê bình” do Bộ phận thường trực Ban chỉ đạo Trung ương phối hợp với Cụclưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng sưu tầm và tuyển chọn [9] Công trình này đãphản ánh quan điểm của Hồ Chí Minh về tự phê bình và phê bình, cũng như là cuộctriển khai công tác thực hiện và công tác đánh giá tổng kết về tự phê bình và phê bìnhtrong nội bộ Đảng; tác phẩm “Về tự phê bình và phê bình” của NXB Sự thật, Hà Nội[50] Tác phẩm đã trích dẫn nguyên văn những bài viết của chủ tịch Hồ Chí Minh về
tự tự phê bình và phê bình; tác phẩm “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủnghĩa cá nhân” do Hồng Lam và Ngọc Quỳnh tuyển chọn những bài viết về phê bình
và tự phê bình ở những phần cuối [18]
Hay những bài báo: “Cần đánh giá đúng thực chất tự phê bình và phê bình đãqua” của Nguyễn Thanh Liêm [17], bài “Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về tự phêbình và phê bình trong xây dựng và chỉnh đốn Đảng của Phan Huy Kỳ [15], bài “Tưtưởng Hồ Chí Minh về phê bình và tự phê bình” của Bùi Công Trang [52]
Như vậy, cho đến nay, có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề phê bình và tựphê bình theo tư tưởng Hồ Chí Minh, tuy nhiên chưa có công trình nào đi sâu nghiêncứu về vấn đề xây dựng ý thức tự phê bình và phê bình trong sinh viên Do đó, tôi đãchọn nghiên cứu đề tài: “Xây dựng ý thức tự phê bình và phê bình trong sinh viên Đạihọc Sài Gòn theo tư tưởng Hồ Chí Minh”
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Trang 8Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là ý thức tự phê bình và phê bình của sinh viêntrường Đại học Sài Gòn.
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, khóa luận tập trung giải quyết những nhiệm vụ cụthể sau đây:
Một là, phân tích và đáng giá đúng thực trạng ý thức tự phê bình và phê bình
của sinh viên trường Đại học Sài Gòn
Hai là, vận dụng quan điểm của Hồ Chí Minh về tự phê bình và phê bình, đề
xuất những giải pháp nhằm xây dựng ý thức tự phê bình và phê bình cho sinh viêntrường Đại học Sài Gòn Từ đó hoàn thiện nhân cách sinh viên, giúp sinh viên trởthành những công dân đầy đủ năng lực và phẩm chất, có ích cho xã hội
5 Cơ sở lý luận và Phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lê Nin, đường lối, chủtrương của Đảng, Nghị quyết 04 của Đảng về xây dựng chỉnh đốn đảng trong đó Đảngnhấn mạnh nguyên tắc: tự phê bình và phê bình, các quan điểm, tư tưởng của Chủ tịch
Hồ Chí Minh về phê bình và tự phê bình, văn kiện Đại hội Đoàn Thanh niên cộng sản
Hồ Chí Minh lần X
Kết quả nghiên cứu của những tác giả khác về xây dựng ý thức tự phê bình và
Trang 9phê bình
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Để phục vụ cho việc nghiên cứu, tôi đã sử dụng tổng hợp hệ thống các phươngpháp sau đây:
Phương pháp nghiên cứu lý thuyết.
Thông qua phương pháp này, tác giả thu thập thông tin từ các nguồn tài liệukhác nhau về phê bình và tự phê bình như: văn bản, các bài báo, Nghị quyết các Đạihội Từ đó, tác giả nghiên cứu và phân tích các tài liệu; hệ thống hóa các quan điểm,học thuyết khác nhau của vấn đề nghiên cứu rồi trình bày quan điểm của bản thân
Phương pháp phân tích – tổng hợp lý thuyết
Phương pháp phân tích mà tác giả sử dụng ở đây là phương pháp nghiên cứucác văn bản, tài liệu có nguồn gốc khác nhau về tự phê bình và phê bình bằng cáchchia nhỏ thành từng bộ phận nhỏ, thành từng giai đoạn theo thời gian, từng chủ đề đểhiểu rõ hơn về quan điểm tự phê bình và phê bình theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Phương pháp tổng hợp là phương pháp mà tác giả dùng liên kết các mặt, các bộphận khác nhau từ những lí thuyết thông tin thu thập được để xây dựng một hệ thống
lý thuyết mới, những yếu tố ảnh hưởng đến đến vấn đề tự phê bình và phê bình,
Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi.
Đưa ra giả thuyết và các vấn đề cần được giải quyết trong từng phần của khóaluận Sau đó các định những câu hỏi và thiết kế bảng hỏi Sau khi thiết kế bảng hỏi tiếnhành khảo sát thử vài mẫu xem có phù hợp với sinh viên không Sau đó đưa ra bảnghỏi chính thức và tiến hành khảo sát
Phương pháp nghiên cứu định tính
+ Phỏng vấn giảng viên dạy Tư tưởng Hồ Chí Minh, cán bộ Đoàn – Hội … đểđưa ra bảng hỏi;
+ Phỏng vấn sinh viên Trường Đại học Sài Gòn, sau đó đưa ra được bảng hỏi
Phương pháp nghiên cứu định lượng
+ Phương pháp chọn mẫu và cỡ mẫu:
Trang 10Chọn quần thể nghiên cứu: chủ định chọn là sinh viên Trường Đại học Sài Gòn;Chọn cỡ mẫu nghiên cứu: cỡ mẫu quan sát dựa trên công thức đơn giản củaTaro Yamane (2012) Do số lượng sinh viên Trường Đại học Sài Gòn lớn hơn 5.000người nên tác giả sử dụng công thức tính kích cỡ mẫu tối thiểu là lớn nhất với p = q =0.5
Trong đó:
n: Số lượng quan sát mẫu cần xác định cho nghiên cứu điều tra
Z: Giá trị biến thiên chuẩn ứng với độ tin cậy P= 0.95
Khóa luận góp phần làm hoàn chỉnh và sâu sắc thêm luận cứ khoa học về nội dung
tư tưởng Hồ Chí Minh chỉ dẫn về nguyên tắc, cách thức tự phê bình và phê bình trongviệc xây dựng đạo đức cho con người để từ đó vận dụng và đề xuất một số những biệnpháp nhằm nâng cao ý thức phê bình và tự phê bình trong sinh viên trường Đại học SàiGòn
7 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và mục lục, đề tài được kết cấuthành 3 chương:
+ Chương 1: Tư tưởng của Hồ Chí Minh về xây dựng ý thức tự phê bình và phê
Trang 11bình trong thanh niên.
+ Chương 2: Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong việc xây dựng ý thức tựphê bình và phê bình cho sinh viên trường Đại học Sài Gòn
+ Chương 3: Giải pháp về xây dựng ý thức tự phê bình và phê bình trong sinhviên Đại học Sài Gòn
Trang 12CHƯƠNG 1: TƯ TƯỞNG CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ XÂY DỰNG Ý THỨC TỰ PHÊ BÌNH VÀ PHÊ BÌNH TRONG THANH NIÊN
sự chi phối không chỉ của các quy luật tự nhiên mà còn là chủ yếu lấy của các quy luật
xã hội, được quy định bởi nhu cầu giao tiếp xã hội và các điều kiện sinh hoạt hiện thựccủa đời sống xã hội Với tính năng động, ý thức đã sáng tạo lại hiện thực theo nhu cầucủa thực tiễn xã hội” [7, 53]
Theo Tâm lí học, “ý thức là hình thức phản ánh tâm lí cao nhất riêng con ngườimới có, phản ánh bằng ngôn ngữ, là khả năng con người hiểu được các tri thức (hiểubiết) mà con người đã tiếp thu được (Là tri thức về tri thức, phản ánh của phản ánh)”[53, 60] “Theo đó:
+ Ý thức thể hiện năng lực nhận thức cao nhất của con người về thế giới Đóchính là nhận thức cái bản chất, nhận thức khái quát bằng ngôn ngữ, dự kiến trước kếhoạch hành vi, kết quả của nó, làm cho hành vi mang tính có chủ định
+ Ý thức thể hiện thái độ của con người đối với thế giới
+ Ý thức thể hiện năng lực điều khiển, điều chỉnh hành vi của con người Trên
cơ sở nhận thức bản chất khái quát và tỏ rõ thái độ với thế giới, ý thức điều khiển, điềuchỉnh hành vi của con người đạt tới mục đích đã đề ra Vì thế ý thức có khả năng sángtạo” [53, 61]
Cấu trúc của ý thức
Trang 13Ý thức là một cấu trúc tâm lí phức tạp bao gồm ba mặt thống nhất hữu cơ vớinhau, điều khiển hoạt động có ý thức của con người.
Mặt thái độ của ý thức: nói lên thái độ lựa chọn, thái độ cảm xúc, thái độ đánhgiá của chủ thể đối với thế giới
Mặt năng động (hành động) của ý thức: Ý thức điều khiển, điều chỉnh hoạt độngcủa con người làm cho hoạt động của con người có ý thức Đó là quá trình con ngườivận dụng những hiểu biết và tỏ thái độ của mình nhằm thích nghi, cải tạo thế giới vàcải tiến cả bản thân Mặt khác ý thức nảy sinh và phát triển trong hoạt động Cấu trúccủa hoạt động qui định cấu trúc của ý thức Vì thế nhu cầu, hứng thú, động cơ, ý chí…đều có vị trí nhất định trong cấu trúc của ý thức” [53, 62]
Khái niệm phê bình
Theo viện ngôn ngữ học Việt Nam, “phê bình là xem xét, phân tích, đánh giá ưuđiểm và khuyết điểm Tự phê bình và phê bình là để rút kinh nghiệm” [2, 587]
Như vậy, dựa vào khái niệm ý thức, cấu trúc ý thức, khái niệm phê bình, theotác giả, ý thức tự phê bình và phê bình là khả năng nhận thức con người về việc xemxét, đánh giá ưu điểm và khuyết điểm của bản thân và của người khác Từ đó hìnhthành thái độ đánh giá và hành động thực hiện nhằm phát huy những mặt tích cực, sửachữa những hạn chế, rút kinh nghiệm cho bản thân mình và cho cả người khác
1.2 Quan điểm của Hồ Chí Minh về vai trò của thanh niên và tầm quan trọng của việc xây dựng ý thức tự phê bình và phê bình cho thanh niên
1.2.1.Vai trò của thanh niên trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở
Trang 14nước ta
Trong suốt tiến trình lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, tầng lớpthanh niên chiếm một vị trí vô cùng quan trọng, là bộ phận nòng cốt giúp đất nước pháttriển mạnh mẽ, bền chắc Ngày nay, trong công cuộc đổi mới đất nước, bản thân mỗithanh niên, dưới sự lãnh đạo của Đảng, cần phải xung kích, sáng tạo hơn nữa, phát huytối đa thể lực và trí lực góp phần vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội Theo Người,
“Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa”[19, XII] “Hồ Chí Minh quan niệm chủ nghĩa xã hội là công trình tập thể của nhân dân,
do nhân dân tự xây dựng lấy Nếu không có con người thiết tha với lý tưởng xã hội chủnghĩa, thì không có chủ nghĩa xã hội được”[13, 106] Con người xã hội chủ nghĩa baogồm cả những con người từ xã hội cũ để lại và cả những con người sinh ra trong xã hộimới Họ “phải là con người có tinh thần và năng lực làm chủ, có đạo đức cần kiệm liêmchính, chí công vô tư, có tri thức khoa học – kỹ thuật, nhạy bén với cái mới, có tinh thầnsáng tạo, dám nghĩ, dám làm…Đó là nguồn lực quan trọng nhất để xây dựng thành côngchủ nghĩa xã hội” [13, 106] Và đại bộ phận con người đó chính là thế hệ thanh niênnhiệt huyết và năng động
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Thanh niên là người chủ tương laicủa nước nhà Nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh, một phần lớn là do các thanhniên” [23, 216] Khái niệm này đã khẳng định vị trí, vai trò của tầng lớp thanh niên Họchính là những người trẻ, những người nắm trong tay vận mệnh của đất nước, quyếtđịnh con đường đi lên, sự phát triển, phồn vinh của dân tộc Do đó, ngay từ thời niênthiếu, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận thức được sự đóng góp của tuổi trẻ trong việc đấutranh và bảo vệ Tổ Quốc, quyết tâm ra đi tìm đường cứu nước Năm 1920, được tiếp xúcvới Luận cương những vấn đề về dân tộc và thuộc địa của Lê Nin, Người đã tìm thấyđược con đường giải phóng dân tộc và đứng về Quốc tế III, tham gia thành lập ĐảngCộng sản Pháp Khi tìm thấy chân lý cách mạng, Hồ Chí Minh đã tìm cách tập hợpthanh niên, thức tỉnh họ, giúp họ nhận ra hoàn cảnh đất nước, nhiệm vụ và trách nhiệmcủa họ lúc bấy giờ Cuối năm 1924, Người trở về Quảng Châu (Trung Quốc) thành lập
ra Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, ra báo Thanh niên, mở các lớp huấn luyện
Trang 15chính trị, đào tạo cán bộ, sau đó đưa họ về nước hoạt động Đứng trước cảnh nước mấtnhà tan, phong trào đấu tranh với sự tham gia của những thanh niên yêu nước diễn rakhắp nơi, Hồ Chí Minh đã cảm nhận và tin tưởng sâu sắc vào lòng yêu quê hương đấtnước của thế hệ trẻ, họ sẽ tiếp nối truyền thống cha anh, đi theo Đảng, cùng với nhândân cả nước làm nên cuộc Cách mạng tháng Tám, giành độc lập, khai sinh nước ViệtNam dân chủ cộng hòa, đem lại ấm no, hạnh phúc cho dân tộc Với tinh thần và ý chíquyết tâm, chí khí hào hùng lúc bấy giờ như:
“Hỡi miền Bắc đó nặng đôi vaiGánh cả non sông vượt dặm dài
Xẻ dọc Trường sơn đi cứu nước
Mà lòng phơi phới dậy tương lai” 3
hay:
“Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”
Và những phong trào cách mạng: “Ba sẵn sàng”, “Năm xung phong”,… thanhniên Việt Nam ta đã cùng với toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ra sức đánh giặc, quyếtgiành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội
Những năm tháng tuổi trẻ, được hòa mình vào cuộc sống vừa lao động, vừachiến đấu của nhân dân nhiều nước trên thế giới, Chủ tịch Hồ Chí Minh có điều kiệntìm hiểu thêm về vai trò của thanh niên trong sự phát triển của đất nước, của dân tộc.Người nhận thấy thanh niên là tuổi trẻ, tuổi đẹp nhất của đời người, như mùa xuântràn đầy nhựa sống “Một năm khởi đầu bằng mùa xuân, một đời khởi đầu từ tuổi trẻ,tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội” [22, 194] Tuổi trẻ là tuổi thanh niên, là tuổi trưởngthành về mọi mặt Đặc biệt là về nhận thức và suy nghĩ, đó là những lý tưởng, lẽsống hoài bão lớn lao cùng những hành động sáng tạo, mạnh mẽ, tự tin và đầy nhiệthuyết Chính trong những ngày tháng của tuổi trẻ ấy, thanh niên sẽ dần được hoànthiện về mọi mặt - sức khỏe và trí tuệ, được hình thành thế giới quan, nhân sinh quanthông qua việc tiếp nhận giáo dục xã hội Mặt khác, khả năng chuyển hóa giáo dục
Trang 16giúp mỗi cá nhân tự nhận thức và tự đào tạo lại chính bản thân mình Vì thế, nếuđược định hướng đúng đắn thì thanh niên sẽ hình thành lý tưởng sống cao đẹp, trởthành những người có ích cho xã hội Thấu hiểu được điều đó mà Chủ tịch Hồ ChíMinh đã căn dặn: “Thanh niên muốn làm chủ tương lai cho xứng đáng thì ngay hiệntại phải rèn luyện tinh thần và lực lượng của mình, phải làm việc chuẩn bị cho cáitương lai đó” [23, 216]; “phải tham gia ý kiến vào công việc của Chính phủ, chiếnđấu giữ lấy nền độc lập và tự rèn luyện từ bây giờ để sau này lên những thủ lĩnh màgánh vác những việc trọng đại của nước nhà” [23,29] Như vậy,thanh niên là lựclượng xã hội to lớn, là nhân tố góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội, là ngườichủ tương lai của đất nước
Khi bước vào thời kì xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc, xây dựng và bảo vệ chủ nghĩa
xã hội, Người đã nhìn thấy thanh niên là lực lượng nòng cốt để xây dựng xã hội mới,bởi:
“Thanh niên là người tiếp sức cách mạng cho thế hệ thanh niên già, đồng thời làngười phụ trách dìu dắt thế hệ tương lai” [31, 298] Ở đây, Người muốn đề cao vai tròcủa tầng lớp thanh niên, thanh niên chính là người tiếp nối và phát huy những truyềnthống của cha anh đi trước, song song đó sẽ là người phụ trách, nuôi dưỡng thế hệ maisau Đó chính là mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa quá khứ và tương lai, không thể táchrời Đồng thời là một tất yếu khách quan - sự kế tục lịch sử, tiếp nối, bàn giao giữa cácthế hệ mà trong đó, thanh niên giữ vị trí trung tâm, quan trọng
“Thanh niên là người xung phong trong công cuộc phát triển kinh tế, văn hóatrong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội” [31, 298] Không chỉ nhìn thấy được vị tríquan trọng của tầng lớp thanh niên Người còn thấy được ở họ - những người trẻ - sựnhiệt huyết, tiên phong, sẵn sàng đi đầu trong mọi hoạt động, đặc biệt là trong công cuộcxây dựng và phát triển nền kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, góp phầntăng năng suất lao động, đảm bảo chất lượng cuộc sống mỗi cá nhân Từ đó, giải phóngcon người khỏi mọi áp bức, bóc lột, nâng cao trình độ tư tưởng và văn hóa, góp phầnvào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội
“Thanh niên là lực lượng cơ bản trong bộ đội, công an và quân dân tự vệ, đang
Trang 17hăng hái giữ gìn trật tự, trị an, bảo vệ Tổ quốc” và “Trong mọi công việc, thanh niên thiđua thực hiện khẩu hiệu: Đâu cần thanh niên có, việc gì khó thanh niên làm” [31, 299].Từng sống với tuổi trẻ hoài bão của mình, Hồ Chí Minh thấu hiểu được ở thanh niên có
sự mạnh dạn, tự tin, nhiệt huyết, dám nghĩ, dám làm, sẵn sàng giữ gìn và bảo vệ TổQuốc Người đánh giá cao vai trò xung kích, sáng tạo của thế hệ thanh niên: “ Bác rất
tự hào, sung sướng và thấy hình như mình trẻ lại, thấy tương lai của dân tộc ta vô cùngvững chắc và vẻ vang” [33, 79] Bởi lẽ theo Người, trải qua hai cuộc đấu tranh yêu nước
đã “rèn luyện thành một thế hệ thanh niên vô cùng gan dạ, thông minh, không sợ giankhổ, hi sinh, quyết chiến quyết thắng…” [32, 618]
“Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Thanh niên có sứ mạng lịch sử vẻ vang đốivới cách mạng nước mình và cách mạng thế giới, đó là thanh niên trong giai cấp côngnhân, giai cấp đại biểu cho phương thức sản xuất tiến bộ nhất trong lịch sử, là người xâydựng chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản trên thế giới” Người cho rằng: “Thanh niêncác nước đoàn kết với nhau, tin tưởng vào khả năng đấu tranh của mình để giữ gìn hòabình thế giới, thực hiện hợp tác cùng nhau để xây dựng đời sống hạnh phúc tươi vui””[7]
Trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, quán triệt quanđiểm của Hồ Chí Minh, Đảng xác định thanh niên giữ vị trí trung tâm trong chiến lượcphát huy nhân tố và nguồn lực con người, trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư BanChấp hành Trung ương Đảng khoá VII nêu rõ: “Thanh niên là lực lượng xung kích sựnghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Sự nghiệp đổi mới có thành công hay không, đấtnước bước vào thế kỷ 21 có vị trí xứng đáng trong cộng đồng thế giới hay không, cáchmạng Việt Nam có vững bước theo con đường xã hội chủ nghĩa hay không phần lớn tuỳthuộc vào lực lượng thanh niên, vào việc bồi dưỡng, rèn luyện thế hệ thanh niên; côngtác thanh niên là vấn đề sống còn của dân tộc, là một trong những nhân tố quyết định sựthành bại của cách mạng Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Vì lợi ích mười nămthì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”, vì vậy vấn đề thanh niênphải đặt ở vị trí trung tâm trong chiến lược phát huy nhân tố và nguồn lực con người
“Đảng đặt niềm tin sâu sắc vào thanh niên, phát huy vai trò làm chủ và tiềm năng to lớn
Trang 18của thanh niên để thanh niên thực hiện được sứ mệnh lịch sử, đi đầu trong cuộc đấutranh chiến thắng nghèo nàn, lạc hậu, xây dựng và bảo vệ đất nước giàu mạnh, xã hộivăn minh, nhân dân có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc” [42] Hay trong hội nghị lầnthứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa X đã ban hành Nghị quyết về "Tăng cường sựlãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh niên thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiệnđại hóa", Nghị quyết khẳng định: “Đảng ta tiếp tục đề cao vai trò, vị trí quan trọng củathanh niên; xác định thanh niên là lực lượng xung kích trong giai đoạn cách mạng mới”[40] “Thanh niên là rường cột của nước nhà, chủ nhân tương lai của đất nước, là lựclượng xung kích trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, một trong những nhân tố quyết định
sự thành bại của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập quốc tế vàxây dựng chủ nghĩa xã hội Thanh niên được đặt ở vị trí trung tâm trong chiến lược bồidưỡng, phát huy nhân tố và nguồn lực con người Chăm lo, phát triển thanh niên vừa làmục tiêu, vừa là động lực bảo đảm cho sự ổn định và phát triển bền vững của đất nước”[40] Đồng thời nêu rõ “Thanh niên nước ta đang đứng trước những cơ hội, thuận lợilớn, nhưng cũng phải đương đầu với những khó khăn, thách thức không nhỏ…” [40]
Do đó mỗi đoàn viên thanh niên cần phải ra sức nỗ lực, rèn luyện, học hỏi, có bản lĩnh,năng lực, trình độ để chớp lấy thời cơ, vượt qua mọi thử thách, khó khăn, tiếp tục cốnghiến cho sự phát triển của đất nước, xứng đáng với niềm tin yêu của Bác, của Đảng, củanhân dân
Như vậy, một lần nữa khẳng định rằng: Trong bất cứ thời đại nào thì thanh niênđều đóng vai trò quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc Và ngày nay,hơn thế nữa, thanh niên còn giữ vai trò xung kích, là nhân tố quyết định trong sự nghiệpxây dựng chủ nghĩa xã hội của nước ta hiện nay Trước sự quan tâm, chăm lo và kỳvọng lớn lao của Đảng và Nhà nước, mỗi thanh niên cần nhận thức rõ vai trò và tráchnhiệm để không ngừng học tập, tu dưỡng, rèn luyện, phấn đấu trở thành lực lượng xungkích thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổquốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa
1.2.2 Quan điểm của Hồ Chí Minh về xây dựng ý thức tự phê bình và phê bình trong thanh niên để nâng cao đạo đức cách mạng
Trang 19Với sự tin yêu, sự quan tâm đặc biệt với thế hệ trẻ, Chủ tịch Hồ Chí Minh sớmnhận rõ được vị trí, vai trò quan trọng của tầng lớp thanh niên - những người kế thừa vàphát huy truyền thống cha ông, dìu dắt thế hệ mai sau; những người có hoài bão, lítưởng sống cao đẹp, nhiệt huyết, xung kích và sáng tạo, góp phần trong công cuộc xâydựng chủ nghĩa xã hội Mặc dù đánh giá cao vai trò của thanh niên nhưng song song đóNgười vẫn xem xét thanh niên một cách toàn diện Vì Người hiểu được là con người, aicũng sẽ mắc sai lầm, cũng có ưu điểm và nhược điểm, không ai là hoàn thiện cả, thanhniên cũng vậy.
Bên cạnh ưu điểm của thế hệ thanh niên là hăng hái, nhiệt huyết, năng động, sángtạo, xung kích thì theo Người khuyết điểm ở thanh niên là đó là sự thiếu từng trải trongcuộc sống, ham chuộng hình thức, thiếu thực tế, bệnh cá nhân, bệnh anh hùng, một sốchưa chịu khó học tập, tự cao, tự đại… “Ưu điểm của thanh niên ta là hăng hái, giàu tinhthần xung phong Khuyết điểm là ham chuộng hình thức, thiếu thực tế, bệnh cá nhân,bệnh anh hùng” [25, 66] Qua đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: phát huy mặt mạnh,khắc phục mặt yếu là con đường để tự hoàn thiện nhân cách của thanh niên “Rất mongtoàn thể thanh niên ta ra sức phát triển những ưu điểm và tẩy sạch những khuyết điểm
ấy Huy hiệu của thanh niên ta là “tay cầm cờ đỏ sao vàng tiến lên”” [25, 66] Thanhniên muốn làm chủ tương lai cho xứng đáng thì ngay hiện tại phải ra sức học tập, khôngngừng rèn luyện đạo đức, hoàn thiện những phẩm chất cá nhân Bản thân mỗi người cầnphải xung phong đi đầu, gương mẫu trong công tác, trong đạo đức cách mạng, phải rasức xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc, sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội Để làm đượcnhư vậy, theo Người “chớ vì thế mà tự cao, tự đại, phải khiêm tốn, luôn luôn cố gắnghơn mới vượt qua mọi khó khăn để giành lấy thành tích nhiều hơn và lớn hơn” [33, 78].Người đặc biệt nhấn mạnh: “Thanh niên phải xung phong đến những nơi khó khăn giankhổ nhất, nơi nào người khác làm ít kết quả, thanh niên phải xung phong đến làm chotốt, phải xung phong đến những nơi khó khăn để xây dựng chủ nghĩa xã hội” [31, 470]
Nhận biết rõ những mặt mạnh và mặt yếu của thanh niên, theo Chủ tịch Hồ ChíMinh, việc xây dựng ý thức tự phê bình và phê bình để nâng cao đạo đức cách mạng chothanh niên là một việc làm quan trọng và cần thiết Bởi lẽ nó giúp thanh niên trở thành
Trang 20những người công dân tốt và có ích cho xã hội Người quan niệm: “Thanh niên ta phảithấm nhuần tinh thần làm chủ nước nhà và phải trau dồi đạo đức của người cách mạng”[31, 89] Như vậy, thanh niên trước hết phải biết yêu Tổ quốc quê hương, đất nước vàquyết tâm cống hiến dựng xây nước nhà Nhưng bên cạnh đó cũng cần phải học tập vàrèn luyện đạo đức, vì theo Bác: “Người cách mạng phải là người có đạo đức; không cóđạo đức thì dù tài giỏi đến mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân” [23, 292] Đạo đứccách mạng chính là nền tảng để mỗi thanh niên rèn luyện, hoàn thiện bản thân và thựchiện nhiệm vụ cách mạng của mình Trong 5 điều răn dạy thanh niên, Người đặc biệtquan tâm vấn đề nâng cao đạo đức cách mạng: “Luôn luôn trau dồi đạo đức cách mạng,khiêm tốn và giản dị Chống kiêu căng tự mãn, chống lãng phí xa hoa Thực hành tự phêbình và phê bình nghiêm chỉnh để giúp nhau cùng tiến bộ mãi” [32, 619] Nội dung cốtlõi của đạo đức cách mạng chính là cần, kiệm, liêm, chính Học hỏi và kế thừa từ quanđiểm của người quân tử của Khổng Tử, Chủ tịch Hồ Chí Minh xây dựng một quan điểmmới về bốn đức tính cần thiết của người cách mạng Bốn đức: “cần, kiệm, liêm, chính”
là thước đo phẩm chất đạo đức của con người Những đức đó đã tồn tại cùng lịch sửnhân loại nhiều ngàn năm qua
“Cần” là siêng năng, cần cù, chăm chỉ, cố gắng Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh:
“ Người siêng năng thì mau tiến bộ
Cả nhà siêng năng thì chắc ấm no
Cả làng siêng năng thì làng phồn thịnh
Cả nước siêng năng thì nước giàu mạnh”
Muốn “cần” có hiệu quả phải có tính cẩn thận, chu đáo, rõ ràng, biết sắp xếp và
lên kế hoạch Có như thế, thì mới cố gắng, chăm chỉ, nuôi dưỡng tinh thần và lực lượng
để làm việc lâu dài
“Kiệm” là tiết kiệm, không xa xỉ, không hoang phí, nhưng cũng không bủn xỉn,keo kiệt “Cần” mà không “kiệm” thì “làm chừng nào xào chừng ấy” Cũng như một cáithùng không đáy, nước đổ vào chừng nào chảy hết ra chừng ấy, không lại hoàn không
“Kiệm” và “cần” phải đi đôi với nhau
Trang 21“Liêm” là trong sạch, không tham lam, tham ô, lãng phí của công, không “đụckhoét”, không lấy của công làm của tư, Người muốn “liêm” phải “cần” và “kiệm”.
“Chính”, theo Người giải thích: nghĩa là không “tà”, nghĩa là trung thực, thẳngthắn, đứng đắn “Chính” là kết quả của “cần”, “kiệm”, “liêm” tạo nên Vì thế “chính” làtrung tâm, là cốt lõi, là nhân tố quyết định đạo đức, của con người
Đây là bốn phẩm chất giống như bốn mùa “xuân, hạ, thu, đông”, bốn phương
“đông, tây, nam, bắc” Thiếu một trong bốn mùa không thể là một năm trọn vẹn, thiếumột trong bốn phương cũng thông thành đất, cũng giống như con người thiếu một trongbốn phẩm chất đó cũng không trở thành con người đúng nghĩa:
“Trời có bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông
Đất có bốn phương: Đông, Tây, Nam, Bắc
Người có bốn đức: cần, kiệm, liêm, chính
Thiếu một mùa, thì không thành trời
Thiếu một phương, thì không thành đất
Thiếu một đức, thì không thành người” 4
Để có được những phẩm chất đó thì theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, chúng ta cầnđấu tranh, rèn luyện thường xuyên, chống những thói hư tật xấu, phải thực hiện tự phêbình và phê bình để tiến bộ, trở thành những con người kế thừa xây dựng chủ nghĩa vừa
“hồng” vừa “chuyên” Cần có sự quan tâm, chăm lo, bồi dưỡng, giáo dục thanh niên từcác ngành, các cấp Bên cạnh đó, Đảng, các tổ chức Đoàn - Hội cần đề ra đường lối, chủtrương, những phong trào thiết thực định hướng cho thanh niên, xác định các chuẩn mựccho thanh niên phấn đấu; xây dựng các tấm gương điển hình tiêu biểu cho thanh niênhọc tập và noi theo Ngoài ra, sự nỗ lực học tập, rèn luyện và phấn đấu không ngừng củathanh niên theo tấm gương Hồ Chí Minh là yếu tố quan trọng để xây dựng thế hệ thanhniên trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội
1.3 Quan điểm của Hồ Chí Minh về nội dung và phương pháp xây dựng ý thức phê bình và tự phê bình.
Trang 22Theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, mỗi cá nhân trong chúng ta ai cũng
có ưu và khuyết điểm Để có thể hoàn thiện bản thân, chúng ta cần biết tự phê bình vàphê bình Tự phê bình và phê bình theo Người là một hệ thống những quan điểm toàndiện về khái niệm, mục đích, nguyên tắc, phương pháp xây dựng ý thức tự phê bình vàphê bình
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Tự phê bình là gì? Là thật thà nhận, công khaitrước mặt mọi người những khuyết điểm của mình để tìm cách sữa chữa” [25, 80] Nhưvậy, tự phê bình là tự đánh giá, thật thà nhận khuyết điểm của mình để qua đó phát huynhững ưu điểm và khắc phục những hạn chế, thiếu sót; cố gắng sửa chữa những sai lầmbằng nhiều cách và triệt để Làm được như thế, ta mới phát huy được trí tuệ, năng lựccũng như rèn luyện, tu dưỡng nhân cách đạo đức của bản thân Không chỉ thế, việc tựnhìn nhận, đánh giá còn là bài học kinh nghiệm cho những khác học hỏi, noi theo vàtránh mắc những sai lầm đó Nói thì dễ nhưng làm mới khó, vì theo Hồ Chí Minh: “Khó
là vì người ta hay có lòng tự ái Thừa nhận cái sai, cái dốt, cái kém của mình, thì sợ mấtthể diện, mất uy tín, mất địa vị” [25, 80] Mỗi người trong chúng ta ai cũng có lòng tự ái,
vì thế mà không dám nhận khuyết điểm, sợ làm mất uy tín bản thân, sợ người kháckhông coi trọng mình, sợ mất địa vị, vị thế Vì tự ái, mà chúng ta vô tình che giấu đinhững hạn chế của bản thân, cũng giống như “có bệnh mà giấu bệnh Giấu bệnh, thìcàng ngày bệnh càng nặng, đến khi quá nặng không chữa được nữa, thì chết Giấukhuyết điểm thì khuyết điểm càng ngày càng to, đến khi to quá, không sửa chữa đượcnữa, thì mọi việc đều hỏng” [25, 80] Vì vậy bản thân mỗi người cần bỏ đi cái tôi, chốngchủ nghĩa cá nhân của bản thân để dám thừa nhận những mặt chưa tốt để khắc phục.Đặc biệt là đối với người cán bộ đảng viên, họ cần phải tự học hỏi, trau dồi tri thức, rènluyện đạo đức, tự phê bình và phê bình, để nâng cao đạo đức cách mạng Đồng thời lànhững tấm gương sáng để cho quần chúng nhân dân học hỏi và noi theo
Bên cạnh tự phê bình chúng ta cũng cần phải biết phê bình những người xungquanh Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Thuốc đắng thì dã tật, nói thật thì được việc Nóithật tức là phê bình” [25, 113] Khi sức khỏe yếu, thuốc đắng sẽ giúp ta khỏi bệnh Cũnggiống như khi ta phê bình sẽ giúp người khác nhận ra được ưu điểm và khuyết điểm của
Trang 23mình Chỉ có thế ta mới giúp nhau sửa chữa những hạn chế, phát huy những mặt tíchcực “Khuyết điểm cũng như một chứng bệnh Phê bình là thuốc để chữa các bệnhkhuyết điểm” [25, 113], “Phê bình là thấy ai (cá nhân, cơ quan, đoàn thể) có khuyếtđiểm thì thành khẩn nói cho họ biết để họ sửa chữa, để họ tiến bộ” [28, 386] Ở đây,theo Người, phê bình chính là nói ra những việc sai trái mà họ đang làm để góp ý, giúp
họ sửa chữa; chứ không phải là vì ta ghét họ ở điểm nào đó mà mang họ ra để nhận xét,chỉ trích “phê bình việc làm, chứ không phải phê bình người” [23, 272] Để dễ hiểu, Bác
đã đưa ra ví dụ ví von về phê bình, tại buổi Lễ bế mạc lớp Bổ túc trung cấp (10/1947),
Hồ Chí Minh đã nói: "Tự phê bình rồi lại phải phê bình người khác nữa Nếu tôi có vếtnhọ trên trán, các đồng chí trông thấy, lại lấy cớ "nể Cụ" không nói, là tôi mang nhọmãi Nhọ ở trên trán thì không quan trọng, nhưng nếu có vết nhọ ở trong óc, ở tinh thần,
mà không nói cho người ta sửa tức là hại người Thấy cái xấu của người mà không phêbình là một khuyết điểm rất to Không phê bình, tức là để cho cái xấu của người ta pháttriển" [24, 250] Với cách nói mộc mạc, đơn giản, Người đã so sánh khuyết điểm giốngnhư vết nhọ Bản thân chúng ta không thể tự nhìn thấy được, nếu người khác thấy mà nểnang, thì suốt đời ta sẽ mắc sai lầm đó mãi Từ đó, Người đã giúp cho chúng ta hiểuđược mục đích của việc phê bình là “cốt để giúp nhau sửa chữa, giúp nhau tiến bộ Cốt
để sửa đổi cách làm việc cho tốt hơn, đúng hơn Cốt đoàn kết và thống nhất nội bộ” [23,272] Phê bình là giúp nhau tiến bộ, nên ta không được nể nang, né tránh Khi phê bình
ta cần phải xem xét kĩ càng, căn cứ vào hoàn cảnh lịch sử - cụ thể, căn cứ vào nhữngyếu tố khách quan và chủ quan, cần phải nói đúng, nói thật, thẳng thắng nói ra những sailầm, hạn chế, nhưng bên cạnh đó cũng phải tôn trọng, đề cao những mặt tích cực màngười khác đã làm được để cùng học hỏi và phát huy Phê bình còn góp phần tạo nên sựthống nhất ý kiến, đoàn kết trong tập thể, cơ quan
Sau những khái niệm rõ ràng, khúc chiết, dễ hiểu, Người đã nêu ra mục đích củaviệc tự phê bình và phê bình: “Nhằm giúp nhau sửa chữa khuyết điểm, phát triển ưuđiểm, cùng nhau tiến bộ” [28, 386] Như vậy, tự phê bình và phê bình không chỉ là nhận
ra những mặt làm được hay những mặt hạn chế, mà còn là để sửa chữa, khắc phụckhuyết điểm và phát huy ưu điểm Không chỉ vậy, đó còn là bài học cho nhau, giúp nhautiến bộ, mang lại nhiều lợi ích cho bản thân và tập thể “Phê bình là cốt lợi cho công việc
Trang 24chung” [25, 113] Mục đích của tự phê bình và phê bình là là giống nhau, tuy nhiên tùyvào trường hợp cụ thể, đối tượng cụ thể sẽ có những ưu và khuyết điểm khác nhau Nhưvậy, tự phê bình và phê bình có vai trò, ý nghĩa hết sức quan trọng Chúng có mối quan
hệ mật thiết với nhau, gắn bó chặt chẽ với nhau, giúp rèn luyện, nâng cao đạo đức cáchmạng của mỗi người, nhất là đối với cán bộ, đảng viên Theo Người: “Luôn luôn tựkiểm điểm, tự phê bình, những lời mình nói, những việc mình đã làm, để phát triển điềuhay của mình, sửa đổi khuyết điểm của mình Đồng thời phải hoan nghênh người khácphê bình mình” [24, 130] Phải xem việc tự phê bình và phê bình như mỗi ngày soigương, rửa mặt, để làm cho sạch sẽ cơ thể, thanh lọc tâm hồn, hoàn thiện nhân cách
Như vậy, với những quan điểm của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giúp chúng
ta hiểu được khái niệm cũng như bản chất, mục đích của tự phê bình Đó là giúp nhaunhận ra những ưu điểm và khuyết điểm, từ đó ta phải phát huy ưu điểm, khắc phụckhuyết điểm, cùng nhau tiến bộ Trong quá trình tự phê bình và phê bình, ta cần phảithẳng thắn, không nể nang, không sợ bị trù dập, trả thù cá nhân Tuy nhiên, theo Người,nếu “chỉ nghiên cứu qua loa, hoặc nhận thấy khuyết điểm rồi nhưng không cố gắng sửachữa” [23, 271] thì đó là “vì nghiên cứu một cách không thiết thực, không có tổ chức”[23, 271] Từ đó, Người chỉ ra cách thực hiện:
“A- TỔ CHỨC: Mỗi cơ quan, bộ đội, đoàn thể phải tổ chức một ủy ban học tập,
do cán bộ cao cấp lãnh đạo, do các cấp cử đại biểu tham gia Số ủy viên nhiều hay ít, tuỳhoàn cảnh mà định Ủy ban này định ra kế hoạch; nghiên cứu, thảo luận, kiểm tra vàthực hành
B- THỜI GIAN HỌC TẬP: Từ 2 đến 3 tháng Mỗi nơi tuỳ hoàn
cảnh mà định ngày giờ Dù sao, phải có ngày giờ nhất định
C- TÀI LIỆU HỌC TẬP: Thư Hồ Chủ tịch và những tài liệu Trung ương sẽ gửithêm
D- CÁCH THỨC HỌC TẬP:
1 Nghiên cứu - Mỗi người phải đọc kỹ càng các tài liệu, rồi tự kiểm điểm vàkiểm điểm đồng chí mình, có khuyết điểm gì và ưu điểm gì
Trang 252 Thảo luận - Khai hội thảo luận và phê bình Trong lúc thảo luận, mọi ngườiđược hoàn toàn tự do phát biểu ý kiến, dù đúng hoặc không đúng cũng vậy Song khôngđược nói gàn, nói vòng quanh Những kết luận trong cuộc thảo luận phải có cấp trênduyệt y mới là chính thức
Đ- CÁCH PHÊ BÌNH: Mục đích phê bình cốt để giúp nhau sửa chữa, giúp nhautiến bộ Cốt để sửa đổi cách làm việc cho tốt hơn, đúng hơn Cốt đoàn kết và thống nhấtnội bộ Vì vậy, phê bình mình cũng như phê bình người phải ráo riết, triệt để, thật thà,không nể nang, không thêm bớt Phải vạch rõ cả ưu điểm và khuyết điểm Đồng thời,chớ dùng những lời mỉa mai, chua cay, đâm thọc Phê bình việc làm, chứ không phảiphê bình người Những người bị phê bình thì phải vui lòng nhận xét để sửa đổi, khôngnên vì bị phê bình mà nản chí, hoặc oán ghét
E- KIỂM TRA: Uỷ ban học tập phải có một ban kiểm tra để xem xét việc học tập
và sự tiến bộ của mọi người, giúp đỡ người tiến bộ ít, khen ngợi người tiến bộ nhiều
G- BÁO CÁO: Mỗi tháng phải báo cáo về Trung ương một lần
H- THỰC HÀNH: Người có ưu điểm thì phải cố gắng thêm, và người khác phải
cố gắng bắt chước Mọi người phải tích cực sửa chữa khuyết điểm của mình và giúp anh
em sửa chữa khuyết điểm của họ Mọi người phải nhớ rằng: cộng nhiều khuyết điểmnhỏ thành một khuyết điểm to, sẽ rất có hại Cộng nhiều ưu điểm nhỏ thành một ưuđiểm lớn, rất lợi cho Đảng và công cuộc kháng chiến” [23, 271 – 272]
Bên cạnh đưa ra những lý luận về nội dung, và cách thực hiện tự phê bình và phêbình, Bác còn đưa ra những phương pháp về cách thức tiến hành trong thực tiễn TheoBác, tự phê bình và phê bình là công cụ quan trọng để xây dựng, củng cố sự đoàn kết,thống nhất trong Đảng Bởi lẽ Bác đã đúc kết được qua những ngày tháng sống và chiếnđấu gian khổ “Trong bao nhiêu năm hoạt động bí mật, dù bị bọn thực dân khủng bố gắtgao và Đảng ta gặp rất nhiều khó khăn, nguy hiểm, nhưng Đảng ta ngày càng phát triển,càng mạnh mẽ và đã lãnh đạo nhân dân làm cách mạng thành công, kháng chiến thắnglợi Đó là vì Đảng ta khéo dùng cái vũ khí sắc bén phê bình và tự phê bình” [29, 608]
Theo Người muốn công tác tự phê bình và phê bình đạt hiệu quả, thì ta cần tiến
Trang 26hành những phương pháp sau đây:
Một là, cần quán triệt về công tác tư tưởng của người thực hiện “Tự phê bình
phải thường xuyên, chứ không phải chờ có khai hội mới tự phê bình, không phải khi làmkhi không” [25, 82] Tự phê bình là phải tự giác, thực hiện liên tục, tự thực hiện hằngngày, hằng tháng, giống như việc soi gương, rửa mặt mỗi ngày chứ không phải làm theokiểu phong trào, đến dịp, đến đợt mới tiến hành Phải tự nhận thức được rằng làm đểhoàn thiện bản thân, rèn luyện tính tự giác, nâng cao đạo đức cách mạng, chứ khôngphải làm cho vui, cho bằng bạn bằng bè, hay làm cho có lệ, có hình thức
Hai là, “Tự phê bình phải thật thà, phê bình phải thành khẩn, không mỉa mai, nói
xấu” [28, 618], “Tự phê bình rồi để sửa chữa, để tiến bộ, cho nên phải thật thà, phải triệt
để mới có kết quả Nếu chỉ làm cho qua chuyện chỉ có hình thức thì vô ích” [25, 81].Thật thà ở đây, trước hết, mỗi người cần phải tự kiểm điểm, tự chỉ trích bản thân mình,không được tự cao, tự đại, không bao giờ được tự cho mình là hơn người, là tốt, là hoànthiện, mà cần phải ra sức học hỏi, tu dưỡng, rèn luyện đạo đức Thật thà còn thể hiện ởviệc phê bình người khác Khi phê bình ta cần phải có quan điểm rõ ràng, thẳng thắn,chính xác, phải chỉ rõ khuyết điểm của đồng chí mình, nhưng phải có động cơ trongsáng, trên tình nhân ái, thấu tình đạt lý, đoàn kết giúp đỡ nhau cùng tiến bộ, nhất là vớingười cán bộ, đảng viên Vì thế, mà trong Di chúc, Người căn dặn: “Trong Đảng thựchành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cáchtốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất của Đảng Phải có tình đồngchí thương yêu lẫn nhau” [33, 611] Không vì yêu thích ai ta nói tốt, nói đẹp cho họ;ghét ai lại nói xấu, cần phải “phê bình việc làm, chứ không phải phê bình người” [23,272], tuyệt đối không phê bình theo kiểu “bới lông, tìm vết” với thái độ ghen ghét, muốn
hạ bệ người khác Ngoài ra, thật thà còn thể hiện ở việc người khác phê bình mình Khiđược nhận xét, đánh giá, ta phải chân thành, dũng cảm, thật thà nhận khuyết điểm củabản thân Từ đó, tìm ra cách thức sửa chữa Nói thì dễ nhưng làm mới khó, bởi lẽ trongtâm lý con người, ai cũng thích “khen”, mấy ai thích người khác “chê” mình “Tự phêbình và sửa khuyết điểm có khi dễ, nhưng có khi cũng khó khăn, đau đớn vì tự ái, vì thóiquen, hoặc vì nguyên nhân khác Đó là một cuộc đấu tranh” [25, 82] Đối với người có
Trang 27lòng tự ái cao, họ khó để thừa nhận cái sai, cái dốt, cái yếu kém của mình; đơn giản vì
họ sợ mất thể diện, mất uy tín, mất địa vị nhất là những người đang giữ những vị trí, vịthế cao Theo Người: “Đó là lòng tự ái dại dột, khác nào có bệnh mà giấu bệnh Giấubệnh thì càng ngày bệnh càng nặng, đến khi quá nặng không chữa được nữa, thì chết.Giấu khuyết điểm thì khuyết điểm càng ngày càng to, đến khi to quá, không sửa chữađược nữa thì mọi việc đều hỏng” [25, 80] Nếu vì tự ái, sẵn sàng che giấu khuyết điểm,
ta dễ dàng đi đến những sai lầm không đáng có Như vậy, thật thà tự phê bình và phêbình cũng là nêu lên ưu điểm, vạch ra khuyết điểm của mình, của đồng chí mình mộtcách rõ ràng, chính xác; tránh việc mỉa mai, đâm thọc, nể nang mà che giấu Người đượcphê bình phải vui lòng lắng nghe, tiếp thu để sửa đổi, không nên vì bị phê bình mà nảnchí, hoặc ghen ghét người phê bình mình, tìm cách trả thù, trù dập lại Mọi người phảitích cực sửa chữa khuyết điểm của mình và giúp anh em sửa chữa khuyết điểm của họ.Đặc biệt với người cán bộ, đảng viên, việc thật thà tự phê bình và phê bình là điều vôcùng quan trọng, vì họ chính là tấm gương để cho quần chúng nhân dân học hỏi và noitheo Giống như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói “Tự mình không đánh thắng được nhữngkhuyết điểm của mình, mà muốn đánh thắng kẻ địch, tự mình không cải tạo được mình,
mà muốn cải tạo xã hội, thì thật vô lý Vì vậy, người cách mạng phải thật thà phê bình
và kiên quyết chữa khuyết điểm” [25, 82]
Ba là, “Thái độ của người phê bình phải thành khẩn, nghiêm trang, đúng mực”
[25, 114] Bác phân tích và cho ví dụ về các thái độ khác nhau: “Đối với tự phê bình vàphê bình, có 3 thái độ khác nhau:
- Những đồng chí giác ngộ chính trị cao thì tự phê bình rất thật thà và kiên quyếtsửa chữa khuyết điểm Khi phê bình người khác, các đồng chí ấy thành khẩn, nhẫn nại,giúp đỡ họ sửa chữa Đối với những kẻ sai lầm rất nặng mà lại không chịu sửa đổi, thìcác đồng chí ấy đấu tranh không nể nang Chúng ta phải học tập tinh thần và tác phongcủa các đồng chí ấy
- Có một số ít người thì phê bình, giáo dục mấy cũng cứ ỳ ra, không chịu sửa đổi.Đối với hạng người này, chúng ta cần phải nghiêm khắc, phải mời họ ra khỏi Đảng, đểtránh “con sâu làm rầu nồi canh”
Trang 28- Thái độ của một số khá đông cán bộ là: Đối với người khác thì phê bình đúngđắn, nhưng tự phê bình thì quá “ôn hoà” Các đồng chí ấy không mạnh dạn công khai tựphê bình, không vui lòng tiếp thu phê bình - nhất là phê bình từ dưới lên, không kiênquyết sửa chữa khuyết điểm của mình, thường tìm những “khó khăn khách quan” để tựbiện hộ Nói tóm lại: Đối với người khác thì các đồng chí ấy rất “mácxít”, nhưng đối vớibản thân mình thì mắc vào chủ nghĩa tự do” [27, 521 - 522]
Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến thái độ của người phê bình Khiphê bình người khác, chúng ta cần phải chỉ ra cho họ khuyết điểm, từ đó tìm ra nguyênnhân và hậu quả của khuyết điểm Không chỉ có vậy, ta còn phải tìm phương pháp, cáchthức giúp họ sửa chữa Trong quá trình sửa chữa, chúng ta còn phải theo dõi, giúp đỡ,động viên giúp người bị phê bình khắc phục hạn chế đó “Phải vạch rõ vì sao có khuyếtđiểm ấy, nó sẽ có kết quả xấu thế nào, dùng phương pháp gì để sửa chữa Thuốc phảinhằm đúng bệnh Tuyệt đối không nên có ý mỉa mai, bới móc, báo thù, không nên phêbình lấy lệ Càng không nên “trước mặt không nói, xoi mói sau lưng” [25, 114] Khi tựphê bình và phê bình, không được vì tư thù cá nhân, lợi ích riêng mà lợi dụng những yếuđiểm của người khác để châm trọc, mỉa mai, bới móc, báo thù Không được phê bìnhcho có, lấy lệ, mà cần phải thực hiện nghiêm túc, triệt để Đặc biệt Người nhấn mạnhviệc nói xấu sau lưng, không dám mạnh dạn thẳng thắn nói trước mặt Điều đó càng dễmất lòng nhau và chia rẽ đoàn kết nội bộ
Bốn là, khi tiến hành tự phê bình và phê bình phải bảo đảm tính dân chủ, công
khai Thể hiện ở việc công khai nhận xét, đánh giá điểm mạnh, điểm yếu của mình,đồng chí mình và tổ chức đảng trước hội nghị Người phê phán nghiêm khắc tình trạng
“ngồi lê đôi mách”, “việc bé xé ra to” hay “việc gì cũng không phê bình trước mặt mà
để nói sau lưng” Và theo Người kiểu phê bình như vậy là biểu hiện của bệnh “cá nhân”
Tự phê bình và phê bình cần phải được tiến hành trong bầu không khí thật dân chủ, bìnhđẳng, nghiêm túc Chỉ có như thế thì mọi cán bộ, đảng viên, nhân dân mới tích cực, chủđộng, nói thẳng, nói thật Song đó không có nghĩa là tùy tiện, muốn nói gì thì nói, muốnphê thì phê Theo Người: “Trong lúc thảo luận, mọi người được tự do hoàn toàn phátbiểu ý kiến, dù đúng hoặc không đúng cũng vậy Song không được nói gàn, nói vòng
Trang 29quanh” [23, 272] Cần phải thẳng thắn, trực tiếp, dựa trên mục đích giúp nhau tiến bộ.Như vậy, ta thấy được thái độ tự phê bình và phê bình là hết sức quan trọng Nó cầnphải kết hợp với “dân chủ rộng rãi”, “thường xuyên”, “nghiêm chỉnh” và “yêu thươnglẫn nhau” để góp phần tạo nên sự đoàn kết và thống nhất trong Đảng
Năm là, khi tự phê bình và phê bình, theo Người “Việc phê bình phải từ trên
xuống và từ dưới lên Cấp trên phê bình chưa đủ Đồng chí, đồng sự phê bình, chưa đủ.Phải hoan nghênh quần chúng phê bình nữa, thì sự phê bình mới hoàn toàn” [24, 53] Tựphê bình và phê bình cần phải được thực hiện ở mọi nơi, mọi tầng lớp, mọi cấp bậc,thường xuyên, phê bình từ trên xuống và từ dưới lên, nhất là từ dưới lên, có như vậymới đạt hiệu quả cao Bởi vì, bản thân mỗi người chúng ta nhìn vào rất khó phát hiệnnhững sai lầm yếu kém nên cần có người khác phê bình để ta nhận thấy được, từ đó giúpbản thân mình tốt hơn, người phê bình mình cũng tránh được sai lầm mà mình mắc phải.Nếu chỉ phê bình một chiều thì cũng giống như người “đi một chân, không thể đi được”
Vì thế mà theo Người “Cấp trên cũng nên thỉnh thoảng trưng cầu ý kiến phê bình củacấp dưới Có như thế thì cũng khác nào như một người có vết nhọ trên mặt, được người
ta đem gương cho soi, mình tự lấy vết nhọ Lúc đó không cần ai khuyên bảo cũng tự vộivàng đi rửa mặt” [23, 284] Việc lấy ý kiến phê bình của cấp dưới để giúp cấp trên ngàymột hoàn thiện hơn Vì vậy mà cấp trên không được trù dập, lấy đó mà trả thù cấp dưới.Phê bình phải từ trên xuống dưới, người trên làm gương cho người dưới, phải luôn tựkiểm điểm, tự phê bình mình Còn cấp dưới, khi phê bình cấp trên không được cả nể, sợmất việc làm mà giấu diếm, che đậy khuyết điểm, sai lầm của nhau
Người đã đưa ra 4 điều cần chú ý để thực hiện tự phê bình và phê bình có hiệuquả thiết thực:
“1- MỤC ĐÍCH:
Đoàn kết nội bộ từ trên đến dưới, làm cho công việc tiến hơn; thắt chặt mối quan
hệ giữa Đảng, Chính phủ và nhân dân; sửa chữa những sai lầm, khuyết điểm (thí dụ:bệnh quan liêu, mệnh lệnh, xa quần chúng, v.v.)
2- PHƯƠNG HƯỚNG:
Trang 30Mục đích tự phê bình và phê bình thì bất cứ ở nơi nào cũng giống nhau Nhưng
vì công việc khác nhau, nên mỗi nơi (thí dụ: bộ đội, cơ quan, công đoàn, v.v.) có những
ưu điểm và khuyết điểm khác nhau Do đó, phương hướng kiểm thảo cũng phải khácnhau Và ở mỗi nơi, trong những thời gian khác nhau, phương hướng kiểm thảo cũngphải khác nhau
3- TRỌNG TÂM:
Trong mỗi thời kỳ ắt có một, hai công tác chính (thí dụ: Năm ngoái, ở vùngkhông trực tiếp tác chiến, sau việc tạm vay, thuế nông nghiệp là công tác chính củaĐảng, Chính phủ và nhân dân) Trong công tác chính ấy, lại có khâu chính (thí dụ:Trong công tác thuế nông nghiệp, khâu chính là việc bàn định sản lượng thường nămcủa ruộng đất); đó là trọng tâm của công tác chính ấy Lúc kiểm thảo phải nhằm vào ưuđiểm và khuyết điểm của trọng tâm ấy
4- CÁCH LÀM: Chia làm mấy bước:
- Trước tiên, phải đánh thông tư tưởng Tức là làm cho mọi người hiểu rõ mụcđích và lợi ích của cuộc kiểm thảo, làm cho mọi người hăng hái tham gia, để tránh tìnhtrạng tiêu cực, lo ngại, rụt rè
- Nghiên cứu các tài liệu: Nghiên cứu những tài liệu về lý luận, để giúp mọingười hiểu thấu sự ích lợi và cần thiết của kiểm thảo; và những tài liệu về chính sáchcủa Đảng và Chính phủ, để lấy đó làm căn cứ mà kiểm thảo công việc của mỗi đơn vị,mỗi người Tài liệu không nên quá nhiều
- Kiểm thảo công việc: Khi tư tưởng thông rồi, tài liệu đã nghiên cứu kỹ, lúc đómới kiểm thảo công việc, thật thà tự phê bình và phê bình Không nên vội vàng, sơ suất,phóng đại Cần phải gắn chặt công việc với tư tưởng và lề lối làm việc, vì mỗi công việcthành hay bại đều do tư tưởng và lề lối làm việc đúng hay sai
- Kiểm thảo phải khởi đầu từ cấp trên, dần dần đến cấp dưới Cán bộ cấp trênphải làm gương mẫu thật thà tự phê bình, phải hoan nghênh và khuyến khích mọi ngườiphê bình mình, tức là phải thực hiện dân chủ rộng rãi Từ trên xuống, rồi từ dưới lên
- Cán bộ cấp trên phải trực tiếp lãnh đạo từ lúc chuẩn bị cho đến lúc kết thúc
Trang 31cuộc kiểm thảo Trong kiểm thảo, phải nêu rõ ưu điểm và khuyết điểm, làm cho việcphải việc trái rõ ràng, làm cho mọi người hiểu rõ và vui lòng thừa nhận Ưu điểm thìphải khen, để mọi người bắt chước và phát triển Khuyết điểm thì phải tuỳ nặng nhẹ mà
xử trí cho đúng mực, để mọi người biết mà tránh (Mục đích của kiểm thảo là giáo dục,cải tạo, nhưng không phải tuyệt đối không hề dùng kỷ luật) Những vấn đề đã đặt ra, cầntìm cách giải quyết cho đúng Trong kiểm thảo, phải làm cho mọi người tự động, tự giácthật thà nêu khuyết điểm của mình, thành thật phê bình anh em Kiểm thảo thì nhằm vào
tư tưởng, lề lối làm việc, kết quả của công việc, chứ không nhằm vào cá nhân Khi kếtthúc kiểm thảo, ra sức làm cho mọi người tăng thêm lòng tự tin (tin chắc mình phát triểnđược ưu điểm, sửa đổi được khuyết điểm) khiến mọi người khoan khoái, vui vẻ, hănghái, để tiếp tục công tác và tiến bộ mãi Rồi phải đặt chương trình học tập và công tácsắp tới, để mọi người thi đua làm tròn nhiệm vụ” [25, 317 – 319]
Với những quan điểm về tự phê bình và phê bình mà Bác đã chỉ rõ, khi thực hiện
ta cần phải đảm bảo đúng nội dung, nguyên tắc, phải dân chủ và khách quan song cáchthức, phương pháp tiến hành phải khéo léo, linh hoạt Nếu chỉ dùng phương pháp cứngrắn, mệnh lệnh, ép buộc thì rất khó tiếp thu, mà cần phải kết hợp nhiều phương pháp, lúccứng rắn, lúc mềm dẻo, vừa có lý vừa có tình, không rập khuôn, một chiều Cũng giốngnhư phê bình không đúng lúc, đúng chỗ, không khôn khéo sẽ có tác dụng ngược lạithậm chí còn gây ra hậu quả khó lường Không chỉ có thế, khi tự phê bình và phê bình,
ta cần chú trọng vào công tác tư tưởng Vì tư tưởng lệch lạc, không kiên định, đúng đắnthì dễ mắc sai lầm Vì vậy, khi làm gì ta cũng cần phải giữ vững lập trường, và cố gắnghết mình cho công việc, như vậy mới mang lại hiệu quả cao Cũng giống như công tác
tự phê bình và phê bình, ta cần hiểu rõ mục đích, bản chất của nó rồi áp dụng vào tùyvào từng hoàn cảnh, đối tượng, từ đó sẽ có những thái độ, hành động khác nhau Khôngchỉ có thế ta cũng cần chú trọng cách thực hiện kết hợp với những chú ý để có thể manglại hiệu quả cao trong công tác tự phê bình và phê bình
Tiểu kết chương 1
Sống và chiến đấu với tuổi trẻ tươi đẹp của mình, Hồ Chí Minh sớm nhìn nhận
và đánh giá đúng vai trò, sức mạnh to lớn của tuổi trẻ cũng như khát vọng của họ Người
Trang 32đã lập ra “Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên” để rèn luyện đạo đức, hun đút chíhướng cách mạng cho thế hệ trẻ yêu nước Qua đó, Bác mong muốn mỗi thanh niên –những người chủ tương lai của đất nước đang gánh trên vai những trọng trách to lớn cầnphải ra sức học tập và rèn luyện tu dưỡng đạo đức cách mạng, trở thành những conngười vừa “hồng” vừa “chuyên” Ngày nay, trong thời kỳ phát triển công nghiệp hóa,hiện đại hóa, đòi hỏi mỗi thanh niên cần phải nâng cao năng lực và trí tuệ Trách nhiệmcủa mỗi thanh niên phải sống có lý tưởng, có ý chí vươn lên, có hoài bão lớn lao, cốnghiến cho Tổ quốc Muốn được như thế mỗi thanh niên cần phải xây dựng cho mình ýthức tự phê bình và phê bình theo quan điểm Hồ Chí Minh
Tự phê bình và phê bình theo tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống toàn diệnbao gồm khái niệm, mục đích, phương pháp, các nguyên tắc tiến hành tự phê bình vàphê bình, là sự kết hợp giữa lý luận và thực tiễn Sự cần thiết để thực hiện tự phê bình vàphê bình chính là liều thuốc để mỗi cá nhân, tập thể gắn bó, đoàn kết và thống nhất hơn,
giúp chữa những căn bệnh: bệnh quan liêu, bệnh tham lam, bệnh lười biếng, bệnh kiêu
ngạo, bệnh háo danh, bệnh tùy tiện, thiếu kỷ luật, coi thường pháp luật, làm sai pháp
luật; bệnh có đầu óc hẹp hòi, óc địa phương, óc lãnh tụ… Và còn những bệnh:“hữu danh, vô thực”, kéo bè kéo cánh thành phe nhóm.
Tự phê bình và phê bình giúp mỗi bản thân nhìn nhận, đánh giá, thấy được những
ưu điểm và khuyết điểm của bản thân, từ đó có hướng phát huy hay khắc phục sửa chữa
Để làm tốt công tác tự phê bình và phê bình, theo Người cần có những phương pháp,cách thức tiến hành cụ thể Về tư tưởng, Người quán triệt cần phải có ý thức tự giác thựchiện một cách thường xuyên, liên tục, phải xuất phát từ nhu cầu của bản thân, tránh việcthực hiện mang tính hình thức, cho có lệ Khi tự phê bình và phê bình phải thật thà, dámlàm làm chịu, phải thành khẩn, nghiêm túc, không có thái độ mỉa mai, châm chọc,không được nể nang mà che giấu, không được lợi dụng chức quyền để “trù dập” lẫnnhau Không chỉ có thế, tự phê bình và phê bình phải có tình yêu thương lẫn nhau, cốtgiúp nhau tiến bộ, phải phê bình từ trên xuống dưới, phải phê bình việc làm chứ khôngphải phê bình người Tự phê bình và phê bình phải được thực hiện, thường xuyên liêntục, như việc rửa mặt hằng ngày Nhờ có thế mỗi người mới tự hoàn thiện mình và giúp
Trang 33người khác hoàn thiện, góp phần nâng cao đạo đức cách mạng, nhất là đối với thế hệthanh niên trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội hiện nay.
Trang 34CHƯƠNG 2: VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH TRONG VIỆC XÂY DỰNG Ý THỨC TỰ PHÊ BÌNH VÀ PHÊ BÌNH CHO
SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÀI GÒN
2.1.Thực trạng về ý thức tự phê bình và phê bình trong sinh viên Đại học Sài Gòn trong giai đoạn hiện nay
2.1.1 Vài nét về sinh viên trường Đại học Sài Gòn
Đại học Sài Gòn được thành lập theo Quyết định số 478/QĐ-TTT ngày25/04/07 của Thủ tướng Chính Phủ Nguyễn Tấn Dũng Đại học Sài Gòn là cơ sở giáodục Đại học công lập trực thuộc Uỷ bạn nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Đại họcSài Gòn chịu sự quản lý Nhà nước về Giáo dục của Bộ Giáo dục và Đào tạo Đại họcSài Gòn là trường đào tạo đa ngành đa cấp, đa lĩnh vực Đại học Sài Gòn đào tạo từtrình độ trung cấp, cao đẳng, đại học và sau đại học Đại học Sài Gòn đào tạo theo 2phương thức: chính quy và không chính quy (vừa làm vừa học, tại chức, chuyên tu,liên thông) Tốt nghiệp Đại học Sài Gòn người học được cấp các bằng cấp: trung cấpchuyên nghiệp, cử nhân, kỹ sư, thạc sỹ
Hiện nay Đại học Sài Gòn đang tổ chức đào tạo cho 30 chuyên ngành cấp độđại học, 24 chuyên ngành cấp độ cao đẳng, 4 chuyên ngành cấp độ trung cấp thuộc cáclãnh vực: kinh tế – kỹ thuật; văn hoá – xã hội; chính trị – nghệ thuật; và sư phạm
Ngoài việc đào tạo cấp bằng, Đại học Sài Gòn còn được phép đào tạo cấp cácchứng chỉ tin học và ngoại ngữ Đại học Sài Gòn cũng được Bộ Giáo dục và Đào tạo
và cấp chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm bậc I, bậc II Đại học Sài Gòn cũng đào tạo vàcấp các chứng chỉ về ứng dụng Công nghệ thông tin và ứng dụng các nghiệp vụ khác
Số lượng sinh viên trường Đại học Sài Gòn hiện tại có khoảng trên 15.000 sinhviên bao gồm hệ đại học và cao đẳng chính quy Hơn 90% sinh viên trong nhà trườngđều là nữ
2.1.2 Ý thức tự phê bình và phê bình trong sinh viên Đại học Sài Gòn
Trang 35trong giai đoạn hiện nay
Ở đề tài này, tác giả chia thành ba mặt: nhận thức, thái độ và hành động của ýthức: tự phê bình và phê bình để tiến hành khảo sát
Trước khi tìm hiểu, khảo sát, phân tích về từng mặt của ý thức tự phê bình vàphê bình của sinh viên Đại học Sài Gòn hiện nay Tác giả có một số câu hỏi khảo sátchung như sau:
Ở câu hỏi: “Theo anh/ chị, ý thức tự phê bình và phê bình có vai trò như thế nàotrong sinh viên hiện nay?”
Ít quan trọng Không quan trọng
Kết quả khảo sát cho thấy: 43.8% cho rằng rất quan trọng, 52.3% cho rằngquan trọng, 2.9% cho rằng ít quan trọng và chỉ 1% cho rằng không quan trọng (biểu
đồ 2.1) Như vậy, đa số sinh viên trường Đại học Sài Gòn nhận thức được vai tròquan trọng của tự phê bình và phê bình Tuy nhiên vẫn còn một số ít vẫn chưa thấyđược tầm quan trọng của tự phê bình và phê bình trong sinh viên hiện nay
Cụ thể, tỉ lệ sinh viên cho rằng rất quan trọng và quan trọng của từng khóa là:năm 1 là 96.8%, năm 2 là 97.9%, năm 3 là 95.8% và năm 4 là 93.8% (biểu đồ 2.2)
Dù ở năm 3 và năm 4 chiếm tỉ lệ thấp hơn năm 1 và năm 2, nhưng nhìn chung cáckhóa vẫn đề cao vai trò quan trọng của tự phê bình và phê bình Song song đó, tỉ lệphần trăm sinh viên của năm 1 và năm 2 cao cũng phản ánh được các bạn trẻ đang có
Trang 36sự quan tâm sâu sắc về vấn đề này.
Biểu đồ 2.2 Mức độ nhận thức về vai trò của tự phê bình và phê bình theo tỉ lệ các khóa
Rất quan trọng Quan trọng Ít quan trọng Không quan trọng
Để có thể đánh giá khách quan về thực trạng của công tác tự phê bình và phêbình trong sinh viên trường Đại học Sài Gòn hiện nay, tác giả đã tiến hành khảo sát vàthu thập được số liệu sau đây:
Không được đề cập ( yêu cầu ) Không diễn ra và không có kết quả
Kết quả cho thấy (biểu đồ 2.3), 13% cho rằng công tác tự phê bình và phê bìnhtrong sinh viên Đại học Sài Gòn hiện nay làm thường xuyên và rất tốt, 50% số kháccho rằng có làm mà chỉ thỉnh thoảng và kết quả bình thường, 32% chọn không được đềcập (yêu cầu) và 5% thấy rằng nó không diễn ra và không có kết quả Từ số liệu thựctiễn trên, ta thấy được công tác tự phê bình và phê bình trong sinh viên trường Đại học
Trang 37Sài Gòn hiện nay chưa được đánh giá cao, còn hạn chế, chưa được quan tâm, chưađược thực hiện thường xuyên, liên tục, chỉ làm thỉnh thoảng định kì ở một số hoạtđộng Điều này cũng ảnh hưởng không nhỏ đến công tác tự phê bình và phê bình củamỗi sinh viên trường Đại học Sài Gòn, cụ thể:
Khi được hỏi: “Anh (chị) đã thực hiện công tác tự phê bình như thế nào?”
7.80%
25.80%
60.40%
6.00%
Biểu đồ 2.4 Mức độ thực hiện công tác tự phê bình
của sinh viên Đại học Sài Gòn.
Rất thường xuyên Thường xuyên Thỉnh thoảng Không bao giờ
Kết quả thu được: 7.8% thực hiện rất thường xuyên; 25.8% thực hiện thườngxuyên; 60.4% thỉnh thoảng mới thực hiện, chiếm tỉ lệ khá cao trong tổng số sinh viên,
và 6% còn lại không bao giờ thực hiện (biểu đồ 2.4) Điều này phản ánh được công tác
tự phê bình của sinh viên Đại học Sài Gòn chưa được thực hiện liên tục, thườngxuyên, chỉ thỉnh thoảng, dẫn đến thực trạng công tác tự phê bình và phê bình trongsinh viên trường Đại học Sài Gòn hiện nay đang có xu hướng giảm
Trang 38Năm 1 Năm 2 Năm 3 Năm 4
Biểu đồ 2.5 Mức độ thực hiện công tác tự phê bình của sinh viên Đại học Sài Gòn theo tỉ lệ các khóa
Rất thường xuyên Thường xuyên Thỉnh thoảng Không bao giờ
Đi sâu vào nghiên cứu, mức độ thực hiện công tác tự phê bình của sinh viên Đạihọc Sài Gòn theo tỉ lệ các khóa (biểu đồ 2.5), tác giả thấy được: mức độ thực hiện rấtthường xuyên và thường xuyên chiểm tỉ lệ cao ở sinh viên năm 3 (43.8%) và năm 4(40.6%); mức độ thực hiện thỉnh thoảng ở các khóa khá cao chiếm hơn 50% tổng sốtừng khóa, tuy nhiên chủ yếu tập trung cao nhất ở năm 1 (61.5%) và năm 2 (75%);mức độ không thực hiện cũng chiếm tỉ lệ không hề nhỏ, năm 1 cao nhất (8.3%), năm 4chiếm tỉ lệ cao thứ hai (7.3%), năm 2 chiếm tỉ lệ tương đối thấp (5.2%), thấp nhất lànăm 3 (3.1%) Dựa vào số liệu thống kê được, ta thấy mức độ thực hiện tự phê bình ởcác khóa chênh lệch nhau khá cao Năm 3 và 4 thực hiện thường xuyên hơn
Với câu hỏi: “Anh (Chị) đã thực hiện công tác phê bình như thế nào?”
Trang 3924.20%; 24.20%
61.50%
Biểu đồ 2.6 Mức độ thực hiện công tác phê bình của
sinh viên Đại học Sài Gòn
Rất thường xuyên Thường xuyên Thỉnh thoảng Không bao giờ
Kết quả khảo sát thu được: 9.9% thực hiện rất thường xuyên; 24.2% thực hiệnthường xuyên; 61.5% thỉnh thoảng mới thực hiện, chiếm tỉ lệ khá cao trong tổng sốsinh viên và 4% còn lại không bao giờ thực hiện (biểu đồ 2.6) Như vậy, giống như tựphê bình, đa số các bạn sinh viên chỉ thỉnh thoảng phê bình chứ chưa ý thức được rằngphải thực hiện thường xuyên và liên tục
Biểu đồ 2.7 Mức độ thực hiện công tác phê bình của sinh viên Đại học Sài Gòn theo tỉ lệ các khóa
Rất thường xuyên Thường xuyên Thỉnh thoảng Không bao giờ
Qua biểu đồ 2.7, ta thấy theo tỉ lệ các khóa, sinh viên năm 3 và năm 4 có mức
Trang 40độ thực hiện công tác phê bình rất thường xuyên và thường xuyên cao nhất (lần lượt là32.7% và 44.8%), chứng tỏ sinh viên năm 3 và năm 4 có ý thức cao hơn trong việcthường xuyên thực hiện công tác phê bình so với năm 1 và năm 2 (lần lượt là 27% và21.9%).
Để hiểu rõ ý thức tự phê bình và phê bình hiện nay của sinh viên trường Đạihọc Sài Gòn như thế nào, tác giả tiến hành khảo sát ở từng mặt riêng lẽ
Ở câu hỏi: Theo anh (chị) thế nào là tự phê bình?
Trả lời cho câu hỏi này, có: 47.9% cho rằng tự phê bình là nhận xét, đánh giábản thân để tìm ra những ưu và khuyết điểm của bản thân; 6.5% cho lại rằng đó lànhận xét, đánh giá bản thân để tìm ra ưu điểm của mình; 44.8% nghĩ rằng tự phê bình
là nhận xét, đánh giá bản thân để tìm ra những khuyết điểm và 0.8% chọn ý kiến khác(biểu đồ 2.8) Những ý kiến khác đó là:
- Tự phê bình là tự kiểm điểm bản thân và sau đó điều chỉnh những hành vicho đúng
- Tự phê bình là tự kiểm tra, đánh giá bản thân
- Tự phê bình là kiểm chứng, đánh giá một vấn đề nào đó của bản thân mình