Ngay từ những bước đi đầu tiên của mình, triết học đã chứng minh sự phát triển của nó bằng những cuộc đấu tranh giữa những luồng tư tưởng khác nhau về các vấn đề của thế giới
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
Loài người với hàng nghìn năm phát triển của mình đã là nhân chứng,tác nhân cho sự đổi thay hàng ngày hàng giờ của chính thế giới mình tồn tại.Cuộc đấu tranh giữa con người với thiên nhiên, giữa con người với con người
đã và đang là động lực thúc đẩy thế giới ngày càng phát triển.Triết học với vaitrò một hình thái ý thức xã hội là học thuyết về những nguyên tắc chung nhấtcủa tồn tại và nhận thức về thái độ của con người với thế giới, là khoa học vềnhững quy luật chung nhất của tự nhiên xã hội và tư duy cũng không nằmngoài cuộc đấu tranh gay gắt ấy Nếu sự phát triển của thế giới được thể hiệnbằng cuộc đấu tranh giữa các giai cấp, hình thái xã hội; bằng sự phủ định lẫnnhau của các chế độ xã hội thì lịch sử phát triển của triết học lại được đánh dấubằng cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa Duy vật và chủ nghĩa Duy tâm
Cuộc đấu tranh giữa hai trường phái triết học này là sợi chỉ đỏ xuyênsuốt quá trình phát triển của triết học Nó phản ánh cuộc đấu tranh giai cấptrong xã hội đã phân chia thành các giai cấp đối kháng Thường thường chủnghĩa duy vật thể hiện thế giới quan của những lực lượng tiến tiến, tiến bộ của
xã hội , còn chủ nghĩa duy tâm (tuy không phải bao giờ cũng vậy) là thế giớiquan của những lực lượng suy tàn, phản động và bảo thủ trong xã hội Chủnghĩa duy vật khẳng định tính thứ nhất có trước của vật chất và tính thứ hai cósau của ý thức, con người có khả năng nhận thức được thế giới Ngược lại chủnghĩa duy tâm khẳng định tính thứ nhất có trước của ý thức, phủ nhận khả năngnhận thức của con người đối với thế giới Dù sao bất kỳ hệ thống triết học nàocũng đều phải xuất phát từ các vấn đề cơ bản của triết học, từ đó xây dựng toàn
bộ hệ thống trên cơ sở giải quyết các vấn đề đó Cũng như sự phong phú củathế giới cuộc đấu tranh trong triết học diễn ra với nhiều hình thức, mức độ khácnhau, cuộc đấu tranh này vừa là cuộc đấu tranh giữa tư tưởng, thế giới quan
Trang 2đồng thời cũng là cuộc đấu tranh của một bộ môn khoa học Trên con đườngđến với chân lý ấy những nhà triết học, những trường phái triết học khôngnhững đấu tranh với nhau mà gay gắt hơn còn phải đấu tranh với chính mình.Trong tiểu luận này chúng ta làm rõ vấn đề lịch sử triết học là lịch sử đấu tranhcủa hai khuynh hướng triết học Duy vật và Duy tâm Đồng thời rút ra ý nghĩaphương pháp luận bản thân
Kết cấu của tiểu luận
Trang 3Xem xét triết học phương Đông ngay từ những ngày đầu của lịch sử pháttriển loài người với hai đại diện lớn nhất của nó : Ấn Độ và Trung Hoa ta dễdàng làm rõ được vấn đề này Trước tiên đề cập đến lịch sử phát triển của Ấn
độ cổ đại với nền văn minh sông Ấn ra đời từ những năm đầu của thiên niên kỷthứ III đầu thiên niên kỷ thứ II trước C.N và sau nó là thời kỳ VEDA với sựhình thành của xã hội chiếm hữu nô lệ và các đẳng cấp ra đời bước đầu quyđịnh cơ cấu xã hội, những tính chất khắt khe nghiệt ngã của nó đã mang tới sựđấu tranh quyết liệt giữa các tầng lớp trong xã hội, bên cạnh đó sự phát triểncủa khoa học và văn hoá Ấn độ trong thời kỳ này cũng là cơ sở cho cuộc đấutranh trong lĩnh vực tư tưởng giữa chủ nghĩa duy vật vô thần chủ nghĩa hoàinghi chống lại uy thế của các tín điều tôn giáo, thế giới quan thần thánh đạidiện cho tầng lớp, đẳng cấp bóc lột trong xã hội
Thánh kinh Véda, đạo Rig-Véda với đặc điểm là những hình thức tôngiáo cổ coi trọng sự tồn tại của các bậc thần linh , sự hiện hữu của thượng đếtrong cả 3 cõi nhân gian Đi vào giải thích các hiện tượng tự nhiên và đời sống
xã hội bằng biểu tượng của các vị thần rồi dẫn đến việc giải thích căn nguyêncủa thế giới, bản chất của vũ trụ bằng một đấng sáng tạo Kinh Upalisad với
Trang 4mục đích chính nhằm biện hộ cho các học thuyết của kinh Véda một lần nữalàm rõ hơn bản nguyên của thế giới qua cái có trước, thực thể duy nhất, tồn tạivĩnh viễn '' Tinh thần vũ trụ tối cao" Trong giai đoạn phát triển đương thờicủa xã hội Ấn Độ thế giới quan của kinh Véda và kinh Upanisad được suy tôn
là hệ tư tưởng chính thống ngự trị trong đời sống tinh thần xã hội Các trườngphái triết học ủng hộ quan điểm, thừa nhận uy thế tối cao của nó cũng tồn tại
và phát triển với vị trí "trường phái triết học chính thống" - Samkhya, Nyaya,Vaisesika, Yoga, Mimansa, Védanta cũng đều đưa ra những quan điểm luậnthuyết của mình về thế giới với sự có mặt của các bậc siêu nhiên như Purusatrong Samkhya hậu kỳ hay thần Isvara người chỉ đạo sự phối hợp của các mốiliên hệ, tác động tạo nên thế giới trong giáo lý của Nyaya hoặc quan điểmthượng đế tạo ra thế giới bằng thứ chất liệu vĩnh cửu ở phái Vaisesika hậu kỳ,Bràhman trong triết học Vedànta
Tất cả đều đưa ra những quan điểm nhằm bênh vực cho giáo lý duy tâmhoang đường của đạo Bàlamôn tư tưởng đại diện cho tầng lớp , đẳng cấp trêngồm các tăng lữ, lễ sư hay vương công vua chúa Phủ nhận khả năng nhận thứccủa con người trước tự nhiên và thế giới khách quan cũng không nằm ngoàimục đích đó
Đối lập với những trường phái trên là một bộ phận các tư tưởng mangtính "tà giáo" không chính thống mà đại diện là các trường phái triết học mangtính duy vật cao như Lokayata, phật giáo hay đạo Jaina Bằng những quanđiểm của mình về thế giới như mọi sự vật, hiện tượng trong vũ trụ đều đượctạo nên bởi bốn yếu tố : Đất, nước, lửa, không khí; ý thức là thuộc tính cố hữucủa vật chất (Lokayata) cũng như mọi vật biến đổi không ngừng không do vịthần nào sáng tạo ra (Phật giáo) Hoặc quan điểm không thừa nhận thượng đế,coi vật chất tạo bởi các nguyên tử vô cùng nhỏ bé, cách hấp dẫn, kết hợp vớinhau theo nhiều dạng khác nhau tạo nên sự đa dạng của vật chất ( Jaina) Tất cả
Trang 5đều nhằm phủ nhận những quyền năng giả tạo của kinh Véda và Upanisad
"Các kinh Véda và Upanisad chỉ là tác phẩm của bọn điên khùng, bọn hề, bọn
xỏ lá và lũ quỷ ác" qua đó cũng nói lên tiếng nói phản kháng của những tầnglớp thấp hơn đối với sự thống trị của nhà nước quân chủ chuyên chế lấy tôngiáo làm chiếc gậy điều khiển xã hội Tương tự như vậy, Trung Hoa cổ đại với
sự phát triển khá sớm dù còn sơ đẳng của tri thức khoa học cả về tự nhiên và xãhội cũng như sự hình thành và mất đi của các triều đại phong kiến Ân, Chudẫn đến sự hình thành của các cát cứ phong kiến trong thời Xuân Thu, đã làmảnh đất cho những hệ tư tưởng khác nhau cùng sinh sôi và phát triển Nhữngtriết gia thời kỳ " Bách gia chư tử" này của Trung hoa cổ đại đều đứng trên lậptrường của giai cấp, tầng lớp mình để bênh vực cho nó cũng như phê phán, lật
đổ những quan niệm, ý tưởng, trật tự xã hội đối lập khác bằng việc tranh luận,phê phán đả kích lẫn nhau Nhưng nổi lên trên tất cả ta vẫn thấy ở đây sự đấutranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm Nếu thế giới quan duy tâm,tôn giáo dưới triều đại Ân - Thương, Tây chu được chính trị hoá, nâng lênthành hình thái ý thức xã hội biện hộ cho vai trò thống trị của nhà nước chuyênchính thị tộc Những tư tưởng " nhận dân"," hưởng dân", "trị dân " được giảithích là " Vâng mệnh trời" " thuận theo ý trời", nếu trái với "mệnh trời " là cótội đã được các giai cấp quý tộc thời này lợi dụng triệt để đề đề cao quyền uycủa mình cũng như nhấn chìm mọi sự phản kháng của nhân dân Tuy nhiên,với trình độ nhận thức và đời sống xã hội còn thấp kém thời kỳ này ta vẫn thấynổi lên những tiếng nói phản kháng, với sự xuất hiện của những tư tưởng triếthọc duy vật mang tính chất phác cho rằng con người có thể tự quyết định vậnmệnh cuả mình, " chỉ cần con người ra sức sản xuất nông nghiệp và tiết kiệmtiền của thì có thể đề phòng được mọi thiên tai, bất trắc và bệnh tật"- Tang VănTrọng hay " Đạo trời thì xa, đạo người thì gần " - Tử Sản hoặc những cố gắngtrong việc giải thích các hiện tượng của tự nhiên trong " Kinh Dịch" đã phần
Trang 6nào thể hiện được cuộc đấu tranh giữa hai trường phái triết học, hai hệ tư tưởng
từ thủa sơ khai này Khi xã hội Trung hoa chuyển sang giai đoạn phát triển mớivới việc tồn tại của các cát cứ phong kiến - Thời Xuân thu, sự biến động lớnlao của xã hội đã mang đến sự phát triển của các trao lưu triết học khác nhau vàcuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm trong hệ thốngtriết học Trung Hoa lại bước sang một giai đoạn mới với những đặc điểm mới.Những quan điểm duy tâm của các nhà triết học xuất thân từ những lớp quýtộc, quân tử vẫn nhằm một mục đích duy nhất là củng cố địa vị của giai cấpquý tộc và bảo vệ nhà nước của nó Khổng Tử, Mạnh Tử và sau này là Trang
Tử với tầng lớp xuất thân là quý tộc hay dòng dõi hoàng tộc triết học của họvẫn thể hiện một nội dung chính " Mệnh trời" " Sống chết có mệnh, giầu sang
do trời " - Khổng tử, hay các quan niệm chẳng có gì mà không do mệnh trời ,cái tâm do trời phú, chính quyền do trời ban ra, vũ trụ vạn vật đều tồn tại trong
ý thức của trời - Mạnh tử, đạo trời là tự nhiên vốn có, cái 'không ' là nguồn gốccủa thế giới - Trang tử Thêm vào đó là sự phủ định khả năng của con ngườitrong nhận thức cũng như cải biến thiên nhiên, " Đối với dân việc gì cần làmthì cứ sai khiến người ta làm không nên giảng giải vì có giảng giải dân cũngkhông thể hiểu"- Khổng tử Hay những quan điểm của Trang tử : Con ngườikhông làm gì được trước mọi biến hoá của sự vật khách quan , chỉ có thể phụctùng tuyệt đối tính chất biến hoá của thế giới vạn vật, cách phân chia hạngngười của Mạnh tử : Người lao tâm và Người lao lực Tất cả đều nhằm múcđích biện hộ cho trật tự đẳng cấp xã hội phong kiến, coi sự đối lập giữa giai cấpbóc lột và giai cấp bị bóc lột là trật tự hợp lý, vĩnh viễn Nói như vậy không cónghĩa trong những luận thuyết của các ông chỉ mang nặng tính duy tâm tôngiáo mà trong bản thân nó ta cũng vẫn thấy những quan điểm tiến bộ thể hiện
dù manh nha những quan điểm duy vật và đâu đó sự xuất hiện của phép biệnchứng sơ khai, những nội dung này sẽ được làm rõ ở phần sau
Trang 7Bên cạnh những quan niệm nghiêng về chủ nghĩa duy tâm tôn giáo, vẫnnổi lên trong thời kỳ này một số những quan điểm mang đậm tính duy vật màtác giả của nó xuất thân từ những tầng lớp " Tiểu nhân" Mặc tử với trườngphái Mặc gia, đạo gia của Lão Tử họ đã phần nào nói lên tiếng nói của nhữngngười sản xuất nhỏ(Mặc gia) cũng như phản ánh tư tưởng của người nông dâncông xã dưới thời Xuân thu - Chiến Quốc ( Đạo gia) Nội dung chính trongquan điểm của họ là chống lại thuyết " Thiên mệnh" của Nho gia - mọi phúchoạ may rủi thành bại trong cuộc sống đều do chính hành vi con người gây ratất cả đều do sức ta chưa đủ, lực ta chưa mạnh tuyệt nhiên không phải do mệnhtrời như Nho gia quan niệm - Mặc gia Vai trò của con người trong nhận thứcthế giới cũng được các nhà triết học này khẳng định, học thuyết "Tam biểu"của Mặc tử coi trọng kinh nghiệm trong nhận thức, những chủ chương chốnglại thuyết bất khả tri và học thuyết nguỵ biện của Trang tử của phái Hậu Mặc,
sự khẳng định khả năng của con người có thể nhận thức được thế giới qua
"Đạo và Đức", tìm ra được sự đồng nhất giữa ý thức chủ quan và tự nhiênkhách quan trong quá trình nhận thức chân lý của Lão Tử rồi tiến tới phủ định
xã hội có giai cấp , phủ định quan hệ trên dưới sang hèn chỉ trích bọn quan lại
là kẻ trộm cướp Tất cả là những tiếng nói bênh vực cho quyền lợi của nhândân lao động và cũng đã thấy được ở họ sức mạnh cải tạo xã hội
Nếu do đặc điểm về mặt văn hoá cũng như đặc trưng của phương thứcsản xuất châu Á dẫn đến triết học phương Đông còn chưa phân định thật rõgiữa triết học và tôn giáo cho nên những trường phái triết học còn chưa mangtính triệt để sâu sắc thì ở phương Tây những phân định này đã rõ ràng hơn, tínhlogic trong suy luận cũng phát triển ở mức cao hơn do đó cuộc đấu tranh giữahai quan điểm triết học duy vật và duy tâm cũng được thể hiện quyết liệt hơn.Triết học Hy lạp cổ đại đã chứng minh rất rõ nhận đinh trên Để đi sâu tìm hiểucuộc đấu tranh giữa các trường phái triết học thời kỳ này ta không thể bỏ qua
Trang 8những điều kiện phát triển kinh tế xã hội của Hy Lạp cổ đại Có thể nói vàogiai đoạn thế kỷ VI trước C.N Sự phát triển nhẩy vọt về trí tuệ của nhân loạivẫn đang là một câu hỏi cho các nhà sử học hiện nay, với sự phát triển ở mứccao của nền sản xuất chiếm hữu nô lệ cộng với sự tăng cường của các quan hệthương mại đã biến Hy lạp thành một cường quốc Sự phát triển của nền sảnxuất đã dẫn đến sự ra đời và phát triển của các quan hệ và tổ chức xã hội Nếutriết học Hy lạp cổ đại phản ánh cuộc đấu tranh giai cấp chính trong xã hội lúcbấy giờ : Chủ nô và Nô lệ, thì nội dung cơ bản của sự phát triển triết học ở Hylạp cổ đại là cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm trongtriết học, đồng thời phản ánh cuộc đấu tranh giữa hai tầng lớp : Chủ nô dânchủ và chủ nô quý tộc
Ta có thể thấy cuộc đấu tranh này ngay từ những thời điểm khai sinh củatriết học Hy lạp cổ đại Những vấn đề về bản thể luận đã được các nhà triết họcthời này đề cập đến với những quan niệm khác nhau Nếu Talet cho rằng Nước
là yếu tố đầu tiên sinh ra vật chất và là bản nguyên của mọi vật trong thế giới,Anaximandrơ gọi bản cái chất ban đầu ấy bằng cái tên đầy vẻ thần bí : Aperontrong khi Anaximen lai cho rằng thế giới sinh ra từ không khí, Heraclít chorằng Lửa sinh ra tất cả thì Pitago và trường phái của ông lại đưa ra quan niệmthế giới, vật chất được sinh ra từ những con số và ra sức bảo vệ sức mạnh củatôn giáo và thần học Nhận thức của con người được Heraclít cho rằng bắt đầu
từ cảm giác và bản chất của tinh thần ở chính thế giới vật chất thì những ngườithuộc liên minh Pitago tuyệt đối hoá những con số coi rằng chúng là nền tảngcủa ý thức, linh hồn của con người được cấu thành từ các con số và các giaiđoạn sau của trường phái này những khái niệm về "thần thánh", "con cưng củathượng đế" lại được đưa ra để giải thích bản chất thế giới
Nhưng cuộc đấu tranh gay gắt giữa phe chủ nô quý tộc chuyên chế vàphe chủ nô dân chủ chỉ được thể hiện rõ qua cuộc đấu tranh trực diện giữa hai
Trang 9trường phái triết học đại diện cho 2 phe mà nhân vật tiêu biểu là Đemôcrít vàPlatôn Trong khi Đemôcrít khẳng định thế giới vạn vật được tạo lên bởi cácnguyên tử, sự kết hợp khác nhau của các nguyên tử tạo nên sự khác nhau của
sự vật Đồng thời ông phủ định sự tồn tại của các lực lượng siêu nhiên trong vũtrụ cũng như khẳng định con người có thể nhận biết được bất kỳ điều gì trênthế giới nếu họ muốn biết thì ngược lại Platôn , học trò của Xôcrat - người đã
bị kết án tử hình vì chống chế độ dân chủ chủ nô, và bản thân từng bị bắt đem
ra chợ nô lệ bán lại cho rằng ý niệm là cái có trước là cái nguyên mẫu và làbản chất của sự vật, mọi vật chỉ là hiện thân của ý niệm, thể xác chỉ là chỗ trúngụ của linh hồn con người, từ đó ông phủ nhận vai trò của nhận thức cảmtính, coi rằng chân lý chỉ được nhận thức bằng sự hồi tưởng của linh hồn bất
tử Và ông đã bác bỏ những quan niệm vô thần của Đemôcrít coi nó là nguyênnhân làm cho " bọn thanh niên sa vào những tư tưởng vô đạo cho rằng không
có những vị thần mà luật pháp bắt họ phải thừa nhận" Sự quyết liệt trong cuộcđấu tranh giành chân lý này còn được thể hiện qua Arixtốt bằng những quanđiểm của mình đã phê phán mạnh mẽ học thuyết duy tâm của Platôn - ngườithầy của mình - về việc coi các ý niệm như một dạng tồn tại độc lập và táchrời thế giới ý niệm với thế giới hiện thực Ông cũng thẳng thắn cho rằng ý niệmcủa Platon không thể là công cụ nhận thức thế giới Tất cả đều minh chứng chomột điều " chân lý là cái cao nhất mà con người cần vươn tới
Châu Âu bước vào "đêm trường trung cổ" với sự thống trị của tôn giáo,nguyên lý tôn giáo trở thành nguyên lý về chính trị, kinh thánh có vai trò nhưluật lệ Sự thay thế chế độ chiếm hữu nô lệ bằng chế độ phong kiến thời kỳ đầukéo lùi sự phát triển của lục địa này Tuy nhiên chính nỗi đau này đã ấp ủ mộtnền văn minh mới Triết học thời kỳ này có thể coi là tiếng nói của tôn giáo, làcông cụ cho giáo hội, song trong lòng thứ triết học tôn giáo ấy vẫn chứa đựng
sự đối lập mâu thuẫn thai nghén cho một sự phát triển trong tương lai Trong
Trang 10giai đoạn đầu của sự thai nghén này, cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật vàchủ nghĩa duy tâm không thể hiện rõ ràng mà chỉ thấy trong một và quan điểmriêng lẻ của một vài nhà triết học có xu hướng duy vật mơ hồ Cuộc đấu tranhnày chỉ được thể hiện rõ hơn dưới một hình thức khác vào thời trung cổ giữa
"chủ nghĩa duy thực " và " chủ nghĩa duy danh "cuộc tranh cãi giữa hai trườngphái này được khoác lên một cái vỏ thần học là sự đấu tranh giữa cái chung( duy thực)- một thực thể tinh thần nào đó có trước với triết học củat Platôn lànguồn gốc và bên kia coi cái đơn nhất , cá biệt là có thực ( duy danh ) Nếu đisâu vào xem xét ta sẽ nhận thấy đằng sau cái vỏ thần học ấy là cuộc đấu tranhgiữa chủ nghĩa duy tâm coi tư tưởng có trước ( phái duy thực) và chủ nghĩaduy vật chưa dám lộ mình vì điều kiện lịch sử lúc bấy giờ, coi cảm giác cótrước tư tưởng ( Duy danh) Những đại diện của các trường phái này cũng rasức bảo vệ quan điểm ý kiến của mình và không ít người đã hy sinh để bảo vệcái mình cho là chân lý
Bên cạnh Giăngxcốt Ơrigiennơ lớn tiếng chứng minh sự tồn tại củathượng đế và vai trò tối cao của nó khẳng định cái chung huyền diệu có trước,
là cơ sở cho những cai cơ bản riêng lẻ, là bản nguyên của sự vật Ta lại thấymột nhà duy danh người Pháp Pie Abơla gián tiếp phủ nhận vai trò của chúatrời bằng nguyên lý " Hiểu để mà tin " Thái độ phê phán những đại biểu củanhà thờ và chỉ ra tính không chuẩn xác của các học thuyết thần học của ông đãkhiến cho nhà thờ xếp ông vào hàng ngũ những kẻ " chống chúa trời " vànhững tác phẩm của ông được coi là những "cuốn sách có chất độc"
Quan niệm giới tự nhiên do trời sinh ra, đẳng cấp do trời sắp đặt chínhquyền do ý trời, con người không nhận thức được tồn tại của thế giới kháchquan, hay đề cao lòng tin vào ý chí, thượng đế tồn tại bất tận còn được thấytrong triết học của Tômát Đacanh hay một phần của Đun Scốt Tuy nhiên, ta lạivẫn thấy những tiếng nói phê phán gay gắt và cay độc tính chất vô dụng của
Trang 11phương pháp kinh viện và tư tưởng chống giáo hoàng , khẳng định sự vật riêng
lẻ coi những cái chung là vô ảo chỉ tìm thấy trong từ ngữ trong quan điểm củaRôgiê Bêcơn hay Guyôm ốccam
Châu Âu bước vào thời kỳ phục hưng với sự nẩy sinh của chủ nghĩa tưbản trong lòng xã hội phong kiến Nền sản xuất được tiếp thu những phátminh, cải tiến đã đem lại năng xuất lao động cao hơn Giai cấp tư sản mới hìnhthành ngoài việc cần khoa học kỹ thuật để phát triển đồng thời cũng tìm kiếm
vũ khí tư tưởng chống lại hệ tư tưởng duy tâm tôn giáo Điều kiện lịch sử đãmang lại cho triết học một khuôn mặt mới tuy nhiên cuộc đấu tranh của chủnghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm trong triết học vẫn mang một hình thức đặcthù : đấu tranh bênh vực khoa học phi tôn giáo, chống các học thuyết tôn giáo,đối lập giữa trí thức thực nghiệm với chủ nghĩa kinh viện và đấu tranh cho giảiphóng con người Ta thấy trong thời kỳ này những tiếng nói phủ nhận chúa trờithống trị vũ trụ, đồng nhất thượng đế với giới tự nhiên coi vật chất được sinh ra
từ các phần tử nhỏ nhất (Thuyết Đơn tử) cũng như đề cao nhận thức của conngười trong quan điểm của Brunô - Nhà triết học người Ý đại diện cho đỉnhcao sự phát triển tư tưởng duy vật thời kỳ này- người đã bị giáo hội xử tử.Trong triết học của Galilê ta cũng nhận thấy các quan điểm tương tự Tất cảđều nhằm khẳng định sức mạnh của khoa học và phủ nhận tôn giáo và thầnthánh Bên cạnh đó ở thời kỳ này không thể không nhắc đến những nhà Cộngsản không tưởng với những quan điểm nhân đạo của mình, ước muốn xâydựng một xã hội tốt đẹp không bóc lột không giai cấp của Tômát Morơ hayTômađô Cămpanenla
Bước vào thế kỷ XVII với việc hình thành phương thức sản xuất tư bảnchủ nghĩa trên nhiều nước Châu Âu và đi kèm với nó là sự phát triển vượt bậccủa khoa học tự nhiên Giai cấp tư sản thấy rằng đã đến lúc phải giành lấychính quyền về tay mình, phá bỏ thành trì của giai cấp phong kiến Tất cả đã