Nhận thức rõ vai trò của giáo dục đối với sự phát triển, Đảng và Nhà nước ta từ trước đến nay luôn khẳng định rằng: “Giáo dục là quốc sách hàng đầu” và “Đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
1 PGS.TS Lê Thị Hương
2 Thiếu tướng, PGS.TS Nguyễn Hồng Hải
HÀ NỘI – 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, tư liệu nêu trong luận án là trung thực và có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng
Các kết quả nghiên cứu của luận án chưa được công bố trong bất cứ công trình khoa học nào
Hà Nội, ngày tháng năm 2018
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành Luận án “Thể chế quản lý nhà nước đối với cơ sở giáo dục đại học thuộc Bộ Công an”, trước hết tác giả luận án xin đặc biệt cảm ơn 2 người hướng dẫn khoa học là PGS.TS Lê Thị Hương và PGS.TS Nguyễn Hồng Hải đã luôn quan tâm, tận tình hướng dẫn, giúp đỡ về nội dung và phương pháp nghiên cứu khoa học trong suốt quá trình thực hiện luận án này
Tác giả luận án xin trân trọng cảm ơn tới Ban Lãnh đạo Học viện Hành chính Quốc gia, Khoa Sau đại học, Ban Giám đốc Học viện An ninh nhân dân cùng các cơ quan, tổ chức đã giúp đỡ tận tình, tham gia ý kiến đóng góp, tạo điều kiện thuận lợi trong suốt quá trình tác giả thực hiện nghiên cứu
Xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, những người thân yêu nhất, bạn bè, đồng nghiệp đã luôn động viên, khích lệ, chia sẻ, tạo điều kiện tốt nhất giúp tác giả vượt qua mọi khó khăn để hoàn thành chương trình học tập và nghiên cứu
Do những điều kiện chủ quan và khách quan, chắc chắn kết quả nghiên cứu của luận án vẫn còn những thiếu sót nhất định Tác giả rất mong tiếp tục nhận được những ý kiến đóng góp để giúp cho Luận án được hoàn thiện hơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2018
Tác giả luận án
Nghiêm Xuân Dũng
Trang 52.4 Các yếu tố ảnh hưởng và các điều kiện bảo đảm thực hiện thể chế quản lý nhà nước đối với cơ sở giáo dục đại học thuộc Bộ Công an……… 60 Chương 3: THỰC TRẠNG THỂ CHẾ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CƠ
3.1 Thực trạng nội dung thể chế quản lý nhà nước đối với cơ sở giáo dục đại học
3.2 Thực trạng thực hiện thể chế quản lý nhà nước đối với cơ sở giáo dục đại học thuộc Bộ Công an……… 90 3.3 Đánh giá về thể chế quản lý nhà nước đối với cơ sở giáo dục đại học thuộc Bộ
Chương 4: HOÀN THIỆN THỂ CHẾ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC
CƠ SỞ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC THUỘC BỘ CÔNG AN……… 116 4.1 Yêu cầu hoàn thiện thể chế quản lý nhà nước đối với cơ sở giáo dục đại học
4.2 Quan điểm hoàn thiện thể chế quản lý nhà nước đối với cơ sở giáo dục đại học
4.3 Giải pháp hoàn thiện thể chế quản lý nhà nước đối với cơ sở giáo dục đại học
KẾT LUẬN……… 152 TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 155
Trang 6CHXHCN : Công hòa Xã hội chủ nghĩa
CNTT : Công nghệ thông tin
CNH,HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa GDĐH : Giáo dục đại học
CSGDĐH : Cơ sở giáo dục đại học
GDĐHTBCA :Giáo dục đại học thuộc Bộ Công an
CS GDĐHTBCA : Cơ sở giáo dục đại học thuộc Bộ Công an GDĐT : Giáo dục đào tạo
UBND : Ủy ban nhân dân
VBQPPL : Văn bản quy phạm pháp luật
Trang 7DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1: Thống kê số lượng văn bản liên quan đến cơ sở giáo dục đại học
Biểu đồ 2: Thống kê số lượng văn bản quy phạm pháp luật chung và đặc thù liên
quan đến cơ sở giáo dục đại học thuộc Bộ Công an giai đoạn 2005 - 2010 105 Biểu đồ 3: Thống kê số lượng văn bản quy phạm pháp luật chung và đặc thù liên
quan đến cơ sở giáo dục đại học thuộc Bộ Công an giai đoạn 2010 - 2017 106 Biểu đồ 4: Thống kê số lượng văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến tổ chức bộ
máy QLNN đối với cơ sở giáo dục đại học thuộc Bộ Công an giai đoạn 2005 - 2017 106 Biểu đồ 5: Thống kê số lượng văn bản bản quy phạm pháp luật liên quan đến nội
dung QLNN đối với cơ sở GDĐHTBCA giai đoạn 2005 - 2017 107 Biểu đồ 6: Thống kê số lượng văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến đối
tượng QLNN đối với cơ sở GDĐHTBCA giai đoạn 2005 - 2017 108 Biểu đồ 7: Thống kê số lượng văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến cơ
chế QLNN đối với cơ sở GDĐHTBCA giai đoạn 2005 - 2017 109
Trang 81
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong đời sống xã hội, giáo dục là một lĩnh vực có vai trò quan trọng đối với mọi quốc gia, mọi dân tộc ở mọi thời đại Các chuyên gia giáo dục của tổ chức UNESCO đã rút ra một tổng kết có tính quy luật: Không có một sự tiến bộ
và thành đạt nào có thể tách rời khỏi sự tiến bộ và thành đạt trong lĩnh vực giáo dục của quốc gia đó Và những quốc gia nào coi nhẹ giáo dục hoặc không đủ tri thức và khả năng cần thiết để làm giáo dục một cách hiệu quả thì số phận của quốc gia đó xem như đã an bài và điều đó còn tồi tệ hơn cả sự phá sản [54] Nhận thức rõ vai trò của giáo dục đối với sự phát triển, Đảng và Nhà nước ta
từ trước đến nay luôn khẳng định rằng: “Giáo dục là quốc sách hàng đầu” và “Đầu
tư cho giáo dục là đầu tư cho sự phát triển”… Chủ trương này đã được Nghị quyết
số 48 – NQ/TW ngày 24 tháng 5 năm 2005 của Bộ Chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020: "Thể chế hóa quan điểm coi giáo dục – đào tạo là quốc sách hàng đầu, thực hiện "chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa giáo dục", xây dựng xã hội học tập, nâng cao chất lượng giáo dục Xác định rõ sự thống nhất quản lý nhà nước về giáo dục, đồng thời tăng cường quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của nhà trường, của
cơ sở giáo dục; tạo sự bình đẳng, khuyến khích cạnh tranh lành mạnh giữa các loại hình đào tạo công lập và ngoài công lập" [ 3, Tr.3]
Thể chế hóa chủ trương, chính sách của Đảng về GDĐT nói chung, GDĐH nói riêng, Nhà nước ta đã ban hành Luật Giáo dục và Luật Giáo dục đại học cùng các văn bản hướng dẫn thi hành Đây chính là cơ sở pháp lý cho hoạt động GDĐT nói chung và hoạt động GDĐH nói riêng; Đồng thời là cơ sở để Nhà nước thực hiện sự quản lý đối với các cơ sở GDĐH
Cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, GDĐH Việt Nam đã từng bước phát triển rõ rệt về quy mô, đa dạng về loại hình trường và hình thức đào tạo,
Trang 92
nguồn lực xã hội được huy động nhiều hơn và đạt được nhiều kết quả tích cực, cung cấp nguồn lao động chủ yếu có trình độ cao đẳng, đại học, thạc sỹ, tiến sỹ phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, quá trình CNH,HĐH đất nước, bảo đảm an ninh quốc phòng và hội nhập quốc tế
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, GDĐH ở nước ta còn nhiều yếu kém bất cập, chưa đáp ứng kịp thời những đòi hỏi to lớn và ngày càng cao của sự nghiệp đổi mới và hội nhập quốc tế với những biểu hiện như: Chất lượng
và hiệu quả giáo dục còn thấp, không có một trường đại học đạt chất lượng quốc tế hay khu vực; Những biểu hiện tiêu cực, thiếu kỷ cương trong giáo dục còn nhiều; Đội ngũ nhà giáo còn thiếu và hạn chế về trình độ, năng lực; QLNN về GDĐH còn
có những biểu hiện tùy tiện không tuân theo pháp luật và chưa đáp ứng được yêu cầu ổn định, phát triển sự nghiệp giáo dục; Các cơ quan QLNN về GDĐH có thẩm quyền các cấp chưa có những quyết định đủ mạnh về chính sách, cơ chế và biện pháp tổ chức thực hiện để thể hiện đầy đủ coi giáo dục là quốc sách hàng đầu; Những chính sách về đầu tư, huy động nguồn vốn, tạo động lực cho nhà giáo và người học còn chưa đầy đủ và thiếu cụ thể Cơ chế đó làm mất đi tính chủ động, linh hoạt, sáng tạo và ý chí vươn lên, thậm chí gây nên sự nản lòng trong đội ngũ tri thức, nhà giáo, sinh viên, nhà nghiên cứu, quản lý… Tình trạng này xảy ra khá phổ biến ở các CSGDĐH, trong đó có các CSGDĐHTBCA Một trong những nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng này là thể chế QLNN đối với cơ sở GDĐH nói chung, CSGDĐHTBCA nói riêng còn nhiều bất cập, tính khả thi chưa cao, chưa thực sự tạo được hành lang pháp lý để QLNN đối với CSGDĐHTBCA
Thể chế QLNN đối với giáo dục nói chung và thể chế QLNN đối với GDĐH luôn là một lĩnh vực quan trọng trong các phương diện hoạt động của Nhà nước, nhất là đối với CSGDĐHTBCA – với những đặc thù riêng biệt thì càng cần được chú trọng
Trong những năm qua, thể chế QLNN đối với GDĐH nói chung, đối với CSGDĐHTBCA nói riêng đã được Nhà nước quan tâm khá sâu sắc, tuy nhiên
Trang 103
vẫn còn nhiều khá nhiều mâu thuẫn, chồng chéo, hay thay đổi và còn nhiều khoảng trống đã ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng đào tạo cũng như hiệu lực, hiệu quả hoạt động QLNN Tổ chức hệ thống CSGDĐHTBCA cũng như bộ máy quản lý đối với CSGDĐHTBCA hiện này cũng chưa thật sự khoa học (nhiều cơ sở đào tạo; nhiều tầng nấc quản lý ) Trách nhiệm quản lý các cơ
sở giáo dục đại học của các Bộ, Ngành, UBND cấp tỉnh nơi có trường đại học còn chưa được làm rõ, đôi khi còn chồng chéo chức năng QLNN về GDĐH
Sự phối hợp giữa các Bộ, ngành, địa phương trong quản lý các cơ sở giáo dục đại học còn chưa chặt chẽ, chưa đồng bộ, nên không kịp thời phát hiện và xử
lý các vi phạm Hệ thống CSGDĐH thuộc Bộ phát triển nhanh về mạng lưới, quy mô, nhưng cơ chế, phương pháp quản lý chưa theo kịp Đội ngũ giảng viên giảng dạy, cán bộ quản lý của các CSGDĐH còn nhiều hạn chế cả về số lượng và chất lượng Nguồn lực tài chính và cơ sở vật chất phục vụ QLNN đối với CSGDĐHTBCA chưa đáp ứng yêu cầu phát triển Công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát chưa thường xuyên, chưa đi vào chiều sâu, chưa kịp thời phát hiện những sai sót ở các cơ sở giáo dục đại học Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực GDĐH chưa phát triển sâu rộng, chưa phát huy hết tiềm lực của Ngành… là những nguyên nhân trực tiếp ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo của các CSGDĐHTBCA hiện nay
Trong khi đó, hoạt động nghiên cứu để xác lập cơ sở khoa học cho các giải pháp nhằm hoàn thiện thể chế QLNN đối với CSGDĐHTBCA lại chưa được quan tâm đúng mức Thực tế vẫn đang thiếu căn cứ lý luận và thực tiễn cần thiết để xác định các giải pháp đồng bộ nhằm tiếp tục hoàn thiện thể chế QLNN đối với CSGDĐHTBCA đáp ứng yêu cầu của tình hình và nhiệm vụ theo tinh thần Nghị quyết số 18-NQ/TW của Hội nghị Trung ương 6 (khóa XII) về "Một
số vấn đề tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả"; Nghị quyết số 19-NQ/TW về "Một số vấn đề tiếp tục đổi mới hệ thống tổ chức và quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả
Trang 114
hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập" và Đề án 106 của Bộ Công an về
"Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy Bộ Công an tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả hiện nay» là hết sức cần thiết trên cả phương diện
lý luận, thực tiễn và pháp lý
Tình hình nói trên cho thấy, việc triển khai nghiên cứu các khía cạnh lý luận và thực tiễn liên quan đến thể chế QLNN đối với GDĐH nói chung, đối với CSGDĐHTBCA nói riêng đang được đặt ra một cách cấp bách Trong bối cảnh
đó, NCS đã quyết định lựa chọn chủ đề “Thể chế quản lý nhà nước đối với cơ
sở giáo dục đại học thuộc Bộ Công an” để triển khai nghiên cứu trong quy mô luận án tiến sĩ với mong muốn góp phần giải mã một cách toàn diện và có hệ thống các nội dung liên quan đến chủ đề được lựa chọn
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích tổng quát của luận án là nhằm luận chứng khoa học cho các giải pháp hoàn thiện thể chế QLNN đối với CSGDĐHTBCA đáp ứng yêu cầu đổi mới của của Đảng, Nhà nước cũng như ngành Công an và yêu cầu của xã hội
ở Việt Nam hiện nay
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích nghiên cứu trên, đề tài có nhiệm vụ:
- Tập hợp các công trình nghiên cứu tiêu biểu liên quan đến đề tài luận án
đã được công bố; Phân tích, nhận xét để xác định những vấn đề đã được các tác giả giải quyết mà luận án có thể kế thừa và những khoảng trống luận án sẽ phải giải quyết
- Hệ thống hóa nhận thức lý luận về thể chế QLNN đối với GDĐH thông qua việc nghiên cứu các khái niệm có liên quan như: Thể chế, thể chế QLNN, thể chế QLNN đối với GDĐH Trên cơ sở đó, tập trung làm sáng tỏ những vấn
đề lý luận cơ bản về thể chế QLNN đối với CSGDĐHTBCA như khái niệm, đặc điểm, mục đích, vai trò, các yếu tố cấu thành cũng như các yếu tố tác động
Trang 123 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là những vấn đề lý luận và thực tiễn thực hiện thể chế QLNN đối với CSGDĐHTBCA
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Thể chế nói chung và thể chế QLNN đối với CSGDĐHTBCA là một lĩnh vực rộng và phức tạp Trong luận án này, khái niệm thể chế bao gồm 2 yếu tố là các quy định pháp luật về QLNN đối với CSGDĐHTBCA và tổ chức thực hiện các quy định pháp luật về QLNN đối với CSGDĐHTBCA
- Về không gian: Hệ thống các CSGDĐHTBCA hiện nay
- Về thời gian: Từ khi có Luật Giáo dục năm 2005 đến nay
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
4.1 Cách tiếp cận và phương pháp luận
Để đảm bảo tính khoa học của kết quả nghiên cứu, luận án dựa trên cơ sở
lý luận sau:
- Các quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, về quản lý hành chính nhà nước Các quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước Việt Nam về QLNN đối với giáo dục, đào tạo cũng như quan điểm, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước Việt Nam về QLNN đối với CSGDĐHTBCA
- Để đạt được mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu, Luận án sử dụng phương pháp tiếp cận của chuyên ngành quản lý công; phương pháp tiếp cận lịch sử;
Trang 136
phương pháp tiếp cận hệ thống, đa ngành và liên ngành khoa học xã hội và nhân văn; phương pháp liên ngành hành chính, pháp lý…
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận án áp dụng tổng hợp nhiều phương pháp nghiên cứu cụ thể nhằm làm sáng tỏ các luận điểm nghiên cứu:
- Phương pháp tiếp cận đa ngành, liên ngành khoa học hành chính và khoa học pháp lý được sử dụng trong toàn bộ luận án để luận chứng các khía cạnh phức tạp, đa chiều thuộc chủ đề nghiên cứu
- Phương pháp hệ thống được sử dụng để khảo cứu các kết quả nghiên cứu
có liên quan đến luận án cũng như quan điểm, quan niệm xung quanh các nội dung cần giải quyết trong đề tài
Các phương pháp nghiên cứu được tác giả sử dụng cụ thể như sau:
- Để phân tích đánh giá những công trình nghiên cứu khoa học ở trong nước và ngoài nước có liên quan đến đề tài luận án, trước hết tác giả sử dụng phương pháp hệ thống, phân tích, tổng hợp, so sánh nhằm đưa ra các kết luận cần thiết Đồng thời trên cơ sở đó vận dụng phương pháp phân tích chỉ ra những kết quả nghiên cứu luận án nên kế thừa và đặc biệt là những nội dung nghiên cứu luận án cần bổ sung, hoàn thiện
- Để giải quyết những vấn đề mang tính lý luận, tác giả sử dụng phương pháp hệ thống các quan điểm, quan niệm trên thế giới và Việt Nam xung quanh các khái niệm cần giải quyết trong đề tài Sau đó sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh để đưa ra những quan niệm của tác giả Mặt khác phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh sẽ được sử dụng xuyên suốt trong quá trình nghiên cứu đề tài
- Để đánh giá thực trạng thể chế QLNN đối với CSGDĐHTBCA, trước hết tác giả sử dụng phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết để thu thập các số liệu cần thiết Phương pháp đánh giá, tổng kết thực tiễn thông qua kết quả thống kê, báo cáo cũng rất cần thiết Đồng thời trên cơ sở đó vận dụng phương pháp phân tích chỉ
Trang 145 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết khoa học
5.1 Câu hỏi nghiên cứu
Để nghiên cứu đề tài, luận án cần giải quyết được những câu hỏi nghiên cứu sau:
- Thể chế QLNN đối với CSGDĐHTBCA là gì? Được cấu thành bởi những
bộ phận nào và chịu ảnh hưởng bởi những yếu tố nào?
- Thực trạng thể chế QLNN đối với CSGDĐHTBCA ở Việt Nam hiện nay như thế nào? Có ưu điểm, hạn chế gì? Nguyên nhân của ưu điểm, hạn chế đó là gì?
- Để hoàn thiện thể chế QLNN đối với CSGDĐHTBCA cần dựa trên những quan điểm và giải pháp nào?
5.2 Giả thuyết khoa học
Thể chế QLNN đối với CSGDĐHTBCA nếu đầy đủ, phù hợp và được tổ chức thực hiện tốt sẽ tạo tiền đề, cơ sở bảo đảm chất lượng GDĐH trong các CSGDĐH của Bộ, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của ngành Công an
Thể chế QLNN đối với CSGDĐHTBCA đã được định hình nhưng có những khoảng trống và thiếu khả năng hiện thực hóa Vì vậy, việc hoàn thiện thể chế QLNN đối với CSGDĐHTBCA đang đặt ra một cách cấp bách, là một trong những yếu tố quyết định trong quá trình xây dựng, củng cố LLCAND, góp phần quan trọng vào thành công của sự nghiệp đổi mới giáo dục, đào tạo ở Việt Nam hiện nay
6 Đóng góp mới về khoa học của luận án
Trang 158
Luận án là công trình mới, đầu tiên, không trùng lặp với bất kỳ công trình khoa học nào đã công bố liên quan đến vấn đề này Luận án đã nghiên cứu một cách toàn diện, tập trung vào vấn đề lý luận và đánh giá thực trạng thực hiện thể chế QLNN đối với CSGDĐHTBCA nhằm mục đích đề xuất các quan điểm và giải pháp hoàn thiện thể chế QLNN đối với CSGDĐHTBCA ở Việt Nam hiện nay Cụ thể :
Thứ nhất, luận án đã luận chứng cụ thể và khoa học hơn về nội hàm các nội dung của thể chế QLNN về GDĐH (Khái niệm, đặc điểm và vai trò) làm cơ sở cho việc hình thành lý luận về thể chế QLNN đối với CSGDĐHTBCA
Thứ hai, luận án đã chứng minh 2 yếu tố cấu thành thể chế QLNN đối với CSGDĐHTBCA, gồm các quy định pháp luật về QLNN đối với CSGDĐHTBCA
và tổ chức thực hiện các quy định pháp luật về QLNN đối với CSGDĐHTBCA với những luận giải thuyết phục Hiện nay, chưa có công trình nghiên cứu nào ở Việt Nam tiếp cận theo hướng này
Thứ ba, từ việc nghiên cứu thực trạng thể chế QLNN đối với CSGDĐHTBCA cũng như thực tiễn thực hiện trong thời gian qua, luận án đã khái quát bức tranh toàn cảnh về thể chế QLNN đối với CSGDĐHTBCA với những nhận xét, đánh giá có cơ sở khoa học và thực tiễn
Thứ tư, trên cơ sở xác định yêu cầu, luận án đã xây dựng các quan điểm tiếp tục hoàn thiện thể chế QLNN đối với CSGDĐHTBCA ở nước ta hiện nay và
đề xuất hệ thống các giải pháp tiếp tục hoàn thiện thể chế QLNN đối với CSGDĐHTBCA cả về quy định pháp luật cũng như tổ chức thực hiện các quy định pháp luật trong thực tiễn
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
- Luận án là công trình nghiên cứu trực tiếp và tổng thể vấn đề thể chế QLNN đối với CSGDĐHTBCA với mục đích đưa ra các luận cứ khoa học và những quan điểm, giải pháp về mặt lý luận cũng như thực tiễn nhằm hoàn thiện thể chế QLNN đối với CSGDĐHTBCA Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ góp
Trang 16* Triển vọng ứng dụng kết quả nghiên cứu
- Luận án sẽ góp phần bổ sung lý luận thể chế QLNN về GDĐH nói chung, đối với CSGDĐHTBCA nói riêng
- Luận án có thể làm tài liệu tham khảo cho việc học tập và nghiên cứu khoa học, là nguồn tư liệu có giá trị để xây dựng và ban hành các chính sách, chiến lược và hoàn thiện thể chế QLNN về GDĐH nói chung cũng như các CSGDĐHTBCA nói riêng
8 Cấu trúc của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục bảng biểu, phụ lục, luận án kết cấu thành 4 chương, bao gồm:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án
Chương 2: Những vấn đề lý luận về thể chế quản lý nhà nước đối với cơ sở giáo dục đại học thuộc Bộ Công an
Chương 3: Thực trạng thể chế quản lý nhà nước đối với cơ sở giáo dục đại học thuộc Bộ Công an
Chương 4: Hoàn thiện thể chế quản lý nhà nước đối với cơ sở giáo dục đại học thuộc Bộ Công an
Trang 1710
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1.1 CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN THỂ CHẾ
Thể chế nói chung, thể chế QLNN nói riêng là một nội dung nhận được sự quan tâm rất lớn của các nhà nghiên cứu, các nhà quản lý trong và ngoài nước Mỗi công trình và ấn phẩm khoa học tiếp cận và nghiên cứu về thể chế ở những góc độ khác nhau Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu và ấn phẩm khoa học sau đây:
Trong lĩnh vực kinh tế, tác phẩm “Analytical Institutional Economics”, Schmid Adam có đưa ra quan niệm về thể chế là “tập hợp các mối quan hệ được quy định giữa mọi người”[172] Vào năm 1990, nhà kinh tế học Douglass North tiếp tục đưa ra khái niệm về thể chế trong cuốn “Institutions, Instututional Change and Economic Performance” Cũng trong cuốn sách này, North đã đưa ra hệ thống lý thuyết về thể chế, những thay đổi và sự tác động của nó đối với các hoạt động kinh tế Đa số các nhà kinh tế học xem thể chế như là “luật chơi”[179] Vào những năm 1990, vai trò của thể chế đã được các quốc gia phát triển coi trọng hơn Ví dụ, Goldsmith miêu tả các thể chế như là
“sự khẩn cấp để phát triển kinh tế xã hội” Adamolecun và McGill chỉ ra thể chế yếu kém là chướng ngại vật trên con đường phát triển ở nhiều quốc gia đang phát triển Cũng giống như các quan điểm trước đây, các nhà nghiên cứu cho rằng thể chế là trung tâm của phát triển kinh tế bền vững bởi vì đó là các thể chế xây dựng nên các chính sách, huy độn và quản lý các nguồn lực, và phân phối các dịch vụ là tác nhân của phát triển bền vững
Theo các nhà chính trị học thì thể chế là “các quyền chính thức và không chính thức và các tập quán được sử dụng để chuyển các yêu cầu của công dân vào chính sách công” hay “hệ thống các cơ quan nhà nước với vị trí, quyền hạn, trách nhiệm, quyền lực và các đặc quyền”
Trang 18Sách: “Toward a Comparative Institutional Analysis” (Hướng tới hệ thống thể chế so sánh) của tác giả Masahiko Aoki xuất bản 2001 Tài liệu này tác giả Masahiko Aoki bắt đầu từ việc tiếp cận lý thuyết cổ điển về thể chế kinh tế mới được bắt nguồn từ học giả Ronald Coase, trong đó đánh giá cao vai trò của khung thể chế và chi phí giao dịch trong vận hành kinh tế Với nghĩa thể chế là quy tắc của trò chơi, sự phát triển kinh tế cùng với hiệu quả của nó luôn được xem là những yếu tố cơ bản làm thay đổi thể chế hay phải cải cách nó Masahiko Aoki lý giải sự cần thiết phải thay đổi, cải cách thể chế ngoài lý do nêu trên còn
có thể do tác động bởi các yếu tố văn hóa pháp lý, môi trường và tâm lý [171] Sách: “Institutions and Social Conflict” (Thể chế và xung đột xã hội) của tác giả Jack Knight xuất bản năm 1992 Tài liệu này Jack Knight định nghĩa thể chế là “một tập hợp các quy tắc mà thiết lập nên các mối tương tác xã hội theo các cách riêng biệt” Bên cạnh đó học giả Jack Knight chia sẻ quan điểm cho rằng các xung đột trong xã hội và cách thức giải quyết tranh chấp các xung đột này cũng là những nguyên nhân làm cho thể chế thay đổi [187]
Ở Việt Nam cũng có nhiều tác giả sử dụng thuật ngữ “thể chế” trong các tác phẩm của mình, nhưng chủ yếu trên cơ sở dịch và dẫn các định nghĩa thể chế của các nhà nghiên cứu nước ngoài, một số ví dụ như nghiên cứu của các tác giả Trần Đình Ân, Võ Trí Thành trong cuốn “Thể chế - cải cách thể chế
và phát triển: Lý luận và thực tiễn ở nước ngoài và Việt nam”[45]; “Vấn đề điều chỉnh chức năng và thể chế của nhà nước dưới tác động của toàn cầu hóa”[138], Phạm Việt Thái… Hay như trong cuốn Hành chính học đại cương
có viết “Khó có thể đưa ra một định nghĩa đầy đủ, cụ thể về thuật ngữ thể chế
Trang 1912
Theo tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Nga hoặc tiếng Latinh, thuật ngữ
“institution” đều phản ánh một nội dung về việc thiết lập một tổ chức, một công việc với những quy định pháp lý về quyền hạn, nhiệm vụ, thẩm quyền, quy tắc hoạt động của nó, buộc các thành viên trong tổ chức đó thống nhất chấp hành”[151] Trong cuốn Từ điển Tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên năm 1992), thể chế là “những quy định, luật lệ của một chế độ xã hội, buộc mọi người phải tuân theo” [122]
Thời gian gần đây, có một số công trình đã đi sâu nghiên cứu mối quan
hệ giữa thể chế và phát triển, vấn đề hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, điển hình như: cuốn “Thể chế - cải cách thể chế và phát triển: Lý luận và thực tiễn ở nước ngoài và Việt nam”(2002), các tác giả đã đưa ra những vấn đề lý luận thể chế kinh tế cơ bản nhất cũng như kinh nghiệm xây dựng, chuyển đổi và cải cách thể chế ở một số nước trên thế giới và ở nước ta [45]; cuốn “Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam” (2006) nêu những khái niệm cơ bản và đưa ra đánh giá ban đầu về hệ thống thể chế kinh tế hiện hành của Việt Nam, xây dựng thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN; quan điểm chủ đạo và định hướng một số nội dung cơ bản cho việc hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam [46]; tiếp theo đó, trong cuốn “Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” (2008), các tác giả này đã nghiên cứu những vấn đề
về thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa sau 20 năm đổi mới, phân tích các nhận thức, quan điểm về thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, phát triển đồng
bộ các loại thị trường chức năng tại Việt Nam [47]
Một số luận án tiến sĩ cũng có đề cập đến vấn đề này như “Hoàn thiện thể chế quản lý công chức ở Việt Nam trong điều kiện phát triển và hội nhập quốc tế”, luận án tiến sỹ kinh tế của Trần Anh Tuấn, Đại học Kinh tế Quốc dân
Trang 2013
năm 2007 Tác giả đã chứng minh sự cần thiết phải hoàn thiện thể chế quản lý công chức ở Việt Nam trong bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế cũng như những yêu cầu, giải pháp cần đảm bảo trong quá trình hoàn thiện thể chế quản lý công chức ở Việt Nam [155]
Luận án “Thể chế quản lý viên chức khoa học, công nghệ ở nước ta trong giai đoạn hiện nay” của tác giả Trần Thị Thu Hằng, Học viện Khoa học xã hội, năm 2014 Làm rõ những vấn đề lý luận về khái niệm, đặc điểm,
vị trí và vai trò của viên chức khoa học, công nghệ; khái niệm, đặc điểm và vai trò của thể chế quản lý viên chức khoa học, công nghệ; những yêu cầu và tiêu chí hoàn thiện thể chế quản lý viên chức khoa học, công nghệ; kinh nghiệm hoàn thiện thể chế quản lý viên chức khoa học, công nghệ của một
số nước trên thế giới [83]
Luận án Tiến sĩ Quản lý hành chính công: Nâng cao năng lực thể chế hành chính nhà nước để thích ứng với kinh tế thị trường và yêu cầu hội nhập quốc tế ở nước ta hiện nay của Bùi Thị Ngọc Hiền, 2015, Học viện Hành chính Quốc gia Luận án hệ thống hoá các nghiên cứu về thể chế, thể chế hành chính nhà nước, nâng cao năng lực thể chế, từ đó, làm rõ các khái niệm thể chế hành chính nhà nước, năng lực thể chế hành chính nhà nước Luận án cũng xác định các vai trò của thể chế hành chính nhà nước và yêu cầu về năng lực thể chế thích ứng với kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế Qua việc đánh giá năng lực thể chế hành chính nhà nước ở Việt Nam, Luận án xây dựng khung năng lực thể chế Hành chính nhà nước thích ứng với kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, làm cơ sở khoa học cho việc nâng cao năng lực thể chế hành chính nhà nước ở Việt Nam
Về mặt thực tiễn Luận án nghiên cứu và đánh giá thực trạng năng lực thể chế hành chính nhà nước Việt Nam trong nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế Luận án cũng xây dựng một số nhóm giải pháp cụ thể nhằm nâng cao năng lực thể chế hành chính nhà nước trong điều kiện hiện tại của Việt Nam [85]
Trang 2114
Luận án “Thể chế quản lý nhà nước đối với giáo dục sau đại học ở Việt Nam hiện nay” của Lê Như Phong, Học viện Hành chính Quốc gia, năm 2016 đã đưa ra khái niệm về thể chế quản lý nhà nước đối với giáo dục sau đại học là hệ thống các quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành và
tổ chức bộ máy hành chính nhà nước vận hành các quy định pháp luật về quản lý nhà nước…; phân tích thực trạng, ưu điểm, nhược điểm, bất cập như: hệ thống văn bản quy phạm pháp luật chưa đồng bộ, chưa được sửa đổi, bổ sung kịp thời Tương tự, bộ máy quản lý nhà nước đối với giáo dục sau đại học cũng còn nhiều bất cập về cơ cấu tổ chức, nguồn nhân lực… Từ đó đề xuất phương hướng để hoàn thiện thể chế quản lý nhà nước đối với giáo dục sau đại học trong giai đoạn hiện nay [110]
Bên cạnh đó, vấn đề thể chế cũng là chủ đề nghiên cứu của một số đề tài nghiên cứu khoa học và hội thảo khoa học như:
Đề tài cấp bộ: “Tổ chức, thể chế và phương thức hoạt động của bộ máy hành chính Nhà nước ở địa phương”, GS.TS Lê Sĩ Thiệp Học viện Hành chính
1996 Đề tài này đi sâu vào 03 khía cạnh của quản lý nhà nước là: Tổ chức, thể chế và phương thức hoạt động Đề tài được nghiên cứu, giải quyết những nhiệm vụ đặt ra nhằm nâng cao công tác quản lý nhà nước từ đó đưa ra phương hướng hoàn thiện tổ chức, thể chế và phương thức hoạt động của bộ máy chính quyền [143]
Đề tài: “Tác động của quản lý hành chính công đến quản lý nhà nước về giáo dục ở một số nước”, ThS Nguyễn Thế Thắng, Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam Đề tài đi vào các nội dung chủ yếu như: hệ thống khái niệm và các thuật ngữ liên quan, tác động của hành chính công tới quản lý nhà nước về giáo dục ở một số quốc gia, so sánh và nhận xét; từ đó đưa ra những đề xuất các kiến nghị với các cơ quan liên quan nhằm nâng cao nhận thức về quản lý công về giáo dục nói chung và quản lý công về giáo dục nói riêng [142]
Trang 22Sách “Thể chế chính trị” của tác giả Nguyễn Đăng Dung và Bùi Ngọc Sơn (Nhà xuất bản Lý luận chính trị, Hà Nội, 2004) đã tiếp cận quan niệm thể chế khi nghiên cứu về thể chế chính trị Theo các tác giả: “Mỗi lĩnh vực hoạt động của con người đều có các thể chế nhất định Vì vậy, thể chế bao gồm nhiều loại khác nhau: thể chế kinh tế, thể chế chính trị, thể chế giáo dục, thể chế y tế, thể chế văn hoá,…” Điểm độc đáo của công trình này là tiếp cận thể chế chính trị dưới hai góc độ: Thể chế chính trị về hành vi và thể chế chính trị về tổ chức Và, dựa vào hình thức thể hiện để chia làm hai loại, thể chế chính trị thành văn và thể chế chính trị bất thành văn Thể chế chính trị thành văn thể hiện tập trung trong hiến pháp của mỗi quốc gia, nhưng còn có thể được quy định ở các văn bản dưới hiến pháp, bao gồm các đạo luật thường, thậm chí cả văn bản dưới luật [68]
Giáo trình: “Hành chính công - dùng cho nghiên cứu học tập và giảng dạy sau đại học” của Học viện Hành chính, nhà xuất bản khoa học kỹ thuật, năm
2006 Chương III và chương X của Giáo trình trình bày về thể chế hành chính nhà nước và quản lý nhà nước trên các lĩnh vực [88]
Bài viết Vai trò của thể chế Hành chính nhà nước trong hoạt động quản lý Nhà nước, vấn đề chính cần quan tâm hoàn thiện đối với thể chế Hành chính Nhà nước ở nước ta hiện nay trên trang Thông tin Hành chính, Học viện Hành chính quốc gia (2015) Bài viết này thể hiện rõ vai trò của thể chế là Cơ sở pháp
lý cho hoạt động quản lý của nền hành chính nhà nước, cơ sở cho việc xây dựng
cơ cấu tổ chức bộ máy QLNN, là cơ sở xác lập nhân sự trong các cơ quan hành chính nhà nước
Trang 2316
Bài viết Các yếu tố ảnh hưởng tới thể chế Hành chính nhà nước trên trang thông tin hành chính, Học viện Hành chính quốc gia, 2015 Bài viết khẳng định Thể chế hành chính nhà nước là một bộ phận của thể chế xã hội, do nhà nước xây dựng để điều tiết các hoạt động tổ chức và điều hành bộ máy nhà nước và quản lý của bộ máy nhà nước đối với xã hội Do đó, hệ thống thể chế hành chính nhà nước chịu ảnh hưởng chủ yếu của các yếu tố sau: Môi trường chính trị, Môi trường kinh tế – xã hội, Lịch sự phát triển của quốc gia và truyền thống, văn hóa dân tộc; Các yếu tố quốc tế
1.2 CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN THỂ CHẾ QUẢN
LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI GIÁO DỤC ĐẠI HỌC
Trong quá trình khảo cứu các công trình nghiên cứu liên quan trực tiếp đến luận án, tác giả nhận thấy các công trình nghiên cứu về thể chế QLNN đối với đào tạo đại học vẫn còn số lượng hạn chế Vấn đề này thường được lồng ghép vào các nội dung QLNN về giáo dục nói chung, đào tạo đại học nói riêng Đặc biệt, hiện nay trên thế giới cũng như trong nước vẫn chưa có công trình độc lập nào nghiên cứu về thể chế QLNN đối với CSGDĐHTBCA Một số công trình đề cập đến thể chế QLNN đối với cơ sở GDĐH có thể kể đến như:
Sách: “The Law of Higher Education, 5th Edition” (Luật Giáo dục Đại học, tái bản lần thứ 5), by William Kaplin and Barbara Lee, was published by Jossey-Bass, Inc in July 2013 Tài liệu này cho chúng ta cái nhìn toàn diện về Luật Đào tạo đại học Ngoài ra, còn là tài liệu nghiên cứu và hướng dẫn pháp lý thực tiễn cho GDĐH, giải quyết hầu hết tất cả các vấn đề pháp lý chính và quy định pháp luật trong GDĐH [185]
Sách: “Research on Educational Management in Europe” (Nghiên cứu Quản lý giáo dục ở châu Âu) của tác giả Raymond Bolam, Fons van Wieringen
do xuất bản Waxmann Verlag năm 1999 Tài liệu này nghiên cứu về thực trạng quản lý giáo dục ở châu âu Trong đó đánh giá cao vai trò của những nhà quản
Trang 24kỹ năng cho tăng trưởng thì cần phải nâng cao hiệu quả quản trị giáo dục của các
cơ quan nhà nước [174]
Tài liệu: “On the philosophy of higher education, San Francisco Bass” (Triết lý của đào tạo đại học) của tác giả Tác giả Brubacher, J.S Tác giả trình bày về chất lượng GDĐH Theo tác giả, chất lượng GDĐH được thể hiện ở việc đạt được những trách nhiệm xã hội mà GDĐH phải gánh vác, chất lượng GDĐH được hợp thành từ chất lượng giáo dục của các trường đại học [176] Bài viết giới thiệu về mô hình tổ chức, chương trình đào tạo các Học viện, Đại học, Cao đẳng Công an của nước cộng hòa nhân dân Trung hoa trên http://www.china.org.cn/english/government/MinistryofPublicSecurity.htm Bài viết đã chỉ rõ các nhà trường Công an Trung Quốc tổ chức có hệ thống, có chế
Jossey-độ chính sách đảm bảo riêng theo từng cấp nhà trường Bộ Công an Trung Quốc chia ra 3 cấp nhà trường: Đại học Quốc gia đào tạo đa ngành các lĩnh vực Công
an, cảnh sát; Các Trường đại học chuyên ngành như Cảnh sát vũ trang, Phòng cháy chữa cháy Các học viện, trường đại học, cao đẳng trực thuộc Cục, Sở Công an 31 khu, tỉnh, thành phố
Bài viết trên http://www.academy.fsb.ru/index_i.html (Trang chủ Học viện
an ninh Liên bang) giới thiệu về “Академия федеральной службы безопасности Российской Федерации”; Học viện thành lập 1921, đến năm
1992 trên cơ sở Trường Dzerzhinsky và Học viện Quân đội Biên phòng đã được tạo ra Học viện An ninh Liên bang, FSB Học viện Nga bao gồm các viện Mật
mã, Viễn thông và Khoa học Máy tính (ICSI) và Viện đào tạo cán bộ hoạt động
Trang 2518
(IFSP) trong hai bộ phận - các điều tra và phản gián Ngoài ra còn có khoa riêng biệt: dịch thuật, đào tạo từ xa, Khoa đặc biệt cho đào tạo lãnh đạo giảng viên nước ngoài
Bài viết trên https://www.pa.edu.tr/ giới thiệu về Turkish National Police Academy (Học viện Cảnh sát quốc gia Thổ Nhĩ Kỳ); bài viết cho chúng ta cái nhìn tổng quan về Học viện Cảnh sát quốc gia Thổ Nhĩ Kỳ từ cách quản lý, xây dựng kế hoạch tuyển sinh - tuyển dụng, chương trình đào tạo, mô hình tổ chức Tài liệu: “International Association of Police Academies (INTERPA)” (Hiệp hội Học viện Cảnh sát Quốc tế (INTERPA)) của tác giả V.Bachila Tài liệu trình bày cấu trúc của cơ sở đào tạo cảnh sát tại các nước thành viên Hiệp hội cảnh sát quốc tế (Interpa) gồm hệ thống, cấu trúc, chức năng cơ bản và trách nhiệm của các Bộ Nội vụ (An ninh/Cảnh sát) [196]
Giáo trình: “Quản lý Nhà nước về giáo dục đào tạo” của tác giả Nguyễn Văn Hộ trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên 2010 Tài liệu này cho
ta cái nhìn chung của QLNN đối với GDĐT, đưa ra những nội dung cơ bản của QLNN về GDĐT [93]
Giáo trình: “Quản lý nhà nước về giáo dục - lý luận và thực tiễn” của PGS.TS Đặng Bá Lãm, Nxb Chính trị quốc gia, Hà nội, Tài liệu gồm nhiều bài viết của các nhà chuyên gia giáo dục, các nhà khoa học có nhiều năm gắn bó với giáo dục Các tác giả đã khẳng định quá trình giáo dục được xây dựng trên quan hệ tương tác giữa người dạy và người học do đó quản lý giáo dục phải được tiếp cận trên phương diện khoa học có đặc thù riêng so với quản lý các tổ chức khác [106] Luận án: “Quản lý chất lượng đào tạo đại học trong các học viện trường Công an nhân dân” của tác giả Nguyễn Văn Ly, Đại học Quốc Gia Hà Nội, năm
2010 Luận án đã nghiên cứu một cách cơ bản cơ sở lý luận về hệ thống quản lý chất lượng đào tạo vận dụng vào việc quản lý chất lượng đào tạo phù hợp với đặc thù của các học viện, trường đại học CAND qua đó góp phần phát triển lý luận về quản lý đào tạo và quản lý chất lượng đào tạo ở bậc đại học nói chung và
Trang 2619
ngành công an nói riêng Đề xuất hệ thống quản lý chất lượng đào tạo đại học phù hợp trong các học viện, trường đại học CAND Xây dựng các chuẩn và chuẩn hóa quy trình quản lý chất lượng đào tạo và đề xuất hệ thống các giải pháp quản lý chất lượng đào [57]
Luận án: “Giải pháp quản lý đội ngũ giảng viên trong trường Công an nhân dân”, của tác giả Võ Thành Đạt, Viện Khoa học giáo dục Việt Nam, năm
2014 Luận án phân tích, khái quát và hệ thống hóa các nội dung liên quan đến
sự sự phù hợp, cần thiết, hiệu quả của quản lý đội ngũ giảng viên các trường đại học CAND theo tiếp cận QLNN; Xác định được thực trạng các vấn đề đã và đang đặt ra (cần phải giải quyết) trong quản lý đội ngũ giảng viên của các trường đại học CAND; Xây dựng được các giải pháp quản lý đội ngũ GV các trường đại học CAND trong giai đoạn hiện nay theo tiếp cận QLNN theo yêu cầu đào tạo nhân lực chất lượng cao của ngành CAND [77]
Trong sách: “Hành chính công - dùng cho nghiên cứu học tập và giảng dạy sau đại học” của Học viện Hành chính, năm 2006 Tại Chương III viết về “Thể chế hành chính nhà nước” của cuốn sách đã đề cập đến “Thể chế hành chính nhà nước quản lý các vấn đề giáo dục” [88,tr 94]
Luận án: “State management of foreign - related educational institutions” (Quản lý nhà nước các cơ sở giáo dục liên quan đến nước ngoài), Phạm Văn Đại National University, Hanoi, 2012 Luận án nghiên cứu về QLNN của các cơ sở giáo dục nước ngoài, đánh giá các chính sách giáo dục trong việc quản lý các cơ
sở giáo dục nước ngoài ở Việt Nam, nâng cao cơ cấu quản lý, hệ thống chính sách và chất lượng nguồn nhân lực của QLNN về giáo dục Qua đó, nhằm tăng cường công tác QLNN đối với cơ sở giáo dục nước ngoài [180]
Luận án: “Quản lý nhà nước theo hướng đảm bảo sự tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các trường đại học ở Việt Nam” của tác giả Phan Huy Hùng, Học viện hành chính, năm 2009 Luận án đã tập trung nghiên cứu, đánh giá thực trạng việc QLNN theo hướng đảm bảo sự tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các
Trang 27Luận án: “Hoàn thiện pháp luật về đào tạo đại học ở Việt Nam hiện nay” của tác giả Lê Thị Kim Dung, Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2012 Luận án trình bày
cơ sở lý luận của việc hoàn thiện pháp luật về đào tạo đại học; đánh giá thực trạng
và đề xuất phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về đào tạo đại học ở Việt Nam hiện nay [70]
Ngoài những công trình trên, một số bài viết, bài báo đăng trên các tạp chí khoa học như: Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, Tạp chí Quản lý nhà nước, hay các tạp chí của Bộ Công an, Bộ Ngoại giao cũng đề cập đến QLNN đối với GDĐT Trong đó, các bài báo này đã tập trung nghiên cứu ở phạm vi hẹp thể hiện quan điểm, góc nhìn, cách tiếp cận riêng Chẳng hạn như:
Bài viết: “Governance Reform in Higher Education of Vietnam” (cải cách quản lý trong giáo dục ở Việt Nam) của tác giả Đỗ Huy Thịnh và Hồ Thanh Mỹ Phương Qua bài viết này, tác giả đã phân tích những vấn đề liên quan đến sự quản lý của chính phủ, các chính sách, các văn bản quy phạm pháp luật, các nghị định, các thông tư hoặc nghị quyết nhằm thay đổi phương thức quản lý trong giáo dục ở Việt Nam [193]
Bài viết “Sự cần thiết xây dựng luật đào tạo đại học” của Lê Thị Kim Dung, Tạp chí giáo dục năm 2011 đã đánh giá thực trạng hệ thống pháp luật về GDĐH, xác định một số yêu cầu cơ bản và các công việc cần thiết phục vụ cho công tác xây dựng Luật Giáo dục Đại học; và kiến nghị Nhà nước, các bộ, ngành
và Bộ Giáo dục và Đào tạo cần quan tâm đến công tác hoàn thiện thể chế và tạo
Trang 28tự chủ của nhà trường về học thuật, tổ chức bộ máy học thuật và tài chính; trách nhiệm xã hội của trường đại học Đưa ra một số giải pháp QLNN bảo đảm được
sự tự chủ và tự chịu trách nhiệm của trường đại học
Bài viết “Tìm hiểu kinh nghiệm quản lý Nhà nước về giáo dục của Liên Bang nga” – Nguyễn Như Ất, Quản lý nhà nước về giáo dục - Lý luận và thực tiễn, năm 2005 Tài liệu thông qua việc trình bày một số cải cách, đổi mới và những thành tựu về giáo dục của Liên Bang Nga Từ đó, đã khái quát được một
số kinh nghiệm vô cùng quý giá mà Việt Nam chúng ta có thể học tập trong quá trình đổi mới nền giáo dục nước nhà Điều quan trọng là trong quá trình đổi mới nền giáo dục phải kế thừa và phát huy truyền thống của hệ thống giáo dục trước
đó Đồng thời phải khắc phục, sửa đổi những khiếm khuyết của nền giáo dục cũ, tiếp nhận các xu thế của giáo dục quốc tế hiện nay Nhất là phải thực hiện dân chủ hoá trong giáo dục - đào tạo; đẩy mạnh việc phân cấp quản lý hành chính trong nền giáo dục của nước mình [49,tr.359-361],
Bài viết “Một số quan điểm cơ bản của Đảng về giáo dục - đào tạo trong thời kỳ đổi mới” (Báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam) của PGS, TS Nghiêm Đình Vỳ,2016 Bài viết đã phân tích quan điểm của Đảng ta về giáo dục, đào tạo nhằm đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế
Bài viết Đổi mới quản trị cơ sở giáo dục đại học công lập hiện nay của Đào Ngọc Nam trên Tạp chí Quản lý giáo dục Số 76 - 9/2015 - Tr 14 Đổi mới quản trị các cơ sở giáo dục đại học công lập ở Việt Nam với mục đích để có một nền
Trang 2922
giáo dục có chất lượng đào tạo và phát triển Bài báo phân tích hiện trạng về quản trị của các cơ sở GDĐH công lập hiện nay, những chính sách đối với GDĐH công lập, đề ra những giải pháp và nhiệm vụ trong việc đổi mới quản trị các cơ sở GDĐH công lập
Đề tài nghiên cứu Tác động của quản lý hành chính công đến quản lý nhà nước về giáo dục ở một số nước, ThS Nguyễn Thế Thắng, 2014 Đề tài Nghiên cứu nhằm chỉ ra những tác động của quản lý hành chính công tới QLNN về giáo dục ở các quốc gia, rút ra những bài học kinh nghiệm về QLNN về giáo dục Tóm lại, hệ thống các công trình nghiên cứu liên quan đến thể chế, thể chế QLNN đối với cơ sở GDĐHTBCA là tương đối đa dạng Sự liên quan đó thể hiện chủ yếu ở các khía cạnh như: thể chế, QLNN về GDĐH, thể chế QLNN đối với cơ sở GDĐH Do vậy, nhiều vấn đề về lý luận và thực tiễn đề cập trong các công trình này đều có giá trị tham khảo nhất định
1.3 ĐÁNH ĐÁNH GIÁ CHUNG TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1.3.1 Những vấn đề đã được giải quyết
Qua tổng thuật tình hình nghiên cứu về thể chế, thể chế QLNN, thể chế QLNN đối với CSGDĐH, có thể đánh giá khái quát một số điểm như sau:
1 Thể chế QLNN và thể chế QLNN đối với CSGDĐH là vấn đề được quan tâm trên nhiều phương diện khác nhau, cả về lý luận và thực tiễn, cả ở trong nước và nước ngoài, cả về chính trị học, kinh tế học, xã hội học và luật học… Vì vậy, số lượng các công trình nghiên cứu về thể chế, thể chế QLNN, thể chế QLNN đối với CSGDĐH đã có khá nhiều Nghiên cứu về thể chế QLNN là lý thuyết nền tảng hình thành nên các quan niệm về thể chế QLNN đối với CSGDĐH Thể chế, thể chế QLNN đối với CSGDĐH luôn được xem là công cụ, phương tiện để thực hiện QLNN Các quan niệm về thể chế nhà nước, cơ chế tổ chức, vận hành thể chế nhà nước có lúc được trình bày trong những công trình nghiên cứu khái quát về thể chế nhà nước, có lúc lại được viết như những cấu
Trang 3023
phần quan trọng không thể thiếu làm nền tảng cho các công trình nghiên cứu chuyên sâu có liên quan đến thể chế QLNN đối với các lĩnh vực cụ thể Mỗi bước phát triển trong lý luận và thực tiễn về thể chế QLNN đều là bước phát triển lý luận và thực tiễn về thể chế nhà nước Mỗi khi yêu cầu QLNN được
đề cao thì những nghiên cứu về thể chế QLNN được đẩy mạnh
2 Cho đến nay, các nghiên cứu đã công bố đã cơ bản đưa ra được một số quan điểm, khái niệm liên quan đến QLNN, thể chế, thể chế QLNN về GDĐH, vai trò của Nhà nước đối với giáo dục đại học… Tuy nhiên, khía cạnh Nhà nước
là chủ thể quản lý, chủ thể tạo lập môi trường pháp lý thuận lợi cho GDĐH vận động theo chất lượng chưa được nghiên cứu đầy đủ và toàn diện
Đây là những vấn đề sẽ được đề tài luận án tiếp thu, kế thừa trong việc xây dựng những quan điểm, khái niệm công cụ, những vấn đề lý luận của đề tài Vấn đề này còn có giá trị tham khảo lớn trong việc xây dựng các khái niệm công
cụ có liên quan khi nghiên cứu thể chế QLNN đối với CSGDĐHTBCA
3 Về tình hình nghiên cứu trong nước: Tuy đã có khá nhiều công trình gián tiếp hoặc trực tiếp đề cập đến thể chế QLNN song cũng cho thấy những nghiên cứu về thể chế còn chưa đưa ra được quan niệm thống nhất chung Nghiên cứu lý luận về thể chế QLNN, trong đó thể chế QLNN đối với CSGDĐH còn chưa được quan tâm toàn diện, chưa có công trình nào coi thể chế QLNN đối với CSGDĐH là một đối tượng nghiên cứu có tính chỉnh thể mà chỉ mới dừng lại ở mức độ những vấn đề lý luận phải giải quyết khi nghiên cứu về thể chế QLNN đối với CSGDĐH
4 Về tình hình nghiên cứu ở nước ngoài: Có thể nhận thấy vấn đề thể chế QLNN, thể chế QLNN đối với CSGDĐH đã được các học giả trên thế giới nghiên cứu từ rất sớm Nhiều công trình nghiên cứu thực sự là nền móng về lý thuyết, đem lại những tri thức mới cho nhân loại về vấn đề thể chế QLNN đối với cơ sở GDĐH; hình thành nên những tư tưởng, học thuyết chính trị - pháp lý
về thể chế và thể chế QLNN đối với CSGDĐH Những công trình nghiên cứu
Trang 315 Kết quả nghiên cứu của các công trình trên đây đã gợi mở, cung cấp thông tin, phương pháp nghiên cứu, cách tiếp cận vấn đề trong nhiều nội dung của Luận án Đó cũng là lý do khẳng định tính cần thiết và chính đáng của vấn
đề thể chế QLNN trong các công trình rất phong phú, đa dạng và đó là nguồn tư liệu cần thiết để tham khảo, nghiên cứu Những kết quả nghiên cứu này là cơ sở quan trọng để đề tài luận án tiếp thu, so sánh và những đánh giá khách quan, toàn diện và sát hợp thực trạng thể chế QLNN đối với CSGDĐHTBCA
Tuy nhiên, tổng thuật nội dung và điểm luận những tài liệu nghiên cứu ở các phần trên cho thấy vấn đề thể chế QLNN nói chung cũng như nghiên cứu hoàn thiện thể chế QLNN đối với CSGDĐH (trong đó có các CSGDĐHTBCA) một cách hệ thống, toàn diện còn là một khoảng trống, chưa được đề cập nhiều trong các công trình trước đó
1.3.2 Những vấn đề chưa được giải quyết
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước đề cập trên đây có một số khía cạnh liên quan đến thể chế QLNN đối với CSGDĐH và đạt được những thành công nhất định như đã phân tích Song nội dung hướng vào QLNN, hoàn thiện hệ thống pháp luật hoặc lại quá chung, quá rộng trên tầm vĩ mô nên vẫn còn nhiều vấn đề về lý luận cũng như thực tiễn thể chế QLNN đối với CSGDĐH chưa được làm rõ, chưa đề cập đến
Một điểm đáng lưu ý khác là có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến QLNN, thể chế QLNN đối với cơ sở GDĐH Tuy nhiên đến thời điểm hiện tại chưa
có một công trình nghiên cứu nào về vấn đề thể chế QLNN đối với
Trang 32tự chủ cho các cơ sở, không chỉ đào tạo phụ thuộc vào nhu cầu của ngành Công
an mà còn đào tạo phụ thuộc vào nhu cầu của xã hội
Một điểm nổi bật khác là các công trình nghiên cứu liên quan đến thể chế trong GDĐH cũng như thể chế QLNN đối với CSGDĐH nói chung và thể chế QLNN đối với các CSGDĐHTBCA nói riêng được tiếp cận dưới góc độ quản lý công là rất hạn chế Đa phần các công trình nghiên cứu có liên quan được tiếp cận dưới góc độ khoa học khác, mà chủ yếu quản lý giáo dục và luật học
Tóm lại, các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án được đề cập trên đây đã cho thấy những thành công nhất định trong giải quyết một số vấn
đề liên quan đến đề tài luận án Tuy nhiên, các công trình này cũng cho thấy một
số điểm liên quan đến đề tài luận án chưa được làm rõ, chưa được giải quyết một cách triệt để, còn đang bỏ ngỏ cần tiếp tục nghiên cứu
1.3.3 Những vấn đề luận án cần tiếp tục giải quyết
Trên cơ sở kế thừa và chọn lọc những kết quả nghiên cứu trước đây, Luận
án tiếp tục nghiên cứu, giải quyết những vấn đề cụ thể sau:
Một là, về phương diện lý luận phải làm rõ:
- Thể chế là gì, thể chế QLNN là gì? Cần đưa ra được khái niệm “Thể chế QLNN đối với CSGDĐHTBCA” với đặc thù về cơ sở pháp lý, bộ máy quản lý, nội dung quản lý, đối tượng quản lý và cơ chế quản lý như thế nào?
- Thể chế QLNN đối với CSGDĐHTBCA có vai trò gì?
Trang 3326
- Chỉ rõ các yếu tố cấu thành cũng như các yếu tố ảnh hưởng và các điều kiện bảo đảm thực hiện thể chế QLNN đối với CSGDĐHTBCA
Hai là, về phương diện thực tiễn tập trung vào các vấn đề sau đây:
- Nghiên cứu thực trạng thể chế QLNN đối với CSGDĐHTBCA ở Việt Nam hiện nay, chỉ ra những ưu điểm, nhược điểm và những bất cập cần giải quyết
- Đánh giá ưu điểm và hạn chế trong thực hiện thể chế QLNN đối với CSGDĐHTBCA ở nước ta hiện nay và chỉ rõ những vấn đề đặt ra
Ba là, nêu ra những yêu cầu và đề xuất những giải pháp hoàn thiện thể chế QLNN đối với CSGDĐHTBCA ở Việt Nam trong bối cảnh đổi mới đất nước và hội nhập quốc tế
Để hoàn thiện thể chế QLNN đối với CSGDĐHTBCA, luận án đề ra hai nhóm giải pháp:
- Nhóm giải pháp hoàn thiện nội dung thể chế QLNN đối với CSGDĐHTBCA Theo đó, các quy định pháp luật phải tạo dựng cơ sở pháp lý
để đảm bảo cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của cơ sở giáo dục, trên cơ sở tăng cường sự kiểm định chất lượng của xã hội và kiểm tra, thanh tra, xử lí vi phạm của Nhà nước đối với CSGDĐHTBCA
- Nhóm giải pháp về tổ chức thực hiện thể chế QLNN đối với CSGDĐHTBCA bao gồm: Đảm bảo các điều kiện vật chất, thông tin trong quá trình tổ chức thực hiện thể chế; cải cách thủ tục hành chính, ứng dụng công nghệ thông tin trong tổ chức thực hiện; tăng tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm xã hội; đổi mới cơ chế quản lý kinh phí; đổi mới chương trình đào tạo, nội dung đào tạo; hoạt động thanh tra, kiểm tra
Kết luận chương 1 Chương 1 đã thống kê và phân tích các đề tài, công trình nghiên cứu, sách báo liên quan trực tiếp, gián tiếp đến các nội dung thể chế QLNN, GDĐT, thể chế QLNN đối với CSGDĐH Các đề tài, công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến thể chế QLNN khá nhiều, tuy nhiên nghiên cứu sâu sắc về
Trang 3427
thể chế QLNN đối với CSGDĐHTBCA thì chưa hề có Đây là phát hiện của bản thân, hy vọng qua nghiên cứu sẽ làm rõ thêm những lý luận còn bỏ trống; kết hợp kế thừa những công trình trước đó để đánh giá thực trạng hiện nay và tìm ra các giải pháp hiệu quả để hoàn thiện thể chế QLNN đối với GDĐH nói chung và đối với CSGDĐHTBCA nói riêng
Trang 3528
Chương 2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỂ CHẾ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CƠ SỞ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC THUỘC BỘ CÔNG AN
2.1 QUAN NIỆM VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CƠ SỞ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC THUỘC BỘ CÔNG AN
2.1.1 Quan niệm về giáo dục và giáo dục đại học
2.1.1.1 Giáo dục
Giáo dục là hoạt động nhằm tác động một cách có hệ thống đến sự phát triển tinh thần, thể chất của một đối tượng nào đó, làm cho đối tượng ấy dần dần có được những phẩm chất và năng lực như yêu cầu đề ra Giáo dục là một quá trình đào tạo con người một cách có mục đích, nhằm chuẩn bị cho con người tham gia đời sống xã hội, tham gia lao động sản xuất, nó được thể hiện bằng cách tổ chức việc truyền thụ và lĩnh hội những kinh nghiệm lịch
sử - xã hội của loài người Như vậy, giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc trưng của xã hội loài người Giáo dục nảy sinh cùng với xã hội loài người, trở thành một chức năng sinh hoạt không thể thiếu được và không bao giờ mất đi ở mọi giai đoạn phát triển của xã hội
Theo Từ điển Giáo dục học (NXB Từ điển bách khoa - 2001), thuật ngữ giáo dục được định nghĩa là "Hoạt động hướng tới con người thông qua một
hệ thống các biện pháp tác động nhằm truyền thụ những tri thức và kinh nghiệm, rèn luyện kỹ năng và lối sống, bồi dưỡng tư tưởng và đạo đức cần thiết cho đối tượng, giúp hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất, nhân cách phù hợp với mục đích, mục tiêu chuẩn bị cho đối tượng tham gia lao động sản xuất và đời sống xã hội” [170] Đây là một hoạt động đặc trưng và tất yếu của xã hội loài người, là điều kiện không thể thiếu được để duy trì và phát triển con người và xã hội Giáo dục là một bộ phận của quá trình tái sản xuất mở rộng sức lao động xã hội, mà con người được giáo dục
là nhân tố quan trọng nhất, vừa là động cơ, vừa là mục đích của phát triển xã
Trang 3629
hội Giáo dục là một loại hình, lĩnh vực hoạt động xã hội rộng lớn được hình thành do nhu cầu phát triển, tiếp nối các thế hệ của đời sống xã hội thông qua quá trình truyền thụ tri thức và kinh nghiệm xã hội của các thế hệ trước cho các thế hệ sau
Tại Việt Nam, hệ thống giáo dục quốc dân gồm giáo dục chính quy và giáo dục thường xuyên được tổ chức như sau: Giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học
2.1.1.2 Giáo dục đại học
Lịch sử phát triển của nhân loại đã chứng minh rằng, bất cứ xã hội nào muốn tồn tại và phát triển tiến bộ thì phải thực hiện giáo dục liên tục đối với các thế hệ con người GDĐH luôn gắn liền với chế độ chính trị cùng với sự phát triển và tiến bộ của xã hội Thực tiễn của Hoa Kỳ và châu Âu cho thấy, trường đại học nói chung được hiểu như là cộng đồng của những người theo đuổi tri thức, tức là giảng viên và học viên (Clark,1994; Hetherington, 1953) [173, Tr.7-11], được coi là “nơi cung cấp kiến thức”, “ngôi đền của tri thức”, “trung tâm của quyền lực trí tuệ”, “nơi bảo vệ quyền lực của mọi loại tri thức” và là một
“trung tâm sáng tạo tri thức, chuyển giao và ứng dụng tri thức, xem lại mọi tri thức, phổ biến tri thức, chuyển giao và ứng dụng tri thức” (Newman, 1959) [186] Chức năng cơ bản của trường đại học là truyền tải văn hóa, kiến tạo tri thức và theo đuổi chân lý thông qua việc giảng dạy, học tập và nghiên cứu Ở Việt Nam trong những năm qua, giáo dục đại học tạo ra kiến thức giá trị và hình thành thái độ đối với con người mới, góp phần: Phát triển nguồn nhân lực; xóa đói, giảm nghèo; mở rộng khả năng thích ứng nhu cầu nguồn nhân lực với thị trường lao động; góp phần tạo lập sự công bằng trong xã hội
Theo wikipedia.org, giáo dục đại học (higher education) được hiểu là giai đoạn giáo dục thường diễn ra ở các trường đại học, viện đại học, trường cao đẳng, học viện và viện công nghệ GDĐH nói chung bao gồm các bậc sau trung học như cao đẳng, đại học, và sau đại học và gồm cả một số cơ sở giáo dục bậc đại học
Trang 37tế GDĐH chính là phương thức phát triển cơ bản của nền kinh tế tri thức, góp phần quan trọng vào việc tạo ra tri thức đồng thời góp phần quảng bá tri thức vào tăng trưởng kinh tế thông qua ứng dụng và thúc đẩy tiến bộ công nghệ Sự khác biệt căn bản nhất trong cạnh tranh kinh tế trước đây và thời đại ngày nay ở chỗ con người đang tạo ra lợi thế cạnh tranh Lợi thế cạnh tranh chính là việc đề cao yếu tố tri thức và thông tin, tập trung vào các ngành công nghệ cao… và GDĐH sẽ góp phần tạo phát triển kinh tế - xã hội vượt bậc GDĐH góp phần vào tăng trưởng kinh tế thông qua tăng năng suất lao động cá nhân nhờ nâng cao trình độ và tích lũy kiến thức Đối với các nước có trình độ công nghệ cao, GDĐH làm tăng nguồn cung các nhà nghiên cứu và triển khai tiềm năng, giảm chi phí cho nghiên cứu và triển khai Trong khi đó, tại các nước có trình độ thấp, GDĐH tạo điều kiện ứng dụng các công nghệ đã được triển khai và điều chỉnh cho phù hợp
Thứ hai, GDĐH là đào tạo để trở thành nhà nghiên cứu Theo cách nhìn này, GDĐH là thời gian chuẩn bị để tạo ra những nhà khoa học và nhà nghiên cứu thực thụ, những người sáng tạo ra những kiến thức mới
Trang 3831
Thứ ba, GDĐH là quản lý việc tổ chức giảng dạy một cách hiệu quả Cách tiếp cận này nhấn mạnh đến chức năng cốt lõi của GDĐH là giảng dạy kiến thức, kỹ năng cho người học
Thứ tư, GDĐH là mở rộng cơ hội trong cuộc sống cho người học Theo cách tiếp cận này, GDĐH được xem như một cơ hội để người học được tham gia vào quá trình phát triển bản thân bằng các thể thức học tập thường xuyên và linh hoạt
Có thể nói, ở đây có tính liên hoàn giữa bốn đặc điểm này của GDĐH, chúng liên quan và tích hợp với nhau để tạo ra bức tranh toàn cảnh về tính chất riêng biệt của GDĐH (Higher education)
Theo Từ điển Giáo dục học, GDĐH được hiểu là “bậc học đào tạo trình độ học vấn chuyên môn cao có mục tiêu đào tạo người học có phẩm chất chính trị, đạo đức, có ý thức phục vụ nhân dân, có kiến thức và năng lực thực hành nghề nghiệp tương ứng với trình độ đào tạo, có sức khỏe đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”[170, Tr.122] Như vậy, nguồn lực con người là tài nguyên của mọi tài nguyên GDĐH chính là quá trình tích lũy vốn con người, góp phần quan trọng vào việc phát triển nguồn nhân lực có kỹ năng, trí tuệ và các phẩm chất cần thiết Nhờ có giáo dục mà mỗi con người sở hữu nhân tố quan trọng: trí tuệ, phẩm chất, thể lực…, qua đó giáo dục cung cấp cho các cá nhân những giá trị chung, những kỹ năng cơ bản để sống, làm việc, để hòa nhập và xây dựng xã hội, bởi vì ngoài việc cung cấp cho cá nhân khả năng cơ bản để đáp ứng những đòi hỏi của ngành, giáo dục còn mang đến cho cá nhân những giá trị chung về đạo đức, về quyền và nghĩa vụ của công dân, về mức văn hóa tối thiểu nhằm đảm bảo một chế
độ chính trị ổn định, công bằng và văn minh
Trong suốt hàng nghìn năm lịch sử dân tộc, nền giáo dục Việt Nam nói chung và nền GDĐH Việt Nam nói riêng đã từng trải qua những bước thăng trầm, những đổi thay gắn liền với những bước chuyển trong các giai đoạn phát triển của lịch sử dân tộc Ở Việt Nam hiện nay, mặc dù chưa có định nghĩa
Trang 3932
chính thức về GDĐH, nhưng căn cứ vào Khoản 1 Điều 6 Luật Giáo dục đại học năm 2012 có thể hiểu: GDĐH là hình thức tổ chức giáo dục cho các bậc học sau giai đoạn bậc phổ thông với các trình độ đào tạo gồm: Đại học, thạc sỹ, tiến sỹ
2.1.2 Quan niệm về cơ sở giáo dục đại học thuộc Bộ Công an
Hoạt động GDĐH được tiến hành tại các cơ sở giáo dục đại học
Ở Việt Nam hiện nay, thuật ngữ “cơ sở” được dùng khá phổ biến theo nhiều nghĩa khác nhau như: Cơ sở pháp lý; Cơ sở thực tiễn; Cơ sở kinh tế; Cơ sở đào tạo; Cơ sở giáo dục…
Liên quan đến lĩnh vực giáo dục đào tạo, khái niệm “Cơ sở giáo dục đại học” (CSGDĐH) được sử dụng trong Luật Giáo dục và Luật Giáo dục đại học Tuy nhiên, trong 2 văn bản pháp lý này đều không đưa ra định nghĩa cụ thể về “Cơ sở giáo dục đại học” là gì mà chỉ sử dụng phương pháp liệt kê Theo đó, tại Đ.7 Luật Giáo dục đại học hiện hành quy định: Cơ sở giáo dục đại học trong hệ thống giáo dục quốc dân gồm: a Trường Cao đẳng; b) Trường đại học, học viện; c) Đại học vùng, đại học quốc gia; d) Viện nghiên cứu khoa học được phép đào tạo trình độ tiến sỹ Tuy nhiên, hiện nay các trường cao đẳng nghề đã chuyển về Bộ Lao động – Thương binh và xã hội quản lý nên không còn gọi là CSGDĐH nữa
Hiện nay ở Việt Nam, các CSGDĐH được gọi dưới nhiều tên khác nhau như: Trường đại học (ví dụ: Trường Đại học Luật Hà nội; Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh; Trường Đại học Bách khoa Hà nội…); Đại học (ví dụ: Đại học Quốc gia Hà nội: Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh…); Học viện (ví dụ: Học viện Hành chính Quốc gia; Học viện Tài chính; Học viện An ninh nhân dân; Học viện Ngân hàng…); Viện đại học (ví dụ: Viện Đại học Mở Hà Nội)
Các CSGDĐH Việt Nam được tổ chức theo 2 loại hình sau đây: a) CSGDĐH công lập thuộc sở hữu nhà nước, do Nhà nước đầu tư, xây dựng cơ sở vật chất; b) CSGDĐH tư thục thuộc sở hữu của tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế tư nhân hoặc cá nhân, do tổ chức xã hội, tổ chức xã
Trang 4033
hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế tư nhân hoặc cá nhân đầu tư, xây dựng cơ sở vật chất
Ngoài ra, còn có các CSGDĐH có vốn đầu tư nước ngoài gồm: CSGDĐH
có 100% vốn của nhà đầu tư nước ngoài và CSGDĐH liên doanh giữa nhà đầu
tư nước ngoài và nhà đầu tư trong nước
Như vậy, CSGDĐH là nơi tiến hành tổ chức các hoạt động giáo dục đại học, bao gồm các trường đại học, học viện nhằm đào tạo nhân lực, nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài; nghiên cứu khoa học, công nghệ phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và hội nhập quốc tế
Từ quan niệm về GDĐH và CSGDĐH nêu trên, có thể hiểu: Cơ sở GDĐHTBCA (bao gồm các trường đại học, học viện thuộc Bộ Công an) là nơi tổ chức các hoạt động giáo dục đào tạo cho các hệ đại học, thạc sỹ và tiến sỹ nhằm trang bị trình độ học vấn, năng lực chuyên môn nghiệp vụ; phẩm chất chính trị, đạo đức, ý thức phục vụ nhân dân để cung cấp nguồn nhân lực cho ngành Công an, đáp ứng yêu cầu xây dựng ngành Công an và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN
Cơ sở GDĐHTBCA là một thiết chế vô cùng quan trọng của xã hội và trong bối cảnh của nền kinh tế tri thức toàn cầu, trách nhiệm của trường đại học nói chung và CSGDĐHTBCA nói riêng ngày càng quan trọng đối với sự phát triển của đất nước Nhận thức về vai trò, sứ mạng và đặc điểm riêng của CSGDĐHTBCA là nền tảng để hoạch định chính sách GDĐH trong CAND, quyết định một cơ chế quản lý phù hợp để các cơ sở đại học hoạt động thực sự
có chất lượng, đáp ứng được nhu cầu và kỳ vọng của cả xã hội
2.1.3 Đặc điểm của cơ sở giáo dục đại học thuộc Bộ Công an
Thứ nhất, cơ sở GDĐHTBCA là những đơn vị sự nghiệp công lập, do nhà nước thành lập và quản lý
Tất cả các cơ sở GDĐHTBCA đều là cơ sở giáo dục công lập, bao gồm các học viện và các trường đại học thuộc sự quản lý trực tiếp của Bộ Công an