1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý tài sản công các cơ sở giáo dục đại học công lập ở việt nam

267 136 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 267
Dung lượng 1,96 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

tính chuyên nghiệp thấp, còn nặng về hành chính, bao cấp; hiệu lực, hiệu quả quảnlý chưa cao; vai trò điều tiết của các cơ quan quản lý TSC hạn chế nên còn tìnhtrạng nơi thừa, nơi thiếu

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các

số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về cam đoan này!

Hà Nội, ngày…….tháng…….năm 2019

Tác giả luận án

ĐÀO THỊ HƯƠNG

Trang 2

MỤC LỤCLỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG, BIỂU, SƠ ĐỒ

LỜI MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ QUẢN LÝ TÀI SẢN CÔNG CÁC CƠ SỞ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC CÔNG LẬP 26 1.1 TÀI SẢN CÔNG CÁC CƠ SỞ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC CÔNG LẬP 26

1.1.1 Cơ sở giáo dục đại học công lập 26 1.1.2 Khái niệm và đặc điểm tài sản công các cơ sở giáo dục đại học công lập .28 1.1.3 Phân loại tài sản công các cơ sở giáo dục đại học công lập 33 1.1.4 Vai trò của tài sản công các cơ sở giáo dục đại học công lập 35

1.2 QUẢN LÝ TÀI SẢN CÔNG CÁC CƠ SỞ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC CÔNG LẬP 37 1.2.1 Khái niệm quản lý tài sản công các cơ sở giáo dục đại học công lập 37 1.2.2 Các yêu cầu quản lý tài sản công các cơ sở giáo dục đại học công lập 40 1.2.3 Nội dung quản lý tài sản công các cơ sở giáo dục đại học công lập 43 1.2.4 Nhân tố ảnh hưởng đến quản lý tài sản công các cơ sở giáo dục đại học công lập 61

GIÁO DỤC ĐẠI HỌC CÔNG LẬP VÀI BÀI HỌC CHO CÁC CƠ SỞ GIÁO DỤCĐẠI HỌC CÔNG LẬP Ở VIỆT NAM 66

1.3.1 Kinh nghiệm quản lý tài sản công các cơ sở giáo dục đại học công lập của một số nước trên thế giới 66 1.3.2 Bài học cho các cơ sở giáo dục đại học công lập ở Việt Nam 72

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 75

Trang 3

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ TÀI SẢN CÔNG CÁC CƠ SỞ

GIÁO DỤC ĐẠI HỌC CÔNG LẬP Ở VIỆT NAM 76

2.1 CƠ SỞ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC CÔNG LẬP VÀ TÀI SẢN CÔNG CÁC CƠ SỞ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC CÔNG LẬP Ở VIỆT NAM 76

2.1.1 Khái quát về hệ thống các cơ sở giáo dục đại học công lập ở Việt Nam 76

2.1.2 Thực trạng tài sản sản công các cơ sở giáo dục đại học công lập 78

2.2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ TÀI SẢN CÔNG CÁC CƠ SỞ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC CÔNG LẬP Ở VIỆT NAM 88

2.2.1 Tiêu chuẩn, định mức sử dụng tài sản công 88

2.2.2 Thực trạng quản lý quá trình hình thành tài sản công 91

2.2.3 Thực trạng quản lý quá trình khai thác, sử dụng tài sản công 113

2.2.4 Thực trạng quản lý quá trình kết thúc sử dụng tài sản công 128

2.2.5 Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành chế độ quản lý tài sản công 131

2.3 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ THỰC TRẠNG QUẢN LÝ TÀI SẢN CÔNG CÁC CƠ SỞ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC CÔNG LẬP Ở VIỆT NAM 133 2.3.1 Các kết quả đạt được 133

2.3.2 Những hạn chế 136

2.3.3 Nguyên nhân của hạn chế 140

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 153

CHƯƠNG 3 QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ TÀI SẢN CÔNG CÁC CƠ SỞ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC CÔNG LẬP Ở VIỆT NAM 154

3.1 QUAN ĐIỂM HOÀN HIỆN QUẢN LÝ TÀI SẢN CÔNG CÁC CƠ SỞ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC CÔNG LẬP Ở VIỆT NAM 154

3.1.1 Quan điểm hoàn thiện quản lý tài sản công 154

3.1.2 Quan điểm hoàn thiện quản lý tài sản công các cơ sở giáo dục đại học công lập 156

Trang 4

3.2 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ TÀI SẢN CÔNG CÁC CƠ

SỞ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC CÔNG LẬP Ở VIỆT NAM 158

3.2.1 Nhóm giải pháp về cơ chế chính sách 158

3.2.2 Nhóm giải pháp về tổ chức thực hiện 166

3.3 KIẾN NGHỊ 179

3.3.1 Tăng cường hiệu quả tự chủ đại học, đặc biệt là tự chủ tài chính 179

3.3.2 Nâng cao năng lực quản lý tài sản công 181

3.3.3 Cơ sở giáo dục đại học công lập cần thực hiện kiểm kê tài sản thường xuyên và thực chất 184

3.3.4 Tăng cường công tác giám sát, kiểm tra, thanh tra trong hoạt động quản lý, sử dụng tài sản công 185

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 186

KẾT LUẬN 188

PHỤ LỤC 191

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 224

Trang 5

NCKH : Nghiên cứu khoa học

PTĐL : Phương tiện đi lại

Trang 6

DANH MỤC BẢNG, BIỂU, SƠ ĐỒHình 1.1: Phân loại TSC các cơ sở GDĐH công lập theo công dụng của tài sản 34 Bảng 2.1: Biến động về số lượng TSC 12 cơ sở GDĐH công lập tự chủ giai đoạn 2014 – 2018 79

Bảng 2.2: Cơ cấu số lượng TSC 12 cơ sở GDĐH công lập tự chủ giai đoạn 2014 –2018 81Bảng 2.3: Diện tích TSC là nhà 12 cơ sở GDĐH công lập tự chủ giai đoạn 2014 –2018 83Bảng 2.4: Nguyên giá TSC 12 cơ sở GDĐH công lập tự chủ giai đoạn 2014 – 2018 85Bảng 2.5: Tỷ lệ các hạng mục đầu tư 12 cơ sở GDĐH công lập tự chủ 96Bảng 2.6: Tỷ lệ ngân sách cấp so với nguyên giá TSC 12 cơ sở GDĐH công lập tựchủ giai đoạn 2014 – 2018 109Bảng 2.7: Kinh phí duy tu, bảo dưỡng TSC 12 cơ sở GDĐH công lập tự chủ giai đoạn

2014 – 2018 126Bảng 3.1: Phân loại chi phí đào tạo theo mức độ hoạt động 179Biểu đồ 2.1: Số lượng các cơ sở giáo dục đại học, cao đẳng giai đoạn 2013 – 2017 76Biểu đồ 2.2: Cơ cấu theo giá trị tài sản là nhà 12 cơ sở GDĐH công lập tự chủ 86giai đoạn 2014 – 2018 86Biểu đồ 2.3: Cơ cấu theo giá trị tài sản là khác trên 500 triệu 12 cơ sở GDĐH cônglập tự chủ giai đoạn 2014 – 2018 87Biểu đồ 2.4: Cơ cấu các hạng mục đầu tư tài sản 12 cơ sở GDĐH công lập tự chủgiai đoạn 2010 – 2018 97Biểu đồ 2.5: Kinh phí duy tu, bảo dưỡng đối với từng loại tài sản 12 cơ sở GDĐHcông lập tự chủ 127

Sơ đồ 3.1: Tập hợp chi phí và tính giá dịch vụ theo bộ phận chức năng và loại hoạtđộng 178

Trang 7

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài luận án

TSC là một bộ phận quan trọng của tài sản quốc gia, là nguồn lực của đất nước

do Nhà nước làm chủ sở hữu và đại diện chủ sở hữu quản lý, sử dụng nhằm thực thi

có hiệu lực và hiệu quả chức năng tổ chức và quản lý xã hội Ở mỗi quốc gia, TSC

có vai trò hết sức quan trọng trong quá trình sản xuất và quản lý xã hội, đồng thờiviệc quản lý tốt TSC luôn được coi là một tiêu chuẩn quan trọng để đánh giá chấtlượng quản lý nhà nước của quốc gia đó

Cơ sở GDĐH công lập là cơ sở GDĐH do nhà nước (trung ương hoặc địaphương) đầu tư về kinh phí và cơ sở vật chất (đất đai, nhà cửa) và hoạt động chủyếu bằng kinh phí từ các nguồn tài chính công hoặc các khoản đóng góp phi vụ lợi

Sự ra đời và hoạt động của các cơ sở GDĐH công lập thể hiện vai trò của Nhà nướcđối với GDĐH

Nhà nước là chủ thể đặc biệt của xã hội, là người đại diện cho tất cả các thànhviên trong cộng đồng, do đó nhà nước có chủ quyền đối với tài sản quốc gia, làngười đại diện chủ sở hữu TSC Với vai trò là đại diện chủ sở hữu đối với TSC, Nhànước có quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt Nhà nước là đại diệnchủ sở hữu về tài sản và giao cho các cơ sở GDĐH công lập quản lý và sử dụng đểphục vụ công tác cho bộ máy của Nhà nước Việc hoàn thiện quản lý TSC các cơ sởGDĐH công lập là cần thiết vì các lý do sau:

Về mặt lý luận:

Thứ nhất, quản lý TSC tốt góp phần kích thích quá trình phát triển kinh tế - xã

hội của quốc gia Những yếu kém trong quản lý và sử dụng TSC dẫn đến thất thoát,lãng phí, từ đó làm suy giảm nội lực của đất nước Do đó cần thiết phải hoàn thiệnquản lý TSC, từ đó hướng hoạt động sử dụng TSC phù hợp với chiến lược phát triểnkinh tế - xã hội của quốc gia

Thứ hai, Chính phủ là đại diện chủ sở hữu của tất cả TSC, tuy nhiên Chính

phủ giao quyền quản lý và sử dụng những TSC cho các cơ quan nhà nước và đơn vị

sự nghiệp sử dụng, do vậy các cơ quan, đơn vị được giao quyền quản lý và sử dụng

Trang 8

những TSC để thực hiện chức năng, nhiệm vụ theo quy định của nhà nước phải đảmbảo quản lý chặt chẽ TSC theo đúng quy định của pháp luật, tiết kiệm và hiệu quả.

Vì vậy, cần thiết phải hoàn thiện quản lý TSC theo hướng phân cấp cho các cơ quanchủ quản các cơ sở GDĐH công lập ở trung ương và địa phương cũng như các cơ

sở GDĐH công lập nhằm quản lý chặt chẽ và hiệu quả công tác quản lý TSC các cơ

sở GDĐH công lập

Thứ ba, TSC các cơ sở GDĐH công lập là tiền đề, là yếu tố vật chất để Nhà

nước có thể tổ chức thực hiện các mục tiêu giáo dục – đào tạo đề ra Nguồn kinh phíban đầu của các cơ sở GDĐH công lập được Nhà nước cấp bằng nguồn vốn NSNN,

do vậy công tác quản lý TSC các cơ sở GDĐH công lập cần đảm bảo quản lý chặtchẽ các khoản kinh phí bằng nguồn NSNN cho các cơ sở GDĐH công lập; đồngthời đảm bảo cơ chế quản lý các khoản kinh phí bằng nguồn kinh phí khác tại các

cơ sở GDĐH công lập vừa tạo ra sự tự chủ, vừa bảo đảm cung cấp các dịch vụ vềgiáo dục và đào tạo phục vụ cho phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho xãhội

Thứ tư, quản lý tốt TSC các cơ sở GDĐH công lập sẽ đảm bảo việc thực hiện

tốt các chức năng, nhiệm vụ mà Nhà nước giao cho các cơ sở GDĐH công lập DoTSC hình thành chủ yếu từ nguồn chi tiêu công, do vậy việc sử dụng tiết kiệm,chống thất thoát lãng phí là trách nhiệm, nghĩa vụ của các cơ quan quản lý cũng nhưbản thân các cơ sở GDĐH công lập

Về mặt thực tiễn:

Luật Quản lý, sử dụng TSNN năm 2008 là văn bản pháp luật cao nhất lần đầutiên được ban hành ở Việt Nam về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước Qua thời giantriển khai thực hiện từ 1/1/2009, công tác quản lý, sử dụng tài sản nhà nước củanước ta đã đạt được những kết quả quan trọng Tuy nhiên, bên cạnh những kết quảđạt được, Luật Quản lý, sử dụng TSNN và công tác quản lý, sử dụng TSNN cũng đãbộc lộ những tồn tại, hạn chế như: cơ chế quản lý tài sản nhà nước còn phân tán,được điều chỉnh bởi nhiều luật khác nhau, chưa có luật chung để quy định nhữngnguyên tắc thống nhất trong quản lý, sử dụng, khai thác tài sản; quy trình đầu tư,mua sắm, xử lý tài sản nhà nước bị phân tán do nhiều cơ quan, đơn vị cùng làm,

Trang 9

tính chuyên nghiệp thấp, còn nặng về hành chính, bao cấp; hiệu lực, hiệu quả quản

lý chưa cao; vai trò điều tiết của các cơ quan quản lý TSC hạn chế nên còn tìnhtrạng nơi thừa, nơi thiếu tài sản, việc sử dụng tài sản sai công năng, sai mục đíchgây lãng phí, thất thoát vẫn diễn ra; chưa tách bạch giữa nhiệm vụ quản lý về TSNN

và cung cấp dịch vụ công trong quản lý, sử dụng tài sản nhà nước; việc quản lý, sửdụng một số loại tài sản nhà nước chưa được quan tâm đúng mức, chậm đổi mới,chưa đồng bộ với cơ chế quản lý tài chính, chưa đáp ứng được yêu cầu trong tìnhhình mới về khai thác nguồn lực, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, thất thoát,tham nhũng; các cơ quan quản lý chưa nắm được tổng thể về TSNN, công tác hạchtoán chưa đầy đủ, thống nhất, chưa gắn quản lý về giá trị với quản lý về hiện vật…Với những hạn chế trên, Chính phủ đã ban hành Luật số 15/2017/QH14 Thờigian triển khai Luật mặc dù chưa dài nhưng cũng đã cho thấy một số hạn chế nhấtđịnh Đặc biệt, quản lý, sử dụng TSC các cơ sở GDĐH công lập ở Việt Nam vẫncòn tình trạng như: áp dụng hệ thống các tiêu chuẩn, định mức sử dụng TSC chưađồng bộ, chưa thống nhất; cơ chế phân cấp quản lý chưa rõ ràng, dẫn đến việc lập

hồ sơ tài sản, quản trị tài sản, kế toán tài sản, báo cáo thống kê tăng giảm tài sản,công tác bảo dưỡng, sửa chữa, đổi mới, thay thế tài sản chưa được tiến hành mộtcách thường xuyên; công tác thanh tra, kiểm tra việc sử dụng TSC chưa thật sựđược coi trọng; công tác chỉ đạo hướng dẫn, cập nhật văn bản quy định mới chậm

so với yêu cầu quản lý Những hạn chế, bất cập đó một mặt làm giảm hiệu quả sửdụng của TSC, mặt khác chưa đáp ứng yêu cầu quản lý TSC theo Hiến pháp sửa đổi

2013 về việc tăng cường công tác quản lý TSC ở các ĐVSN công lập nói chung

Trang 10

Từ những cơ sở lý luận và thực tiễn trên, NCS đã lựa chọn đề tài “Quản lý tài

sản công các cơ sở giáo dục đại học công lập ở Việt Nam” làm đề tài luận án tiến

sĩ của mình

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án

2.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

1 Bond Sandy và Dent Peter (1998), “Efficient management of public sector assets - The call for correct evaluation criteria and techniques” (Quản lý hiệu quả

TSC, yêu cầu về chỉ tiêu và kỹ thuật đánh giá chính xác), Journal of PropertyValuation & Investment [71]

Các tác giả đã nêu vấn đề tại Anh cũng như nhiều nước khác, cho đến nay vẫnnhiều cơ quan Chính phủ thất bại trong việc lưu trữ hồ sơ sở hữu nhà đất Theo cáctác giả, để thực hiện quản lý chủ động các tài sản loại này, cải cách chế độ kế toán

và thông tin đủ chi tiết về các danh mục đầu tư chính là ưu tiên hàng đầu cần thựchiện Điều này cần được hỗ trợ đầy đủ bởi các phương tiện truy cập thông tin.Ngoài ra, việc hài hoà giữa mục tiêu lợi nhuận và mục tiêu xã hội trong việc quản lýTSC cũng cần được tập trung xử lý bằng cách xác định rõ các mục tiêu cuối cùng,đảm bảo việc tối đa hoá lợi ích từ TSC nhưng không từ bỏ lợi ích xã hội của chúng

2 Đinh Học Đông (2000), “Quản lý tài sản công”, Nxb Kinh tế tài chính

Trung Quốc [74]

Trang 11

Cuốn sách này đã phân tích những vấn đề lý luận cơ bản về TSC, mối quan hệgiữa TSC và tài chính công; hiện trạng TSC và khái quát về cải cách thể chế quản lýTSC, đặc trưng cơ bản của quản lý TSC trong chế độ xã hội chủ nghĩa ở TrungQuốc trong 3 thời kỳ: thời kỳ quản lý tài sản quốc hữu trong thể chế kinh tế kếhoạch hóa tập trung 1949 - 1978, thời kỳ cải cách thể chế quản lý tài sản quốc hữu

1979 - 1998 và thời kỳ hoàn thiện thể chế quản lý TSC 1998 - 2000 Trên cơ sởphân tích mục tiêu và hiện trạng quản lý của hai loại TSC (bao gồm TSC mang tínhkinh doanh, TSC mang tính HCSN), tác giả đã nêu định hướng cải cách quản lýTSC ở Trung Quốc trong những năm tiếp theo Trong đó, đối với quản lý TSC ởđơn vị HCSN có ba mục tiêu: sở hữu thống nhất TSC của nhà nước; quản lý trên cơ

sở phân cấp của Chính phủ đối với TSC của các đơn vị HCSN và làm rõ quyềnchiếm hữu và sử dụng đối với TSC Nghiên cứu này cũng chỉ ra 3 thực trạng vềquản lý TSC tại các đơn vị HCSN ở Trung Quốc là: quản lý TSC thiếu hiệu quả, tàisản tồn tại không rõ ràng; thiếu chế độ quản lý, việc bố trí tài sản chưa thống nhấtvới quy định; thiếu sự quản lý có hiệu quả đối với TSC mang tính HCSN phi kinhdoanh chuyển sang kinh doanh Từ đó, tác giả đề xuất 6 vấn đề cần cải cách quản lýTSC tại các đơn vị HCSN ở quốc gia này

3 Conway Francisand, Charles Undelan, George Peteson, Olga Kaganova và

James Mckellar (2006), “Managing Government Property Assets: International Experiences (Quản lý tài sản Chính phủ: những kinh nghiệm quốc tế)”, The Urban

Institute Press, Washington DC [73]

Trang 12

Các tác giả đã tập trung nghiên cứu đánh giá cơ chế quản lý TSC trong khuvực công ở tầm vĩ mô ở một số nước trên thế giới như Úc, Pháp, Canada, Thụy sĩ,

Mỹ, New Zealand, Trung Quốc… Kết quả của các nghiên cứu đó là: đã đánh giáđược những hạn chế trong cơ chế quản lý TSC ở khu vực HCSN ở các nước nêutrên trước khi cải cách; tổng kết được những kết quả khi tiến hành việc hoàn thiện

cơ chế quản lý TSC trong khu vực HCSN; chỉ ra những thách thức và những vấn đềcần tiếp tục nghiên cứu để hoàn thiện cơ chế quản lý TSC trong thời gian tới, baogồm: (i) mối quan hệ giữa cải cách kế toán và cải cách cơ chế quản lý TSC trongkhu vực HCSN; (ii) mức độ phân chia giữa quyền sở hữu và quyền quản lý TSCtrong khu vực HCSN; (iii) hệ thống thông tin quản lý TSC trong khu vực HCSN

4 Yiu C Y; Wong S K và Yau Y (2006), “Property management as property rights governance: Exclusion and internal conflict resolution” (Quản lý tài sản như

là quản trị quyền sở hữu tài sản: giải pháp ngăn chặn và giải quyết các mâu thuẫnbên trong), Property Management [83]

Các tác giả đã đánh giá vai trò của quản lý tài sản từ góc độ thể chế kinh tế vĩ

mô Tác giả cũng nêu ra việc quản trị đối với quyền tài sản nên được chia theo 3phương thức: tài sản dùng chung, tài sản sở hữu công - tư và tài sản cá nhân Từ đóđưa ra những ý kiến phân tích đối với từng phương thức quản lý tài sản nêu trên,cách thức vận hành trong nền kinh tế vĩ mô

5 Hentschel John và Olga Kaganova (2007), “Government Property Resources: A Case for Asset Management” (Nguồn lực tài sản Chính phủ: Nghiên

cứu đối với lĩnh vực quản lý tài sản), PM Public Management [76]

Công trình trên đã nghiên cứu, phân tích sự liên quan vai trò của cả lĩnh vực tưnhân và của Chính phủ trong việc tham gia quản lý TSC (tạo lập, hỗ trợ tài chính vàquản lý tài sản); đồng thời khuyến nghị một số giải pháp nâng cao hiệu quả, minhbạch hóa vai trò của các bên tham gia mô hình công tư hợp doanh (public - privatepartnerships) trong lĩnh vực quản lý tài sản

6 Grubisic Mihaela, Nusinovic Mustafa và Roje Gorana (2009), “Towards efficient public sector asset management” (Hướng tới quản lý hiệu quả tài sản khu

vực công), Financial Theory and Practice [75]

Trang 13

Các tác giả đã nghiên cứu thách thức trong việc nâng cao hiệu quả quản lýTSC tại Croatia như một biện pháp nâng cao hiệu quả cải cách lĩnh vực quản lýcông của Chính phủ Bằng việc tập trung nghiên cứu, phân tích mô hình quản lýTSC tại Croatia, phân tích các ưu nhược điểm và cuối cùng nhấn mạnh các yêu cầuchính của việc cải cách quản lý TSC tại Croatia gồm: (1) tăng cường hệ thống thôngtin TSC, đăng ký tài sản đảm bảo nguyên tắc minh bạch ; (2) có sự phân loại rõ ràngcác loại TSC; (3) sự ghi nhận và đo lường TSC; (4) phải có danh mục đầu tư TSC;(5) đảm bảo tính thể chế và chuyên nghiệp trong quản lý TSC; và (6) sử dụngphương pháp đánh giá chi phí và kết quả đầu ra trong quản lý TSC.

7 Muhammad Hasbi Hanis, Trigunarsyah Bambang và Susilawati Connie

(2011), “The application of public asset management in Indonesian local government” (Việc áp dụng cơ chế quản lý TSC tại chính quyền địa phương

Indonesia), Journal of Corporate Real Estate [78]

Tác giả đã xác định những thách thức chính quyền địa phương tại Indonesiaphải đối mặt khi đưa ra một khung quản lý TSC Trong đó, chính quyền địa phươngNam Sulawesi là đối tượng của việc nghiên cứu Kết quả nghiên cứu cho thấy, khiđưa ra một mô hình quản lý TSC, các khó khăn chính quyền địa phương gặp phảilà: sự thiếu hụt khung pháp lý hỗ trợ cho việc áp dụng mô hình quản lý tài sản;nguyên tắc phi lợi nhuận đối với TSC; sự chồng chéo về pháp lý đối với quy trìnhquản lý TSC; sự phức tạp của mục tiêu chính quyền địa phương; sự thiếu hụt dữliệu đối với TSC và sự giới hạn về nguồn lực con người

8 Olga Kaganova (2011), “Government Property Assets in the Wake of the Dual Crisis in Public Finance and Real Estate: An Opportunity to Do Better Going Forward?” (Tài sản Chính phủ trong điều kiện khủng hoảng kép về tài chính công

và bất động sản: Cơ hội ở phía trước?), Real Estate [79]

Trang 14

Tác giả đã đánh giá vai trò của Chính phủ (cả ở trung ương và địa phương) tại

Mỹ và Liên minh Châu Âu trong quản lý các tài sản là bất động sản, công trình hạtầng Theo đó, đối với công tác quản lý TSC, mặc dù các tài sản trên chiếm phầnlớn trong giá trị TSC nói chung nhưng lại rất ít được ghi nhận trong hệ thống chínhquyền Chúng thường có liên hệ trực tiếp tới hoạt động tài chính công bằng nhiềucách thông qua việc đầu tư vốn, hỗ trợ tài chính và ngân sách của Chính phủ màchưa có sự giới hạn tương ứng giữa số lượng và nhu cầu sử dụng TSC cho các hoạtđộng công ích của các cơ quan chính phủ Trên cơ sở các phân tích thực tế, tác giảnêu ra các quan điểm cho một chính sách quản lý TSC hiệu quả trong điều kiệnkhủng hoảng, đó là: xem xét, đánh giá lại các quy định đã lạc hậu gây cản trởhiệu quả và hiệu năng quản lý TSNN, bao gồm cả việc dỡ bỏ các rào cản việc tưnhân cùng tham gia quản lý TSC; quy định thêm các nội dung có thể làm tăng cơhội làm cho giá trị kinh tế của TSNN được ghi nhận và sử dụng đúng đắn; quyhoạch lại các các tài sản và có chiến lược sử dụng TSC phù hợp có tính đến tất cảnguồn vốn và tài sản vô hình tại tất cả các cấp chính quyền; chính phủ cần đưa racác hướng dẫn cụ thể hoá về lĩnh vực quản lý tài sản tới các cơ quan, đơn vị

9 Malawi Makaranga Ngwira; Parsa Ali và Manase David (2012),

“Effectiveness of property asset management in Scottish councils” (Hiệu quả quản

lý tài sản tại Hội đồng Scottland), Journal of Corporate Real Estate [77]

Công trình đã nghiên cứu, đánh giá hiệu quả của quản lý tài sản là bất độngsản của Hội đồng Scottland so với mục tiêu đặt ra nhằm đạt giá trị cao nhất Trong

đó đã nêu và phân tích một số nhân tố chính để có thể nâng cao hiệu quả sử dụng tàisản là bất động sản nói chung và áp dụng riêng đối với đối tượng của nghiên cứugồm: giảm mức độ bảo dưỡng cần thiết, giảm chi phí vận hành hàng năm, cải thiện

cơ sở cung cấp dịch vụ, giới thiệu tập quán làm việc mới, tăng không gian sử dụng,cải thiện khả năng tiếp cận các dịch vụ, tăng việc sử dụng dịch vụ, mở rộng phạm vicủa các dịch vụ tăng cường tính bền vững của các tài sản

2.2 Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam

2.2.1 Các luận án tiến sĩ

Trang 15

1 Nguyễn Mạnh Hùng (2009), “Cơ chế quản lý tài sản công trong khu vực hành chính sự nghiệp ở Việt Nam”, Luận án tiến sĩ, Đại học Kinh tế quốc dân, Hà

Nội [45]

Trong luận án này, tác giả đã nghiên cứu về cơ chế quản lý nhà nước đối vớiTSC bao gồm: trụ sở làm việc, phương tiện đi lại và các tài sản khác trong khu vựcHCSN từ khâu hình thành, sử dụng đến khâu kết thúc Cụ thể:

Tác giả đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về TSC trong khu vực HCSN; luận giảikhái niệm TSC trong khu vực HCSN với tư cách là đối tượng nghiên cứu cơ bảnxuyên suốt trong toàn bộ luận án Luận án cũng đưa ra khái niệm và phân tíchnhững nội dung cơ bản của cơ chế quản lý nhà nước đối với TSC trong khu vựcHCSN Đưa ra các chỉ tiêu đánh giá hiệu lực, hiệu quả cơ chế quản lý TSC trongkhu vực HCSN

Luận án đã đánh giá thực trạng về cơ chế quản lý nhà nước đối với TSC trongkhu vực HCSN ở nước ta từ năm 1995 đến năm 2008, đặc biệt là từ sau khi có Luậtquản lý, sử dụng TSNN; từ đó đánh giá những kết quả đã đạt được cần phát huy,những tồn tại cần khắc phục và nguyên nhân của nó; phân tích đánh giá thực trạngcác nhân tố ảnh hưởng đến hiệu lực và hiệu quả của cơ chế quản lý TSC trong khuvực HCSN

Cuối cùng, tác giả đề xuất những quan điểm, yêu cầu và các giải pháp chủ yếunhằm hoàn thiện cơ chế quản lý TSC trong khu vực HCSN ở Việt Nam giai đoạn

2009 - 2020 Các giải pháp đề xuất được dựa trên những luận cứ khoa học và thựctiễn cơ chế quản lý TSC trong khu vực HCSN ở Việt Nam và tiếp thu những kinhnghiệm của các nước trên thế giới trong quá trình hoàn thiện cơ chế quản lý TSCtrong khu vực HCSN

Trang 16

Tuy nhiên, tác giả nghiên cứu toàn bộ khu vực HCSN (bao gồm CQNN,ĐVSN công lập và các tổ chức) mà không có mục đích nghiên cứu chuyên sâu vềĐVSN công lập nên tác giả chỉ phân tích cơ chế quản lý TSC trong khu vực HCSNnói chung Ngoài ra, luận án giới hạn về thời gian: từ năm 1995 (thời điểm thànhlập Cục QLCS - Bộ Tài chính) đến năm 2008, trong khi đó tính đến nay, đã cónhiều thay đổi liên quan đến TSC và công tác quản lý TSC, đặc biệt là về hệ thốngvăn bản chính sách.

2 Phan Hữu Nghị (2009), “Quản lý tài sản công trong các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam”, Luận án tiến sĩ, Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội

[53]

Tác giả đã trình bày tổng quan về cơ quan hành chính nhà nước và TSC, quản

lý TSC trong các cơ quan hành chính nhà nước, đồng thời nghiên cứu kinh nghiệmquản lý TSC của Trung Quốc, Austrailia, Pháp và của bang Quécbec - Canada trongviệc quản lý TSC là trụ sở làm việc, từ đó rút ra 4 bài học kinh nghiệm cho ViệtNam Mặt khác, trên cơ sở phân tích quy định chung về quản lý TSC và thực trạngquản lý trụ sở làm việc trong các cơ quan hành chính nhà nước của Việt Nam, tácgiả đã tổng kết các kết quả đạt được, phân tích những tồn tại và nguyên nhân, từ đó

đề ra mục tiêu, yêu cầu đổi mới và hệ thống giải pháp hoàn thiện quản lý trụ sở làmviệc của cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam Như vậy có thể thấy, đề tài chỉnghiên cứu TSC của CQNN, không nghiên cứu đối với ĐVSN công lập

3 Lê Thị Việt Hà (2016), “Quản lý tài sản nhà nước tại ngành Tòa án nhân dân ở Việt Nam”, Luận án tiến sĩ, Học viện Hậu cần [38].

Trang 17

Về mặt lý luận: Luận án đã đưa ra 3 mô hình quản lý TSC trong các CQNNbao gồm: mô hình quản lý tập trung, mô hình quản lý kiểu doanh nghiệp và mô hìnhhợp tác nhà nước tư nhân Trên cơ sở phân tích ưu nhược điểm của từng mô hình,

cơ chế quản lý TSC hiện nay với ngành TAND nên áp dụng mô hình quản lý tậptrung Ngoài ra, luận án cũng đã xây dựng khái niệm về hiệu quả quản lý, sử dụngTSNN trong các CQNN, đưa ra 4 tiêu chí đánh giá hiệu quả làm cơ sở đánh giá hiệuquả quản lý sử dụng TSNN trong các CQNN nói chung và ngành TAND nói riêng

Để đánh giá kết quả công tác quản lý TSC, luận án xây dựng hệ thống chỉ tiêu baogồm 15 chỉ tiêu Trong đó đã xác định tên gọi, ý nghĩa và công thức tính của từngchỉ tiêu Các chỉ tiêu này phản ảnh tất cả các khâu của quản lý tài sản từ quá trìnhhình thành tài sản, khai thác sử dụng đến quá trình kết thúc của tài sản

Về mặt thực tiễn: Tác giả đề xuất giải pháp hoàn thiện khung khổ pháp lý vềquản lý TSNN tại ngành TAND, trọng tâm là hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn, địnhmức sử dụng TSNN Trên cơ sở định mức và biên chế tổ chức xây dựng đề án trang

bị phương tiện làm việc tại ngành TAND giai đoạn 2015-2020; nghiên cứu ứngdụng phương thức quản lý ngân sách theo kết quả đầu ra Kiến nghị với Chính phủcần có tổng kết và sửa đổi luật quản lý TSNN Trên cơ sở những bất cập trong côngtác quản lý TSNN tại ngành TAND, kiến nghị một số vấn đề cần phải thay đổi, bổsung trong luật để tạo khung khổ pháp lý phù hợp với công tác quản lý TSNN tronggiai đoạn hiên nay

Từ những phân tích trên có thể thấy, luận án này chỉ nghiên cứu TSNN vàquản lý TSNN tại CQNN, cụ thể là tòa án nhân dân các cấp, không nghiên cứu vềĐVSN công lập

4 Trần Việt Phương (2016), “Quản lý TSC tại cơ quan nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập ở Việt Nam”, Luận án tiến sĩ, Học viện Tài chính [56].

Trang 18

Luận án đã nghiên cứu một cách hệ thống những lý luận cơ bảnTSC tại CQNN và ĐVSN công lập như: khái niệm, đặc điểm, vai trò của TSC trongđời sống kinh tế; Nội dung quản lý TSC tại CQNN và ĐVSN công lập; Hiệu quảquản lý TSC CQNN và ĐVSN công lập, với các chỉ tiêu để đánh giá và các nhân tốảnh hưởng đến hiệu quả quản lý TSC tại CQNN và ĐVSN công lập Luận án cũngnghiên cứu kinh nghiệm của một số nước trên thế giới, để rút ra bài học kinhnghiệm cho việc tiếp tục tăng cường công tác quản lý TSC tại CQNN và ĐVSNcông lập ở Việt Nam Đồng thời, luận án đã khái quát về cơ chế quản lý TSC tạiCQNN và ĐVSN công lập ở Việt Nam qua các thời kỳ và tập trung phân tích, đánhgiá thực trạng quản lý, sử dụng TSNN từ năm 2009 đến nay (theo Luật Quản lý, sửdụng TSNN năm 2008, có hiệu lực từ ngày 01/01/2009).

Luận án đã đánh giá về kết quả đã đạt được, tồn tại, hạn chế và nguyên nhân;

để làm tiền đề cho việc đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý TSC tại CQNN

và ĐVSN công lập trong thời gian tới

Tác giả đã đưa ra hai nhóm giải pháp để quản lý TSC hiệu quả bao gồm:(i) Nhóm giải pháp hoàn thiện cơ chế quản lý TSC thông qua việc khắc phụcnhững tồn tại, hạn chế trong hệ thống chính sách hiện nay

(ii) Nhóm giải pháp tổ chức thực hiện như tuyên truyền, phổ biến cơ chếchính sách, tăng cường thanh tra, kiểm tra, giám sát nhằm nâng cao năng lực cán bộquản lý TSC

Đề tài này mặc dù có nghiên cứu về ĐVSN công lập nhưng chỉ chung cácĐVSN công lập, không nghiên cứu riêng về ĐVSN công lập là các cơ sở GDĐHcông lập

5 Phạm Thị Thanh Vân (2016), “Quản lý tài chính nội bộ các trường đại học công lập ở Việt Nam”, Luận án tiến sĩ, Học viện Tài chính [69].

Tác giả đã làm rõ bản chất của quản lý tài chính nội bộ trong các trườngĐHCL, đưa ra các mục tiêu của quản lý tài chính nội bộ các trường ĐHCL, phântích các công cụ thường sử dụng trong quản lý tài chính nội bộ các trường ĐHCL vàlàm rõ việc áp dụng các công cụ quản lý tài chính nội bộ được áp dụng cụ thể vàotừng nội dung quản lý thu, quản lý chi và quản lý tài sản như thế nào

Trang 19

Trên cơ sở lý luận về quản lý tài chính nội bộ, tác giả đã tiến hành phân tíchthực trạng quản lý tài chính nội bộ các trường ĐHCL ở Việt Nam, trong đó tậptrung trên 3 khía cạnh: quản lý thu, quản lý chi và quản lý tài sản Đánh giá nhữngkết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân của hạn chế trong quản lý tài chính nội

bộ các trường ĐHCL; từ đó đưa ra một số giải pháp có tính thực tiễn nhằm hoànthiện quản lý tài chính nội bộ các trường ĐHCL ở Việt Nam trong thời gian tới

2.2.2 Các đề tài nghiên cứu khoa học

1 Nguyễn Văn Xa (2000), “Chiến lược đổi mới cơ chế quản lý TSC giai đoạn 2001-2010”, Đề tài NCKH cấp Bộ [70].

Đề tài đã nghiên cứu thực trạng quản lý, sử dụng TSC ở nước ta từ năm 1995(sau khi thành lập Cục QLCS thuộc Bộ Tài chính) đến năm 2000; đánh giá nhữngkết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân của hạn chế, trên cơ sở đó kiến nghịnhững quan điểm, giải pháp để đổi mới cơ chế quản lý TSC tại các đơn vị HCSNgiai đoạn 2001 - 2010 Tuy nhiên, do thời gian thực hiện từ năm 2000, các số liệu

đề tài sử dụng chỉ được thống kê đến năm 2000 nên các kết quả nghiên cứu của đềtài cơ bản chỉ có giá trị đóng góp ở thời điểm thực hiện, khi mà lĩnh vực quản lýTSC ở nước ta đang ở giai đoạn xác định đối tượng quản lý, xác định chủ thể quản

lý và bước đầu thiết lập hệ thống các công cụ quản lý Mặt khác đề tài chưa thực sựphân biệt quản lý TSC trong cơ quan quản lý nhà nước và quản lý TSC trong cácĐVSN để phù hợp với chủ trương phân định rõ chức năng của cơ quan quản lý nhànước và CQNN cung cấp hàng hóa, dịch vụ công cộng

2 Phạm Đức Phong (2002), “Hoàn thiện cơ chế quản lý tài sản nhà nước tại đơn vị sự nghiệp”, Đề tài NCKH cấp Bộ [54].

Trang 20

Trong đề tài này, tác giả đã chú trọng nghiên cứu sâu về cơ chế quản lý TSCđược Nhà nước giao cho các ĐVSN trực tiếp sử dụng để thực hiện chức năng,nhiệm vụ được Nhà nước giao Trong đó, đề tài chủ yếu đi sâu hệ thống hóa các cơchế, chính sách đang áp dụng đối với quản lý TSC tại các ĐVSN, đánh giá nhữngkết quả đạt được, đồng thời chỉ ra những tồn tại khi thực hiện các cơ chế, chính sách

đó để kiến nghị các giải pháp hoàn thiện, đổi mới Tuy nhiên, trong điều kiện vănbản quy phạm pháp luật liên quan đến quản lý TSC còn thiếu, chưa đồng bộ thì đềtài chưa thực sự quan tâm đánh giá đến hiệu quả của các cơ chế chính sách đó để cónhững giải pháp giúp các cấp có thẩm quyền ban hành các văn bản có hiệu lực pháp

lý cao hơn

3 Cục Quản lý công sản (2013), “Đổi mới cơ chế quản lý tài sản nhà nước tại đơn vị sự nghiệp công lập”, Đề tài NCKH cấp Bộ [21].

Trang 21

Đề tài đã tập trung nghiên cứu, phân tích, đánh giá đề xuất nhiều giải pháp đổimới công tác quản lý TSNN tại ĐVSN với mục tiêu: trao quyền tự chủ cho cácĐVSN công lập để phát triển các hoạt động sự nghiệp, thực hiện xã hội hoá, giảmsức ép chi từ NSNN, trên cơ sở thực hiện thông qua các phương thức: đi thuê vàcho thuê tài sản; cho phép sử dụng TSNN để sản xuất kinh doanh dịch vụ, liêndoanh, liên kết Theo đó, cơ chế tài chính đối với một số lĩnh vực, một số đốitượng cũng có những thay đổi quan trọng Trên cơ sở các mục tiêu đó, đề tài đã đềxuất 05 nhóm giải pháp cơ bản: 1- Phân định rõ cơ chế quản lý TSNN của CQNNvới ĐVSN công lập, đảm bảo sự tách biệt giữa mô hình quản lý nhà nước với cácđơn vị công lập cung cấp dịch vụ công 2- Đề xuất nghiên cứu, ban hành và hoànthiện quy định tiêu chuẩn, định mức và chế độ quản lý, sử dụng TSNN theo hướng

có sự phân biệt giữa ĐVSN công lập và cơ quan quản lý nhà nước: Quy định “mở”hơn về việc sử dụng nguồn thu sự nghiệp để đầu tư, mua sắm tài sản; phân cấpmạnh hơn cho các ĐVSN trong việc quyết định đầu tư, mua sắm, xử lý TSNN 3-Đổi mới cơ chế quản lý khấu hao TSCĐ tại ĐVSN công lập: Cần thống nhất một cơchế khấu hao TSCĐ, khấu hao TSCĐ sẽ được xác định đầy đủ như đối với doanhnghiệp vào giá thành các sản phẩm, trong đó có cả dịch vụ công Trước mắt, khihiện nay cơ chế tài chính, cơ chế hoạt động của ĐVSN công lập chưa đổi mới vàđồng bộ với cơ chế quản lý TSNN, chưa thể tính khấu hao tài sản vào giá thành dịch

vụ công thì Bộ Tài chính cần có hướng dẫn việc hạch toán khấu hao và hao mòn ápdụng chung tại một ĐVSN 4 - Đổi mới cơ chế quản lý đất đai tại ĐVSN công lập:Hiện nay, hầu hết các ĐVSN công lập đang được Nhà nước “bao cấp” về đất đai, sửdụng đất nhưng không phải thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước (khôngphải nộp tiền sử dụng đất, tiền thuê đất), dẫn đến còn trình trạng sử dụng đất chưathực sự hiệu quả Mặt khác, Nhà nước cũng đã quy định, khi các ĐVSN sử dụng tàisản trên đất vào mục đích sản xuất, kinh doanh dịch vụ, liên doanh, liên kết thì phảinộp tiền thuê đất, tuy nhiên, quy định này vẫn cần được tiếp tục hoàn thiện, bổ sung

để thực sự đi vào cuộc sống theo hướng cần đổi mới mạnh mẽ hơn nữa cơ chế quản

lý đất đai đối với ĐVSN công lập từ cơ chế bao cấp sang cơ chế thị trường, trong đócác ĐVSN phải thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với đất đai và các chi phí sử dụng

Trang 22

đất (tiền thuê đất) đồng thời ĐVSN được xác định vào giá thành các sản phẩm, baogồm cả dịch vụ công do Nhà nước đặt hàng 5- Nhóm giải phải về tăng cường côngtác quản lý Bên cạnh đó, đề tài đề xuất 2 nhóm giải pháp cần thiết để đảm bảo thựchiện đổi mới quản lý TSNN tại ĐVSN một cách có hiệu quả, đó là: (i) Đổi mới tổchức, hoạt động, nâng cao quyền tự chủ; (ii) Đổi mới chính sách và phương thứcquản lý tài chính.

2.2.3 Các bài báo khoa học

1 Tào Hữu Phùng (2006), “Đổi mới và tăng cường công tác giám sát tài sản nhà nước của Quốc hội là biện pháp rất quan trọng”, Tạp chí Tài chính [55].

Bài báo này đã cho rằng một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến nhiều

vụ việc tham nhũng, lãng phí, thất thoát liên quan đến TSNN là việc buông lỏngcông tác quản lý, kiểm tra và giám sát sử dụng TSNN, nhất là công tác giám sát.Tác giả đã đưa ra một số kiến nghị nhằm phát huy hơn nữa vai trò của Quốc hội - cơquan giám sát tối cao trong việc giám sát quản lý và sử dụng TSNN; đồng thờikhẳng định việc đổi mới và tăng cường công tác giám sát TSNN của Quốc hội làbiện pháp rất quan trọng để quản lý và sử dụng TSNN có hiệu quả

2 Lê Ngọc Khoa (2006), "Hoàn thiện, bổ sung hệ thống tiêu chuẩn, định mức

sử dụng tài sản nhà nước”, Tạp chí Tài chính [47].

Tác giả một mặt khẳng định vai trò quan trọng của hệ thống tiêu chuẩn, địnhmức sử dụng tài sản trong quản lý, sử dụng TSNN; mặt khác đánh giá hệ thống tiêuchuẩn, định mức hiện hành còn thiếu, lạc hậu, chưa đồng bộ và chưa đáp ứng đượcyêu cầu của công tác quản lý Vì vậy, nhằm tăng cường chống lãng phí trong quản

lý, sử dụng TSC tại các cơ quan HCSN, tác giả đã đề xuất một số giải pháp chủ yếunhằm hoàn thiện, bổ sung hệ thống tiêu chuẩn, định mức sử dụng TSNN đối vớimột số loại tài sản trong đó nhấn mạnh việc cần có sự phân biệt tiêu chuẩn, địnhmức sử dụng tài sản của các cơ quan hành chính nhà nước và ĐVSN công

3 Ngọc Hương (2006), “Kinh nghiệm quản lý và chống lãng phí tài sản công

ở Anh”, Tạp chí Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương [46].

Trang 23

Bài báo đã trình bày khái quát về hệ thống quản lý TSC ở Anh, một trongnhững quốc gia có hệ thống quản lý TSNN hiệu quả, hạn chế được tình trạng thấtthoát, lãng phí trong công tác quy hoạch, sử dụng TSC Cụ thể, bài báo tập trungtrình bày những biện pháp quản lý, giám sát đầu tư, quy hoạch và phân bổ TSC màchính phủ Anh tăng cường triển khai từ thập kỷ 90 của thế kỷ XX Trên cơ sởnghiên cứu hệ thống quản lý TSC của Anh, tác giả đã rút ra một số bài học thamkhảo cho Việt Nam nói riêng và các nước đang phát triển nói chung trong quản lýTSC ở trung ương và địa phương, trong đó đề nghị Chính phủ nên xem xét mốiquan hệ giữa đầu tư và quản lý TSCĐ ở mức chiến lược, đảm bảo cân bằng giữa kếhoạch đầu tư vốn trong tương lai (cả đầu tư công lẫn đầu tư tư nhân) với việc mởrộng và duy trì các tài sản hiện có; cần thực hiện một cách thống nhất, minh bạchquản lý TSC của trung ương và chính quyền địa phương (bao gồm hồ sơ, trình tự,thủ tục, thẩm quyền quyết định, xử lý kết quả tài chính…) trong việc đầu tư mới, táiđầu tư, chuyển nhượng mục đích sử dụng, phân bổ và sắp xếp lại tài sản; các cơquan, đơn vị sử dụng tài sản nên phát triển các chiến lược quản lý tài sản phù hợpvới các trách nhiệm về tài chính của mình.

4 Trần Văn Giao (2006), “Góp phần hoàn thiện cơ chế quản lý tài sản công trong các đơn vị sự nghiệp”, Tạp chí Quản lý nhà nước [36].

Trang 24

Bài báo đã giới thiệu khái quát về ĐVSN và phân biệt giữa ĐVSN với cơ quanquản lý nhà nước về chức năng, nhiệm vụ, kinh phí hoạt động và việc quản lý, sửdụng TSC Tác giả đã phân tích sự cần thiết phải đổi mới cơ chế quản lý TSC nóichung và TSC trong các ĐVSN nói riêng, đưa ra những phương hướng cơ bản trongquản lý, sử dụng, khai thác TSC thời gian tới Từ đó, tác giả tập trung đề xuất 5nhóm vấn đề chủ yếu nhằm góp phần hoàn thiện cơ chế quản lý TSC trong cácĐVSN cho phù hợp với cơ chế tự chủ về tài chính và tính chất đặc điểm của từngloại hình hoạt động sự nghiệp theo hướng quy định cụ thể và đa dạng hơn nguồnkinh phí sử dụng để đầu tư xây dựng, mua sắm và sửa chữa tài sản; xác định và tăngcường phân cấp thẩm quyền quyết định trang bị xử lý tài sản cho thủ trưởng ĐVSN;nâng cao tính chủ động và tự chịu trách nhiệm của ĐVSN có thu trong sử dụngTSC; xác định tiêu chuẩn và định mức sử dụng tài sản, cơ chế xác định giá trị quyền

sử dụng đất tính vào giá trị tài sản của các ĐVSN được Nhà nước giao đất khôngthu tiền sử dụng đất Cuối cùng, tác giả kiến nghị Bộ Tài chính và các bộ, cơ quanchức năng có liên quan nên sớm nghiên cứu trình Thủ tướng Chính phủ ban hànhQuy chế quản lý TSNN trong các ĐVSN để áp dụng trong cả nước

5 Trần Văn Giao (2007), “Đổi mới quản lý tài sản công trong các đơn vị sự nghiệp”, Tạp chí Kinh tế và phát triển [37].

Tác giả đã giới thiệu khái quát về TSC trong các ĐVSN (phạm vi, đặc điểm,nội dung quản lý, cơ chế quản lý), đi sâu phân tích thực trạng quản lý TSC trong cácĐVSN (gồm thực trạng về cơ chế quản lý và nội dung tổ chức quản lý) với nhữngkết quả đạt được, những tồn tại cơ bản, đồng thời rút ra nguyên nhân của những tồntại và đề xuất các biện pháp nhằm tiếp tục xây dựng, hoàn thiện các cơ chế, chínhsách về tổ chức quản lý, sử dụng TSC và đổi mới cơ chế, tăng cường công tác quản

lý TSC trong các ĐVSN

6 Nguyễn Mạnh Hùng (2008), “Cơ sở pháp lý cao nhất cho việc quản lý, sử dụng tài sản công”, Tạp chí Tài chính [43].

Trang 25

Tác giả đã trình bày ngắn gọn về bối cảnh ra đời và ý nghĩa của Luật quản lý,

sử dụng TSNN ở Việt Nam; từ đó đi sâu vào phân tích những nội dung cơ bản củaLuật với ý nghĩa là cơ sở pháp lý cao nhất trong quản lý, sử dụng TSNN ở ViệtNam Trong đó, tác giả đã nêu, phân tích và đánh giá những nội dung chính củaLuật về phạm vi điều chỉnh, các nguyên tắc quản lý, sử dụng TSNN; các hành vi bịnghiêm cấm và các hình thức xử lý theo quy định của pháp luật; chế độ quản lýTSNN đối với từng loại hình đơn vị: CQNN, các ĐVSN, các tổ chức chính trị, tổchức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổchức xã hội nghề nghiệp nhằm giúp các cơ quan, đơn vị xây dựng mô hình, phươngthức quản lý và sử dụng TSC phù hợp, hiệu quả

7 Nguyễn Mạnh Hùng (2008), “Quản lý tài sản công: Kinh nghiệm thế giới

và khả năng vận dụng vào Việt Nam”, Tạp chí Tài chính [44].

Tác giả đã phân tích những công trình nghiên cứu của các học giả quốc tế vềquản lý TSC, kinh nghiệm quản lý TSC ở các nước phát triển trên thế giới và trìnhbày một số đánh giá chung nhất về các công trình nghiên cứu này Trong đó, tác giảrút ra những tồn tại chủ yếu trong quản lý TSC ở giai đoạn trước khi các nước đượcnghiên cứu có cải cách về quản lý tài sản và nhấn mạnh những thành quả đạt đượcsau cải cách, nhất là việc đưa ra 3 mô hình tổng quát cơ bản về cơ quan quản lý TSC

có hiệu quả: (1) Một cơ quan Chính phủ chuyên về quản lý tài sản hoạt động trongmột môi trường mở đối với cạnh tranh từ khu vực tư nhân (mô hình chi nhánh quản

lý tài sản của Bộ Tài chính và Hành chính của Úc và Trung Quốc), (2) Tập đoànthuộc sở hữu nhà nước thực hiện toàn bộ các hoạt động và danh mục tài sản (môhình của Canada), (3) Các công ty thuộc khu vực tư nhân về quản lý tài sản trên cơ

sở hợp đồng Từ đó, đặt ra một số vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu về mối quan hệgiữa cải cách kế toán và cải cách quản lý tài sản, mức độ phân chia giữa quyền sởhữu và quyền quản lý tài sản, hệ thống thông tin quản lý TSC Đặc biệt, từ kết quảnghiên cứu kinh nghiệm quản lý TSC của một số quốc gia trên thế giới, tác giả đưa

ra những nhận xét, đánh giá liên quan đến việc vận dụng để nghiên cứu, hoàn thiệncông tác quản lý TSC ở Việt Nam

Trang 26

8 Lê Chi Mai (2010), “Quản lý tài sản công trong các cơ quan hành chính nhà nước - Các hạn chế và giải pháp”, Tạp chí Quản lý nhà nước [50].

Tác giả đã căn cứ các tài liệu có liên quan (Báo cáo tổng kết công tác quản lýTSC giai đoạn 1995 - 2005 của Cục QLCS, Bộ Tài chính, Báo cáo kết quả kiểmtoán năm 2007, 2008 của Kiểm toán Nhà nước) để đánh giá khái quát thực tiễn quản

lý TSC nói chung và trong các cơ quan hành chính nhà nước nói riêng Từ đó, tácgiả đi sâu vào phân tích một số vấn đề bức thiết đang đặt ra trong quản lý TSC tạicác cơ quan hành chính nhà nước như tình trạng mua sắm lãng phí; sử dụng tài sảnkém hiệu quả; thiếu ghi chép, đánh giá giá trị và tổng kết tài sản; tổ chức bộ máy vànhân sự quản lý chưa phù hợp; thiếu sự thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm Vớinhững hạn chế trên, bài báo đề xuất các nhóm giải pháp cơ bản nhằm đẩy mạnh việcquản lý TSC trong các cơ quan hành chính nhà nước, gồm: hoàn thiện các thể chếcủa Nhà nước về quản lý, sử dụng TSC tại các cơ quan hành chính nhà nước; xâydựng cơ chế quản lý TSC trong mỗi cơ quan, đơn vị; cải tiến việc mua sắm TSC đểnâng cao hiệu quả mua sắm; thực hiện nghiêm khắc chế độ theo dõi, báo cáo TSCtại các cơ quan hành chính nhà nước; phân cấp quản lý rõ ràng đi đôi với kiện toàn

tổ chức và hoạt động của các cơ quan QLCS ở Trung ương và địa phương; nâng caochất lượng hoạt động kiểm tra, giám sát về mua sắm, quản lý và sử dụng TSC; hìnhthành các cơ quan chức năng về mua sắm công và quản lý TSC

9 Chu Xuân Nam (2010), “Một số vấn đề về quản lý TSC ở Việt Nam hiện nay”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội [52].

Trong công trình này, tác giả đã đề cập tương đối đầy đủ, có hệ thống cơ sở lýluận về TSC, cơ chế QLCS và hệ thống các giải pháp đổi mới cơ chế QLCS ở ViệtNam Trên cơ sở tổng quan về TSC và cơ chế quản lý TSC trong các CQNN ở ViệtNam, tác giả hệ thống hóa số liệu (đến năm 2008) và cơ chế chính sách liên quanđến 3 loại TSC trong cơ quan HCSN là: đất đai thuộc trụ sở là việc, PTĐL và trangthiết bị làm việc; từ đó phân tích 6 bất cập, hạn chế của cơ chế quản lý TSCtrong cơ quan HCSN và đề ra 6 nhóm giải pháp để đổi mới cơ chế quản lý TSCtrong các cơ quan HCSN ở Việt Nam

Trang 27

10 Nguyễn Tân Thịnh (2016), “Để khai thác hiệu quả nguồn lực tài sản công tại đơn vị sự nghiệp công lập”, Tạp chí Tài chính [58].

Trong nghiên cứu này, tác giả đã đánh giá vấn đề khai thác nguồn lực từ TSCchưa tương xứng với tiềm năng; việc đầu tư, trang bị cơ sở vật chất phục vụ hoạtđộng sự nghiệp của các ĐVSN công lập vẫn chủ yếu do Nhà nước bảo đảm Do đó,cần nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng TSC bằng những giải pháp bao gồm: Hoànthiện khuôn khổ luật phát về quản lý, sử dụng TSC, tạo cơ sở pháp lý vững chắccho việc quản lý, sử dụng, khai thác nguồn lực tài chính từ TSC; Hoàn thiện hệthống tiêu chuẩn, định mưc và chế độ quản lý, sử dụng TSC theo hướng hạn chếtrang bị bằng hiện vật, chuyển dần sang cơ chế khoán có tính chất bắt buộc, thựchiện phương thức thuê dịch vụ và Nhà nước đặt hàng; Mở rộng đối tượng được Nhànước xác định giá trị tài sản để giao cho đơn vị quản lý theo cơ chế giao vốn chodoanh nghiệp, theo đó mở rộng ĐVSN công lập sử dụng TSC giao vào mục đíchsản xuất, kinh doanh dịch vụ, cho thuê, liên doanh, liên kết gắn với tăng cường côngkhai, minh bạch, kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm; Đẩy mạnh áp dụng hình thứchợp tác công – tư trong xây dựng trụ sở làm việc, công trình sự nghiệp; Triển khaimua sắm TSNN theo phương thức tập trung; Nâng cao chất lượng quản trị TSCĐVSN công lập; Nâng cao hiệu quả xử lý TSC tại ĐVSN công lập theo hướng côngkhai, minh bạch; Hiện đại hóa công tác quản lý TSC và nâng cấp CSDL quốc gia vềTSC; Tăng cường xây dựng, thực hiện các hình thức công khai tình hình quản lý, sửdụng TSC

11 Nguyễn Tân Thịnh (2017), “Đổi mới cơ chế quản lý, sử dụng tài sản công tại đơn vị sự nghiệp công lập”, Tạp chí Tài chính [59].

Trang 28

Trong bài báo này, tác giả đã khái quát những kết quả đạt được cũng nhưnhững hạn chế của cơ chế và công tác quản lý, sử dụng TSC tại các ĐVSN công lập

từ khi có Luật quản lý, sử dụng TSNN đến tháng 9/2017 Những nội dung mới củaLuật quản lý, sử dụng TSC 2017 cũng được tác giả phân tích cụ thể Trên cơ sởnhững điểm mới, bổ sung của Luật quản lý, sử dụng TSC, tác giả đã đưa ra một sốgiải pháp nhằm góp phần đảm bảo và nâng cao tự chủ tài chính của ĐVSN cônglập, các giải pháp gồm: (i) Ban hành kịp thời, đầy đủ các văn bản quy định chi tiết

và hướng dẫn thi hành Luật Quản lý, sử dụng TSC; (ii) Đổi mới hệ thống tiêuchuẩn, định mức TSC; (iii) Ban hành danh mục tài sản được sử dụng vào mục đíchkinh doanh, tài sản sử dụng vào mục đích xã hội phù hợp với từng lĩnh vực hoạtđộng sự nghiệp; (iv) Tổ chức kiểm kê, đánh giá lại TSC trong các ĐVSN công lập;(v) Nhà nước tăng cường đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng cho các cơ sở sự nghiệpcông lập; (vi) Nâng cao chất lượng quản trị TSC của các ĐVSN công lập; (vii)Nâng cao hiệu quả xử lý TSC tại ĐVSN công lập theo hướng công khai, minh bạch;(viii) Tiếp tục thực hiện hiện đại hóa công tác quản lý TSC và nâng cấp CSDL vềTSC, đảm bảo từng bước CSDL có đầy đủ thông tin về TSC; (ix) Tăng cường côngtác kiểm tra, giám sát, xử lý nghiêm các vi phạm quy định về quản lý, sử dụng TSC

12 Trần Đức Thắng và Nguyễn Tân Thịnh (2017), “Thực trạng quản lý, sử dụng tài sản công tại đơn vị sự nghiệp”, Tạp chí Tài chính [57].

Trang 29

Trong bài báo, các tác giả đã phân tích những kết quả đạt được trong công tácquản lý, sử dụng TSNN ở nước ta từ khi có Luật Quản lý, sử dụng TSNN năm 2008đến năm 2017 Bài báo cũng chỉ ra những tồn tại và hạn chế trong công tác quản lý,

sử dụng TSC tại ĐVSN công lập, đó là: Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật liênquan chưa đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới; Hệ thống tiêu chuẩn, định mứcchưa linh hoạt; Phương thức trang bị tài sản cho các đơn vị chủ yếu là bằng hiệnvật, việc sử dụng công cụ thị trường còn hạn chế; Việc giao tài sản cho đơn vị quản

lý theo cơ chế giao vốn cho doanh nghiệp còn chậm; Việc thực hiện chính sáchkhuyến khích xã hội hóa trong các lĩnh vực sự nghiệp công chưa được quan tâmđúng mức; Quỹ nhà, đất thuộc sở hữu nhà nước có số lượng và giá trị rất lớn nhưngviệc sử dụng còn phân tán, lãng phí, hiệu suất thấp; Việc xử lý TSC còn mang tínhchất nhỏ lẻ, manh mún; CSDL quốc gia về TSNN chưa bao quát hết các loại TSCcần quản lý

Từ đó, tác giả kết luận, những hạn chế trên đặt ra yêu cầu cần tiếp tục đổi mớimạnh mẽ hơn nữa công tác quản lý, sử dụng TSC tại ĐVSN công lập nhằm pháthuy những kết quả đã đạt được, khắc phục những tồn tại, yếu kém

2.3 Đánh giá chung các nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án và định hướng nghiên cứu đề tài luận án

2.3.1 Đánh giá chung các nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án

Với vai trò quan trọng ngày càng được khẳng định của TSC đối với mỗi quốcgia cũng như đối với từng cơ quan, tổ chức, đơn vị, có thể thấy trong những nămgần đây các nghiên cứu về TSC và quản lý TSC đã xuất hiện ngày càng nhiều Cáccông trình nghiên cứu ở trong và ngoài nước nêu ở trên đã có những đóng góp hếtsức ý nghĩa về mặt khoa học và thực tiễn và hướng vào một số nội dung chính sau:

Một là, đã hệ thống hóa những vấn đề cơ bản về TSC và quản lý TSC như:

khái niệm, đặc điểm, phân loại TSC; nội dung và các nhân tố ảnh hưởng đến quản

lý TSC

Trang 30

Hai là, đã phân tích đặc điểm, mô hình, phương thức, công cụ và cơ chế, chính

sách quản lý TSC ở Việt Nam nói chung và tại một số loại hình cơ quan, đơn vị cụthể như cơ quan thuộc Chính phủ, ĐVSN nói riêng, cũng như một số quốc gia trênthế giới có mô hình và các giải pháp quản lý TSC được đánh giá là hiệu quả nhưAnh, Mỹ, Pháp, Canada, Trung Quốc Từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm quantrọng để tham khảo, có tính khả thi, giúp các nhà nghiên cứu, hoạch định cơ chế,chính sách và những người làm công tác chuyên môn trong lĩnh vực quản lý TSCthực hiện tốt các công việc có liên quan của mình

Ba là, đã đánh giá rõ thực trạng quản lý TSC nói chung và quản lý TSC trong

ĐVSN công lập nói riêng ở Việt Nam trong thời gian qua, phân tích những thànhtựu đạt được, những tồn tại, thách thức và nguyên nhân Từ đó đưa ra những nhậnđịnh và các kiến nghị, giải pháp để nâng cao hiệu quả quản lý TSC

Nhìn chung, các nghiên cứu được tìm hiểu và phân tích ở trên đã tiếp cận ởnhững góc độ hết sức đa dạng, giải quyết được tương đối nhiều vấn đề liên quanđến TSC và quản lý TSC Tuy nhiên, chưa có nhiều nghiên cứu ở cấp độ luận ántiến sĩ nghiên cứu chuyên sâu về quản lý TSC, đặc biệt là quản lý TSC tại các cơ sởGDĐH công lập mà mới chỉ dừng lại ở các ĐVSN công lập hoặc lại đi vào chi tiếtmột cơ sở GDĐH công lập chưa tự chủ là một bộ phận của khối ĐVSN công lập,đồng thời giữ vai trò quan trọng trong sự nghiệp phát triển văn hóa – xã hội củaquốc gia Hơn nữa, theo thời gian, cơ chế quản lý cũng như việc tổ chức thực hiệnquản lý TSC các cơ sở GDĐH công lập có những thay đổi Chính vì thế, đề tài luận

án là không trùng lắp với các công trình nghiên cứu trước đó

2.3.2 Định hướng nghiên cứu đề tài luận án

Bên cạnh những giá trị to lớn về mặt khoa học mà các công trình nghiên cứuđược đề cập nêu trên đã đạt được, quản lý TSC là vấn đề phức tạp cần được nghiên

cứu, hoàn thiện để phù hợp với thực tiễn, riêng đối với đề tài “Quản lý tài sản công các cơ sở giáo dục đại học công lập ở Việt Nam” được xác định tập trung nghiên

cứu một số vấn đề sau:

Trang 31

Một là, kế thừa kết quả nghiên cứu mà các công trình đã công bố đạt được, đề

tài tiếp tục nghiên cứu, bổ sung và hoàn thiện một số lý luận cơ bản về TSC và quản

lý TSC các cơ sở GDĐH công lập: khái niệm TSC các cơ sở GDĐH công lập; đặcđiểm, phân loại TSC các cơ sở GDĐH công lập gắn với lợi ích kinh tế mà nó đemlại cho xã hội; khái niệm, yêu cầu, nội dung và các nhân tố ảnh hưởng đến quản lýTSC các cơ sở GDĐH công lập

Hai là, nghiên cứu một số kinh nghiệm quốc tế về quản lý TSC các cơ sở

GDĐH công lập, rút ra bài học kinh nghiệm để tham khảo trong việc kiến nghị, đưa

ra các giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý TSC các cơ sở GDĐH công lập ở ViệtNam thời gian tới

Ba là, từ những vấn đề lý luận đã nghiên cứu, luận án sẽ đi sâu phân tích thực

trạng quản lý TSC các cơ sở GDĐH công lập trong giai đoạn 2014 - 2018; đánh giákết quả đạt được và tồn tại, hạn chế và nguyên nhân của các hạn chế dựa trên cácquy trình quản lý tài sản (quản lý quá trình hình thành TSC; quản lý quá trình khaithác, sử dụng TSC; quản lý quá trình kết thúc sử dụng TSC)

Bốn là, trên cơ sở xác định quan điểm hoàn thiện quản lý TSC nói chung, luận

án phân tích các quan điểm đặt ra đối với quản lý TSC tại các cơ sở GDĐH cônglập ở Việt Nam trong bối cảnh tiến tới tự chủ đại học Từ đó, đề xuất những giảipháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện quản lý TSC các cơ sở GDĐH công lập, phùhợp với đặc thù của các cơ sở GDĐH công lập và thực hiện theo đúng chế độ, chínhsách của Nhà nước, đảm bảo ổn định và hiệu quả trong công tác quản lý

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài luận án

3.1 Mục tiêu nghiên cứu:

Xây dựng các quan điểm và giải pháp hoàn thiện quản lý TSC các cơ sởGDĐH công lập phù hợp với tiến trình thực hiện cơ chế tự chủ của các cơ sởGDĐH công lập và đổi mới cơ chế quản lý TSC ở Việt Nam

Trang 32

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Hệ thống hóa, phân tích làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về TSC các cơ sởGDĐH công lập và quản lý TSC các cơ sở GDĐH công lập

- Tổng hợp, phân tích và minh chứng làm rõ những kết quả đạt được, hạn chế

và nguyên nhân của thực trạng quản lý TSC các cơ sở GDĐH công lập ở Việt Nam

- Đề xuất quan điểm và các giải pháp hoàn thiện quản lý TSC các cơ sởGDĐH công lập ở Việt Nam có luận cứ khoa học về lý luận và thực tiễn, có tínhkhả thi cao, phù hợp với tiến trình thực hiện cơ chế tự chủ của các cơ sở GDĐHcông lập và đổi mới cơ chế quản lý TSC ở Việt Nam

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án

4.1 Đối tượng nghiên cứu của luận án: những vấn đề lý luận và thực tiễn

có liên quan đến quản lý TSC các cơ sở GDĐH công lập ở Việt Nam

Trang 33

4.2 Phạm vi nghiên cứu của luận án

Phạm vi về nội dung: luận án tập trung nghiên cứu quản lý TSC các cơ sở

GDĐH công lập trên góc độ quản lý quá trình hình thành, khai thác, sử dụng và kếtthúc TSC theo những quy định pháp luật hiện hành ở Việt Nam về quản lý TSC các

cơ sở GDĐH công lập Việt Nam TSC các cơ sở GDĐH công lập rất đa dạng vềchủng loại và giá trị, luận án chỉ tập trung nghiên cứu quản lý 2 nhóm TSC đã đượctập hợp vào CSDL quốc gia về TSC do Bộ Tài chính đang quản lý, gồm: (1) Tài sản

là nhà và (2) Tài sản khác có nguyên giá 500 triệu đồng/1đơn vị tài sản trở lên,trong đó tài sản khác nguyên giá 500 triệu đồng/1 đơn vị trở lên chỉ nghiên cứu đốivới TSCĐ hữu hình Chủ thể quản lý TSC được xác định trong luận án này là Nhànước quản lý Đồng thời, trong xu thế hạn chế việc trang bị bằng hiện vật trong hoạtđộng quản lý của Nhà nước về TSC, luận án sẽ không đi sâu phân tích hình thứctrang bị tài sản thông qua hình thức giao cho cơ sở GDĐH công lập

Phạm vi về không gian và thời gian:

Ngày 24 tháng 10 năm 2014, Chính phủ ban hành Nghị quyết số

77/2014/NQ-CP về thí điểm đổi mới cơ chế hoạt động đối với các cơ sở GDĐH công lập và tínhđến tháng 12/2017, thệ thống GDĐH Việt Nam có 170 cơ sở GDĐH công lập; trong

đó có 21 cơ sở GDĐH công lập đã thực hiện tự chủ và có 12 cơ sở GDĐH công lập

có thời gian tự chủ trên 2 năm theo Nghị quyết số 77/2014/NQ-CP Vì vậy, để đảmbảo tính hệ thống của dữ liệu nghiên cứu và phù hợp xu thế phát triển của hệ thốnggiáo dục đại học Việt Nam, luận án chỉ tập trung nghiên cứu 12 cơ sở GDĐH cônglập tự chủ trên 2 năm theo Nghị quyết số 77/2014/NQ-CP của Chính phủ trong giaiđoạn 2014 - 2018

Về kinh nghiệm của các nước trên thế giới, Luận án nghiên cứu ở các nước vớinhững mốc thời gian khác nhau nhưng nhìn chung đều là thời gian mà có sự đổi mới vềquản lý các cơ sở GDĐH công lập như bắt đầu chuyển sang cơ chế tự chủ hoặc Chínhphủ các nước chú trọng đổi mới trong hoạt động quản lý các cơ sở GDĐH công lập nóichung, quản lý tài sản và tài chính cơ sở GDĐH công lập nói riêng

Trang 34

Quan điểm và giải pháp hoàn thiện quản lý TSC các cơ sở GDĐH công lập ở ViệtNam được nghiên cứu áp dụng cho giai đoạn 2020 – 2025, tầm nhìn đến năm 2030.

5 Phương pháp nghiên cứu của luận án

Phương pháp luận NCKH được sử dụng nghiên cứu luận án là phương phápduy vật biện chứng và duy vật lịch sử

Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng trong quá trình nghiên cứuluận án gồm: thống kê, so sánh, định lượng, phân tích, tổng hợp, suy luận

Phương pháp thu thập số liệu:

- Số liệu thứ cấp: Nguồn tài liệu, số liệu sử dụng bao gồm: hệ thống văn bảnquy phạm pháp luật của Đảng và Nhà nước liên quan đến quản lý TSC, các số liệuthứ cấp từ sách, các công trình nghiên cứu đã được thực hiện, các báo cáo, kết quả

đã được công bố từ các cuộc điều tra, kiểm kê tài sản, số liệu nghiên cứu của Chínhphủ, Bộ Tài chính, Bộ chủ quản của các cơ sở GDĐH công lập trong phạm vinghiên cứu và của 12 cơ sở GDĐH công lập tự chủ

- Số liệu sơ cấp: Các thông tin, số liệu sơ cấp được thực hiện trong quá trìnhnghiên cứu bằng các phương pháp điều tra xã hội học do NCS thực hiện Cụ thể,NCS tiến hành phỏng vấn trực tiếp 5 viên chức làm công tác quản lý tài chính – tàisản tại Cục QLCS (Bộ Tài chính); bảng hỏi được phát trực tiếp hoặc thông qua phầnmềm Servey Monkey đối với 10 cán bộ Phòng Kế hoạch – Tài chính (Bộ Giáo dục

& Đào tạo); 24 cán bộ làm việc ở bộ phận Kế hoạch - Tài chính hoặc Quản lý dự ántại 12 cơ sở GDĐH công lập; 66 giáo viên ở các cơ sở GDĐH công lập trong phạm

vi nghiên cứu Các bảng hỏi được trình bày ở Phụ lục 6, Phụ lục 7 và Phụ lục 8; Kếtquả của bảng hỏi được trình bày ở Phụ lục 9

Phương pháp phân tích số liệu:

- Phương pháp so sánh: được sử dụng để phân tích, đánh giá và so sánh số liệugiữa các thời kỳ với nhau, so sánh các chỉ tiêu phản ánh thực trạng

Trang 35

- Phương pháp thống kê mô tả: NCS sử dụng số tương đối, tuyệt đối, bảngbiểu, sơ đồ thể hiện các nội dung được trình bày.

6 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chính của Luận án được chia thành 3chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm quốc tế về quản lý tài sản công các

cơ sở giáo dục đại học công lập

Chương 2: Thực trạng quản lý tài sản công các cơ sở giáo dục đại học công

lập ở Việt Nam

Chương 3: Quan điểm và giải pháp hoàn thiện quản lý tài sản công các cơ sở

giáo dục đại học công lập ở Việt Nam

Trang 36

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ QUẢN LÝ TÀI SẢN CÔNG CÁC CƠ SỞ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC CÔNG LẬP 1.1 TÀI SẢN CÔNG CÁC CƠ SỞ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC CÔNG LẬP 1.1.1 Cơ sở giáo dục đại học công lập

Cơ sở GDĐH trong hệ thống giáo dục quốc dân gồm:

- Trường cao đẳng;

- Trường đại học, học viện;

- Đại học vùng, đại học quốc gia;

- Viện nghiên cứu khoa học được phép đào tạo trình độ tiến sĩ [64]

Cơ sở GDĐH công lập là ĐVSN công lập hoạt động trong lĩnh vực giáo dụcđược Nhà nước trang bị cơ sở vật chất, kể cả đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng [64]

Cơ sở GDĐH công lập do nhà nước thành lập và quản lý Nguồn kinh phí đảmbảo cho các cơ sở GDĐH công lập hoạt động phụ thuộc vào chính sách đầu tư tàichính và mức độ xã hội hóa nguồn lực dành cho GDĐH của mỗi quốc gia

Các cơ sở GDĐH công lập có đặc điểm sau:

Thứ nhất, kinh phí và cơ sở vật chất của cơ sở GDĐH công lập chủ yếu do Nhà nước trang cấp

Cơ sở GDĐH công lập do nhà nước (trung ương hoặc địa phương) đầu tư vềkinh phí và cơ sở vật chất (đất đai, nhà cửa) và hoạt động chủ yếu bằng kinh phí từcác nguồn tài chính công hoặc các khoản đóng góp phi vụ lợi Kinh phí cho các hoạtđộng thường xuyên của cơ sở GDĐH công lập chủ yếu do NSNN cấp, ngoài ra còn

có thêm kinh phí từ các nguồn thu khác được giữ lại cho cơ sở GDĐH công lập theoquy định của Nhà nước

Trang 37

Cơ sở GDĐH công lập do nhà nước đầu tư xây dựng, cung cấp trang thiết bịdạy học, bố trí cán bộ quản lý và đội ngũ nhà giáo giảng dạy; nhà nước thống nhấtquản lý về mục tiêu, chương trình, nội dung, kế hoạch giáo dục, tiêu chuẩn nhàgiáo, quy chế thi cử và hệ thống văn bằng Kinh phí hoạt động thường xuyên của cơ

sở GDĐH công lập chủ yếu do NSNN cấp, bên cạnh đó, cơ sở GDĐH công lập cóthêm kinh phí từ nguồn thu học phí, lệ phí và thu khác được giữ lại để đáp ứng nhucầu chi thường xuyên của cơ sở GDĐH công lập Các cơ sở GDĐH công lập là cácĐVSN có thu tự bảo đảm một phần hay toàn bộ kinh phí hoạt động thường xuyên

Cơ sở GDĐH công lập chịu sự quản lý nhà nước về giáo dục của Bộ Giáo dục

và Đào tạo; chịu sự quản lý hành chính theo lãnh thổ của Ủy ban Nhân dân tỉnh,thành phố trực thuộc Trung ương nơi cơ sở GDĐH công lập đặt trụ sở và các lĩnhvực quản lý khác của các Bộ chuyên ngành (gọi chung là cơ quan chủ quản) Cơquan chủ quản phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo thực hiện quản lý nhà nước đốivới các cơ sở GDĐH công lập trực thuộc theo quy định

Thứ hai, mục tiêu hoạt động của cơ sở GDĐH công lập là phục vụ lợi ích xã hội.

Cơ sở GDĐH công lập hoạt động không nhằm mục tiêu lợi nhuận mà hướng

về phục vụ lợi ích cộng đồng và xã hội Các đơn vị này có trách nhiệm đào tạo vàNCKH, đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ trí thức, đội ngũ cán bộ khoa học, kỹ thuật cótrình độ chuyên môn giỏi đáp ứng yêu cầu xây dựng và phát triển kinh tế của đấtnước

Thứ ba, các cơ sở GDĐH công lập được quyền chủ động trong công tác đào tạo

Trang 38

Các cơ sở GDĐH công lập được chủ động thực hiện các hoạt động đào tạonhư: xây dựng đề cương, giáo trình môn học, kế hoạch giảng dạy và học tập đối vớicác ngành nghề được phép đào tạo; tổ chức tuyển sinh theo chỉ tiêu của Bộ Giáodục và Đào tạo, thực hiện tổ chức đào tạo, công nhận tốt nghiệp và cấp văn bằngtheo thẩm quyền Cơ sở GDĐH công lập tự chủ là ĐVSN công lập có thu được nhànước trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tổ chức bộ máy, biên chế và tàichính Việc trao quyền tự chủ cho các cơ sở GDĐH công lập nhằm giúp các cơ sởGDĐH công lập chủ động trong việc thực hiện nhiệm vụ được giao.

Hệ thống các cơ sở GDĐH công lập đóng vai trò quan trọng đối với sự pháttriển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia, thể hiện khái quát qua các mặt sau:

Một là, cơ sở GDĐH công lập là nơi triển khai các chính sách đầu tư phát triển GDĐH của mỗi quốc gia

Các cơ sở GDĐH công lập thuộc sở hữu Nhà nước, được Chính phủ hoặcchính quyền ở các địa phương cấp ngân sách để triển khai các chính sách phát triểnGDĐH của chính quyền các cấp Ở Việt Nam, các cơ sở GDĐH công lập được Nhànước giao kinh phí, tài sản, cơ sở vật chất để thực hiện các mục tiêu và chính sách

ưu tiên đầu tư cho giáo dục đào tạo của đất nước

Hai là, cơ sở GDĐH công lập giữ vai trò định hướng cho hoạt động và sự phát triển của hệ thống GDĐH của quốc gia

Các cơ sở GDĐH công lập định hướng cho phát triển các chương trình đào tạobằng cách bổ sung, hoàn thiện các chương trình đã có sẵn, xây dựng các chươngtrình đào tạo mới phù hợp xu thế phát triển của xã hội

Ba là, cơ sở GDĐH công lập có sứ mạng đào tạo, cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao, NCKH và chuyển giao công nghệ đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước

Trang 39

Trong hệ thống GDĐH, các cơ sở GDĐH công lập có lợi thế hơn so với các cơ

sở GDĐH tư thục về điều kiện đảm bảo chất lượng như đội ngũ cán bộ, cơ sở vậtchất, học liệu, thư viện, để thực hiện các sứ mạng của mình Theo đó, cơ sở GDĐHcông lập là đơn vị chủ chốt cung cấp sản phẩm giáo dục, đào tạo cho sinh viên, qua

đó cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao cho xã hội; thực hiện các hoạt độngNCKH, chuyển giao công nghệ đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước

1.1.2 Khái niệm và đặc điểm tài sản công các cơ sở giáo dục đại học công lập

1.1.2.1 Khái niệm tài sản công các cơ sở giáo dục đại học công lập

Tài sản có ý nghĩa quan trọng đối với mọi mặt đời sống của con người và cùngvới sự phát triển của lịch sử loài người thì khái niệm về tài sản ngày càng được mởrộng Nhiều nhà kinh tế học, luật học cho rằng tài sản theo nghĩa hiện đại là mộtkhái niệm tổng hợp bao gồm của cải, vật chất và những quyền lợi dân sự đi kèm củacải vật chất Có quan niệm cho rằng, tài sản là tư liệu sản xuất và tư liệu sinh hoạt

có giá trị kinh tế mà chủ thể quyền lợi dân sự có thể chi phối; bao gồm mọi tư liệuvật chất tồn tại trong thiên nhiên và con người lao động sản xuất ra, bao gồm cả tiền

tệ và chứng khoán có giá

Theo điều 105, Bộ luật Dân sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Namnăm 2015 thì:

Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản Quyền tài sản có nội dung

là của cải vật chất, là quyền lợi được thể hiện thành lợi ích kinh tế, thường có thểdùng tiền tệ để đo lường, bao gồm tất cả những quyền lợi như quyền đối với vậtchất, quyền đối với nợ, quyền thừa kế, trong đó chủ yếu là quyền sở hữu và được sựbảo hộ của Hiến pháp và pháp luật

Trang 40

Sự tồn tại của tài sản luôn gắn liền với quyền sở hữu tài sản (bao gồm quyềnchiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản) của một chủ thể nhất định.Cũng theo Bộ luật Dân sự 2015, ở nước ta có 3 hình thức sở hữu, bao gồm: (1) sởhữu toàn dân; (2) sở hữu riêng; (3) sở hữu chung Mỗi một hình thức sở hữu đều thểhiện quan hệ chiếm hữu, sử dụng, định đoạt của một chủ thể nhất định đối với mộttài sản; chủ thể này có thể là cá nhân, có thể là nhiều cá nhân, cũng có thể là các cơquan công quyền.

Điều 197 Bộ luật Dân sự hiện hành và Điều 53 Hiến pháp nước Cộng hòa xãhội chủ nghĩa Việt Nam (năm 2013) đã quy định:

Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùngtrời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là TSCthuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý.Theo Luật quản lý, sử dụng tài sản Nhà nước năm 2008, thuật ngữ TSNN

được sử dụng và được định nghĩa như sau: “Tài sản nhà nước là tài sản hình thành

từ ngân sách nhà nước hoặc do pháp luật quy định thuộc sở hữu, quản lý của Nhà nước, bao gồm: trụ sở làm việc, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất; máy móc, phương tiện vận tải, trang thiết bị làm việc; tài sản từ nguồn viện trợ, tài trợ, đóng góp của tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước cho Nhà nước và các tài sản khác do pháp luật quy định” Tuy nhiên trên thực tế TSNN có phạm vi rất rộng,

đồng thời khái niệm này chưa tách bạch được nhiệm vụ quản lý về tài sản nhà nước

và cung cấp dịch vụ công trong quản lý, sử dụng TSNN

Theo Khoản 1, Điều 3, Luật quản lý, sử dụng TSC 2017 thì:

TSC là tài sản thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu vàthống nhất quản lý, bao gồm: TSC phục vụ hoạt động quản lý, cung cấp dịch vụcông, bảo đảm quốc phòng, an ninh tại cơ quan, tổ chức, đơn vị; tài sản kết cấu hạtầng phục vụ lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng; tài sản được xác lập quyền sở hữutoàn dân; TSC tại doanh nghiệp; tiền thuộc NSNN, các quỹ tài chính nhà nướcngoài ngân sách, dự trữ ngoại hối nhà nước; đất đai và các loại tài nguyên khác

Ngày đăng: 20/07/2019, 07:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w